Tên kinh và bản kinh trong thư viện
«Pháp Bảo» là báu vật Chánh pháp, «Đàn» là pháp đàn, tòa cao nơi vị thầy lên giảng. Ở phẩm cuối, chính Lục Tổ nói những lời ngài giảng từ chùa Đại Phạm đến hôm ấy, chép lại để lưu hành, gọi là Pháp Bảo Đàn Kinh; các đệ tử hãy gìn giữ, truyền trao cho nhau, và từ đó chỉ truyền pháp chứ không truyền y nữa.
Bản trong thư viện mang tên đầy đủ Lục Tổ Đại Sư Pháp Bảo Đàn Kinh (六祖大師法寶壇經), gần 24.000 chữ, khoảng 96 phút đọc. Kinh có nhiều bản qua các thời: bản cổ nhất được biết đến là bản chép tay tìm thấy ở Đôn Hoàng, ngắn hơn; bản mười phẩm trong thư viện là bản về sau, lưu hành rộng rãi nhất. Thư viện chưa có bản tiếng Việt của bản Đôn Hoàng.
Mười phẩm của kinh
Phẩm thứ nhất, Hành Do, là lời Lục Tổ kể con đường mình được pháp. Phẩm thứ hai, Bát-nhã, giảng nghĩa Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật và pháp vô niệm. Phẩm thứ ba, Nghi Vấn, giải đáp thắc mắc của Thứ sử Vi Cừ: vì sao Tổ Đạt-ma nói vua Lương Võ Đế xây chùa, độ tăng mà không có công đức; việc niệm Phật cầu sinh Tây phương; và người tại gia tu hành thế nào. Phẩm thứ tư, Định Tuệ, dạy định và tuệ là một thể, như đèn với ánh sáng. Phẩm thứ năm, Tọa Thiền, giải thích: đối với mọi cảnh bên ngoài mà tâm niệm không khởi là «tọa», bên trong thấy tự tánh không động là «thiền».
Phẩm thứ sáu, Sám Hối, trao hương năm phần pháp thân, sám hối vô tướng, bốn hoằng thệ nguyện, quy y Tam Bảo nơi tự tánh, và giảng ba thân Phật trong tự tánh. Phẩm thứ bảy, Cơ Duyên, gom những cuộc gặp gỡ với người cầu đạo như Ni Vô Tận Tạng, Pháp Hải, Pháp Đạt, Trí Thông, Hành Tư, Hoài Nhượng, Huyền Giác. Phẩm thứ tám, Đốn Tiệm, nói về hai tông Nam Bắc mà người đời gọi là «Nam Năng Bắc Tú», cùng chuyện các vị Chí Thành, Chí Triệt, Thần Hội. Phẩm thứ chín, Tuyên Chiếu: năm 705 triều đình xuống chiếu mời Tổ về kinh đô, ngài xin ở lại núi rừng và giảng pháp cho sứ giả Tiết Giản. Phẩm thứ mười, Phó Chúc, là lời dặn cuối cùng: ba mươi sáu cặp pháp đối, các bài kệ từ biệt, thứ tự chư Tổ và việc Tổ viên tịch năm 713.
Những đoạn được nhắc đến nhiều nhất
Nổi tiếng nhất là chuyện trình kệ ở phẩm thứ nhất: Ngũ Tổ bảo mỗi đệ tử làm một bài kệ, ai ngộ được đại ý sẽ được trao y pháp làm Tổ thứ sáu. Thượng tọa Thần Tú, khi ấy là Giáo thọ sư, nửa đêm viết lên vách hành lang bài kệ ví thân như cây bồ-đề, tâm như đài gương sáng, phải luôn lau chùi cho khỏi bụi. Huệ Năng đang giã gạo ở nhà sau, nhờ người viết giùm bài kệ đáp lại, mở đầu bằng câu «Bồ-đề vốn không cây», rằng xưa nay không một vật thì bụi bám vào đâu. Hôm sau Ngũ Tổ gõ gậy vào cối ba tiếng; canh ba Huệ Năng vào thất, nghe giảng Kinh Kim Cang đến câu «Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm» thì đại ngộ và được truyền y bát.
Cũng thường được nhắc: câu Huệ Năng thưa với Ngũ Tổ rằng người có Nam Bắc nhưng Phật tánh không có Nam Bắc; câu ngài hỏi Huệ Minh khi vị này đuổi kịp mình, rằng lúc không nghĩ thiện, không nghĩ ác, đâu là «bản lai diện mục»; chuyện hai vị tăng ở chùa Pháp Tánh cãi nhau gió động hay phướn động, và ngài đáp rằng chính tâm người đang động. Ở phẩm Cơ Duyên, vị tăng Pháp Đạt đã tụng Kinh Pháp Hoa ba nghìn bộ mà chưa hiểu nghĩa; Lục Tổ dạy rằng kinh không có lỗi gì, miệng tụng mà tâm thực hành thì mới là chuyển được kinh.
Đọc Pháp Bảo Đàn Kinh trong thư viện
Hai trang ở phần «Đọc» bên trên là cùng một bản dịch, đều có trọn mười phẩm; trang trong bộ Linh Sơn ghi thêm tên chữ Hán. Cả hai có thẻ English với một bản dịch tiếng Anh, cũng chia mười phẩm; chọn «Cả 2» để đọc song song. Các bài kệ có kèm âm Hán-Việt trong ngoặc, nhưng thư viện chưa có nguyên văn chữ Hán, tệp PDF hay bản ghi âm.
Muốn đọc thành tiếng, bấm «Tụng»: màn hình giữ sáng và chữ tự cuộn theo tốc độ bạn chọn. Về cuộc đời Lục Tổ, thư viện còn có Cảnh Đức Truyền Đăng Lục quyển 5, kể đời ngài theo năm tháng và ghi bốn mươi ba đệ tử nối pháp.