Inti DharmaInti Dharma
← Kinh điển
Đại Thừa — Tạng Bắc Truyền · Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Việt dịch)

Hiền Ngu Kinh quyển 12

Tên chữ Hán:賢愚經

📖12,215 từ · ~49 phút đọc
2

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản →
Bản dịch đầy đủ (Tiếng Việt)

KINH HIỀN NGU - QUYỂN 12

KINH HIÈN NGU
QUYÊN 12

Phẩm 54: MA-ĐÂU-LA-THÉ-CHÁT, CON

CỦA ÔNG SƯ CHẤTTôi nghe như thế này:Thuở nọ Đức Phật ở tại vườn Kỳ-đà Cấp côđộc, thuộc nước Xá-vệ. Bây ĐIỜ, ong nước có vịBà-la-môn tên là Sư Chất, nhà rất giàu có, nhưngkhông có con mới đi đến Lục sư hỏi nhân duyênđó. Lục sư nói:— Tướng ông không có con.Khi đó Sư Chất bèn trở về nhà, mặc quân áo dơxâu, buôn rầu không vui, rôi tự nghĩ răng: “Takhông có con trai, một khi mạng chung, nhà cửatài sản sẽ thuộc về quốc VƯƠng.. ° Suy nghĩ thê rôi,ông cảng thêm sâu não. Vợ ông Bà-la-môn chomột vị Tỳ-kheo-ni biết chuyện ây. Khi ấy vị Tỳ-kheo-mi đi thăng đến nhà ông Bả-la-môn, thấy ôngbuôn râu tiêu tụy bèn hỏi:— Vì sao ông buôn râu tiêu tụy như vậy?Vợ vị Bà-la-môn liền đáp:— Nhà tôi không có con tra1, có đi đến hỏi Lụcsư, Lục sư xem tướng nói là không con vì thế chonên ông nhà tôi buôn râu.Bấy giờ vị Tỳ-kheo-ni nói:— Học trò của Lục sư không có Nhất thiết trí,làm sao có thê biết được nghiệp hạnh nhân duyên?Đức Như Lai còn tại thế thâu rõ các pháp quá khứvị lai không có gì chướng ngại, có thê đi đến đó hỏiăt sẽ biết tât cả.Sau khi vị Tỳ-kheo-n1 đi rôi, bà vợ nói vớichồng:— Như lời sư cô nói ông đã nghe tôi.Tâm ông bèn khai ngộ, mặc y phục mới đi đếnchỗ Phật, cúi đầu lễ dưới chân Phật mà bạch:—- Bạch Thê Tôn, tướng mệnh của con sẽ có conkhông?Đức Thế Tôn bảo:— Ông sẽ có một đứa con trai có phúc đức đâyđủ, lớn lên nó sẽ muôn xuất gia.VỊ Bả-lamôn nghe xong vui mừng khônlường, nói:

– Chỉ khiến có con, đù nó ham học đạo cực khô

cũng được.Nhân dịp đó ông thỉnh Đức Phật và Tỳ-kheoTăng ngày mai đến nhà thọ trai. Khi ây Thế Tônim lặng nhận lời. Ngày mai Đức Phật và chúngTăng cùng đi đến nhà ông. Chúng Tăng đã an tọahết, khi đó vợ chồng vị Bà-la-môn đồng tâm đồngchí kính dâng thức ăn, thức uông. Cúng đườngxong, Đức Phật và chúng Tăng trở về trụ xứ. Trênđường về, gặp một cái đâm có nước trong thật đẹp,Đức Phật ngôi lại nghỉ ngơi. Chư Tỳ-kheo đem bátđến đầm nước rửa, có một con khỉ xin bát của A-nan, ngài sợ nó làm vỡ nên không đưa cho nó. ĐứcPhật bảo A-nan:— Ông hãy đưa cho nó, đừng có lo sợiVâng lời Thế Tôn, A-nan đưa bát cho nó. Conkhỉ câm được cái bát đi lây mật trên cây đựng đâybát rồi đem dâng cho Thế Tôn. Đức Thế Tôn bảo:— Bỏ những thứ bất tịnh trong đó.Con khỉ liền lây ong con bỏ sạch sẽ. Đức Phậtlại bảo:— Hãy lây nước hòa với mật.Nó làm theo lời đi lấy nước hòa _XONE, đemdâng lên Thế Tôn. Thế Tôn thọ xong rồi phân chiacho các Tỳ-kheo đều được dùng cả. Con khỉ tỏ vẻvui mừng leo trèo tung tăng rớt xuống cái đầmnước mạng chung, thân thức thọ thai vào nhà ô ôngSư Chất. Bấy giờ bà vợ ông Sư Chất cảm thây cóthai, ngày tháng đủ kỳ sinh được một cậu con traI,mặt mũi đoan chánh, ở đời ít ai sánh băng. Khi sinhđứa bé ra, các đồ vật trong nhà tự nhiên đây mậtong. Vợ chồng Sư Chất vui mừng khôn xiết, liềnmời thầy tướng bói coi tốt xâu. Thầy tướng bóixong bảo:

– Đứa bé này có phúc đức, rất hiên lành không

ai sánh băng. Nhân đó đặt tên là Ma-đâu-la-thê-chất (Tân dịch là Mật Thắng). Do ngày nó sinh racó mật làm điềm ứng, mà đặt tên đứa bé. Khi lớnlên, cậu bé cầu xin đi xuất gia, cha mẹ luyên tiếcmến thương không muốn cho đi. Cậu năn nỉ thưacùng cha mẹ nêu ngăn cản không chìu theo I nó,sẽ chọn lây cái chết, chứ không chịu sống ngoài thêtục. Cha mẹ cậu bàn bạc:— Xưa kia Đức Thế Tôn cũng đã dự đoán TÔI,sau này nó sẽ xuất gia, nay giữ nó lại, có thể nó sẽchọn cái chết, thôi hãy chìu theo ý nó.Cùng bàn bạc quyết định xong, hai vị nói vớiCON:— Tùy theo chí của con đấy.Đứa con rất vui mừng vội vàng đi đến nơi Phậtngự, cúi đầu đảnh lễ câu xin xuất ø1a. Đức Thê TônnóI:— Thiện lai Tỳ-kheolRâu tóc cậu tự rụng, pháp y mặc trên mình trởthành một Sa-môn. Nhân đó Đức Phật rộng thuyếtlý Tứ diệu đề, các: pháp vi diệu. Tâm vị ây khai ngộdứt sạch kết sử đắc quả A-la-hán, rồi cùng các Tỳ-kheo đi du hóa nhân gian. Nêu lúc khát thì cầm bátø1ơ lên không trung thì tự nhiên bát đây mật, cùngchúng Tăng uống đều được no đủ.Lúc đó ngài A-nan bạch Phật:

– Bạch Thê Tôn, Ma- đâu-la-thê-chât chứa

nhóm công đức gì mà xuất gia chưa bao lâu đãchứng quả A-la-hán, lại còn cầu muốn gì cũngđược như ý?Đức Phật bảo:— Này A-nan, ông có nhớ xưa kla thọ trai ở nhàông Sư Chất không?Đáp:— Bạch Thế Tôn, nhớ.Đức Phật nói:— Lúc thọ trai xong, trở về ngôi nghỉ nơi đâmnước, khi ây có một con khỉ xin bát ông đi lây mậtcúng thí Ta, Ta thọ nhận xong nó vui mừng nhảynhót rơi xuông đâm nước mà chết, ông còn nhớchăng?Ngài A-nan thưa:— Bạch Thế Tôn, nhớ.Đức Phật nói:

– Này A-nan, con khi đó nay đầu thai chính là

Ma-đâu-la-thê-chât. Do thây Phật nhận thí vuimừng mà nó được sinh vào nhà ông ây, tướng mạođoan chánh xuât gia học đạo, mau chứng vô lậu.Ngài A-nan quỳ bạch:— Bạch Thế Tôn, vì duyên gì mà nó lại sinhtrong loài khi như thê?Đức Phật bảo:— Này A-nan, về thuở quá khứ, thời Đức PhậtCa-diếp có một vị Tỳ-kheo trẻ thấy một vị Sa-mônkhác nhảy ngang kênh nước liên lên tiếng nói:— Ông kia nhảy nhẹ nhàng nhanh chóng giỗngnhư con khi.VỊ Sa-môn đó nghe được lời ấy bèn nói:— Ông có biết tôi không?Đáp:— Con biết thầy. Thây là Sa-môn đệ tử của PhậtCa-diếp, làm sao mà không biết?Khi ấy vị Sa-môn đó nói:— Ông chớ có gọi ta là Sa-môn giả danh. Cácquả của Sa-môn ta đều đây đủ.VỊ Tỷ-kheo trẻ nghe xong, lông tóc dựngngược, năm vóc sát đất cầu xin sám hôi. Vì do hồilỗi thời quá khứ, không bị đọa địa ngục, nhưngtrong năm trăm đời thường làm khỉ. Do đời trướcxuất Ø1a trÌ g1ữ ĐIỚI câm, nên nay được gẠp Ta, tămgội thanh hóa băng giáo pháp được dứt hết khô.Đức Phật lại bảo A-nan:— Vị Tỳ-kheo trẻ thuở đó nay chính là Ma-đâu-la-thế-chất.Lúc đó A-nan và cả đại chúng nghe Đức Phậtnói về tiền kiếp vui buôn lần lộn, đồng nói rằng:— Nghiệp thân, khẩu, ý khá nên gìn giữ. VỊ Ty-kheo trẻ do không gìn giữ miệng mà phải gặp quảbáo như thê.Đức Phật bảo:— Này A-nan, đúng như lời các ông nói.Nhân đó Đức Phật vì bốn chúng rộng nói cácpháp tịnh thân, khâu, ý, tâm câu trừ sạch. Có ngườinghe xong đắc quả Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán. Lại có người phát tâm Vô thượngchánh giác, có người trụ Bất thoái địa. Cả chúnghội nghe pháp đêu rât vui mừng đảnh lễ phụnghành.

Phẩm 55: ĐÀN-DI-LY

Tôi nghe như thế này:
Thuở nọ, Đức Phật ở thành Vương xá trong khu
vườn trúc. Lúc đó trong nước Câu-tát-la có một vỊ
trưởng giả tên là Đàm-ma-quán- chât thuộc dòng
họ giàu có nhưng không có con, câu đảo tất cả nơi
thờ thần kỳ trong nước xin một đứa con trai, do
lòng chí thành cảm động đến Thân linh khiến bà
vợ mang thai. Ngày tháng mãn, người vợ sinh được
một đứa con trai, thân hình đoan nghiêm trên đời
Ít có. Ông cho mời thây tướng về xem coi tốt xấu
thê nào. Thây tướng nÓI:

– Đứa bé này rất có phúc đức.

Nhân đó đặt tên là Đàn-di-ly. Khi lớn lên, chamẹ qua đời, lúc đó, vua Ba-tư-nặc ban tước cho chaĐàn-di-ly. Thọ vua phong rôi thì nhà cửa liên biếnthành bảy báu, các kho lẫm tự nhiên đây ăp, đây đủcác thứ. Lúc đó, Vương tử Lưu Ly bị bệnh nóng,thân thể tiêu tụy, các ngự y bảo phải có gỗ Ngưuđâu chiên-đàn dùng làm bột xoa lên mình thì mớikhỏi. Vua liền ra lệnh: “Khắp trong nước, a1 có gỗNgưu đầu chiên-đàn mang đến cho nhà vua sẽđược ban thưởng một ngàn lượng vàng.” Lệnhtruyền khắp nơi, không thấy ai đem tới. Khi ây cómột người tâu vua:— Tâu bệ hạ, ở nước Câu-tát-la có trưởng giảĐàn-di-ly trong nhà có gỗ ấy rất nhiêu.Vua nghe nói thê, đích thân ngôi xe ngựa đi đếntrước công nhà Đàn-di-ly. Lúc đó người giữ côngvào báo:— Thưa trưởng giả, có vua Ba-tư-nặc đang ởngoải cổng.Trưởng giả vui mừng, liền vội vã ra nghênhđón, mời vua vào nhà. Nhà vua thây ngoài côngxây toàn bằng bạc trăng, còn vào nhà trồng thấycác cô gái mặt mũi đoan chánh ở đời ít có; họ ngôitrên giường bạc, dệt bằng sợi bạc. Mười cô gái nhỏra đứng hâu hai bên. Khi đó vua bèn hỏi:— Ngươi có chồng chưa?Đáp:— Tâu bệ hạ, chưa.Vua tiếp tục hỏi trưởng giả:— Các cô gái nhỏ này dùng làm gì?Đản-di-ly đáp thưa rõ mọi thứ ngọn ngành, lạimời vua đi vào lớp cửa trong nữa, thây thuân lá lưuly xanh. Trong nhà này cũng có các cô gái mặt mũiđoan nghiêm, đẹp hơn các cô gái trước nữa, họđứng hai bên tả hữu hầu. Lại tiễn vào bên trongthấy nhà cửa thuân là vàng ròng, bên trong cũng cócác cô gái mặt mảy tươi đẹp còn hơn các cô trướcnữa. Họ ngôi trên giường dây dệt băng sợi vàngròng, đứng hâu hai bên. Vua cũng hỏi:— Những cô gái này là thiếp của khanh chăng?Đáp:— Tâu bệ hạ, không phải.Đi vào một dãy nhà bên trong nữa thấy đất bănglưu ly trong sáng như nước, gian nhà điêu khắchình thú vật thủy trùng... gió thôi cảnh ấy hiện trênmặt đất, lắc lự. Vua thấy nghi ngờ sợ hãi, hỏi:— Đây có phải là nước hay là cái ao ở mặt đất?Đàn-dI-ly nói:— Tâu bệ hạ, không phải thể. Đó là lưu ly cam.Trưởng giả liền thò tay chỉ thì bảy báu, vòngxuyến... đầy trên mặt đất, che kín cả bức tường mớidừng. Vua trông thấy rất vui mừng, liên cùng bướcvào trong, lên ngôi điện bảy báu. Vợ chông Đàn-đi-ly ngôi trên giường lưu ly cam, còn có một cáigiường tuyệt diệu khác nữa mời vua ngôi. Vợchông Đàn-di-ly bỗng dâng trào nước mắt. Vuahỏi:— Tại sao hai khanh lại khóc, có gì không vuichăng?Vợ chông đáp:— Tâu bệ hạ, ngài đến đây thật là điều lành rấtlớn, chỉ vì y phục của vua có khói, khiến hai hạthân chảy nước mắt, chứ không phải chán ghét bệhạ.Vua bèn hỏi:

– Hiện nay trong nhà người không đốt lửa

chăng?Đáp:— Tâu bệ hạ, không có!Vua hỏi:— Vậy khanh dùng øì để nâu cơm?Đáp:— Tâu bệ hạ, khi muốn ăn thì trắm thức ăn ngontự nhiên có trước mặt, không cân phải nâu nướng.Vua lại hỏi:— Vậy thì trời tôi thì dùng thứ gì để thắp sáng?Đáp:— Tâu bệ hạ, dùng châu Ma-mi. Đản-di-ly bènkêu đóng các cửa lại, lây châu Ma-ni ra, nó sángrực như ban ngày. Lúc đó Đản-di-ly quỳ xuôngthưa vua:— Tâu bệ hạ, vì sao phải nhọc nhắn khuất phụctôn thân?Vua nói:— Con trầm là thái tử Lưu Ly bị bệnh ngặtnghẻo, cần gỖ Ngưu đâu chiên-đàn làm thuốc, nêntrâm đến đây xin khanh.” Đàn-di-ly vui mừng đivào kho Dày, các thứ đô vật, trân châu bảy báu chiêusáng rực, gỗ Ngưu đầu chiên-đàn không thể tínhkế. Ông hỏi vua:— Bệ hạ cân lây bao nhiêu?Lúc đó vua nói:

– Chỉ cần hai khúc là đủ rôi.

Vua bèn sai thị tùng đem về hoàng cung trướcvà hỏi:— Ngươi có gặp Phật chưa?Đàn-di-ly đáp:

– Thế nào là Phật?

Vua nói:
— Ngươi không nghe danh Đức Phật ư? Đấy là
thái tử nước Ca-ty-la-vệ, con vua Tịnh Phạn, nhân
dịp ra chơi ngoài thành trông thây già bệnh chết
nên chán ngán bỏ hoàng cung đi xuất gia học đạo.
Sau khi thành đạo gọi là Phật. Ngài có ba mươi hai
tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, trí tuệ, thần túc thù
thăng không ai sánh bằng, vì là Bậc Tôn Quý nhất
trong trời người, nên gọi là Phật.
Đàn-di-ly nghe rôi, phát sinh lòng cung kính,
hỏi vua:
— Tâu bệ hạ, hiện nay Ngài đang ở đâu?
Đáp:
— Đang ở thành Vương xá, trong khu vườn
Trúc.
Sau khi nhà vua ra về, Đàn-di-ly bèn đi đến bái
kiến Đức Phật. Ông trông thây dung nhan uy
nghiêm còn hơn nghe nhà vua tán thán gấp vạn lần,
trong lòng vui mừng, đầu mặt làm lễ, hỏi thăm chỗ
ở, sinh hoạt... Đức Phật vì ông thuyết pháp. Nghe
xong ông chứng quả Tu-đà-hoàn, liên quỳ chặắp tay
cầu xin xuất ø1a. Đức Phật nhận lời nói:
— Thiện lai Tỳ-kheol
Râu tóc ông rơi rụng, áo đang mặc biến thành
y ca-sa. Đức Phật lại thuyết thêm về pháp Tứ diệu
đề. Tâm câu của ông đều sạch thành bậc A-la-hán.
Bây giờ A-nan và các Tỳ-kheo chắp tay bạch
Phật, hỏi:

– Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo Đàn-di-ly có công

đức gì mà sinh trong nhân gian, được hưởng thọphước lộc của trời, lại không ham vui cái vu1 củathế gian, xuất gia tu hành, chưa bao lâu thì chứngđạo quả?Đức Phật bảo:— Này A-nan, hãy lăng nghelVề thời quá khứ cách đây chín mươi mốt kiếp,có Đức Phật ra đời hiệu là Ty-bà-thi. Sau khi Phậtdiệt độ, đến thời tượng pháp, có năm vị Tỳ-kheocùng bàn ước điều thiết yêu, muôn tìm nơi yên tĩnhcùng hành đạo. Họ thấy có một cái đầm gân bênkhu rừng có suối nước trong, lúc đó họ khuyên mộtvị Tỳ-kheo:— Chúng tôi sắp đi xa thành thị vào rừng tu tập.nên việc đi khất thực rất cực nhọc, vậy ông nên ởlại tu phước, cúng dường chúng tôi.Bấy giờ người đó liên hứa, rôi đi khắp nơi vậnđộng khuyên các đàn-việt, mỗi ngày đem thức ăn,để bôn người yên thân chuyện tình hành đạo.Trong chín mươi ngày, năm vị chứng được đạoquả, liên cùng đồng tâm nói với vị Tỳ-kheo ở lại tuphước:— Vì nhân duyên ông lo lắng cho chúng tôi yênồn tu hành, nay đã đạt thành đạo quả. Ông có câunguyện gì thì hãy câu xin đi.Khi ấy vị Tờ kheo lòng rất vui mừng mà nói:— Vậy khiến cho tôi kiếp sau giàu có nhất trongtrời người, những vật mong cầu không cân côngsức mà đều tự có, rôi lại gặp được Thánh sư, nghepháp tâm mau chóng thanh tịnh đặc đạo quả.Đức Phật bảo:— Này A-nan, vị Tỳ-kheo thuở đó nay là Đàn-di-ly vậy. Do duyên cúng dường bốn vị Tỳ-kheomà trong chín mươi mốt kiếp sinh ra trong trời,người giàu có tôn nghiêm, không bao giờ sinh ranơi nghèo hèn hạ tiện. Nay được gặp Ta hóa độ.Khi đó A-nan và các T-kheo nghe Đức Phậtnói xong, mọi người rất được khích lệ, tinh tấn tuhành, có người đắc Sơ quả đến Tứ quả, CÓ "BưƯỜIphát tâm rộng rãi trụ Bắt thoái địa, ai nây đều rấtvui mừng đảnh lễ phụng hành.

Phẩm 56: TƯỢNG HỘ

Tôi nghe như thế này:Thuở nọ, Đức Phật ở tại vườn Kỳ-đà Cấp côđộc, thuộc nước Xá-vệ. Bây giờ, trong nước Ma-kiệt có một vị trưởng giả, vợ sinh được một đứaCOIn tra1, tướng mạo đây đủ trông rất khả ái. Ngàysinh cậu ta, các kho tự nhiên hiện ra một con voivàng. Cha mẹ rất vui mừng, bèn mời thây xemtướng về nhà đặt tên. Thây tướng trông thây đứabé có phước tướng mới hỏi cha mẹ nó:— Ngày sinh đứa bé này có điểm ứng gì không?Đáp:— Tự nhiên trong kho có một con voI vàng cùnglúc đứa bé sinh ra.Nhân đó thầy tướng đặt tên là Tượng Hộ. Đứabé ngày một lớn lên thì con voi ấy cũng lớn theo.Khi cậu bé đi chập chững thì con voI cũng bước điđược ra vào tới lui thường không lia nhau. Nhưkhông dùng nó thì nó cứ ở trong nhả, con voi âykhi tiêu tiện chỉ vọt ra vàng ròng. Một hôm, TượngHộ cùng năm trăm người con của các trưởng giả đidạo chơi, ai cũng đều khoe nói về việc kỳ lạ củanhà mình, hoặc có người nói: “Nhà tôi, cái gIườngngôi đều băng bảy báu”, hoặc có người nói: “Nhàtôi vườn rừng cũng là các châu báu.” Lại có ngườinói: “Nhà tôi kho lẫm đây dẫy các thứ của báu.”Họ cứ so sánh như vậy, các thứ của báu rât nhiều.Lúc đó, Tượng Hộ nói:— Còn tôi khi mới sinh ra thì tự nhiên ở trongnhà có một con voI vàng. Khi tôi lớn lên, nó thườngbên cạnh, không trái ý tôi. Tôi thường cỡi nó, đidạo chơi khắp nơi, muôn nhanh hay chậm tùy `.rất thích ý, đặc biệt khi nó đại tiểu ra toàn vàngrÒng.Khi đó vương tử A-xà-thế cũng ở trong nhómđó, nghe Tượng Hộ nói thế thầm nghĩ: “Nếu ta làmvua sẽ chiêm đoạt con voi của hăn”. Khi thái tử A-xà-thế lên ngôi vua, bèn triệu Tượng Hộ dẫn conVOI củng đến triều đình. Lúc ấy cha của Tượng HộnÓI VỚI CON:— Vua A-xà-thê hung bạo, vô đạo, tham câu,keo kiệt. Ông ta bạo ngược nhốt tù vua cha huỗngnữa là người khác. Nay ông ta gọi con là thammuốn con voi của con, ông ta sẽ chiếm đoạt nó.Người con nói:— Con voi này không có thể cướp đoạt đượcđầu.Bây giờ hai cha con cùng cỡi voi đến bái kiếnvua. Khi đó người giữ công vào tâu vua:— Tâu bệ hạ, cha con của Tượng Hộ cỡi voI đếnđang ở ngoài công thành.Vua bảo:— Cho họ cỡi voI vào.Lúc đó người giữ cửa trở ra báo và bảo cha conTượng Hộ cỡi voi vào thăng nội cung. Bấy gIờ họxuông voI quỳ lạy vấn. an nhà vua. Nhà vua rất vuimừng ra lệnh cho ngôi và ban cho ăn uống, nóichuyện qua lại chốc lát, hai cha con bái từ vua ravề. Vua bảo Tượng Hộ hãy để con voi lại, chớ códẫn ra về. Tượng Hộ vui vẻ vâng lời vua chỉ dạy,đi bộ ra ngoài cung. Chưa bao lâu thì con voi âyđộn thô đi ra ngoải công thành, cha con lên cõi voiđi về nhà. Chàng ta tự nghĩ: ' “Quốc Vương vô đạo,hình phạt phi lý, vì con voi này mà có thê làm hạiđến mình,. nay Đức Phật còn tại thê, ban ân thấmnhuân quân sinh, chi băng xa nhà theo tu phạmhạnh.” Nghĩ thể, Tượng Hộ liền vào thưa cha:

– Thưa cha, con muốn nhập đạo, mong cha mẹ

cho phép.Chàng bèn cỡi voi vàng từ tạ cha mẹ ra đi. Đếntinh xá Kỳ hoàn gặp Thế Tôn, Tượng Hộ cúi đầuđảnh lễ trình bày chí nguyện của mình. Đức Phậtnhận lời nói:— Thiện lai Tỳ-kheolRâu tóc Tượng Hộ tự rụng, pháp phục mặc trênmình trở thành một Sa-môn. Đức Phật thuyết vềpháp yếu Tứ diệu đề, tâm thần Tượng Hộ khai ngộchứng quả A-la-hán, cùng các vị Ty-kheo ở trongrừng cây tư duy tu đạo, con voi vàng ấy cũngthường ở trước mặt. Người của nước Xá-vệ nghenói có voi vàng trong rừng bèn tranh nhau đi đếnxem, làm Ôn ào náo nhiệt, phá sự yên tĩnh hành đạocủa các T-kheo. Các vị ây đến bạch Phật:

– Bạch Thế Tôn, Ty-kheo Tượng Hộ vì có con

voI theo bên mình nên mọi người thường kéo tớixem ôn náo, xin Đức Thế Tôn chỉ dạy.Đức Phật kêu Ty-kheo Tượng Hộ nói:— Nay ông nên đuôi con voi đi đi.Tượng Hộ thưa:

– Bạch Thế Tôn, con muốn đuổi nó đi, thê

nhưng nó không chịu đi.Đức Phật lại bảo:— Ông có thê nói với nó: “Ta nay đã không còndùng ngươi nữa.” Nói như vậy ba lần thì con voisẽ biến mất.Bây giờ Tượng Hộ vâng lời Thê Tôn dạy đôivới con voi nói ba lần: “Ta không cần ngươi nữa”.Lúc đó con voi liền chui vào lòng đất biên mất.Bấy giờ các vị Tỳ-kheo đêu thấy rất kỳ lạ, bạchvới Thê Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Tỳy-kheo Tượng Hộ vôn tu

công đức gì, đôi với ruộng phước gieo trông cănlành gì mà được phước báo nhiều như thê? MongThế Tôn từ bi nói cho chúng con được nghe.Đức Phật bảo A-nan cùng các Ty-kheo:

– Nếu có chúng sinh đối với ruộng phước Tam

bảo g1eo trồng một ít căn lành thì được quả báo vô
lượng. về thời quá khứ của Phật Ca- diệp, lúc đó
người đời sông thọ hai vạn tuôi, sau khi Đức Phật
giáo hóa xong thâu thân nhập Nê-hoàn, hỏa thiêu
phân bô xá-lợi, xây dựng tháp nhiêu nơi. Khi đó có
một cái tháp, trong ây có một VỊ Bồ-tát vốn từ cõi
trời Đâu-suất cỡi voi giáng xuống phảm nhập vào
thai mẹ. Lúc đó con voi ây da trên thân bị rách chút
Ít. Có một người đang đi nhiễu tháp thây da voi bị
rách tự nghĩ: Đây là voi Bộ- tát cỡi, nay bị thương,
ta nên trị giúp nó.” Rôi vị ây lây bùn vàng đắp lên
vết thương, nhân đó lập thệ nguyện: “Xin cho tôi
đời sau thường sinh vào nhà tôn quý giảu có, của
cải dùng không bao giờ hết.” Sau khi người đó thọ
chung sinh lên cõi trời, hưởng hết tuổi trời sinh
xuông nhân gian, thường được sinh vào nhà giàu
có, diện mạo đoan chánh khác hơn người thường,
lại thường có con voi vàng theo hâu hạ.
Đức Phật dạy:
— Này A-nan, ông nên biết, người trị bệnh cho
con voi nay chính là Tượng Hộ. Do đời trước trị
bệnh cho voi nên từ đó đến nay sinh ở trên trời hoặc
trong nhân gian được thọ của báu tự nhiên, lại có
duyên tâm cung kính, phụng thờ Tam bảo nên nay
được gặp Ta, bâm thọ điệu hóa, tâm câu đều sạch
hết, cho đến tu đắc quả A-la-hán.
Lúc đó ngài A-nan và các chúng hội nghe Đức
Phật nói thế không ai chăng hiểu rõ, có người nghe
xong đắc quả Tu-đà-hoàn, Tư- đà-hàm, A-na-hàm
và A-la-hán, có người phát tâm cầu đạo Vô thượng
chánh giác, có người chứng được Bất thoái địa; ai
nây đêu vui mừng đảnh lễ phụng hành.

Phẩm 57: BA-BÀ-LÊ

Tôi nghe như thế này:Thuở nọ, Đức Phật ở thành Vương xá trong núiThứu đâu, cùng với các đệ tử một ngàn hai trắmnăm mươi vị.Lúc bây giờ vua nước Ba-la-nai tên là Ba-la-ma-đạt. Dưới triều vua này có một quan phụ tướng,ông có một cậu con trai, có đây đủ ba mươi haitướng tốt đây đủ, thân màu sắc vàng, dung nghiđĩnh đạc. Quan phụ tướng trông thấy đứa con nhưthê rất vui mừng, liền mời thây tướng về xemtướng. Thầy tướng vừa trông thây khen răng:

– Kỳ lạ thay! Đầy đủ tướng tốt, công đức thủ

thăng. Đứa bé sau này trí tuệ thông đạt hơn người.
Quan phụ tướng càng thêm vui mừng, nhân đó
muốn đặt tên. Thây tướng lại hỏi:
— Từ khi sinh đứa bé ra đến nay, có điềm gì lạ
không?
Quan phụ tướng đáp:
— Có điểm rất lạ thường, người mẹ tánh tình
vốn không hiển lành nhưng từ khi bả mang thai thì
tánh thay đối hăn, thương yêu kẻ khổ, giúp đỡ nuôi
dưỡng người nghèo...
Thây tướng vui mừng nói:
— Đây là chí của đứa nhỏ.
Nhân đó đặt tên là Di-lặc. Cha mẹ thương yêu
vô cùng, tiếng tăm đứa trẻ cũng đồn lan truyền
khắp nơi, nhà vua nghe được, lo sợ thâm nghĩ.
“Đứa bé này, danh tướng tốt đẹp rõ ràng, ø1ả sử nó
là bậc Cao đức, sau này ắt đoạt ngôi vị của ta, đợi
khi nó chưa trưởng thành, ta hãy đê phòng trừ diệt
trước, nêu không ät có họa hoạn về sau.” Nghĩ kê
xong, vua liền ra lệnh cho quan phụ tướng:
— Trẫm nghe nói khanh có một đứa con, dung
mạo khác thường, khanh có thể mang đến để trẫm
ngăm xem nó được chăng?
Khi đó người trong cung nội vương phủ nghe ý
đồ mưu tính của vua, rất đau lòng như nước sôi lửa
bỏng. Đứa bé này có một người cậu tên Ba-bà-lê ở
nƯỚC Ba-lê-phất-đa-la, làm tới quốc sư, là một
người thông minh học rộng, trí tuệ hiểu biết cao xa,
tài năng đặc thù. Ông có năm trăm người đệ tử
thường tới lui thọ học. Lúc bây giờ quan phụ tướng
rất yêu quý đứa con của mình, sợ bị nhà vua hại
nên âm thâm tính kế sai người dùng voi chở đứa
con gửi cho người cậu. Người cậu grông thây D-
lặc tướng tốt, lòng cảng, thương mên nuôi dưỡng.
Đứa bé dân dân lớn lên, ông dạy cho học hành, học
một ngày bằng người khác học cả năm, học chưa
bao lâu đã làu thông kinh thư. Khi ây Ba-bà-lê thấy
cháu mình học chưa bao lâu mà thông đạt các sách
vở như thê, ông muốn mở một bữa tiệc để hiển
dương tiếng tốt của nó. Ông sai một người đệ tử
đến nước Ba-la-nại nói với quan phụ tướng rằng sở
học của con trai ông quý hơn châu ngọc, nay đã
thành công, người cậu muốn mở tiệc ăn mừng.
Người đệ tử này đi được nửa đường nghe người ta
nói Đức Phật có đức hạnh vô lượng, suy nghĩ hâm
mộ muốn đến diện kiến, liền đi đên chỗ Phật, đi
giữa đường bị hỗ vô bắt ăn thịt, nhờ có tâm thiện
nên được sinh lên cõi trời Tứ thiên. Ông Ba-bà-lê
đem hết sức mình tập hợp của cải để chiêu đãi một
bữa tiệc lớn, thỉnh các Bà-la-môn. Tất cả mọi
người đều vân tập, bày biện các món thức ăn khéo
léo ngon lạ. Chiêu đãi xong, đại thí cho mỗi người
được năm trăm đồng tiên vàng. Bồ thí xong tài vật
khánh tận thì có một vị Bà-la-môn tên là Lao-độ-
sai đi đến sau cùng gặp Ba-bà-lê nói:
— Tôi đi đến sau tuy không được ăn nhưng cũng
nên cho tôi năm trăm đông tiên vàng.
Ba-bà-lê đáp:
— Tài vật tôi đã hết, thật sự không thể đáp ứng
cho ông nữa.
Lao-độ-saI nói:
— Nghe ông mở cuộc bồ thí nên tôi mới đi đến.
Tại sao không thấy có được gì cả, nếu ông trái
nghịch không cho tôi thì bảy ngày nữa, đầu ông sẽ
vỡ bảy mảnh.
Khi đó Ba-bà-lê nghe lời nói rồi tự suy nghĩ:
“Ở đời có ác chú và đạo đầu độc khác, sự việc này
không thể xem thường, giá sử có thể có, chắc là tài
vật đêu hết, không cách nào tính được.” Nghĩ thê
buôn râu lây làm sợ sệt. Nhờ trước kia có một đệ
tử mạng chung sinh lên cõi trời, từ xa trông thấy
thây mình buôn râu tiêu tụy không chỗ nương cậy,
liền từ trên trời bay xuông đến trước mặt thây hỏi:
— Thưa thây, vì sao thầy buôn râu?
VỊ thây mới đem mọi việc trình bày ra hết. Vị
trời nghe rôi nói với thây:
— Lao-độ-sai chưa biết Đảnh pháp, là người ngụ
SI sông trong lưới mê tả ác, rốt cùng làm sao có thế
hại, xin chớ lo buôn về việc này. Nay chỉ có Đức
Phật có thê giải quyết Đảnh pháp, là Bậc Vô Cực
Pháp Vương, đáng để quy y.
Bây giờ Ba-bà-lê nghe trời nói về Phật, liên hỏi
thêm:
—- Đức Phật là người thế nào?
Trời liền nói:
— Đức Phật trước kia sinh ở Ca-ty-la-vệ, con
vua Tịnh Phạn, Ngài sinh ra từ hông phải, đi bảy
bước, được trời người tôn xưng, có ba mươi hai
tướng ' tốt, tám mươi vẻ đẹp, hào quang chiếu khắp
trời đất; trời Đế Thích, Đại phạm hâu hạ, có ba
mươi hai điềm lành chất đầy trời đât. Thây tướng
đến xem nói hai điều: Một, nêu ở tại gia sẽ làm
Chuyên luân thánh vương. Hai, nếu xuất gia sẽ
thành Phật. Sau khi lớn lên, do thây già bệnh chết,
không thích ngôi vua, Ngài vượt hoàng cung bỏ
nước, sáu năm khô hạnh, ngôi dưới cội Bô-đề, phá
sạch mười tắm ức ma. Lúc nửa đêm, chứng Tam
minh, Lục thông, Thập lực vô úy, Thập bát bất
cộng đều đây đủ. Ngài đến nước Ba-la-nại chuyên
pháp luân lần đâu tiên cho năm anh em Kiêu-trân-
như dứt sạch lậu, tám vạn chư Thiên được pháp
nhãn tịnh, vô số trời người phát tâm câu đạo Vô
thượng. Kế đến nước Ma-kiệt-đà độ Uẫt-tỳ-la-tinh,
Xá-lợi-phât, Mục-kiên-liên..., có cả thảy một ngàn
hai trăm năm mươi vị Tỳ-kheo làm đô đệ gọi là
Tăng chúng. Công đức trí năng của Ngài không thể
kế xiết, nói tóm lại gọi là Phật. Hiện nay Ngài đang
ở thành Vương xá, trong núi Thứu đâu.
Khi đó ông Ba-bà-lê nghe tán thán về Đức Phật,
tự suy nghĩ: “Át là có Phật. Trong sách ta có ghi
chép, sao Phật giáng hiện, trời đất chân động, sẽ
sinh Thánh nhân, nay thật sự có việc này, dường
như là vị này”, liền sai Di-lặc và mười sáu người
đến gặp Cù-đàm. Trông thấy Đức Phật tướng hảo,
đây đủ các tướng, tâm niệm Di-lặc suy nghĩ vẫn
nạn Đức Phật:
— Thây ta là Ba-bà-lê có vài tướng, còn thân ta
đây có hai tướng: tóc xanh mượt và lưỡi rộng dài.
Nêu ông ấy biết việc ây, lại càng nạn vấn: Thây ta
Ba-bà-lê năm nay một trăm hai mươi tuổi, nêu như
ông ây biết, càng phải nạn vân. Thây ta là dòng họ
nào, muốn biết dòng họ của ta là Bà-la-môn, như
ông ta biết lại cảng phải nạn vấn. Thầy Ba-bà-lê ta
có vài đệ tử, còn như ta đây có năm trăm đệ tử, nếu
đáp biết được số đó, ắt đây đúng là Phật.
Bây giờ Di-lặc tiên đến thành Vương xá gân
núi Thứu đâu, thây dấu chân Phật có tướng ngàn
bánh xe rõ như ban ngày, liên hỏi người ta rắng:
— Đây là dấu chân ai?
Có người đáp:
— Đây là dấu chân Phật.
Khi đó nhóm người của Di-lặc ôm lòng ngưỡng
mộ, bôi hồi bên dâu chân. Lúc đó có vị Tỷ-kheo- -n1
Sát-la cầm một con trùng chết để nơi dấu chân
Phật, chỉ bày cho nhóm người của Di-lặc đều cùng
xem:
— Các ông đều khâm phục ngưỡng mộ dấu chân
này. Còn các ông giầm giết chúng sinh có kỳ lạ
không?
Di-lặc cùng mọi người đến trước xem, nhìn
thây hình tướng là độc trùng, liên hỏi Tỳ-kheo-ni:
— Bà là đệ tử của a1?
Ty-kheo-mI đáp:
— Là đệ tử của Đức Phật.
Bấy giờ nhóm người của Di-lặc đều tự nói:
“Trong đệ tử Phật cũng có người này”. Họ dân dân
đi đến chỗ Phật, từ xa trông thấy Thế Tôn quang
minh chiếu diệu, các tướng chói lọi. Đức Phật liên
vì họ le lưỡi dài trùm cả mặt, lại dùng thân lực
khiến họ thây â âm tàng, thấy khắp các tướng, họ
càng thêm vui mừng, liền vâng lệnh thây trình bày
tâm khó nghĩ:
— Thây con là Ba-bà-lê cũng có vài tướng.
Đức Phật từ xa liên đáp:

– Thây ngươi Ba-bà-lê chỉ có hai tướng, một là

tóc xanh mượt, hai là lưỡi rộng dài.Di-lặc nghe rõ trong lòng càng muốn chất vấn:— Thây con Ba-bà-lê năm nay bao nhiêu tuôi.Đức Phật đáp:

– Thây Ba-bà-lê của ngươi năm nay một trăm

hai mươi tuôi.Tuy nghe rồi nhưng trong lòng còn muốn nạnvân:— Thây Ba-bà-lê con thuộc dòng tộc nào?Đức Phật đáp:— Thây Ba-bà-lê của người thuộc chủng tộc Bà-la-môn.Di-lặc nghe rồi lòng càng nạn vấn:— Thây Ba-bà-lê con có mấy đệ tử?Đức Phật đáp:— Thây Ba-bà-lê của ngươi có năm trăm đệ tử.Lúc bây giờ chúng hội nghe Đức Phật nói rôirất ngạc nhiên: “Như Lai riêng một mình nói lờinày”. Khi đó các đệ tử quỳ hỏi Đức Phật:— Bạch Thế Tôn, tại sao Thế Tôn nói như vậy?Đức Phật bảo các Ty-kheo:

– Có ông Ba-bà-lê ở nước Ba-lê-phất-đa-la, sai

mười sáu đệ tử đến chỗ Ta thử xem tướng Ta, dohọ khởi tâm niệm, nên Ta đáp đây đủ.Lúc đó nhóm người của Di-lặc nghe Đức Phậtđáp nạn vấn đúng như thật, không sai một chút nào,sinh lòng rất kính ngưỡng, đi đến chỗ Phật ngự,đâu mặt đảnh lễ rồi ngôi qua một bên. Đức Phật vìhọ thuyết pháp, cả mười sảu người được pháp nhãntịnh, từ chỗ ngôi đứng dậy muốn câu xin xuất gia.Đức Phật bảo:— Thiện lai!Râu tóc họ tự rụng, pháp y mặc trên thân trởthành Sa-môn. Đức Phật lại dùng thêm phươngtiện thuyết pháp cho họ cả mười sáu người chứngquả A-la-hán.Bấy giờ Di-lặc cùng nhóm bạn cùng bàn bạc:— Thây Ba-bà-lê ở xa, nên sai người trở về chohay tin tức. Trong mười sáu người có một ngườitên Tân Su là con của chị gái ô ông Ba-bà-lê. Họ saingười này về thưa tin tức. VỊ ấy bèn trở về nướcBa-bà-lê trình bày các điều nghe thây. Ông Ba- bà-lê nghe rôi, trong lòng vui mừng, liên từ chỗ ngôiđứng dậy, chắp tay quỳ xuông hướng về thànhVương xá, tự thành tâm nói:— Sinh ra đời rất khó gặp được Bậc Thánh, suynghĩ muôn gặp tôn dung, bẩm thọ thanh hóa, tuôiđã giả, chân tay không còn mạnh khỏe, tuy cóthành tâm nhưng không tự đạt được, Đức Thế Tônđại từ, đoán biết tâm nĐười, cúi mong khuất thânđến để tiếp độ.Khi đó Như Lai tự biết được ý của ông, co duỗicánh tay trong khoảng chốc lát đến trước mặt ông.LỄ xong, ông ngước đâu nhìn thấy Thế Tôn, vuimừng kinh ngạc, lễ bái thăm hỏi, mời ngôi cungkính đứng hầu Phật. Đức Phật vì ông thuyết pháp,ông chứng quả A-na-hàm, lúc đó Thế Tôn trở vềnúi Thứu đầu.Bây giờ vua Tịnh Phạn nghe Đức Phật thànhđạo đi khắp nơi giáo hóa, nhiêu nơi được hóa độ,ôm lòng khát ngưỡng suy nghĩ muốn được gặp,mới bảo Ưu-đà-da răng:— Ông đi đến chỗ Phật, đem ý của ta thưa vớiTất-đạt: “Con có đặc đạo nên trở về, ta nguyện tuântheo lời giáo hóa”.Khi đến gặp nhau, Ưu-đà-da đến trình bày ýcủa vua. Đức Phật hứa khả, bảy ngày nữa sẽ trở vê.Uu-đà-da vui mừng trở vê báo tin tức, vua TịnhPhạn nghe xong nói với các quân thân:— Ưu-đả-da đến bảo răng Đức Phật sẽ trở vẻ.Vua cho chuẩn bị trang nghiêm thành nội rất làsạch sẽ, dẹp đường xá, dựng tràng phan khắp nơi,cùng các hoa hương chuẩn bị cúng dường. Chuẩnbị trang hoảng xong, vua cùng các quân thân đi rangoài thành bốn mươi dặm nghênh đón Thế Tôn.Lúc bấy giờ Như Lai cùng cả đại chúng tám Kimcang Lực sĩ đứng ở tắm mặt, có bốn vị Thiênvương đi trước dẫn đường, trời Đề Thích cùng cáctrời cõi Dục hầu hạ bên trái đường, các Tỳ-kheoTăng thứ tự đứng sau. Đức Phật đứng ở giữa đạichúng, phóng đại quang minh, chiếu sảng khắp trờiđất, hơn cả mặt trời, mặt trăng, khắp cùng đạichúng, cỡi hư không mà đi, sắp đến gân vua, hạthập băng đầu người. Vua cùng thân dân, phu nhân,thể nữ trông thây đại chúng y vàng rực rỡ, ĐứcPhật đứng ở giữa như những vì sao chung quanhmặt trăng. Vua rất vui mừng bất giác cúi xuông lễbái, hỏi thăm tôi cùng trở về nước, trụ Ở Tăng- già-lam Ni-câu-lư-đà. Quốc pháp lúc bấy Ø1Ờ nam nữcó khác, vua cùng thần dân hàng ngày được nghepháp, nghe xong được giác ngộ, người được độ râtnhiêu. Còn các phụ nữ thì ôm lòng oán hận: “ĐứcPhật cùng đại chúng tuy trở về nước, người nam cóđược may mắn, riêng được thây nghe, còn ngườinữ chúng tôi không nhờ được ân đức”. Đức Phậtbiết ý đó, liên nói với vua:

– Từ nay về sau khiến cả nước được nghỉ ngơi

nghe pháp một ngày một g1Ờ.
Từ đó về sau, nhờ ân Phật, phái nữ được độ rất
nhiều. Khi đó di mẫu Ma-ha Ba-xà-ba-đề, sau khi
Phật đã đi xuất gia, tự tay bà dệt một tắm lụa màu
vàng trong lòng tưởng nhớ, chỉ chờ đợi Phật, nay
đã gặp được Phật, lòng rất vui mừng, cầm tâm lụa
ây dâng lên Như Lai. Đức Phật bảo:

– Kiều-đàm-di, bà hãy đem tắm lụa này đi dâng

cho chúng Tăng.
Khi đó bà Ma-ha Ba-xà-ba-đề lại bạch Phật:
—- Từ khi Đức Phật xuất gia, tâm tôi mỗi khi nhớ
đến nên tự tay dệt tâm lụa này, một lòng chờ đợi
Phật, cúi mong thương xót vì tôi nạp thọ.
Đức Phật bảo di mẫu:
— Biết mẹ chuyên tâm nhưng Ta muốn di mẫu
bố thí cho chúng Tăng thì được phước báo rất
nhiêu, Ta biết việc này, nên mới khuyên đây.
Đức Phật lại nói:
— Nếu có đàn-việt đầy đủ mười sáu thứ thỉnh
riêng tuy được phước báo cũng chưa là nhiêu. Thế
nào là mười sáu? T-kheo, Ty-kheo-mi phải có tắm
vị, không như trong Tăng chúng thỉnh bốn vị, công
đức được phước nhiêu hơn kia. Trong mười sáu
phần chưa băng một. Đời mạt sau này, pháp sắp
diệt tận, cho dù 1ỷ-kheo nuôi vợ con nhưng bốn
người trở lên mới gọi là Tăng, phải nên cung kính
như Xá-lợi-phất, Mục-kiên-liên...
Khi đó Ma-ha Ba-xà-ba-đề tâm liên khai giải
lây y ây dâng cúng chúng Tăng, thứ tự cúng dường,
không aI muôn nhận, đên trước Di-lặc thì ông thọ
nhận. Sau đó Thế Tôn cùng Tỷ- -kheo Tăng đi đến
nước Ba-la-nại hóa đạo. Bây giờ Di-lặc mặc y lụa
sắc vàng, thân tướng đoan chánh, dung nhan vàng
tím, trong người tương xứng uy nghi rõ ràng, vào
thành Ba-la-nại, muôn đi khất thực. Đến con
đường lớn, ôm bát đứng lại, nhân dân trông thây
tướng mạo vây quanh xem mãi không biết chán,
tuy ai cũng đều khâm phục kính ngưỡng mà không
có cho cơm. Có một người thợ xâu ngọc, gặp DI-
lặc rất là ngưỡng mộ, liên hỏi:
— Đại đức, có được thức ăn chưa?
Đáp:
— Chưa được!
Ông liên mỜI về nhà bày dọn thức ăn cúng
dường. Ăn uống, tăm gội xong, Di-lặc vì ông ta
thuyết Diệu pháp, ngôn từ hay đẹp, nghe mãi
không chán. Lúc đó có một vị đại trưởng già nọ
muốn gả đứa con gái, trước tiên cần cho một xâu
chuỗi ngọc, đi mượn xâu chuỗi xong đem trả mười
vạn tiền. Khi đó trưởng giả sai người đến hỏi.
Người thợ ngọc đang nghe pháp mới bảo:
— ĐI đi! Sau này sẽ xâu cho.
Người đó lại nói:
— Nay rất cần gấp.
Ông nhớ xâu chuỗi đeo trên tay, nên lấy ra đặn
người đó mang về và nói với vị trưởng giả chốc lát
SẼ Sal nBƯỜI đến. Vì còn đang nghe pháp chưa ởi
xâu chuỗi được. Vị ây trở về thưa lại với trưởng
giả, VỊ trưởng giả nồi giận nói:
— Đã sai người đến nói đôi lân mà còn nhờ vả
ký thác, nay không làm theo ta cân.
Ông. liên sai người đến lần nữa, nhân đó ôm tiên
đi, nêu ông ta chưa xâu chuỗi thì đem ngọc trở vê.
Sai người đến hỏi cũng còn đang nghe pháp, biết
là chưa xong ngọc, vội vã đòi ngọc lại, việc bắt. đặc
dĩ, liên trả lại cho vỊ ây, người thợ xâu chuỗi vẫn ở
trước Di-lặc ngôi nghe pháp, tâm không chán mệt.
Người vợ thợ xâu ngọc nỗi giận trách măng chông:
— Chịu cực nhọc trong chốc lát thì đã được
mười vạn tiền, lây. đó để mua săm đồ đạc, ỳ thực
trong nhà đang thiêu thôn, chỉ lo nghe lời nói phù
mỹ của Sa-môn để mất cái lợi tiền tài này.
Chồng nghe vợ nói ôm lòng hồi hận. Di-lặc biết
ý ông nói:
— Nay ông có thê cùng đi đến tinh xá không?
Đáp:
— Vâng!
Lúc đó cả hai cùng đi đến tinh xá. Sắp đến trong
Tăng chúng, Di-lặc mới hỏi tăng chúng rằng:
— Nếu có đàn-việt thỉnh một vị Sa-môn trì ĐIỚI
thanh tịnh đến nhà cúng dường, lợi ích đạt được có
như mười vạn tiên không?
Khi đó ngài Kiêu-trân-như nói:
— GIả sử có người được trăm xe châu báu,
phước lợi ấy tính ra không băng thỉnh một Sa-môn
trì giới thanh tịnh về nhà cúng dường, được lợi rât
nhiều.
Bây giờ ngài A-na-luật nói:
— CIả sử của báu có được đây cả bốn thiên hạ,
cũng không băng thỉnh một vị Sa-môn trì giới
thanh tịnh về nhà cúng dường, được lợi thù thăng
sập bội. Sở dĩ như vậy vì sở chứng của tôi tự nhớ
quá khứ chín mươi mốt kiếp, có Đức Phật hiệu là
Tỳ-bà-thi, sau khi nhập Niết-bàn, kinh pháp diệt
tận, lúc đó ở châu Diêm-phù-đề có một nước lớn
tên Ba-la-nạI.
Bây giờ, trong nước có một thương buôn, nhà
rất giàu có không thiêu thôn gì cả. Ông có hai cậu
con tra1, tướng mạo đều đoan chánh. Đứa lớn tên
Lệ-tra, đứa nhỏ tên A-lệ-tra. Lúc người cha sắp
mạng chung đặn dò hai đứa con:
— Cha chắc không tránh khỏi sự chết, sau khi
cha qua đời, anh em các con nên nhớ cùng nhau
thờ phụng hợp tâm hợp lực, chớ có sông riêng. Tại
vì sao thê? Thí như một sợi tơ không thể buộc con
voi, nhưng hợp nhiêu sợi tơ lại thì có thể chế phục
con voi. Thí như một cọng cỏ không riêng đốt
cháy, hợp nhiều cọng cỏ thành một bó đốt cháy lâu
hơn. Nay anh em các con, cũng lại như vậy, phải
cùng tương trợ, nương tựa với nhau thì người ngoài
không phá hoại được, bên trong siêng năng thì gia
nghiệp ngày càng phát đạt.
Sau khi dặn dò xong thì tặt thở qua đời, anh em
vâng lời cha sông chung với nhau một thời gian.
Sau này vợ của A-lệ-tra tự suy nghĩ rằng: “Nay
cùng sông chung với người của nhà anh biệt không
được ưu đãi mây, nếu sông riêng a1 nây cô găng nỗ
lực, về tình đã không khó xử mà có thê tự lập thành
ngôi nhà.” Nghĩ thê xong bèn nói với chồng là A-
lệ-tra. Nghe vợ nói như vậy, người em cho là
không thê, người vợ lại năn nỉ, nói ra đạo lý dông
dài. A-lệ-tra đem sự việc thưa với anh, người anh
nhắc lại lời cha dặn dò và nói sự việc ây không. thể.
Bây giỜ vợ A-lệ-tra cứ mỗi ngày khuyên chồng,
người chồng đành thưa với anh là phải sông riêng.
Sau khi ở riêng, vợ của A-lệ-tra tự do phóng túng,
tụ tập bạn bè ăn uông xa XỈ, không theo lễ độ. Trải
qua chưa được mây năm của cải tài sản trong nhà
tiêu hao hết, nghèo khổ không phương sinh sông,
lại đi đến người anh xin. Người anh cho mười vạn
tiền đem về tiêu dùng hết rồi lại tiếp tục xin, cứ
như vậy sáu lân, trước sau cho cả thảy sáu mươi
vạn tiền. Sau này lại đến cầu xin nữa, người anh
quở trách:
— Em quên lời cha dạy, không chịu nghe lời,
mới được mây năm thì xin sông riêng, tiêu xài vô
độ. Không thể cho nữa, trước nay đã cho em cả
tháy sáu mươi vạn tiền, em còn chăng biết đủ, lại
còn đến cầu xin. Hôm nay cho em thêm mười vạn
tiền, có sông hay không có sông như thế nào, đừng
đến xin nữa.
Người em bị quở trách, xấu hồ lấy tiền ra về.
Vợ chông sửa đồi siêng năng tiết kiệm, tải sản ngày
càng phát triển rộng sau này dân dân giàu có không
thiêu thốn øì. Còn người anh Lệ-tra gặp phải suy
vI phá sản, của cải, tài vật tiêu tan, nhà cửa nghèo
thiếu vô phương sinh kế, mới đi đến bên người em
cầu xin ít tiền. Người em không cho mà còn nỗi
giận hiềm trách nói với anh:
— Anh chưa từng biết nghèo sao lại đi đến tôi
xIn.
Nói rồi cũng không cho ăn uống gì cả. Người
anh bèn trở về tự ngẫm nghĩ: “Trong cuộc đời sinh
tử, sao mà đáng sợ thế? Anh em cùng một cha mẹ,
sao không biết ân dưỡng, huông nữa là người
khác.” Suy rộng nghĩa lý, tâm Lệ-tra liền chán thế
gian, bỏ nhà vào núi, tĩnh tọa tư duy các pháp sinh
diệt, tâm liên khai ngộ, thành Bích-chi-phật, uy
nghi khả quan, rôi đi vào thành khất thực. Gặp lúc
nhân dân đói thiếu, đi khât thực khó được. Khi đó
người em A-lệ-tra sau này nghèo khô, hàng ngày
phải đi kiêm củi đem bán để nuôi sống vợ con.
Một buôi sáng nọ, đi vào trong cửa thành, gặp
vị Bích-chi-phật uy nghĩ khả quan vào thành khât
thực, chàng ta vân đi kiểm củi rôi trở về đến cửa
thành thấy Bích-chi-phật đi ôm bát không, tâm tự
suy nghĩ: “Đây là Khoái Sĩ, sáng sớm thấy vào
thành sao bây giờ ôm bát không ra về. Nếu nay đi
chung với ta về nhà, ta sẽ đem thức ăn dâng cúng
cho ngài.; nghĩ thê rôi đi. Bây giờ Bích-chi-phật
quán biết được ý ý của người em, liên đi theo sau đến
công nhà. A-lệ-tra trông thây Bích-chi-phật, tâm
vui mừng, liên trải giường thỉnh ngài vào ngôi, tự
tay mình đem thức ăn dâng cho ngài. Bấy giờ Bích-
chi-phật nói với A-lệ-tra:
— Người cũng đói khát, nên cùng chia nhau ăn.
A-lệ-tra bạch:

– Chúng con người thê tục ăn không giờ giấc,

còn ngài chỉ dùng một buổi, xin hãy thọ nhận.
Bích-chi-phật liền thọ trai, cảm niệm sự chí tâm
của thí chủ. Gặp lúc đói ngặt, cha con không thế
cứu, cắt thân mình dùng đề cúng thí. Ngay lúc đó,
Bích-chi-phật liên bay lên hư không, thân xuất ra
lửa nước, hiển hiện thân túc, rồi trở lại trước mặt,
nói với A-lệ-tra:
— Có muốn câu nguyện gì thì sẽ được như ý?
Thây sự biến hiện vui mừng, A-lệ-tra liền chí
tâm tự lập thệ nguyện: “Tất cả chúng sinh có nhiều
của cải, nguyện tôi đời đời chớ có thiêu thốn, mong
muốn điều gì, ưng ý mà có.” Lại nguyện:,1ương
lai gặp được bậc Thượng sĩ công đức thủ thăng gập
trăm ngàn vạn lần vị này, khiến tôi ở chỗ vị ây
được lậu tận, chứng thân túc biên hóa củng VỚI
ngài không khác.” Câu nguyện xong, lại vui mừng
øâp bội.
Bây giờ Bích-chi-phật trở về chỗ ở, còn A-lệ-
tra trở về đi kiếm củi, thì thây một con thỏ, ý muôn
bắt lây, chạy đến gân, lấy liêm từ xa ném, tức thời
rớt trên đất. Chàng chạy tới trước muốn lấy thì thây
hóa thành người chết đè lên lưng, bao phủ đâu
mình, dùng hết sức lôi đây đi, nhưng không làm
nồi. Trong lòng chàng lo sợ, kinh hoảng khô não,
ý muôn vào thành cùng vợ tiệp, nhưng SỢ nĐƯời ta
trông, thây khiến không cho vào nên ở lại đợi đến
trời tối dùng áo che phủ vác vào thành đi vào nhà.
Vác vào đến trong nhà, bao ây tự nhiên rơi xuống
đât, biên thành một đông vàng Diêm- -phù-đàn, ánh
sáng chói lọi. Những nhà bên cạnh đôn đãi lần lần
đến tai nhà vua. Vua liên sai người đi đến xem xét
có đúng sự thật không, Sa1 người đến thây thì là xác
người chết, trở về tâu vua là xác người chết. Nhà
vua hỏi người khác thì nói là thấy vàng. Thấy VIỆC
quá kỳ lạ, vua saI người đến xem nữa. Đến lui như
vậy bảy lần đều nói không chắc chăn. Nhà vua đích
thân đi đến xem thấy là xác người chết, thây thi
dân dân muốn hôi thôi, liên bảo A-lệ-tra:
— Nhà ngươi thầy như thế nào?
A-lệ-tra đáp:
— Đây thật là vàng.
Liên lẫy một ít dâng lên cho vua. Đức vua thây
sắc vàng, quý chưa từng có, mới hỏi nguyên do,
duyên sự thế nào mà được vàng này Lúc đó A-lệ-
tra trình bày đầy đủ gốc ngọn cho vua nghe, chắc
là do đức Bích-chi-phật. Vua nghe nói, khen:
“Lành thay! Ngươi được phước báo gặp được bậc
Thượng nhân này”, liên ban cho chức đại thân.
Nói đến đây ngài A-na-luật nhắc lại:

– Như thê đó chư Tôn, A-lệ-tra kia chính là tiên

kiếp của tôi. Tôi ở đời trước dùng Ít mè cúng thícho Bích-chi-phật, nhân đó tự câu nguyện, duyênđó đến nay được chín mươi mốt kiếp sinh trongtrời người không bị thiếu kém, thân tướng trangnghiêm muốn gì đêu được như ý, cho đến đời này,khi ở tại gia, tôi thường dạo chơi, không thích việcđời, anh Ma-ha-nam thường có lời oán trách. Mẹtôi nói rằng: “Con tôi có phúc đức”. Anh Ma-ha-nam nói: “Tôi riêng một mình suy nghĩ nhọc nhăn,việc nhà ruộng nương. Nó ở không năm ăn, làmsao có phước đức”. Bà mẹ muôn thử, sai tôi đếnruộng cOI VIỆC trồng tia, mà không đem cơm. Tôingạc nhiên sao đem cơm đến chậm, sai người ởihỏi, mẹ sai người đến nói với tôi răng: “Không cógì cả”. Tôi trở về thưa mẹ: “Cúi mong cho con!”Lúc đó mẹ nøhe tôi nói liên lẫy dụng cụ đồ vậtdùng đô che lại đem đưa cho tôi, khiến Ma-ha-namtrông thây, anh đi đến trước tôi, vỡ ra thây trăm vịthơm ngon, đồ đựng đầy đủ. Như vậy, tôi dùng cóít mè cúng thí Bích-chi-phật, trong chín mươi mốtkiếp phước lợi chưa giảm, lại do duyên này gặpPhật hóa độ. Vì thế cho nên mới biết thỉnh một vịTỳ-kheo trì giới thanh tịnh về nhà cúng dườngđược lợi hơn của báu bốn châu thiên hạ.Ngài A-na-luật nói lời đó rồi, lúc đó Thê Tôntừ bên ngoài đi vào, nghe A-na-luật nói về việc quákhứ, bảo các Tỳ-kheo:— Jy-kheo các ông, nói về quá khứ, Ta tiệp tụcnói vệ đời vị lai. Lúc ây ở cối Diêm- phù- đề này đấtđai rộng rãi băng thăng, không có núi sông, đấtsinh cỏ mêm cũng như y áo của trời. Lúc đó nhândân thọ mạng tám vạn bốn ngàn tuôi, thân cao támtrượng, ngay thắng đẹp đề lạ thường, tảnh ngườinhân từ hiền hòa, đây đủ mười điều thiện. Thời đóSẽ có Chuyên luân thánh vương tên là Thắng Gnà.Lúc đó có một vị Bà-la-môn, trong nhà có một đứacon trai tên là Di-lặc, thân sắc vàng tím, ba mươihai tướng tốt đây đủ, quang minh chói lọi, sau xuấtgia học đạo thành Bậc Tôi Chánh Giác rộng vìchúng sinh chuyền pháp luân tôn quý. Đại hội lầnthứ nhất độ chín mươi ba ức loại chúng sinh, đạihội lần thứ hai độ chín mươi sáu ức, đại hội lần thứba độ chín mươi chín ức. Các Tỳ-kheo như thếtrong ba hội thuyết pháp, người được độ đêu là Tađể giáo pháp lại cho chúng sinh g1eo trông phướcđiền hoặc cúng dường Tam bảo, xuất gia, tại gia trìĐIỮ ĐØIỚI, "gƯỜI thắp hương đốt đèn lễ bái đều đượcở trong ba đại hội ây. Ba đại hội chúng sinh đượcđộ do Ta để lại, sau này giáo hóa đông duyên làmđồ đệ.Lúc bấy giờ Di- lặc nghe Phật nói thế từ chỗngôi đứng dậy quỳ xuống chắp tay bạch:— Con nguyện làm vị Di-lặc Thế Tôn ấy.Đức Phật bảo Di-lặc:— Như lời ông nói, sau này ông sẽ là Di-lặc NhưLai, giáo hóa như đã nói trên đều là ông vậy.Bấy giờ, trong chúng hội có một vị Tỳ-kheo tênA-thi-đa quỳ bạch Đức Phật:— Con nguyện làm vị Chuyên luân thánh vươngđó.Đức Phật bảo:

– Ông chỉ muốn đêm dài tham vui sinh tử,

không tính ra khỏi sao?Lúc đó tất cả đại chúng thấy Đức Phật thọ kýcho Di-lặc sau này thành Phật, cũng, tên là Di-lặc,đều có tâm nghI, muốn biết nguôn gốc.A-nan từ chỗ ngôi đứng dậy bạch Phật:

– Bạch Thế Tôn, Di-lặc thành Phật lại có tên

Di-lặc, do nhân duyên gì mà đặt tên như thế?Đức Phật bảo:— Này A-nan, hãy lắng nghe!Vào thời quá khứ kiếp a- tăng- -kỳ vô lượng, Ởcõi Diêm-phù-đề này có một vị đại quốc vương tênĐàm-ma-lưu-chi thông lãnh châu Diêm-phù-đềtảm vạn bốn ngàn nước, sáu vạn núi sông, tắmmươi ức tụ lạc, hai vạn phu nhân thê nữ, một vạnđại thân, trong đó có một nước nhỏ giàu có vui vẻ,vua tên Ba-tăc-kỳ. Lúc đó Đức Phật Phất- Sa vừamới ra đời hóa đạo chúng sinh trong nước ây. Khiđó vua Ba-tắc-kỳ cùng các quân thần chuyên cúngdường Đức Phật và chúng Tăng, nghĩ đến triều gặpđại vương công hiến đêu dứt cả. Lúc đó đại Vươngngạc nhiên thây họ,không đến, bèn sai sứ giả đếnquở trách. Sứ giả. đến nói:— Mây năm gân đây, người và thư đêu cắt đứt,ngài là bê tôi vì sao trái lại, ặt là có lòng dạ khácchăng, muốn ôm lòng phản nghịch chăng?Khi đó vua Ba-tắc-kỳ được nghe lời đại vươngdạy, tự biết trái phạm nhưng chăng biết làm sao,liền đi đến bái kiên Đức Phật bạch sự việc như vậy.Đức Phật bảo vua:— Bệ hạ chớ có lo lắng, hãy nhờ sứ giả trở vềthành thật trình bày răng: “Vì có Phật ở nước tôi,sớm tối lo phụng sự, cho nên không xIn nghỉ phép,không đến châu đại vương, còn của cải trong nướcđem cúng Phật và chúng Tăng, không có dư đề cóthê đem công hiến.”Vua Ba-tắc-kỳ được Đức Phật dạy rôi, liên trởvề báo sứ giả y như lời Phật nói. Sứ giả trở về tâuđại vương đây đủ ý của vua Ba-tắc- kỳ. Đại vươngnghe xong rất là phần nộ, liên họp quân thân bànbạc việc này. Các quân thân đều nói:— Vua đó kiêu ngạo, đạo lý ngang ngược, nêntuyên hợp các binh lính đi công phạt hắn.Đại vương liền đồng ý hợp binh đi đánh. Tiênquân sắp đến gân, vua Ba-tắc-kỳ hay được, tronglòng lo sợ vội đến bạch Phật. Đức Phật bảo:— Chớ có lo rầu, chỉ nên đi gặp đại vương nóinhư lời trước.Vua Ba-tăc-kỳ cùng các quân thân đi đến biêngiới gặp đại vương vẫn bái xong đứng qua một bên.Đại vương trách hỏi:— Vì sao nhà ngươi ỷ lại ngã mạn thất thườngkhông đến triêu bái?Vua Ba-tắc-kỳ nói:— Tâu đại vương, Đức Phật ra đời rất khó gặp,nay Ngài đang ở nước của thân, hóa đạo chúngsinh. Vì sáng tôi lo hầu hạ cho nên khiến thất lễ vớiđại vương.Lại trách thêm:

– Cho dù hâu hạ cũng được, nhưng tại sao cắt

đứt không công hiến?Vua Ba-tắc-kỳ nói:— Tâu đại VƯƠNg, Đức Phật có đồ chúng gọi làchúng Tăng. Họ giữ giới đức thanh tịnh, là ruộngphước cho người đời, lẫy của trong nước thườndùng cúng dường, nên không có dư nhiêu có thêđem đi công hiến.Đàm-ma-lưu-chi nghe xong lời này bảo:

– Hãy thôi! Ta cần gặp Phật, gặp Phật xong sẽ

trở về, miễn hỏi tội nhà ngươi.Vua liên cùng quân thân đi đến chỗ Phật. Lúcđó Như Lai được đại chúng vây quanh, thảy đềungôi nhập định yên lặng. Có một Tỳ-kheo nhập Từbi tam-muội, phóng kim quang minh như đồng lửalớn. Vua Đàm-ma-lưu-chi từ xa trông thấy ThêTôn quang minh chói lọi hơn cả mặt trời mặt trăng,đại chúng vây quanh như những tĩnh tú, đảnh lễPhật đúng như pháp thăm hỏi. Thấy vị Tỳ-kheonày quang minh sáng chói, vua liên bạch:— Bạch Thế Tôn, vị Tỳ-kheo này nhập định gìmà ánh sáng chói lọi như thế?Đức Phật bảo:— Đại vương, Tỳ-kheo này nhập định Từ bị.Vua nghe xong kính ngưỡng gầp bội. Nghe nóivề định Từ bi cao VÒI VvỌI như thê, vua nói:— Con muốn tập tam-muội Từ bị này.Nói xong, chí hâm mộ định Từ bị, ý rât nhunhuyễn, tâm vô hại, liền thỉnh Đức Phật và chúngTăng cúi mong hỏi thân đi đến đại quốc. Đức Phậthứa khả tức khắc đi liên. Vua Ba-tắc-kỳ nghe ĐứcPhật muốn đi đến nước của vua Đàm-ma-lưu-chi,rất buôn nhớ, lưu luyễn, tâm tư suy nghĩ: “Nêukhiến ta là đại vương, chắc Như Lai thường trụ ởnước ta, do ta nước nhỏ nên không được tự tại.”Nghĩ như vậy rồi liên hỏi Đức Phật:

– Bạch Thế Tôn, trong các vua aI là lớn nhất?

Đức Phật bảo:— Vua Chuyên luân lớn nhất.Vua Ba-tắc-kỳ nhân đó lập nguyện: “Nguyệncho tôi từ nay vê sau cúng dường Đức Phật vàchúng Tăng, công đức này thệ nguyện đời đời vềsau làm vua Chuyên luân.”Nói đến đây, Đức Phật nhắc lại:— Này A-nan, đại vương Đàm-ma-lưu-ch1 thuởđó nay là Di-lặc, bắt đầu từ kiếp đó phát tâm Từ,từ đây về sau 1 thường tên Di-lặc. Vua Ba- tắc-kỳ naylà Kỳ-đà, vẫn ở trong nước đó làm vua Chuyênluân, từ đó về sau đời đời thường như vậy, cho đếnngày nay, công đức chăng cùng, Bây giờ thợ xâungọc nghe nói thế rôi phát tâm câu đạo Vô thượng,ngoải ra chúng hội nghe Đức Phật thuyết pháp cóngười đắc quả Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm,A-la-hán, có người phát tâm Vô thượng chánhchân, có người trụ được Bất thoái địa, thảy đềucung kính vui vẻ phụng hành.

Phẩm 58: ANH VŨ NGHE TỪ ĐỀ

Tôi nghe như thế này:
Thuở nọ, Đức Phật ở tại vườn Kỳ-đà Cấp cô
độc, thuộc nước Xá-vệ. Bây giờ trưởng giả Tu-đạt
kính tin Phật pháp, vì chư lăng làm đàn-việt cung
cập: tất cả đồ cần dùng. Bây giờ chư T-kheo cân
muốn điều gì hàng ngày đến lui thuyết pháp dạy
dỗ. Trong nhà ông Tu-đạt có hai con chim Anh vũ,
một con tên Luật-đề, một con tên Xa-luật- đề, bâm
tánh thông minh có thê biết tiếng người. Các Tỳ-
kheo tới lui thì nó báo cho trong nhà hay biết trước,
chuẩn bị để nghênh tiếp. Khi đó A-nan đi đến nhà
ông gặp con chim thông minh, tâm liền thương
mêễn mà nói rằng muôn dạy hai con nghe giáo pháp.
Hai con chìm vui mừng thọ pháp Tứ đê, dạy đọc
tụng, nói kệ rằng: “Đâu-khư, Tam ñiãu-để da, NI-
lâu-đà, Mạt-da (Tân dịch là: Khổ, Tập, Diệt, Đạo).
Trước cửa nhà có một cội cây, hai con chim nghe
pháp vụi mừng tụng tập, bay hướng trên ngọn cây,
bay xuống bay lên Dảy lần, tụng đọc pháp Tứ đề đã
thọ. Ban đêm nó ngủ trên cây, bị con chôn bắt ăn
thịt, vì cơ duyên tâm thiện nên sinh lên cõi trời Tứ
thiên. A-nan ngày mai, mặc y ôm bát vào thành
khât thực, nghe hai con chim Anh vũ bị chỗn bắt
ăn sinh lòng thương xót, trở về bạch Đức Phật:

– Bạch Thế Tôn, ở nhà ông Tu-đạt có hai con

chim Anh vũ, hôm qua đệ tử dạy nó tụng Tứ đề, tốiqua nó đã chết rôi, không biết thân thức sinh về nơiđầu? Cúi mong Như Lai thương xót chỉ bày chocon.Đức Phật bảo:

– Này A-nan, hãy lắng nghe và khéo ghi nhớ

trong lòng, Ta sẽ vì ông mà nói khiến ông hoan hỷ.Do ông truyền pháp, tâm chim hoan hỷ nhận lãnhnên sau khi mạng chung, sinh lên cõi trời Tứ ThiênVƯƠng. Ở cõi Diêm-phù-đề này, năm mươi nămbăng cõi trời Tứ Thiên Vương một ngày một đêm,ở đó cũng ba mươi ngày là một tháng, mười haitháng là một năm, cõi trời đó thọ năm trăm tuôi.Ngài A-nan hỏi Phật:

– Bạch Thê Tôn, sau khi thọ chung chúng sinh

ở nơi nào?Đức Phật bảo:— Ngài sinh ở cõi trời Đao-lợi (ng trời thứhai). Ö cõi Diêm-phù-đề này một trăm năm thì trêntrời Đao-lợi một ngày một đêm, ở đây cũng bamươi ngày làm một tháng, mười hai tháng làm mộtnăm. Cỗõi trời Đao-lợi đó thọ mạng một ngàn tuôi.Ngài A-nan hỏi:— Ở đó thọ chung thì sinh về đâu?Đức Phật bảo:— Này A-nan, sinh lên cõi trời Diệm-ma thứ ba.Hai năm ở cõi Diêm-phù- -đề này bằng một ngàyđêm ở cõi trời Diệm-ma. Ở đây cũng ba mươi ngàylàm một tháng, mười hai tháng làm một năm. Ở cõiDiêm-ma tuôi thọ hai ngàn tuổi.Ngài A-nan lại hỏi:— Sau khi thọ chung chúng sinh về đâu?Đức Phật bảo:— Này A-nan, họ sẽ sinh lên cõi trời Đâu-suấtthứ tư. Cõi Diêm-phù-đề này bốn trăm năm thì cõitrời đó một ngày một đêm. Ở đó cũng ba mươingày làm một tháng, mười hai tháng là một năm.Cõi trời Đâu-suất thọ mạng bốn ngàn tuổi.Tôi lại hỏi:

– Ở đó, họ mạng chung sinh về đâu?

Đức Phật bảo:— Này A-nan, họ sẽ sinh lên cõi trời thứ nămVô kiêu lạc thiên. Cối Diêm-phù- -để tám trăm nămbằng cõi trời này một ngày một đêm. Ở đây cũngba mươi ngày là một tháng, mười hai tháng làmmột năm. Cõi trời thứ năm thọ mạng tám ngàn tuôi.Ngài A-nan lại hỏi:— Ở đó họ thọ chung sinh về đâu?Đức Phật bảo:— Này A-nan, họ sẽ sinh lên cõi trời thứ sáu,trời Hóa ứng thĩnh. Cối Diêm- phù- -đề một ngàn sáutrăm năm băng cõi ấy một ngày một đêm. Nơi đócũng ba mươi ngày làm một tháng, mười hai thắnglàm một năm, thiên thọ sáu ngàn tuổi.Ngài A-nan lại hỏi:— Ở đó mạng chung chúng lại sinh về đâu?Đức Phật bảo:— Này A-nan, họ sinh trở lại cõi trời thứ năm,cứ thứ tự trở lại như vậy lên xuống bảy lần. Sinhtrong sáu tầng trời Dục giới thứ tự thọ phước, tuổitrời cực thọ không có yêu sô.Ngài A-nan lại hỏi:

– Bạch Thế Tôn, như vậy cõi trời thứ sáu thọ

mạng hết sinh về đâu?Đức Thế Tôn đáp:— Họ sẽ xuống cõi Diêm-phù-đẻ, sinh trong loàingười, xuât gia học đạo. Tiên duyên của chim Anhvũ tụng trì Tứ đê, tâm tự khai giải, thành Bích-chI-phật, một vỊ tên là Đàm-ma, một vị tên là Tu-đàm-ma.Đức Phật bảo:— Này A-nan, tất cả chư Phật và chúng Hiềnthánh, trời người thọ phước nhiêu ít đêu do ở g1eotrong nhân lành, khiên họ được diệu quả sau này.Bấy giờ ngài A-nan và cả chúng hội nghe ĐứcPhật nói hoan hỷ phụng hành.

Phẩm 59: CHIM NGHE VỊ TỲ-KHEO

THUYÉT PHÁP ĐƯỢC SINH LÊN CÕITRỜITôi nghe như thế này:Thuở nọ, Đức Phật ở tại vườn Kỳ-đà Cấp côđộc, thuộc nước Xá-vệ. Bây giờ, ở trong rừng câycó một vị Tỳ-kheo tọa thiền hành đạo. Sau khi ăncơm Xong, VỊ ây kinh hành, do tiếng tụng kinh củavị ây hòa nhã vô cùng nên có một con chim thíchnghe tiếng của nhà sư, nó bay đậu trên ngọn câylắng nghe âm thanh â ây. Lúc đó có một người thợsăn dùng tên băn chết. Do nó khởi lòng lành liênsinh lên cõi trời Đao-lợi, trên đầu gôi cha mẹ sinhra, bỗng nhiên to lớn như đứa trẻ tắm tuổi, diệnmạo đoan chánh, quang minh khác thường, chói lọikhông gì bằng, liền tự nghĩ răng: “Ta làm phước gìmà được phước quả bảo trời?” VỊ trời bèn biết túcmạng quán thây thân xưa vốn là loài chim, nhờnghe vị Tỷ-kheo tụng kinh được phước báo sinhlên cõi trời này nên liên cầm hoa trời bay về cõiDiêm-phù-đề đến chỗ vị Tỳ-kheo đảnh lễ, thămhỏi, dùng hoa hương trời tắn thán cúng dường. VỊTy-kheo hỏi:— Ông là thân nào?Đáp:— Tôi vốn là chim, thích nghe âm thanh củangài tụng kinh, bị thợ săn băn chết, nhân có tâmthiện nên sinh lên cõi trời Đao-lỢi.Vị Tỳ-kheo vui vẻ liên mời ngôi vì trời thuyếtdiệu pháp. Nghe xong vị trời chứng quả Tu-đà-hoàn, vui mừng liên bay về trời.Đức Phật bảo:— Này A-nan, Như Lai ra đời làm lợi ích hữutình rất nhiêu, thuyết ra các pháp rât là thần diệu,cho đến loài chim bay nhờ duyên thích nghe phápâm cũng được phước vô lượng há là người có lòntin vững chắc thọ trì, được quả báo thật khó thêsánh. Bấy giờ ngài A-nan và cả đại chúng ngheĐức Phật thuyết xong, vui mừng đảnh lễ phụnghành.KINH HIÉN NGUQUYÊN 13

Phẩm 60: NĂM TRĂM CHIM NHẠN NGHE

PHẬT PHÁPĐƯỢC SINH CỐÕI TRỜITôi nghe như thế này:Một thuở nọ, Đức Phật ở nước Ba-la-nạI. Bâygiờ Thê Tôn ở trong đâm rừng, vì trời người bốnbộ chúng diễn thuyết. Diệu pháp. Lúc đó, ở trênkhông trung có một bầy nhạn năm trăm con ngheâm thanh của Đức Phật, tâm rất ham thích, chúngDay vòng vòng muốn đáp. xuống chỗ Thế Tôn thìcó mây người săn giăng bẫy lưới bắt trọn bầy chimnhạn giết ăn hết. Thân thức bây chìm được sinh lêncõi trời Đao-lợi, từ đầu gôi cha mẹ sinh ra độtnhiên và lớn nhanh như đứa nhỏ tám tuổi, thân thểđoan nghiêm, dung mạo không thê sánh, quangminh trong sáng như núi vàng. Họ tự nghĩ: “Chúngta do nhân gì mà sinh trong cõi trời này?” Tâm củacác vị trời thông suốt có túc mạng thông. nên biếtđược duyên kiệp trước do nghe pháp âm đượcphước báo sinh cõi trời. Muôn bảo ân ây, họ cùngnhau dùng hương hoa trời bay xuống Diêm-phù-đê, đến nước Ba-la-nại, chỗ Thê Tôn ngự, ảnh sảngcác vị trời chói lọi cũng như rừng cây báu, đồngthời cúi mình đảnh lễ dưới chân Phật chắp taybạch:— Chúng con nhờ âm thanh thuyết pháp của ThếTôn mà được sinh nơi tốt đẹp, cúi mong Thế Tônthương xót chỉ bày đạo lý thiết yếu.Bây giờ Đức Thế Tôn bèn vì họ rộng thuyếtpháp Tứ diệu để. Nghe xong các vị trời đặc quảTu-đà-hoàn rôi bay trở về trời, họ không bị đọa tamđồ, tùy duyên bảy lần sinh được dứt các lậu.Bấy giờ, ngài A-nan bạch Đức Phật:

– Bạch Thế Tôn, hôm qua có các vị trời ánh

sáng chói lọi kính lễ Thê Tôn, không biết duyên gì,mong Thế Tôn chỉ bày.Đức Phật bảo:— Này A-nan, hãy khéo suy nghĩ! Ta sẽ vì ôngmà nói. Hôm qua Ta ở trong đâm rừng vì chưThiên bốn bộ chúng diễn bày Diệu pháp thì có nămtrăm chim nhạn kính mến tiếng pháp, tâm sinh vuimừng cùng nhau bay tới muôn đến chỗ Ta ngự thìbị mắc bẫy lưới của thợ săn họ bắt giết ăn hết. Nhânkhởi lòng lành, thân thức bây chim nhạn sinh lêncõi trời Đao-lợi, tự biết túc mạng, nên đến đây báoân.Khi đó ngài A-nan nghe Đức Phật nói thế vuimừng khen chưa từng có mà nói:— Như Lai ra đời thật là kỳ diệu, mưa pháp thắmnhuân ai cũng được nhờ ân, cho đến loài chimmuông nghe pháp cũng được phước báo, huôỗng làngười ta tín tâm thọ trì, tính xét quả bảo còn vượtnhiêu hơn nó gấp trăm ngàn vạn lần, không thểsánh bằng.Đức Phật bảo:— Này A-nan, lành thay! Lành thay! Như lờiông nói, Như Lai ra đời đưa pháp cam lộ thắmnhuân quân sinh được lợi ích rất nhiều. Vì thê phảinên nhât tâm tin kính Phật pháp.Bấy giờ ngài A-nan và cả chúng hội nghe ĐứcPhật nói xong vui vẻ đảnh lễ phụng hành.
Nguồn bản dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Internet Archive OCR)Giấy phép: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Việt dịch) · OCR Internet Archive · nguồn: archive.org · EN quarantined on 2026-07-06: previous bodyEn was short INTI-AI quote-widget noise, not a source English body. · EN: AI translation from Vietnamese source, awaiting source English🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch bằng AI do Inti biên soạn: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến