Kinh Chuyển Pháp Luân nằm ở đâu trong Tam Tạng?
Bài kinh thuộc Tương Ưng Bộ Kinh (Saṃyutta Nikāya) của Tạng Pāli Nam tông (Theravāda): chương 56 Tương Ưng Sự Thật, phẩm Chuyển Pháp Luân, số 56.11. Trong bản dịch của HT. Thích Minh Châu, bài kinh có tiêu đề «Như Lai Thuyết (1)». Tên Pāli Dhammacakkappavattana nghĩa là làm cho bánh xe Pháp chuyển vận.
Chương đầu Đại phẩm của Tạng Luật kể lại cùng sự kiện: sau khi thành đạo ở Uruvelā, Đức Phật nghĩ đến năm vị từng phục vụ Ngài khi Ngài nỗ lực tinh tấn, rồi đến vườn Nai ở Isipatana để giảng cho họ trước tiên. Vì vậy kinh được xem là bài pháp đầu tiên của Đức Phật.
Bố cục: từ hai cực đoan đến ba chuyển, mười hai hành tướng
Bản dịch có 20 đoạn đánh số. Mở đầu, Đức Phật nói với năm vị Tỷ-kheo về hai cực đoan người xuất gia không nên theo: đắm say trong các dục, và tự hành khổ mình; cả hai không xứng bậc Thánh, không đưa đến mục đích. Tránh cả hai là Trung đạo mà Như Lai đã giác ngộ, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn: đó là Thánh đạo Tám ngành, từ chánh tri kiến đến chánh định.
Kế đến là Bốn Thánh đế. Khổ: sanh, già, bệnh, chết, sầu bi khổ ưu não, gặp điều ghét, xa điều thương, cầu không được; tóm lại năm thủ uẩn là khổ. Khổ tập: ái dẫn đến tái sanh – dục ái, hữu ái, phi hữu ái. Khổ diệt: ly tham, đoạn tận khát ái ấy, từ bỏ, giải thoát. Con đường diệt khổ: Thánh đạo Tám ngành.
Phần đặc trưng là ba chuyển, mười hai hành tướng. Với mỗi Thánh đế, Đức Phật kể ba lớp hiểu biết đã khởi lên nơi Ngài: đây là Thánh đế ấy; điều cần làm với nó – khổ cần liễu tri, tập cần đoạn tận, diệt cần chứng ngộ, đạo cần tu tập; và điều ấy đã làm xong. Bốn đế nhân ba thành mười hai. Ngài nói chỉ khi tri kiến như thật ấy đã thanh tịnh, Ngài mới xác nhận mình đã chứng Vô thượng Chánh Đẳng Giác, và biết tâm giải thoát của Ngài là bất động.
Trong lúc nghe, Tôn giả Koṇḍañña (Kiều-trần-như) khởi lên pháp nhãn thanh tịnh, thấy rằng cái gì có sinh khởi thì cũng có đoạn diệt. Chư Thiên cõi đất lớn tiếng tuyên bố bánh xe Pháp đã được chuyển, tiếng ấy vang lên đến Phạm thiên giới và mười ngàn thế giới rung động. Đức Phật thốt lên rằng Koṇḍañña đã hiểu; từ đó vị ấy có tên A-nhã Kiều-trần-như.
Ý nghĩa: Trung đạo và bốn việc cần làm
Trung đạo trong kinh không phải sự dung hòa lưng chừng, mà là một con đường cụ thể gồm tám chi phần, từ cái thấy, suy nghĩ, lời nói, việc làm, cách nuôi mạng đến tinh tấn, chánh niệm và định. Bốn Thánh đế cũng là bốn việc phải làm, không chỉ bốn điều để biết: hiểu trọn khổ, đoạn trừ khát ái, chứng nghiệm sự diệt khổ, tu tập con đường. Ba chuyển cho thấy sự khác nhau giữa biết một sự thật, biết việc cần làm và biết việc ấy đã xong.
Đọc và tụng Kinh Chuyển Pháp Luân trong ứng dụng
Trên trang kinh, bạn chọn bản tiếng Việt, tiếng Anh hoặc «Cả 2». Trang ghi khoảng 1.300 từ, chừng 5 phút đọc thầm. Dấu «…» đánh dấu các câu lặp lại được viết tắt, nhiều nhất ở phần ba chuyển; khi tụng thành tiếng, nên đọc chậm ở đoạn này. Bấm «Tụng» để chữ tự cuộn và mõ giữ nhịp. Thư viện chưa có nguyên văn Pāli để tụng theo, chưa có bản thu âm hay tệp tải về.
Các bản tương đương trong thư viện
«Phật Thuyết Chuyển Pháp Luân Kinh» trong Hán tạng (bản Việt dịch Linh Sơn) có khung cảnh riêng: Đức Phật ngồi dưới gốc cây ở vườn Lộc Dã cùng một ngàn vị Tỳ-kheo, một bánh xe Pháp hiện ra xoay trước mặt Ngài và Ngài bảo nó dừng lại; rồi Ngài dạy hai lối đi lệch, con đường ở giữa và bốn Đế với ba lần chuyển. Cuối kinh, một ngàn vị Tỳ-kheo đắc quả A-la-hán.
«Phật Thuyết Tam Chuyển Pháp Luân Kinh» và Kinh 379 của Tạp A Hàm đi thẳng vào bốn Thánh đế với ba chuyển, mười hai hành tướng, không nhắc hai cực đoan; Đức Phật hai lần hỏi Kiều-trần-như đã biết pháp chưa.