Inti DharmaInti Dharma
← Kinh điển
Nguyên Thủy — Pāli Tạng · Luật Tạng

Bi Np 22. Phân Phát Y Ngoài Mùa

Tên Pāli / Sanskrit:Akālacīvara

📖889 từ · ~4 phút đọc
2
Tóm tắt

Một tỳ-kheo-ni phân phát y phục không đúng cách phải xả y phục đó và sám hối tội.

Bản dịch đầy đủ (Tiếng Việt)

– TẠNG LUẬT

– PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU NI

– CÁC ĐIỀU NISSAGGIYA:

2. ĐIỀU HỌC THỨ NHÌ:

Inda-bh 1Duyên khởi ở thành Sāvatthī: Vào lúc bấy giờ, nhiều vị tỳ khưu ni, khi trải qua mùa (an cư) mưa ở trú xứ thôn làng, đã đi đến thành Sāvatthī. (Các vị ni ấy) có đầy đủ các pháp thực hành, đầy đủ oai nghi, (nhưng) mặc vải tàn tạ và y phục thô xấu. Các cư sĩ sau khi nhìn thấy các tỳ khưu ni ấy (nghĩ rằng): “Các tỳ khưu ni này có đầy đủ các pháp thực hành, đầy đủ oai nghi, (nhưng) mặc vải tàn tạ và y phục thô xấu.

Các tỳ khưu ni này sẽ bị rách rưới,” rồi đã dâng y ngoài hạn kỳ đến hội chúng tỳ khưu ni. Tỳ khưu ni Thullanandā đã xác định rằng:—“Kaṭhina của chúng tôi đã được thành tựu, (vậy là) y trong thời hạn,” rồi đã bảo phân chia. Các cư sĩ sau khi nhìn thấy các tỳ khưu ni ấy đã nói điều này:—“Có phải các ni sư cũng đã lãnh được y?”—“Này các đạo hữu, chúng tôi không được lãnh y.

Ni sư Thullanandā đã xác định rằng: ‘Kaṭhina của chúng tôi đã được thành tựu, (vậy là) y trong thời hạn,’ rồi đã bảo phân chia.” Các cư sĩ phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Tại sao ni sư Thullanandā lại xác định y ngoài hạn kỳ là: ‘Y trong thời hạn’ rồi bảo phân chia?”

Inda-bh 2Các tỳ khưu ni đã nghe được các cư sĩ ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu ni nào ít ham muốn, … (như trên) … các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao ni sư Thullanandā lại xác định y ngoài hạn kỳ là: “Y trong thời hạn” rồi bảo phân chia?” … (như trên) … “Này các tỳ khưu, nghe nói tỳ khưu ni Thullanandā xác định y ngoài hạn kỳ là: ‘Y trong thời hạn’ rồi bảo phân chia, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: … (như trên) … Này các tỳ khưu, vì sao tỳ khưu ni Thullanandā lại xác định y ngoài hạn kỳ là: ‘Y trong thời hạn’ rồi bảo phân chia? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên) … Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy:

“Vị tỳ khưu ni nào xác định y ngoài hạn kỳ là: ‘Y trong thời hạn’ rồi bảo phân chia thì (y ấy) nên được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya.”

Inda-bh 3Vị ni nào : là bất cứ vị ni nào … (như trên) …

Tỳ khưu ni : … (như trên) … vị ni này là ‘vị tỳ khưu ni’ được đề cập trong ý nghĩa này.

Y ngoài hạn kỳ nghĩa là khi Kaṭhina không được thành tựu thì được phát sanh trong mười một tháng, khi Kaṭhina được thành tựu thì được phát sanh trong bảy tháng; (y) được dâng xác định trong thời gian trên thì (y) ấy gọi là y ngoài hạn kỳ.

Vị ni xác định: “Y trong thời hạn” rồi bảo phân chia, trong lúc tiến hành thì phạm tội dukkaṭa. Do sự đạt được thì phạm vào nissaggiya, nên được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến một vị tỳ khưu ni. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy: … (như trên) … “Bạch chư đại đức ni, y này của tôi đã được bảo chia phần sau khi xác định y ngoài hạn kỳ là ‘Y trong thời hạn,’ giờ cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ (y) này đến hội chúng. … (như trên) … hội chúng nên cho lại … (như trên) … các đại đức ni nên cho lại … (như trên) … “Tôi cho lại ni sư.”

Y ngoài hạn kỳ, nhận biết là y ngoài hạn kỳ, vị ni xác định: “Y trong thời hạn” rồi bảo phân chia thì phạm tội nissaggiya pācittiya. Y ngoài hạn kỳ, có sự hoài nghi, vị ni xác định: “Y trong thời hạn” rồi bảo phân chia thì phạm tội nissaggiya pācittiya. Y ngoài hạn kỳ, (lầm) tưởng là y trong thời hạn, vị ni xác định: “Y trong thời hạn” rồi bảo phân chia thì phạm tội nissaggiya pācittiya. Y trong thời hạn, (lầm) tưởng là y ngoài hạn kỳ, phạm tội dukkaṭa. Y trong thời hạn, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa. Y trong thời hạn, nhận biết là y trong thời hạn thì vô tội.

Đối với y ngoài hạn kỳ vị ni nhận biết là y ngoài hạn kỳ rồi bảo phân chia, đối với y trong thời hạn vị ni nhận biết là y trong thời hạn rồi bảo phân chia, vị ni bị điên, … (như trên) … vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.”.

Điều học thứ nhì

Translated by Bhikkhu Indacanda . Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/ .

Used by kind permission of the translator.

📜Vì sao trong bài có dấu “…”?

Dấu “…” là lối viết tắt có từ chính bản gốc Pāli, gọi là peyyāla. Kinh tạng nguyên thuỷ vốn được tụng thuộc lòng, nên những đoạn lặp lại y nguyên ở bài trước thường được rút gọn lại bằng một dấu lược thay vì chép lại toàn văn. Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu giữ đúng lối ấy. Vì vậy có bài trông ngắn, nhưng đó là hình thức chuẩn mực của kinh điển chứ không phải app thiếu nội dung hay bản dịch bị cắt. Phần bị lược có thể đọc đầy đủ ở các bài liền trước trong cùng phẩm.

Nguồn bản dịch: Bhikkhu Indacanda (SuttaCentral)Giấy phép: VI © Bhikkhu Indacanda (qua SuttaCentral) · EN CC0-1.0 (Bhikkhu Brahmali)Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala .🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch bằng AI do Inti biên soạn: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến