Inti DharmaInti Dharma

Kinh Nguyên Thủy · Tăng Chi Bộ

Kinh Kalama (Tăng Chi Bộ 3.65) – đọc trọn kinh và hiểu đúng lời dạy

Kinh Kalama là bài kinh 3.65 của Tăng Chi Bộ Kinh (Aṅguttara Nikāya), lời Đức Phật dạy dân Kālāma ở thị trấn Kesaputta khi họ không biết nên tin vị thầy nào. Ngài dạy chớ tin chỉ vì mười điều như lời truyền lại, truyền thống, kinh điển hay uy tín của người thầy; điều gì tự mình biết rõ là bất thiện, bị người có trí chỉ trích, dẫn đến khổ đau thì từ bỏ, điều ngược lại thì thực hành. Thư viện Inti Dharma có trọn bài kinh, bản dịch HT. Thích Minh Châu, ghi tên dân này là Kàlàmà.

Trang giới thiệu của Inti Foundation · cập nhật

Mười điều «chớ có tin» trong lời Đức Phật

Trích nguyên văn bản dịch của HT. Thích Minh Châu trong thư viện Inti Dharma (AN 3.65): lời Đức Phật nhắc lại sau khi cùng người Kālāma xét về tham, sân, si.

Như vậy, này các Kàlàmà, điều Ta vừa nói với các Ông: “Chớ có tin vì nghe báo cáo, chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì được kinh điển truyền tụng; chớ có tin vì lý luận suy diễn; chớ có tin vì diễn giải tương tự; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền, chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình.”. Nhưng này các Kàlàmà, khi nào tự mình biết rõ như sau: “Các pháp này là bất thiện; Các pháp này là đáng chê; Các pháp này bị các người có trí quở trách; Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh khổ đau”, thời này Kàlàmà, hãy từ bỏ chúng!

Đọc trọn Kinh Kalama →

Kinh Kalama là gì? Bối cảnh bài kinh

Kinh mở đầu khi Thế Tôn du hành ở xứ Kosala cùng đại chúng Tỷ-kheo và đến Kesaputta. Người Kālāma nghe tiếng Ngài, đến gặp và nói thẳng nỗi băn khoăn: các Sa-môn, Bà-la-môn đến đây, ai cũng đề cao quan điểm của mình mà bài xích, khinh miệt quan điểm người khác; vậy ai nói thật, ai nói sai?

Lời đáp đầu tiên của Đức Phật là công nhận sự nghi ngờ ấy: trước điều đáng ngờ, phân vân là lẽ tự nhiên. Kinh thuộc phẩm Lớn, chương Ba pháp; tên Pāli quen gọi là Kālāma Sutta. Trang đọc ghi «Kesamutta», bản dịch ghi «Kesaputta»: hai cách ghi tên cùng một thị trấn.

Mười điều «chớ có tin vì…» và cách tự mình biết rõ

Đoạn này thường được gọi là «mười điều chớ vội tin». Theo bản dịch, chớ tin chỉ vì: nghe người khác thuật lại; đó là truyền thuyết; đó là truyền thống; kinh điển truyền tụng như thế; lý luận suy diễn ra như thế; suy ra từ một điều tương tự; xét qua loa bề ngoài các dữ kiện; điều ấy hợp với định kiến của mình; điều ấy phát xuất từ nơi có uy quyền; hoặc vị Sa-môn nói ra là thầy của mình. Ở lần nhắc cuối, điều thứ năm và thứ sáu được dịch là «lý luận siêu hình» và «đúng theo một lập trường».

Kinh này hay bị tóm thành câu «đừng tin bất cứ điều gì», nhưng kinh không nói vậy. Ngay sau danh sách là cách xét: các pháp nào tự mình biết rõ là bất thiện, đáng chê, bị người có trí chỉ trích, làm theo sẽ đưa đến khổ đau, thì từ bỏ; các pháp nào là thiện, không đáng chê, được người có trí tán thán, đưa đến an lạc, thì đạt đến và an trú. Kinh không bảo bỏ truyền thống hay kinh điển, chỉ dạy đừng tin vì chúng.

Tham, sân, si: để người nghe tự trả lời

Rồi Đức Phật không giảng thêm lý thuyết mà hỏi lại: lòng tham khởi lên trong một người đem lại hạnh phúc hay bất hạnh? Người bị tham chinh phục thì giết hại, lấy của không cho, phạm đến vợ người, nói dối, xúi người khác làm theo; điều ấy có đưa đến khổ đau lâu dài không? Chính người Kālāma tự trả lời: bất hạnh, khổ đau. Ngài hỏi y như thế về sân và si, rồi xét chiều ngược lại: không tham, không sân, không si đem lại an lạc lâu dài. Mười điều được nhắc lại, cùng lời dạy hãy chứng đạt và an trú trong các pháp thiện.

Bốn tâm vô lượng và bốn sự an ổn

Đoạn cuối nói về vị Thánh đệ tử đã ly tham, ly sân, ly si, tỉnh giác, chánh niệm, an trú với tâm từ trải khắp bốn phương, trên, dưới, bề ngang, cùng khắp thế giới, rộng lớn, vô biên, không hận, không sân; rồi cũng vậy với tâm bi, tâm hỷ, tâm xả — bốn tâm vô lượng.

Với tâm không oán, không sân, không uế nhiễm, thanh tịnh như vậy, ngay trong hiện tại người ấy có bốn sự an ổn. Một: nếu có đời sau và nghiệp thiện ác có quả, sau khi chết mình sẽ sinh về cõi lành, cõi trời. Hai: nếu không có đời sau, nghiệp không có quả, thì ngay đời này mình vẫn sống an lạc, không oán, không sân. Ba: giả như có việc ác được làm ra, mình không mang ác tâm với ai, không làm điều ác, thì khổ đau nào chạm được đến mình. Bốn: nếu không có việc ác nào được làm ra, mình thấy mình trong sạch về cả hai mặt.

Hai điều đầu đặt cạnh nhau hai khả năng có và không có đời sau; trong cả hai, người sống với tâm không oán vẫn an ổn. Nghe xong, người Kālāma xin quy y Phật, Pháp và chúng Tỷ-kheo, làm cư sĩ trọn đời.

Đọc trong thư viện, và bản Hán tạng tương đương

Trang AN 3.65 có trọn bài kinh, khoảng 2.900 chữ, chừng 12 phút đọc; số «TTC» ở đầu đoạn là số đoạn của bản dịch. Tab «English» có bản tiếng Anh, «Cả 2» cho đọc song ngữ. Đây là bài giảng văn xuôi, hợp đọc chậm hơn là tụng. Thư viện không có bản PDF hay bản thu âm.

Trong Hán tạng, kinh tương đương là Kinh Già-lam, kinh số 16 của Trung A Hàm, trong trang «Trung A Hàm Kinh quyển 3»; chú thích bản dịch ghi rõ là tương đương AN III.65. Người Kālāma ở đây là người Già-lam, thị trấn là Ki-xá tử. Bản này không có danh sách mười điều: Đức Phật nói họ chưa có trí thanh tịnh để biết có đời sau hay không, việc làm có tội hay không, rồi dạy tham, sân, si là gốc của các nghiệp, nói về vị Thánh đệ tử xa lìa mười điều bất thiện, tu bốn tâm vô lượng và được «bốn trụ xứ an ổn».

Câu hỏi thường gặp

Kinh Kalama có dạy «đừng tin bất cứ điều gì» không?

Không. Kinh dạy chớ tin chỉ vì lời truyền lại, truyền thống, kinh điển, lý luận hay uy tín người thầy. Điều tự mình biết rõ là bất thiện, bị người trí chê, đưa đến khổ đau thì bỏ; điều thiện, được người trí khen, đưa đến an lạc thì làm.

Mười điều chớ vội tin trong Kinh Kalama là gì?

Theo bản dịch, chớ tin chỉ vì: nghe thuật lại, truyền thuyết, truyền thống, kinh điển truyền tụng, lý luận suy diễn, suy ra từ điều tương tự, xét qua loa các dữ kiện, hợp với định kiến của mình, phát xuất từ nơi có uy quyền, hoặc vị Sa-môn nói ra là thầy của mình.

Kinh Kalama nằm ở đâu trong kinh tạng?

Trong Tăng Chi Bộ Kinh (Aṅguttara Nikāya), chương Ba pháp, phẩm Lớn, bài 3.65. Bản tương đương trong Hán tạng là Kinh Già-lam, kinh số 16 của Trung A Hàm.

Có Kinh Kalama bản PDF không?

Thư viện Inti Dharma không có tệp PDF hay bản thu âm. Bạn đọc trọn kinh ngay trên trang AN 3.65, bằng tiếng Việt, tiếng Anh hoặc song ngữ.