Tên kinh và bản kinh trong thư viện
«Bát» là tám, «đại nhân» là bậc đại nhân, «giác» là giác ngộ, thấy rõ: tên kinh nghĩa là tám điều giác ngộ của bậc đại nhân. Thư viện ghi theo cách đọc miền Nam là «Nhơn», nên bạn sẽ gặp cả hai cách viết Nhân và Nhơn. Trang kinh ghi tên chữ Hán 佛說八大人覺經, dài khoảng 560 chữ, chừng 2 phút đọc, gồm lời mở đầu, tám điều giác ngộ có đánh số và đoạn kết, viết bằng văn xuôi.
Đây là kinh ngắn quen thuộc với nhiều Phật tử Việt Nam. Bản lược giải giải thích rằng hễ đã quy y Phật, dù tại gia hay xuất gia, đều là đệ tử Phật; điều giác ngộ thứ bảy cũng dặn cả người tại gia đừng để dục lạc thế gian làm nhiễm ô. Vì vậy kinh dành cho mọi người con Phật, không riêng giới xuất gia.
Tám điều giác ngộ trong kinh
Thứ nhất, thấy thế gian vô thường, cõi nước mong manh; bốn đại là khổ, là không; năm uẩn không có ngã; mọi thứ sinh diệt đổi thay, giả tạm, không có chủ; tâm là gốc của điều ác, thân là chỗ chứa tội lỗi; quán sát như vậy thì dần xa lìa sinh tử. Thứ hai, ham muốn nhiều thì khổ, sinh tử nhọc nhằn đều khởi từ tham dục; ít muốn, không tạo tác thì thân tâm tự tại. Thứ ba, tâm không biết đủ, chỉ mong cầu thêm, nên tội lỗi tăng trưởng; Bồ Tát thì luôn nhớ biết đủ, sống an bần giữ đạo, lấy trí tuệ làm sự nghiệp. Thứ tư, lười biếng dẫn đến sa đọa; phải luôn tinh tấn, phá phiền não, hàng phục bốn loại ma và ra khỏi ngục tù của năm uẩn.
Thứ năm, ngu si làm trôi lăn trong sinh tử; Bồ Tát luôn nhớ học rộng nghe nhiều để tăng trưởng trí tuệ, thành tựu biện tài, giáo hóa mọi người và đem lại niềm vui lớn. Thứ sáu, nghèo khổ sinh nhiều oán hận, dễ kết duyên xấu; Bồ Tát thực hành bố thí, đối với người oán kẻ thân đều bình đẳng, không nhớ lỗi cũ, không ghét người ác. Thứ bảy, năm dục là nguồn lỗi lầm và hoạn nạn; dù là người tại gia cũng đừng để dục lạc thế gian làm nhiễm ô, hãy nhớ đến ba y, bình bát và pháp khí, nuôi chí nguyện xuất gia, giữ đạo trong sạch, sống phạm hạnh và từ bi với tất cả. Thứ tám, sinh tử như lửa cháy, khổ não vô cùng; hãy phát tâm Đại thừa cứu độ tất cả, nguyện chịu khổ thay chúng sinh và đưa mọi người đến an lạc rốt ráo.
Đoạn kết nói đây là tám điều chư Phật, Bồ Tát và các bậc đại nhân đã giác ngộ; các ngài tinh tấn tu từ bi và trí tuệ, đến bờ Niết-bàn rồi trở lại sinh tử độ chúng sinh, dùng tám điều này mở đường cho mọi người. Câu cuối kinh nói về người đệ tử Phật trì tụng tám điều này trong từng niệm.
Bản lược giải giảng ý nghĩa thế nào
Bát Đại Nhơn Giác Kinh Lược Giải chia toàn văn làm ba phần: nêu chung, giải riêng từng điều, rồi kết luận. Sách trích kinh theo lối bốn chữ một nhịp, khác lời bản dịch văn xuôi, và đặt cho mỗi điều một tên ngắn, từ «giác vô thường vô ngã» ở điều thứ nhất đến «giác đại tâm phổ tế» ở điều thứ tám.
Sách cho thấy tám điều nối nhau như những bậc thang. Điều thứ nhất hàng phục kiến hoặc, tức thấy biết sai lầm; điều thứ hai hàng phục tư hoặc, đứng đầu là tham dục. Ít muốn thêm biết đủ thì trí tuệ tự tăng; nhưng không được mượn cớ biết đủ để lười, nên kế đến là tinh tấn. Tinh tấn mà không học rộng thì dễ chỉ ngồi thiền mà mờ tối nghĩa lý; sách ví nghe nhiều thiếu tuệ và có tuệ ít nghe đều tự làm hại mình, một như lửa, một như dao. Có tuệ còn cần phước, nên điều thứ sáu cùng điều thứ năm làm đủ tài thí, vô úy thí và pháp thí. Điều thứ bảy dứt năm dục để nối thịnh Tam Bảo; điều thứ tám phát tâm Đại thừa cho lòng từ bi trọn vẹn.
Cuối sách có phần chú thích các từ khó: y báo và chánh báo, kiến hoặc và tư hoặc, bốn loại ma (phiền não ma, ấm ma, tử ma, thiên ma), mười tám giới, và ba y của người xuất gia.
Đọc và tụng tại nhà
Kinh ngắn nên có thể tụng trọn trong một thời ngắn: mở trang kinh, bấm «Tụng», chọn tốc độ chậm và để mõ giữ nhịp; chạm màn hình khi muốn dừng lại ở một điều. Thư viện hiện có bản dịch nghĩa tiếng Việt; chưa có nguyên văn chữ Hán, bản phiên âm Hán-Việt, tệp PDF hay bản ghi âm.