Inti DharmaInti Dharma

37 phẩm trợ đạo

Thất Giác Chi là gì? Bảy yếu tố hỗ trợ giác ngộ

Pāli: satta bojjhaṅgā · Sanskrit: sapta bodhyaṅgāni · Tiếng Anh: the seven factors of awakening

Thất Giác Chi (bojjhaṅga) là bảy yếu tố đưa đến giác ngộ: niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định và xả. Niệm là biết rõ điều đang diễn ra; trạch pháp là dùng trí tuệ xem xét các pháp, phân biệt thiện với bất thiện; tinh tấn là nỗ lực không chùng xuống; hỷ là niềm vui lành không dựa vào dục lạc; khinh an là sự lắng dịu của thân và tâm; định là tâm an trú, không tán loạn; xả là sự quân bình, không nghiêng theo thương ghét. Bảy yếu tố này là một nhóm trong 37 phẩm trợ đạo, có riêng một chương trong kinh là Tương Ưng Giác Chi (SN 46). Kinh Lửa (SN 46.53) dạy dùng chúng đúng lúc: tâm chùng xuống thì tu trạch pháp, tinh tấn, hỷ; tâm dao động thì tu khinh an, định, xả; còn niệm thì lợi ích trong mọi trường hợp. Thất Giác Chi không phải thang điểm để tự nhận chứng đắc, mà là tấm bản đồ giúp nhận ra tâm đang thiếu gì để nuôi dưỡng.

Bài hướng dẫn của Inti Foundation · cập nhật

Lời kinh: khi tâm thụ động, nên tu giác chi nào (SN 46.53)

Trích nguyên văn bản dịch của HT. Thích Minh Châu trong thư viện Inti Dharma (Tương Ưng Bộ Kinh 46.53).

Và này các Tỷ-kheo, trong khi tâm thụ động, trong khi ấy, phải thời là tu tập trạch pháp giác chi, phải thời là tu tập tinh tấn giác chi, phải thời là tu tập hỷ giác chi. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, khi tâm thụ động, thật dễ làm tâm phát khởi nhờ những pháp này. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người muốn đốt lên một ngọn lửa nhỏ, người ấy ném vào đấy cỏ khô, phân bò khô, củi khô, dùng miệng thổi, không có rắc bụi lên trên; người ấy có thể nhen đỏ ngọn lửa ấy không? —Thưa có, bạch Thế Tôn.

Đọc toàn văn bài kinh →

Bảy giác chi lần lượt sinh khởi thế nào?

Kinh Quán Niệm Hơi Thở (MN 118) mô tả bảy giác chi nối nhau như một chuỗi. Khi vị Tỷ-kheo quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, niệm được an trú không lơi lỏng: đó là niệm giác chi. Trú với niệm ấy, vị ấy dùng trí tuệ thẩm sát pháp đang hiện: trạch pháp giác chi. Khi thẩm sát như vậy, tinh tấn không thụ động sinh khởi: tinh tấn giác chi. Nơi người tinh tấn, hỷ không liên hệ vật chất xuất hiện: hỷ giác chi. Tâm hoan hỷ thì thân và tâm lắng dịu: khinh an giác chi. Thân khinh an, an lạc thì tâm định tĩnh: định giác chi. Với tâm định tĩnh, vị ấy khéo nhìn sự vật với tâm xả: xả giác chi.

Tâm chùng xuống hay dao động: tu giác chi nào?

Kinh Lửa (SN 46.53) chia sáu giác chi thành hai nhóm và dạy dùng đúng thời. Khi tâm thụ động, chùng xuống (līna), tu khinh an, định, xả là không đúng thời, như muốn nhen ngọn lửa nhỏ mà bỏ vào cỏ ướt, củi ướt rồi rắc bụi lên; lúc ấy nên tu trạch pháp, tinh tấn, hỷ, như thêm cỏ khô, củi khô và thổi cho lửa bén. Khi tâm dao động (uddhata), tu trạch pháp, tinh tấn, hỷ là không đúng thời, như ném củi khô vào đống lửa lớn đang muốn dập; lúc ấy nên tu khinh an, định, xả, như phủ cỏ ướt và rắc bụi. Kinh kết rằng niệm thì lợi ích trong mọi trường hợp. Không có giác chi nào tốt nhất cho mọi lúc; điều cần là nhận ra tâm đang nghiêng về phía nào.

Món ăn nuôi dưỡng các giác chi

Kinh Thân (SN 46.2) ví: như thân này nhờ thức ăn mà tồn tại, năm triền cái và bảy giác chi cũng có món ăn nuôi chúng. Món ăn của giác chi là như lý tác ý (yoniso manasikāra), tức chú tâm khéo léo, đúng chỗ, được làm cho sung mãn: với trạch pháp là chú tâm vào các pháp thiện và bất thiện, đáng chê và không đáng chê; với tinh tấn là vào sự phát khởi, nỗ lực, kiên trì; với khinh an là vào sự lắng dịu của thân và tâm; với định là vào tướng tĩnh lặng, không tán loạn. Kinh Nuôi Dưỡng (SN 46.51) nói thêm điều ngược lại: cũng những đối tượng ấy mà chú tâm sai cách thì giác chi không được nuôi; còn với triền cái, chẳng hạn, từ tâm giải thoát là điều không nuôi sân.

Giới làm nền, triền cái là mặt đối nghịch

Kinh Tuyết Sơn (SN 46.1) ví: các loài rắn lớn (nāga) nương núi Tuyết Sơn mà lớn mạnh, rồi xuống hồ, xuống sông, ra biển, thân trở nên to lớn; cũng vậy, vị Tỷ-kheo nương vào giới, tu bảy giác chi theo hướng viễn ly, ly tham, đoạn diệt và buông bỏ thì lớn mạnh trong các pháp. Các giác chi thường được dạy đối diện năm triền cái: tham dục, sân, hôn trầm thụy miên, trạo hối và nghi. Kinh Niệm Xứ (MN 10) xếp cả hai nhóm vào phần quán pháp: hành giả biết khi nào một giác chi có mặt hay vắng mặt, nó sinh khởi và được tu tập đến viên mãn ra sao. Trong 37 phẩm trợ đạo, bảy giác chi đứng cạnh bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm căn, năm lực và Bát Chánh Đạo.

Tập Thất Giác Chi trong đời sống hằng ngày

Niệm là biết mình đang làm gì khi rửa chén hay trả lời tin nhắn. Trạch pháp là tự hỏi ý nghĩ này đang nuôi điều thiện hay bất thiện. Tinh tấn là quay về mỗi khi xao lãng, không tự trách. Hỷ là để ý niềm vui lành sau một việc tốt. Khinh an là thả lỏng vai, hàm và hơi thở khi thấy mình đang gồng. Định là làm trọn một việc mỗi lúc. Xả là đón nhận khen chê, được mất mà không bị cuốn theo. Nếu mệt mỏi, buồn chán hay mất ngủ kéo dài, đừng xem đó chỉ là hôn trầm cần cố hơn; hãy nghỉ ngơi và tìm hỗ trợ chuyên môn khi cần.

Đọc thử miễn phí

Không cần tài khoản để thử một bước thực hành

Mở một đoạn ngắn từ chính bài này, thực hành ngay tại đây, rồi tạo tài khoản nếu muốn lưu tiến trình và mở khóa cõi giới.

Đọc nguồn kinh

Chạm mở để đọc một đoạn ngắn và thử một bước thực hành trước khi đăng ký.

Thực hành trong hôm nay

  1. 1.Ngồi yên vài phút, chỉ ghi nhận tâm đang chùng xuống, dao động hay khá quân bình.
  2. 2.Nếu tâm chùng xuống, mở mắt, ngồi thẳng, đọc chậm một đoạn kinh và tự hỏi đoạn ấy dạy gì.
  3. 3.Nếu tâm dao động, trở về cảm giác thân và hơi thở tự nhiên, để tâm lắng dịu trước khi quyết định.

Câu hỏi thường gặp

Thất Giác Chi gồm những gì?

Bảy yếu tố là niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định và xả; tiếng Pāli là sati, dhammavicaya, viriya, pīti, passaddhi, samādhi, upekkhā. Đây cũng là thứ tự sinh khởi mà Kinh Quán Niệm Hơi Thở (MN 118) mô tả.

Có phải nuôi cả bảy yếu tố giống nhau mọi lúc không?

Không. Kinh Lửa (SN 46.53) dạy: tâm chùng xuống là lúc tu trạch pháp, tinh tấn, hỷ; tâm dao động là lúc tu khinh an, định, xả. Riêng niệm thì lợi ích trong mọi trường hợp, nên luôn giữ làm nền.

Thất Giác Chi có phải dấu hiệu mình đã giác ngộ không?

Không. Đây là những phẩm chất được tu tập dần trên đường đi; thấy một giác chi xuất hiện không phải căn cứ để tự nhận chứng đắc. Kinh nói bảy giác chi khi tu tập đầy đủ đưa đến minh và giải thoát: chúng chỉ hướng đi, không phải nhãn dán cho bản thân.

Thất Giác Chi nằm trong kinh nào?

Tương Ưng Bộ có riêng chương Tương Ưng Giác Chi (SN 46), với các kinh như Tuyết Sơn (SN 46.1), Thân (SN 46.2), Nuôi Dưỡng (SN 46.51) và Lửa (SN 46.53). Kinh Quán Niệm Hơi Thở (MN 118) nói bốn niệm xứ làm viên mãn bảy giác chi; Kinh Niệm Xứ (MN 10) đặt bảy giác chi trong phần quán pháp.

Người mới bắt đầu nên tập Thất Giác Chi thế nào?

Bắt đầu từ niệm: mỗi ngày vài phút biết rõ hơi thở và thân, rồi mang sự biết ấy vào việc thường ngày. Khi niệm có mặt, nhận ra tâm đang chùng xuống hay dao động và nhẹ nhàng nuôi nhóm giác chi phù hợp.

Nguồn đọc sâu

SN 46.53 — Lửa (Tương Ưng Giác Chi)

Kinh Lửa dạy khi tâm chùng xuống thì tu trạch pháp, tinh tấn, hỷ; khi tâm dao động thì tu khinh an, định, xả; còn niệm thì lợi ích trong mọi trường hợp.