KINH HIỀN NGU - QUYỂN 13
Phẩm 61: SƯ TỬ KIÊN THỆ
Tôi nghe như thế này:Một lúc nọ Đức Phật ở thành Vương xá, trongnúi Kỳ-xà-quật. Khi ây Đề-bà-đạt-đa thường ômlòng ác muôn hại Thê Tôn, ông tự xưng là Phật,dạy thái tử A-xà-thế hại vua cha rôi lên ngôi vuađể có Phật mới vua mới trị vì thiên hạ, như vậychăng phải sướng sao? Vương tử tin dùng, bèn giêtcha mình tự lên làm vua, lúc đó người đời đều ômlòng ác đối với các Tỳ-kheo ghét không muốn ngó.Bây giờ chư Tỳ-kheo vào thành khất thực, nhândân phẫn nộ đều không cúng thí, ôm bát không màvề. Trở về trong núi bạch Thế Tôn:
– Đê-bà-đạt-đa làm việc bất thiện khiên dân
chúng đều sinh khởi lòng ác, hướng các Sa-môn,
sinh khởi lòng ác; họ hướng chư Bích-chi-phật, A-
la-hắn quá khứ, hiện tại, tương lai phát khởi lòng
ác; đối với ba đời chư Hiển thánh tạo vô lượng tội
nghiệp quả báo. Tại vì sao? Vì y phục nhuộm hoại
sắc đêu là tiêu thức của Thánh hiền ba đời, những
chúng sinh cạo bỏ râu tóc, mặc y nhuộm, nên biệt
người đó chăng bao lâu sẽ được giải thoát tật cả
các khô được trí vô lậu, vì các chúng sinh làm một
vị cứu hộ lớn. Nếu có chúng sinh hay phát tín tâm
đối với người xuất gia người mặc y nhuộm thì được
phước khó lường.
Đức Phật bảo:
— Này A-nan, Ta do kiếp xưa đôi với người xuất
gia mặc y nhuộm sinh lòng tin sâu đậm, vì kính
ngưỡng nên mới được thành Phật.
A-nan tôi bạch Phật:
– Bạch Thế Tôn, kiếp xưa Thể Tôn tin sâu kính
ngưỡng người mặc y nhuộm, sự việc ấy như thê
nào? Cúi xin Ngài nói cho con được nghe.
Đức Phật bảo:
— Này A-nan, hãy lắng nghe! Thuở xưa cách
đây vô lượng kiếp a-tăng-kỳ, ở châu Diêm-phù-đề
này, có một đại quốc vương tên là Đề-tỳ, thống
lãnh tám vạn bốn ngàn tiêu quốc vương. Lúc đó, ở
đời không có Phật pháp, chỉ có Bích-chi-phật sông
trong rừng núi tọa thiên hành đạo, phi hành biến
hóa, rộng độ chúng sinh. Lúc đó các con dã thú đều
tới gần gũi. Có một con sư tử tên là Trà-ca-la-tỳ
(Tá ấn dịch là Kiên Thệ) thân màu sắc vàng, ảnh
sáng chói lọi, chỉ ăn quả ăn cỏ không giết hại cầm
thú. Lúc bây Ø1ờ người thợ săn cạo tóc mặc ca-sa,
bên trong giâu cung tên, đi bộ vảo trong rừng, thây
có sư tử trong lòng mừng thâm, nghĩ răng. “Hôm
nay ta được lợi lớn, gặp được con thú này có thể
giết lẫy da dùng để dâng cho vua, thoát khỏi sự
nghèo khổ.” Lúc đó con sư tử đang ngủ, người thợ
săn bèn dùng tên độc bắn trúng. Sư tử tỉnh dậy định
đuổi hại, thì trồng thây người mặc y ca-sa, bèn tự
nghĩ: “Người này ở đời không bao lâu ắt được giải
thoát, lìa các khô ách. Tại vì sao? Vì người mặc y
nhuộm này là tướng tiêu biểu cho Thánh nhân ba
đời, nếu ta hại họ, thì là có ba điều ác đối với chư
Hiển thánh ba đời.” Suy nghĩ như vậy, ý hại liên
dừng, rôi tự nói kệ: “Da-la-la, bà-xa-sa ta-ha”. Khi
sư tử nói lời này rồi, trời đất chân động, không mây
mà mưa. Chư Thiên kinh sợ, dùng Thiên nhãn
quan sát dưới thế gian thấy người thợ săn giết hại
Bồ-tát Sư tử, ở trên hư không mưa xuống hoa trời,
cúng dường tử thi. Bấy giờ thợ săn lột da sư tử đem
về đến nhà rôi đem dâng quốc vương Đề-tỳ câu
được ban thưởng. Lúc ây nhà vua nghĩ răng:
“Trong kinh sách có nói: “Nêu có thú vật thân
tướng sắc vàng, ắt là Bô-tát đại sĩ. ˆ Nay ta làm sao
ban thưởng cho người này được? Nêu thưởng cho
hăn thì giông như giết hại không khác.” Lúc ây
người thợ săn nghèo câu xin quôc vương thương
xót cho Ít tài vật. Vua hỏi thợ săn:
— Khi sư tử chết có điềm gì không?
Đáp:
— Tâu bệ hạ, miệng nó nói ra tám tiếng thì trời
đất chân động, không mây mà tự mưa, trời rơi
xuống các hoa.
Khi đó quốc vương nghe nói rồi vui mừng khôn
cùng lòng tin dũng mãnh, triệu tập các thân kỳ cựu,
người trÍ giải thích nghĩa â ây. Lúc đó mọi người đều
không thê giải thích. Ở trong khu rừng cạnh bờ
đâm có một Tiên nhân tên Xa-ma, ông rất thôn
minh, thông đạt lý lẽ. Nhà vua thỉnh Tiên nhân vê
nhờ giải thích nghĩa tám chữ ấy: “Da-la-la” nghĩa
là cạo tóc mặc y nhuộm ở trong sinh tử mau được
giải thoát. “Bả-xa-sa” nghĩa là người cạo tóc mặc
y nhuộm đều là tướng Thánh hiện, gần với Niết-
bàn. ““Fa-ha” nghĩa là người cạo tóc mặc y nhuộm
sẽ được tật cả chư Thiên, người đời trông thây kính
ngưỡng. Lúc đó Tiên nhân giải nói XOng, vua Đệ-
tỳ vui mừng liên triệu tám vạn bốn ngàn tiểu quốc
vương tập hợp một nơi, làm xe cao băng bảy báu,
trương da sư tử, biểu thị tất cả đều cùng kính
ngưỡng, đốt hương rải hoa mà cúng dường rât mực
cung kính. Sau đó dùng vảng làm quan tài, để da
sư tử vào, rôi dựng tháp thờ. Bấy giờ nhân dân
duyên theo tâm thiện sau khi thọ chung cũng đều
được sinh lên cõi trời.
Đức Phật bảo ngài A-nan và bốn bộ chúng:
— Con sư tử lúc ây do phát khởi lòng lành đôi
với người mặc y nhuộm, trong mười ức vạn kiếp
được làm vua Chuyển luân, làm ruộng phước cho
chúng sinh mãi đến khi thành Phật. Trà-ca-ty-la há
là người nào khác, chính là tiền thân của Ta vậy,
còn quốc vương Đề-tỳ do duyên cúng dường da sư
tử nên trong mười vạn ức kiếp sinh trong trời người
tôn quý đệ nhất, tu các căn lành, nay chính là Di-
lặc Bô-tát. Tiên nhân khi đó nay là ông Xá-lợi-
phất. Người thợ săn nay là Đề-bà-đạt-đa.
Bốn chúng lúc bấy giờ theo Phật nghe thuyết
nhân duyên quá khứ tâm rất vui mừng, nói:
– Chúng con ngu si, không biết minh triết nên
sinh khởi tâm ác. Cúi mong Như Lai thương xót kẻngu si, cho sám hối tội lỗi trước.Đức Thế Tôn từ bi nhân đó thuyết pháp Tứ đểvi diệu, tùy túc duyên của họ đều được các quả, cóngười nghe xong đắc quả Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm,A-na-hàm, A-la-hán; có người còn phát tâm câuđạo Vô thượng chánh chân.Lúc đó ngài A-nan và bốn bộ chúng nghe ĐứcPhật nói xong thảy đều vui mừng đảnh lễ phụnghành.
Phẩm 62: PHẠM CHÍ CÚNG THÍ PHẠT Y
VẢ ĐƯỢC THỌ KÝTôi nghe như thế này:Thuở nọ, Đức Phật ở tại vườn Kỳ-đà Cấp côđộc, thuộc nước Xá-vệ. Khi ây Thê Tôn dẫn thị giảA-nan vào thành Xá-vệ. Đức Thê Tôn mặc y trênthân có vài chỗ bị rách, vì muốn.ứng hóa độ chúngsinh. Khất thực xong Ngài muốn trở về chỗ nghỉthì có một vị Bà-la-môn đến chỗ Đức Phật làm lễ.Trông thây Đức Phật dung nhan quang tướng đặcbiệt lạ thường, lại thấy y Phật có chút hư rách, nêncó tâm muôn cúng thí, vị ây bèn cắt ít lụa trắng ởnhà đem dâng cúng Phật, thưa:— Cúi mong Như Lai nhận tâm lụa này dùng đềvá y.Đức Phật liên thọ nhận. Khi â ấy vị Bả-la-mônthây Đức Phật thọ ký trong lòng vui mừng gấp bội.Đức Phật liên thọ ký:— Ở đời sau này trong hai a-tăng-kỳ kiếp, ô ôngsẽ được làm Phật, thân thông tướng hảo đây đủmười hiệu.Đức Phật thọ ký xong vui mừng mà đi. Lúc đótrong nước, những trưởng giả giàu có đều ôm lòngthắc mặc: “Tại sao Thế Tôn thọ chút của thí màđến đáp ân lớn như vậy?” Nghĩ thế rôi, vì Như Lai,họ phá rách y tốt, làm các thứ y đem dâng cho ĐứcPhật. Ngài A-nan hỏi Phật:— Bạch Thế Tôn, xưa kia Ngài tạo hạnh lành gìmà khiến tất cả đêu dâng cúng thí y phục? Cúimong Như Lai vì con chỉ bày giải nói khiến đượchiểu rõ.Đức Thê Tôn bảo:— Hãy lắng nghe, Ta sẽ vì ông mà nói.Ở đời quá khứ vô lượng kiếp a-tăng-kỳ, khi đócó Đức Phật hiệu Tỷ-bà-thi ra đời cùng đô chúngcủa Ngài chín vạn người câu hội. VỊ vua lúc bấygiờ tên là Bàn-đâu. Có một đại thần thỉnh Đức Phậtvà chúng Tăng cúng dường ba tháng, Đức Phật liềnhứa khả. Ông bèn trở về nhà chuẩn bị cúng dườngĐức Phật và chúng Tăng. Lúc đó vua Bàn-đâu điđến chỗ Phật, bạch:— Xin được Như Lai và chúng Tăng nhận lờicon cúng dường ba tháng.Đức Phật nói với vua Bàn-đầu:— Ta đã thọ nhận thỉnh mời của vị đại thần trướcrôi, theo phép không nên trái nghịch.Đức vua trở về cung bảo với vị đại thần răng:— Đức Phật ở nước trẫm, nay trằm muốn cúngdường, nhưng khanh đã thỉnh rồi, nay khanh có thêtránh dịp khác, trẫm cúng dường xong rôi, khanhhãy thỉnh sau.Vị đại thần tâu:— Tâu bệ hạ, nếu đại vương bảo đảm được thânmạng của thân, lại bảo đảm được Như Lai thườngtrụ ở đây, lại khiến quốc độ thường an Ôn không tainạn. Nếu đại vương có thể bảo đảm hết những việcnảy, thân xin nhường đề cho đại vương thỉnh Phậttrước.Vua tự nghĩ: “Việc này chắc khó bảo đảm”, nênnói rằng:— Thôi, khanh thỉnh cúng một ngày, rôi đếntrầm thỉnh cúng một ngày.Quan đại thân đồng ý, rôi cùng, nhau chuẩn bịthiết hội, ai nây đều mãn nguyện. Bấy giờ quan đạithần may cho Đức Như Lai đó ba y và cúng chochín vạn Tỳ-kheo y bảy điêu.Nói đến đây, Đức Phật nhắc lại:— Này A-nan, ông nên biết, quan đại thần đem\ phục cúng thí Đức Phật và chúng Tăng, há phảingười nào khác, chính là tiền thân của Ta. Ta đờiđời gieo trông phước điền không biết chán, nay đềutự được trọn không thể sánh.Bấy giờ ngài A-nan cùng mọi người nghe ĐứcPhật nói xong hoan hỷ siêng tu tạo các nghiệpphước, đảnh lễ Phật phụng hành.
Phẩm 63: ĐỨC PHẬT BÁT ĐẦU KHỞI TÂM
TỪTôi nghe như thế này:Thuở nọ, Đức Phật ở tại vườn Kỳ-đà Cấp côđộc, thuộc nước Xá-VvỆ. Bây giờ các Ty-kheo đangmùa hạ an cư, đi đến chỗ Phật đánh lễ thăm hỏi.Đức Phật dùng tâm từ an ủi vỗ về: “Các ông trụ nơikia được vô khô chăng?” Tâm tư vô cùng thươngmến. Tôi thấy thế bạch Phật:
– Bạch Thế Tôn, lòng từ mãn thương mến đặc
biệt như vậy là xa gân chăng?Đức Phật bảo:— Này A-nan, nếu ông muốn biết, hãy lăng ngheTa nói.Thời quá khứ lâu xa kiếp a-tăng-kỳ không thếtính kê, có hai người tội cùng ở địa ngục, bỗng bịxua đuôi khiến kéo xe sắt cắt lây đa, dùng làm cáiách xe, lại dùng roi sắt đánh khiến chạy rông Đông,Tây rượt đuổi, không có dừng nghỉ, Khi đó có mộtngười, gần sức yêu ớt, ngục tôt bức bách họ, téxuông đât rôi đứng dậy, mệt nhọc cực khô vô cùng,chết đi sông lại. Người kia thây người này khônkhô như thê phát khởi tâm từ thương xót, ngườinày thưa với ngục tốt răng:— Xin hãy thương xót thân tôi là người, mộtmình kéo xe không nôi.Ngục tốt nổi sân dùng gậy đánh tức thời chếtngay, thân thức được sinh lên cõi trời Đao-lợi.Nói đến đây, Đức Phật lại nói:
– Này A-nan nên biết, người trong ngục khởi
tâm Từ lúc bấy giờ chính là tiên thân của Ta. Ta
lúc đó bị tha tội ở trong địa ngục, mới vừa khởi tâm
Từ thương xót đôi với tật cả mọi người chưa từng
thoái xả, cho đến ngày nay, vì ham thích tu hành
thương xót tất cả.
Bây giờ ngài A-nan nghe Đức Phật nói xong
hoan hỷ phụng hành.
Phẩm 64: VUA ĐÁNH SINH
Tôi nghe như thế này:Thuở nọ, Đức Phật ở tại vườn Kỳ-đà Cấp côđộc, thuộc nước Xá-vệ cùng VỚI chúng Ty-kheomột ngàn hai trăm năm mươi vị. Bấy giờ Thế Tônthây các Tỳ-kheo tham ưa đô đẹp, dính mắc danhlợi, phần nhiêu gom chứa không biết chán, Ngàithây như vậy rôi bèn nói về cái hại của tham lợi:— Phàm người tham lợi hiện tại tồn thân mạng,sau khi chết đọa vào ba đường, thọ khô vô lượng.Tại sao thế? Ta nhớ thuở quá khứ, do tham mà phảiđọa lạc chịu các khổ não.Khi ây ngài A-nan chắp tay quỳ bạch Phật:— Bạch Thê Tôn, thời quá khứ do tham mà Ngàiphải đọa lạc, việc ây như thế nào? Mong Thê Tônnói cho chúng con được biết.Đức Thế Tôn bảo:— Về thời quá khứ vô lượng vô biên kiếp a-tăng-kỳ, ở cõi Diêm-phù-đề này có một vị đạivương tên Cù-tát-ly, thông lãnh tám vạn bốn ngànnước nhỏ, có hai vạn phu nhân thể nữ, một vạn đạithân.Khi ây trên đỉnh đầu nhà vua mọc một khỗi uhình dáng như một cái kén, trong trẻo, không đauđớn øì cả, sau dân dân lớn lên như trái bầu, bèn mồra xem thì được một đứa bé, tướng mạo rât đoanchánh, tóc xanh mượt, thân sắc vàng tím, mời thầytướng xem tướng tốt xâu. Thây tướng xem xongnÓI VỚI VuUA:
– Đứa bé này rất có phúc đức, dung nghi hiểm
có sau này ắt là Thánh vương, thống trị bốn thiênhạ.Nhân đó đặt tên là Văn-đà-kiệt (7Tẩn địch làĐảnh Sinh). Khi trưởng thành, vua ban cho mộtnước riêng phong cập cho Đảnh Sinh. Sau này đạivương bị bệnh khốn cùng, các tiểu Vương đêu đếnchăm sóc nhưng không thể thuyên giảm rồi phảibăng hà. Các tiểu vương cùng đến chỗ Đảnh Sinhthưa:— Đại vương đã băng hà, xin ngài lên ngôi kếVỊ.Đảnh Sinh đáp:— Nếu như ta có phước đáng làm vua thì phảikhiến trời Tứ thiên và Đề Thích tới nghênh đón đểđăng quang vương vị.Lập thệ xong, Tứ Thiên vương liên bay xuống,mỗi vị cầm bình báu đựng đây nước hoa thơm,dùng tưới trên đỉnh đâu vua Đảnh Sinh. Trời ĐềThích cảm mão báu tới đội lên đầu vua, sau đó gọicác tiểu vương khuyên đến đại quốc để cai trị. VuaĐảnh 5¡nh lại nói:— Nếu như ta có phước đáng làm vua thì nướcnên đến ta, ta không đến nước.Lập thệ xong, trong đại quốc, tt cả cung điện,vườn rừng, ao hồ đều đến nơi vua; kim luân, voingựa, ngọc nữ, thần châu, điển tàng, điển binh, đềuvần tập đến. Vua bốn thiên hạ vì vua Chuyên luântuân hành quốc giới, thấy các thần dân cuốc càyđất trông ruộng, vua hỏi sứ thân:— Các quân sinh ở đây muốn làm gì?Đáp:— Vì có hình tướng do ăn mới sống còn, chonên gieo trồng ngũ côc để nuôi mạng sông.Vua lập thệ răng:— Nếu ta có phước đáng làm vua tự nhiên nêncó trăm vị ăn uỗng no nê tât cả khiến không ai bịđói khát.Phát nguyện xong, liền có thức ăn uống. Mộthôm, vua bèn ra ngoài dạo chơi thấy những ngườidân may dệt, lại hỏi:— Họ đang làm gì thế?Quan cận thân đáp:— Người dân thức ăn tự nhiên có tôi, nhưngcũng cân áo mặc, nên họ dệt vải may đồ để phụcSỨC.Vua lại lập thệ:
– Nếu ta có phước đáng làm vua thì y áo đẹp tự
nhiên có để ban cho vạn dân khiến họ không nghèothiếu.Nguyện xong thì các thân cây tự nhiên sinh ray phục, màu đẹp lạ thường, tất cả người dân cândùng không hết. Một hôm đi dạo chơi, vua thâyngười ta tu tạo nhạc khí, vua lại hỏi:— Họ làm gì thế?Quan cận thân đáp:— Tâu bệ hạ, dân chúng ăn mặc đã được đây đủ,chỉ thiêu âm nhạc, đo đó họ tạo nhạc khí dùng đềØIÚúP VUI.Vua lại lập thệ:— Nếu ta có phước đáng làm vua thì các nhạckhí hay lạ tự nhiên đến.Nguyện xong, tức thời các thân cây có cácnhạc khí treo lơ lửng trên cành, nêu có ai cần thìlây xuống mà dùng, âm thanh hòa xướng, ngườinghe không ai chắng vui mừng. Đức nhà vua sâudày, muôn điều thiện vân tập đến, trời mưa bảybáu khắp các cõi nước. Vua hỏi các quan:— Đây là đức của ai thế?Các thân tâu:— Thưa đây là đức của nhà vua, cũng là phướccủa quốc dân. Vua lại lập thệ: “Nêu là phước củadân thì của báu nên mưa xuống khắp nơi, nêu riêngđức của ta thì chỉ mưa trong cung nội”.Nói xong, chỉ mưa riêng trong cung bảy ngàybảy đêm. Vua Đảnh Sinh ở cõi Diêm-phù- -đề ngũdục tự vui, trải qua tám vạn bốn ngàn tuổi. Lúc đócó một Dạ-xoa, vọt ra trước cung điện lớn tiếngXướng:
– Ở phương Đông có nước tên Phất-bà-đê, nơi
đó vui vẻ khoái lạc không thê bì, đại vương có thểđến đó xem.Vua liền hứa khả ý muốn tuần hành. Kim luânlại chuyển. bay lên hư không mà đi, quân ˆ thân bảybáu thảy đều. theo sau. Đến nước đó, các tiêu vươngđồng đến triều bái. Vua ở nước đó ngũ dục tự đâyđủ. Trải qua tám ức năm thì Dạ-xoa đến xướng:— Ở phương Tây có nước tên Củ-da-ni, cũng rấtkhoái lạc, vua có thê đến đó.Vua liền nhận lời đi đến nước đó, hưởng phướctrải qua mười bốn ức năm. Dạ-xoa lại đến Xướng:— Ở phương Bắc có nước tên Uât-đan, an ôngiàu đẹp nhân dân đông đảo xung túc. Vua chịu điđến nước đó ở lại thọ hưởng ngũ dục thỏa mãn Ỹchí, trải qua mười tám ức năm. Dạ-xoa lại đếnxướng răng:— Có cõi Tứ Thiên vương, nơi đó vui vẻ sungsướng khôn lường.Vua liền đi đến đó cùng quân thần và bốn bộbinh cỡi hư không mà đi. Tứ Thiên vương từ xatrồng thây rất là SỢ hãi, liên hợp binh chủng rangoải chồng cự, rột cùng không chống cự lại, đànhtrở về. Vua Đảnh Sĩnh ở đó ưu du thọ lạc trải quamười ức năm. Jrong ý vua lại nghĩ muốn lên cõitrời Đao-lợi, liền cùng quân thân, binh chủng cỡihư không mà bay lên. Lúc đó có năm trăm Tiênnhân, ở bên hông núi Tu-di, voi ngựa của vuaphóng uề rơi xuống dơ uê thân các Tiên nhân. CácTiên nhân đến hỏi:— Có duyên gì mà rớt thứ này?Có Tiên nhân nói:— Ta nghe nói vua Đảnh Sinh muốn lên tầngtrời thứ Ba mươi ba, ặt voi ngựa làm rớt đô bất tịnhxuống đây.Tiên nhân phẫn hận, bèn kết thân chú khiến vuaĐảnh Sinh và các quan binh đều đứng lại không điđược. Vua Đảnh Sinh biết liên thệ nguyện:— Nếu ta có phước thì các Tiên nhân này đều sẽđến đây phụng sự ta.Đức của vua rộng lớn có thê cảm đến năm trămTiên nhân đến bên cạnh vua, giúp dìu ngựa xe,cùng đi lên trời. Từ xa vua nhìn thây thành trời tênlà Khoái kiến, màu sắc trăng tinh, cao hiền, đặc biệtkhác thường. Thành Khoái kiến này có một ngànhai trăm cửa, các trời sợ sệt đều đóng cửa lại, balớp công sắt, binh chủng của vua Đảnh Sinh đithăng không nghỉ. Vua liên lẫy vỏ ốc thôi, trươngcung nạp tên thì một ngàn hai trăm cánh cửa đồngthời mở ra. Vua Để Thích bước ra, hai vua gặpnhau, nhân đó thỉnh vua Đảnh Sinh vào cung rôicùng mời ngôi. Vua trời và dân trời tướng mạo mộtloại, mới nhìn không thế phân biệt, chỉ nhìn thâyđôi mặt nhanh chậm mà biết khác thôi. Vua ở trêntrời thọ ngũ dục lạc, tận cùng ba mươi sáu vua, cuốicùng là trời Đề Thích (Đại Ca-diểp).Khi đó vua A-tu-la dấy binh lên trời cùng ĐềThích đánh nhau. Quân Đề Thích đánh không lại,thoái quân vào thành. Vua Đảnh Sinh lại lây vỏ ốcthối, tra cung tên. Vua A-tu-la liên băng đọa. VuaĐảnh Sinh tự nghĩ: “Sức ta mạnh như vậy khôngcó ai băng, nay cùng Đề Thích ngôi chung coi saocho được, chì bằng tiêu diệt ông ta, một mình thốnglãnh ở đây hưởng lạc thú.” Tâm ác vừa sinh, liềnbị sa đọa, đang ở trước cung điện thì bỗng chếtngay. Các dân trời đến hỏi:— Vụa Đảnh Sinh vì sao mạng chung? BỊ quảbáo thê nào?Vua Đề Thích đáp:
– Nếu có người hỏi thì nên trả lời. Vua Đảnh
Sinh do tham mà chết, ông thống lãnh bốn thiênhạ, sống bốn mươi ức tuôi, mưa bảy báu ngày, chođến làm vua hại trời không có biết đủ, cho nên bịđọa lạc.Nói đến đây, Đức Phật nhắc lại:— Do vậy, này các Tỳ-kheo, nói về lợi dưỡngthật là đại hoạn, nên suy nghĩ xa lìa mau cầu chânđạo. Ngài A-nan bạch Phật:— Vua Đảnh Sinh này, đời trước gieo trồngphước gì mà được đại phước vô lượng như thế?Mong Thế Tôn vì chúng con giải nói.Đức Phật bảo:Về đời quá khứ, số kiếp không thê tính, có ĐứcPhật ra đời hiệu là Phẩt-sa, Ngài cùng đồ chúng duhóa nhân gian. Bấy gIỜ có con trai của một vị Bà-la-môn muốn lấy vợ, tay cầm đại đậu để dùng tánphụ, đó là lễ của thể tục, giữa đường gặp Phật, tâmý chàng vui mừng, liên câm nắm đậu ấ ầy dâng cúngcho Phật bốn hạt vào bát, một hạt để ở đỉnh. Donhân duyên đó, thọ phước vô lượng. Bốn hạt vàobát nên được làm vua bốn thiên hạ, một hạt đề trênđỉnh, hưởng thọ hai cõi trời.Khi đó các đệ tử nghe Đức Phật nói xong, cóngười đắc được Sơ quả, Nhị quả, Tam quả cho đếnquả A-la-hán không thê tính kê, thọ trì lời Đức Phậtdạy hoan hỷ phụng hành.
Phẩm 65: MƯỜI ĐỨA CON CỦA NÀNG TÔ-
MANTôi nghe như thế này:Thuở nọ, Đức Phật ở tại vườn Kỳ-đà Cấp côđộc, thuộc nước Xá-vệ. Bây giờ trưởng giả Tu-đạtcó đứa con gái út tên là Tô-man, điện mạo đoanchính, dung nhan đẹp đế lạ thường, người cha yêumến đặc biệt nhiều hơn các con khác, như đi dạochơi thì dẫn đi chung. Khi đó trưởng giả dẫn đếnchỗ, Đức Phật, cô gái ấy thấy Phật thì vui mừngmuốn đem hương thơm trét vào ngôi nhà của Phậtở. Trong tay cô đang cầm quả Tân-bà, Đức Phậtxin cô, cô vâng lời đem dâng cho Phật. Đức Phậttìm giỗng hương hoa tốt trả lại cho cô gái. Hai chacon trở vê trong thành đi mua các thứ hương tốtnhư Đức Phật cân rôi mang đến tinh xá Kỳ hoàn,đích thân tự mài hàng ngày như vậy. Lúc đó quốcVương Đặc-xoa-thi-lợi sai một người con trai củaông đến nước Xá-vệ, trước tiên đi đến nước kháctham quan, rồi dân dần đi đến tinh xá. Trồng thấynàng Tô-man đang mài hương, chàng yêu mênnhan sắc muốn cưới làm vợ, liên đi vào thành tâuvua Ba-tư-nặc:— Có cô gái rât hợp ý tôi, mong đại vương bancho, xin chớ trái ý.Vua hỏi:— Là con gái nhà a1?Đáp:— Con gái của ông Tu-đạt.Vua nói:— Khanh tự đi hỏi, trẫm không thể nói.Thái tử lại tâu vua:— Nếu đại vương cho phép, tôi sẽ tự đi cầu hôncô ây.Vua nói:— Cho phép.Con trai vua nước đó sai đem xe ngựa, đồ vậtvề bốn quốc trước, chỉ để lại một con voi. Sau đóchàng đi đến tinh xá Kỳ hoàn bắt cô gái Tô-man đểlên voI cỡi đi. Trưởng giả Tu-đạt nghe tIn sai ngườiđuổi theo, voi chạy nhanh quá không thê đuổi kịpnên chàng trai chạy về đến xứ nhà lây cô gái làmvợ. Sau đó cô gái mang thai sinh ra được mười cáitrứng, thời gian sau trứng nở được mười cậu contrai, dung mạo tốt đẹp lạ thường khác với ngườiphàm, chúng đêu ham thích săn bắn giết hại sinhvật. Bà mẹ thương xót dạy dỗ khiến chàng chớ làmVIỆC ây. Các đứa con thưa mẹ:— Việc săn băn rất là vui vẻ, sao nay mẹ ngăncản và ghét việc ấy?Bà mẹ nói:— Các con yêu, đó là nhân tội lỗi. Tại vì sao?Phàm tội sát sinh sẽ phải đọa địa ngục, thọ các khổnão, mây ngàn năm thường làm nai, dê, thỏ, cácloài cầm thú bị người săn bắn lại, tuổi thọ khôngbao lâu, tuy có muôn giải thoát nhưng không làmđược gì cả.Các con thưa mẹ:— Như lời mẹ nói là từ nơi đáy lòng hay nghetừ nơi người khác.Bà mẹ lại bảo:— Ta xưa kia theo Phật, nghe được sự việc nhưvậy.Các đứa con lại hỏi mẹ:— Phật là người nào? Hãy nói cho chúng conbiết rõ.Bà mẹ bảo:— Các con không nghe sao? Con trai của vuaTịnh Phạn ở thành Ca-ty-la-vệ, hình tướng rực rỡ,đáng làm Thánh vương, nhưng chán sự già bệnhchết xuất ø1a học đạo, hạnh nguyện thành tựu, đắcquả vô thượng. Ngài thân tướng cao một trượngsáu, tướng hảo vô cùng, chứng tam minh lục thông,việc quá khứ, vị lai biết rõ cả ba đời rõ như viênngọc năm trong lòng bàn tay.Các đứa con nghe rồi, trong lòng vui vẻ, nhânđó hỏi mẹ:—- Đức Phật ở cách đây bao xa? Có thể gặp đượchay không?Bà mẹ đáp:— Hiện nay Ngài đang ở nước Xá-VỆ.Các con thưa mẹ:— Chúng con muốn đi gặp Phật.Bà mẹ liên cho phép, mười đứa con đồng đi đếnnước Xá-vệ. Trưởng giả Tu-đạt trông thấy các đứatrẻ thì yêu mên vô cùng, dẫn đến tinh xá Kỳ hoàndiện kiến Như Lai. Các cậu bé trông thây Đức Phậtdung nhan tươi đẹp còn hơn trước kia nghe mẹ nóigập ngàn vạn lân, trong lòng vui mừng không thếkế xiết. Đức Phật nhân đó tùy duyên thuyết diệupháp, cả mười người đều được pháp nhãn thanhtịnh, rôi bạch Phật câu xin xuất ø1a. Đức Phật hỏi:— Cha mẹ các con có cho phép không?Đáp:— Bạch Thế Tôn, chúng con chưa hỏi.Đức Phật bảo:
– Cha mẹ chưa cho phép thì không được xuất
ø1a.Ông Tu-đạt lại thưa:— Bạch Thế Tôn, đây là cháu ngoại của con, naycon cho phép chúng nó xuất gia.Đức Phật liền hứa khả cho nhập đạo, râu tóc họliên tự rụng, pháp y mặc trên mình biến thànhnhững Sa-môn, tinh tấn vì đại nghiệp, chứng đắcA-la-hản. Mười vị Tỳ-kheo này rất được ngườikhâm phục cung kính, đến lui đều ở chung một trụxứ, nhân dân trong nước không ai chăng kính quý.Ngài A-nan bạch Phật:— Mười vị Ty-kheo này có phước gì mà đượcsinh vào nhà tôn quý, dung mạo hiểm thây, lại gặpThế Tôn dứt trừ sạch khổ? Cúi mong Thê Tôn vìCOn nÓI TỐ.Đức Phật bảo:— Này A-nan, về thời quá khứ cách đây chínmươi một kiếp, có Đức Phật 1ỳ-bà-thi ra đời, giáohóa xong Ngài nhập Niết-bàn, hỏa thiêu nhục thân,phân bố xá-lợi xây dựng vô lượng tháp thờ.Khi đó có một ngôi tháp hư mục, có một bà giàmuốn sửa lại, thây mười chàng thiếu niên điđường, bà nói:— Đây là tháp tôn quý, công đức to lớn, cho nêncần phải tu bồ, sau này sẽ được quả lành.Mười chàng thiếu niên vui mừng, cùng nhaugiúp công sửa lại, làm xong cùng thệ làm con bàlão. Từ đó đến nay đã chín mươi mốt kiếp, sinh ởtrên trời hay trong nhân gian thường cùng sinh rathọ hưởng phước lạc, thường có ba việc hơn cả mọingười: Một là hình thể đoan chánh; hai là mọingười kính mến; ba là thường được trường thọ.Trải qua nhiêu kiếp không đọa ba đường, nay đượcgặp Ta, tắm gội pháp hóa, dứt sạch trần câu thànhbậc Ứng chân. Nên biết bà lão thuở đó nay chínhlà Tô-man vậy. Mười chàng thiếu niên nay là mườivị A-la-hán.Đức Phật nói đến đây, trong đại hội nghe phápcó người đặc quả Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán, có người phát tâm Đại thừa bấtthoái, tin thọ lời Phật hoan hỷ phụng hành.
Phẩm 66: BÀ-THÉ-CHẤT
Tôi nghe nói như thê này:Thuở nọ Đức Phật ở nước La-duyệt-kỳ, trongnúi Kỷ-xà- quật. Bây ĐIỜ Ở nước này có một vịtrưởng giả giàu có tên Thi-lợi- chất, nhà cửa giàucó, của báu đây ắp. Bà vợ ông mang thai, sau đósinh ra được một cậu con trai dung mạo nghiêmdiệu, ở đời ít ai sánh băng. Cha mẹ rất vui mừngcho là rất may phước, bèn mời thây về xem tướng.Thây tướng xem nói với song thân:
– Đứa bé này có phước đức, sẽ làm vinh hiển
dòng họ.Trưởng giả nghe thế càng thêm vui mừng, lạinhờ thây đặt tên. Thầy tướng lại hỏi:—- Từ khi mang thai có điểm ứng gì không?Trưởng glả nói:Bà mẹ đứa bé vốn nói năng vụng về, nhưng từkhi mang thai ăn nói khéo léo lanh lẹ vô cùng!Thây tướng bèn đặt tên là Bà-thế-chất. Cậu bélớn lên thông minh siêu quân. Một hôm cùng đồngbạn dạo chơi, chàng trông thây nhà của nhạc vũcông Na-la có một người con gái diện mạo xinhđẹp, dung nhan ít người có được, bèn sinh lòng yêumên muôn được hỏi làm vợ, về thưa cha mẹ xincâu hôn cô gái ấy. Cha mẹ bảo:— Con là dòng quý phái, còn cô gái kia dòng tộchạ tiện, cao thấp chắng băng nhau, làm sao có thêthương yêu sâu đậm được, không thể tự ý được.Bà-thế-chất lại thưa:— Xin cha mẹ chớ nói đến môn đăng hộ đối, chỉnói đến bản thân, xin hãy rủ lòng thương xót vì conmả câu hôn, nếu không được như chí muốn, conxIn tự vẫn.Cha mẹ bèn nghe theo, sai người đi đến đó cầuhôn. Họ về báo:
– Nhà anh vốn dòng tộc lớn, còn nhà tôi là tiểu
nhân, hai bên không cân xứng làm sao cưới hỏi
được?
Người con ân cân năn nỉ mãi không chịu
ngừng, sai người đem thư đến hỏi nữa. Nhà bên gái
đáp răng:
— Nếu có thể theo bên nhà tôi, học tập các thứ
thuật ca múa..., đều phải biết đầy đủ, cho đến ở
trước nhà vua thi đậu, sau đó mới thành hôn nhân.
Người con trai mê hoặc sắc đẹp cô gái, không
hồ thẹn Øì cả liền qua bên nhà gái, học tập hí nghệ,
trải qua một thời gian đêu thành tựu cả. Khi đó
quốc vương tập hợp các Na-la, chơi trò trôn tìm...
thi tài kỹ nghệ... Bây giờ người con trưởng giả
cũng theo bên vua ứng hiện kỹ thuật, chạy đi tìm
kiểm, vua thoắt mất không thấy, lại muôn trèo lên
cao tìm. Khí lực dân dân suy yêu giữa đường muốn
rớt xuống, trong lòng lo sợ không chỗ nương tựa.
Bấy giờ Tôn giả Mục-liên đi trên hư không đến bên
cạnh bảo:
– Như con nay muôn toản thân mạng tham gia
học đạo, hay chịu rớt xuống đất mà lây người congái kia?Chàng ta bèn nói:
– Nguyện tôi còn sông, không cân đến người
con gái đó nữa.
– Ngài Mục-liên liền từ trong hư không hóa làm
đât băng, chàng ta liên ngưng sợ sệt, từ đât mà
xuống, được toàn thân mạng, nhờ đó an ồn mừng
không thể tả, theo Tôn giả Mục-kiên-liên đi đến
chỗ Thê Tôn, lễ bái cũng dường. Bây ĐIỜ, Đức Phật
rộng thuyết diệu luận, như luận nói vê Bồ thì, luận
nói về Trì giới, về sinh Thiên... Muôn xa lìa bất
tịnh, mau nhất là ra khỏi. Tâm ý chàng khai giải
liên được Sơ quả, nhân đó bạch Phật nguyện được
xuất gia phụng tu Chánh pháp. Thế Tôn nhận lời,
râu tóc chàng tự rụng, pháp y mặc trên thân, trở
thành vị Sa-môn, chuyên tinh thiên định, tư duy, tu
theo chánh nghiệp, dứt sạch các lậu, thành A-la-
hán.
Ngài A-nan đến trước bạch Phật:
– Bạch Thế Tôn, Sa-môn Bà-thế-chất, kiếp
trước cùng người con gái kia có nhân duyên gì mà
tâm mê hoặc đắm nhiễm, hầu như đến nguy ngập.
Lại tạo nhân duyên gì mà gặp Tôn giả Mục-kiên-
liên nhờ ân được tế độ, lại được nhân duyên gì mà
đạt được quả Ứng chân?
Đức Phật bảo:
— Này A-nan, thời quá khứ vô lượng kiếp trước,
ở nước Ba-la-nạIi, có một vị trưởng giả sinh được
một cậu con traI, tướng mạo đoan chánh vô cùng.
Đang lúc đó, trong nhà có người đi biển trở về đem
một trứng chim dâng cho trưởng giả, ông nhận lấy.
Trải qua một thời gian trứng ây nở ra được một
con chim phượng hoàng lông cảnh sáng rực.
Trưởng giả rất yêu mến nó, đem cho đứa con để
chơi, dân dân con chim to lớn. Bấy giờ đứa con của
trưởng giả cỡi lên lưng nó bay đi khắp nơi xem
cảnh, thỏa mãn rồi trở về nhà, ngày ngày cứ như
thể. Trải qua một thời gian đứa con trưởng giả đã
lớn, nghe quốc vương ở nước khác có mở cuộc thi,
bèn cỡi chim Day đến đó đáp xuông xem. Chim đậu
trên ngọn cây, vị ấy bỗng thây vương nữ nên đem
lòng thương mến, sai người đem thư tỏ bày tâm sự.
Vương nữ đông ý, bèn cùng nhau quan hệ tình
cảm, do thương yêu không kín đáo, bị nhà vua biết,
sai người truy bắt. Bắt được chàng ta trói lại định
đem xử trảm. Người con của trưởng Øl1ả nói:
— Vì sao các ông định giết tôi? Hãy cho tôi lên
trên cây gieo mình xuống chết đi.
Mọi người đông ý, liên cho anh ta lên cành cây.
Anh ta leo lên lưng chim bay lên hư không đi mật.
Nhờ con chim mà kéo dài được mạng sông.
Đức Phật bảo:
— Này A-nan, người con của vị trưởng giả kia
nay chính là Bà-thế-chất. Vương nữ thuở đó nay là
con gái của nhà kia, còn con chim phượng hoàng
nay chính là Tôn giả Mục-kiên-liên. Ở đời quá khứ
do mê nhan sắc mà đưa đến khốn đồn, nhờ con
chim mà được cứu sông. Nay lại tham sắc đẹp cũng
sắp tử VOg, do nhờ Mục-kiên-liên mà được an Ổn.
Bà-thế-chất nói năng thông biện thành bậc Vô
lậu, là do về thuở quá khứ, có một cư sĩ nước Ba-
la-nại gặp Bích-chi-phật đi khất thực, cư sĩ liên
đem cơm cúng thí, nhân đó lại thỉnh ngài thuyết
kinh pháp. Bích-chi-phật ấy từ chối không thể
thuyết, rồi quăng cái bát lên hư không nhảy vọt lên
mà đi. Cư sĩ nghĩ rằng: “Người này thân lực biến
hóa vô cùng, nhưng không thể diễn bảy thuyết hóa,
nguyện ta đời sau, gặp được Thánh tôn hơn vị đạo
sĩ này khoảng ức vạn lần, diễn tán pháp nghĩa vô
cùng vô tận, khiến thân ta cũng được quả chứng.”
Do nhân duyên đó, đời này thông minh, đạt đến
quả A-la-hán.
Lúc Đức Phật nói tiền kiếp nhân duyên, người
nghe không aI chắng hoan hỷ; có người nghe xong
đặc quả Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-
hán, có người g1eo trông căn lành Duyên giác, có
người phát tâm Bô-tát, đều tin lời Đức Phật đảnh
lễ phụng hành.
Phẩm 67: ƯU-BA-CÚC-ĐÈ
Tôi nghe như thế này:Thuở nọ Đức Phật ở tại vườn Kỳ-đà Cấp côđộc, thuộc nước Xá-vệ. Bảy giờ nước này có mộtvị Phạm chí tên A-ba-cúc-đê, ông là một ngườithông minh học rộng, thâu xưa đạt nay. Ông đi đếnchỗ Phật cầu xin làm Sa-môn, nhân đó bạch:— Nêu con xuất gia, trí tuệ biện tài cùng bằngngài Xá-lợi-phất... Nếu không bằng như vậy sẽ tựtrở về nhà.Đức Phật nói:
– Ông không băng được.
Khi â ây vị Phạm chí ngừng lại không học đạo
trở về nhà. Sau đó Đức Thê Tôn bảo với chúng hội:
– Ta diệt độ rôi, trong một trăm năm sau, vị Bà-
la-môn này sẽ được pháp hóa chứng đạt lục thông,trí tuệ cao xa, giáo hóa chúng sinh, số như vi trân.Khi Đức Phật Niết-bàn, Ngài bảo A-nan:— Sau khi Ta diệt độ tất cả Kinh tạng ắt phóchúc cho ông, ông sẽ thọ trì lưu bố rộng rãi.Sau khi Thế Tôn diệt độ, A-nan trì pháp. Sauđó Tôn giả A-nan lại muốn xả thân, bảo đệ tử Da-thê-kỳ:— Sau khi ta qua đời, tất cả yếu điển, ngươi nêngiữ gìn. Ngài A-nan nhân đó bảo:— Nước Ba-la-nại sẽ có một cư sĩ tên là Cúc-đê,người này có con tên là Ưu-ba-cúc- -đề. Ông hãyđến hỏi để cùng làm đạo, nếu ông thọ chung, giaophó pháp cho người ây.Tôn giả A-nan diệt độ rồi, Da-thê- kỷ phụng trìPhật pháp, du hóa thê gian, độ người rất nhiêu.Ngài đến Ba-la-nại, đến lui nhà cư sĩ để cùng quenbiết, thường hay tới lui nhà cư sĩ ấy. VỊ cư sĩ đósinh được một đứa con trai tên A-ba-cúc-đê. Lúcđứa bé còn nhỏ Da-thê-kỳ đến đó hỏi, muốn khiếnnó học đạo. Cha nó đáp:— Tôi mới có một đứa con đề nối dòng khôngthể cho, nêu có sinh thêm thì sẽ cho.Sau này sinh được một đứa con trai tên Nan-đà-cúc-đề. Bây giờ Da-thế-kỳ lại đến hỏi xin.Người cha nói:— Con lớn ở dinh ngoài, con thứ ở dinh trong.Nhà cửa như vậy mới có thê hưng thịnh. Nếu saunảy có chắc chăn sẽ dâng cho.Da-thê-kỳ là bậc A-la-hán, đây đủ Tam minh,có thể biết được căn cơ con người, quán thấy haiđứa bé này không có duyên với đạo, cũng khôngmuốn câu xin nữa.Bấy giờ nhà vị cư sĩ kia lại sinh một đứa contrai, điện mạo đoan nghiêm, hình tướng thủ đặc.Khi đó Da-thế-kỳ đến hỏi, người cha nói:— Đứa bé này còn nhỏ, chưa có thể phụng sự,hơn nữa nhà lại nghèo.Dân dân lớn lên, cậu bé có tài trí, người cha bèngiao phó tài vật cho buôn bán. Khi â ây Da-thế-kỳ điđến bên cậu ây thuyết pháp dạy buộc niệm, dùngviên đá đen trắng để trù tính. Hễ nghĩ thiện thì đểviên đá trắng, nghĩ ác thì để viên đá đen. Ưu-ba-cúc-đề vâng theo lời dạy tùy theo niệm thiện ác màquăng hòn đá, mới đâu hòn đá đen rất nhiêu, đátrắng ít, dần dân tu tập, đen trắng băng nhau, khôngngừng buộc niệm, càng không có hòn đá đen, thuâncó viên đá trăng. Niệm thiện đã nhiều chàng đạtđến Sơ quả.Lúc đó, trong thành ấy có một dâm nữ, sai tỳnữ câm tiên đi mua hoa. Ưu-ba-cúc-đề tâm tánhchất trực, cho cô ấy hoa không lấy tiền. Tỳ nữ đemhoa về, dâm nữ thây kỳ lạ, hỏi nữ tỳ:— Hôm trước mua hoa cũng bây nhiêu tiên, vìsao hôm trước ít, hôm nay lại được nhiều hoa?Tỳ nữ đáp:— Hôm nay chủ bán hoa nhân từ thủ lễ, bìnhđẳng cho, do đó được nhiều. Lại nữa người ấy hìnhthê đẹp đẽ lạ thường mọi người trông thây ai cũngmến thương.Dâm nữ nghe nói thế, sai đến mời. Ưu- ba-cúc-đề tự đè nén không đi. Lại cứ mời mãi, cuỗi cùngcũng không theo mệnh. Lúc đó dâm nữ cùng concủa vương gia thông dâm. Tham đắm y phục củabáu..., lợi hưng nghĩa suy nên nàng ta giết convương g1a đem giâu. Vương gia tìm kiếm được xácnơi nhà dâm nữ, bắt cô đem chặt chân tay, xẻo mũixẻo tai, đem treo nơi cao, tuy khổ như vậy nhưngchưa mạng chung. Ưu-ba-cúc-đề đi đến chỗ đó.Dâm nữ nói:— Tôi trước kia tướng mạo đoan chánh khôngchịu gặp nhau, nay hình hài tàn tệ làm sao gặpđược?Ưu-bà-cúc-đề đáp:— Tôi không tham sắc mà đến nơi đây, vìthương xót mà đến đây thôi.Nhân đó, tuyên thuyết pháp vô thường, thân làbất tịnh khổ, không, vô ngã; nhất nhất hãy quán sát,đầu có gì đáng nương cậy, người nøu s1, vọng sinhnhiễm tưởng. Dâm nữ nghe pháp xong được phápnhãn tịnh.Lúc bấy giờ Da-thê-kỳ lại đến nhà cư sĩ xinchàng thiếu nIÊn. Người cha vâng lời đem cho.Ngài dẫn đem về tinh xá cho thọ mười _ØIớI, nămhai mươi tuôi cho thọ Cụ túc, bạch Tứ yết ma xongthì đặc quả A-la-hán, chứng Tam minh, Lục thôngđây đủ, nói năng khéo léo, diễn thuyết hay vô cùngbèn tập hợp mọi người vì chúng thuyết pháp. Lúcđó ma Ba-tuân đến ở hội ấy, mưa xuông tiên vàng,mọi người tranh nhau giành lẫy không chịu nghepháp. Ngày thứ hai đập hợp đại chúng, ma bèn mưahoa đề loạn tâm quân chúng. Đến ngày thứ ba, ngàilại tập hợp đại chúng, Ma vương bèn hóa làm mộtcon voi lớn, màu lưu ly xanh, miệng có sáu ngà,trên đầu sáu ngà có bảy ao nước, trong bảy ao nướccó bảy hoa sen, trên mỗi hoa sen có Dảy ngọc nữ,các ngọc nữ này đều trồi kỹ nhạc, con voi đi bộ bêncạnh. Mọi người chú mắt nhìn, không để ý nghepháp. Đến ngày thứ tư, ngài lại tập hợp đại chúng,Ma vương lại hóa làm một người con gái, đoanchánh xinh đẹp lạ thường, đứng hâu ở phía sau,mỌiI người chú mắt nhìn quên cả pháp sự. Lúc đóTôn giả bèn hóa TƯỜI con gái ây thành bộ xươngtrăng, mọi người trồng thây lại chuyên tâm nghepháp, người đặc đạo rât nhiêu. Tôn giả vốn có mộtcon chó, hãng ngày nó ở đó cũng được nghe pháp,sau đó nó mạng chung, sinh lên cõi trời thứ sáu,cùng ma Ba- tuân, ngôi chung một ĐIƯỜng. Mavương suy nghĩ: “Trời này đức lớn ngang băng vớita, từ đâu mất mà sinh đến đây?” Quán sát mới biếtlà từ thân chó của vị Sa-môn kia nên Ma nghĩ muônlàm nhục. Từ xa trông thây Tôn giả đang lúc nhậpđịnh, Ma VƯƠng liên cầm một cái mão báu đội lêntrên đầu Tôn giả. Khi xả định, Tôn giả cảm thâytrên đầu có cái mão, quán sát mới biết ma Ba-tuânlàm, liền dùng thần lực làm cho ma đến và hóa xáccon chó giống như đô trang sức, bảo ma:— Ngươi để cái mão cho ta, thâm tạ ý ngươi,nay ta đem đồ trang sức dùng để tặng đáp lại.Ma vương nhận xong, bèn trở về trời, mới thấylà xác con chó chết, trong lòng chán ghét muốn đibáo thù, nhưng dùng hết thân lực không thê làmđược. Ma lại đên trời Đề Thích câu xin trừ khử bấttịnh. Đề Thích nói:— Người làm việc này, cũng chính là người cóthể xả bỏ, sức ta không thể làm được.Ma vương lại đi hỏi khắp các trời, cho đếnPhạm thiên, họ cũng đều đáp như lúc ban đầu. Sựviệc không xong, Ma vương bèn trở về chỗ Tôn giảthưa:— Đức Phật thật là Đại đức, lòng Từ vô biên,các vị Thanh văn thành thật làm hung ky, làm saodùng thí nghiệm. Ta ngảy xưa đem các quân mamười tám ức vây đánh Bô-tát, muốn làm bại hoạiđạo â Ấy, do ôm lòng từ bi không lây làm oán. Nayta xúc chạm chút ít, vì sao làm ta khốn đôn nhưvậy?Tôn giả đáp:— Lý thật như vậy, Đức Phật hơn ta gấp ngànvạn ức lần, không thể ví dụ, như núi Tu-di sánh vớihạt cải, như nước biên lớn với dâu chân trâu, nhưsư tử vương hơn con đã can, hình tướng lớn nhỏthật không bì kịp.Tôn giả nói với ma:— Ta sinh vào thời mạt pháp không gặp NhưLai, nghe ngươi có thê hóa làm Phật. Hãy thử hiệnmột lân, ta muốn trông thây.Ma vương đáp:— Nay tôi hóa hiện, xIn ngài cân thận chớ làmlễ.Đáp:— Ta không đảnh lễ đâu.Lúc đó Ma vương hóa làm Đức Phật thân caotrượng sáu, màu vàng tía, ba mươi hai tướng tốt,tám mươi vẻ đẹp, ánh sáng chói lọi hơn cả mặt trờimặt trăng. Tôn giả vui mừng bèn cúi đâu làm lễ.Ma vương hiện lại nguyên hình, nói với Tôn giả:— Đã bảo ngài không làm lễ, tại sao lại đảnh lễ?Tôn giả đáp:— Ta tự lễ Phật không phải lễ nhà ngươi.Ma lại thưa:— Cúi mong ngài thương xót, trừ bỏ thây chó.Tôn giả nói:— Người khởi tâm Từ ủng hộ quân sinh, thì thâychó biến thành đô trang sức; nêu ôm lòng ác thì nóbiến thành thây chó trở lại.Vì thế ma rất sợ thường phát khởi lòng lành.Bấy giờ Tôn 1ả, sau khi thành đạo, hóa độ chúngsinh người đặc Tứ quả, mỗi người một thẻ dài bốntắc. Thẻ như vậy đây cả một gian phòng chất caosáu trượng, ngang rộng cũng như vậy. Lúc đó mọingười hỏi Tôn giả răng:— Tôn giả phước thật là rộng lớn, hóa độ quânsinh không thê tính kê.Tôn giả nói:— Khi ta còn làm kiếp súc sinh cũng hóa độchúng sinh, khiến được Thánh quả, huông nữa làngày nay.Chúng hội bạch:
– Thưa Tôn giả, kiếp trước ngài hóa độ chúng
sinh như thế nào, xin nói cho chúng con được biết.
Tôn giả nói:
– Ở thời quá khứ có nước Ba-la-nạI, trong nước
có một ngọn núi tiên, năm trăm vị Bích-chi-phậttrụ trong núi đó. Bấy giờ có con khi hăng ngày đếncúng dường chư Bích-chi-phật. Sau khi chư Bích-chi-phật nhập Niết-bàn hết thì lại có năm trămPhạm chí tiếp tục đến ở trong núi đó. Những vịPhạm chí, có vị hoặc thờ mặt trời mặt trăng, có vỊthờ lửa. Người thờ mặt trời mặt trăng thì vênh chânhướng vê nó. Người thờ lửa thì sáng tối đốt lửa.Bây giờ con khỉ kia thây những người ấy vệnh chânthì năm lôi kéo, thấy Tười đốt lửa thì nó dập tắt.Lúc đó con khi ngồi ngay thăng suy nghĩ. CácPhạm chí trông thấy tự nói rằng:— Con khỉ này bắt chước chúng ta biểu thị uyngh1.Con khi ngôi ngay thắng tâm sát chân lý, tâm ýkhai giải, đắc quả Bích-chi-phật.Nói đến đây Tôn giả nhắc lại:— Con khi đó chính là tiền thân của ta vậy.Chúng hội lại bạch:— Do nhân duyên gì mà ngài bị thọ thân khỉ?Tôn giả nói:— Về thuở quá khứ chín mươi mốt kiếp, có ĐứcPhật Ty-bà-thi ra đời, các Tỳ-kheo trụ ở trong núitiên của nước Ba-la-nai. Khi đó có một vị Ứngchân leo lên đỉnh núi đi nhẹ nhàng mau chóng, mộtđạo nhân trẻ nói:— Ông đó đi mau chóng nhẹ nhàng giông nhưkhi vậy.Do nhân duyên đó trong năm trăm kiếp sinh rathường làm khi. Thế cho nên bốn chúng nên tự giữmiệng chớ lời hung ác.Khi Tôn giả Ưu-ba-cúc-đề nói đến đây, tất cảchúng hội có người đặc quả Tu-đà-hoàn, Tư-đả-hàm, A-na-hàm, A-la-hán, có người trông căn lànhDuyên giác, có người phát tâm Đại thừa bất thoái,không thể tính kề, tín thọ ngài chỉ giáo hoan hỷphụng hành.
Phẩm 68: CÔN TRÙNG TRONG VŨNG
NƯỚCTôi nghe như thế này:Thuở nọ Đức Phật ở nước La-duyệt- kỳ, trongnúi Kỳ-xà- quật. Bây giờ ở bên thành có một cáivũng nước rộng, bùn sinh bất tịnh, phân nhiều làphần uế trong đó. Người dân trong nước, nhữngngười hèn hạ thường đem những thức dơ bẩnquăng vào trong đây. Có một con trùng lớn, hìnhnhư con răn lại có bốn chân ở trong vũng nước ây,chạy đi qua lại, lúc hụp lúc trôi, trải qua mây nămthọ khô vô lượng.Bấy giờ Đức Thế Tôn dẫn các Tỳ-kheo vâyquanh vũng nước ây, hỏi:— Này các Tỳ-kheo, các ông có biết con trùngnày túc duyên tạo hạnh nghiệp gì không?Bây giờ các Tỳ-kheo đều suy nghĩ mà khôngthể biết kiếp trước nó tạo nghiệp øì, đều bạch Phật:
– Bạch Thế Tôn, chúng con không biết.
Bấy giờ Đức Phật nói:— Các ông hãy lắng nghe, ta sẽ vì các ông mànói nó tạo hạnh nghiệp øì.Thời quá khứ có Đức Phật Ty-bà-thi ra đời,giáo hóa xong Ngài thu thân Niêt-bàn. Lúc đó,trong Phật pháp có mười vạn Tỷ-kheo tịnh tu phạmhạnh, nhàn cư lạc tịnh nương vào một ngọn nÚI.Bên phải, bên trải ngọn núi có nhiêu cây côi hoa lásum suê tươi tốt không cùng. Ciữa khu rừng ây cósuỗi nước trong Veo mát mẻ. Bây Ø1Ờờ các Ty-kheothích trụ nơi ấy để hành đạo siêng năng không lườimỏi. Họ đều đạt đến Sơ quả cho đến Tứ quả, khôngcó vị nào là phàm phu cả. Khi ấy có năm trămngười thương buôn, cùng hội họp muôn đi ra biên.Trên đường phải đi ngang ngọn núi này, các nhàbuôn thây các Ty-kheo siêng năng tu tập, tronglòng thầm quý kính, suy nghĩ định cúng dường.Khi đó các thương buôn tụ tập đi đến thỉnh chúngTăng xin được cúng dường, nhưng đã có đàn-việtkhác thỉnh cúng dường hăng ngày rồi. Sự việckhông theo ý muốn, bèn đến từ giã chúng Tăng đira biến:
– Giả sử chúng tôi yên Ổn trở về sẽ mở tiệc cúng
dường, xin thương xót hứa khả.Khi ây chư Tăng ¡im lặng hứa khả thọ thỉnh.Những thương buôn ra biển được nhiêu châu báu,bình an trở vệ, đến chỗ chúng. Tăng, chư Tăngmuốn tuyến các thứ báu lạ đẹp để cúng dường, nêucó cân tiêu dùng gì thì tùy ý. Khi ây chúng Tăngnạp thọ báu vật, gởi cho vị Tăng Ma-ma- -để. Saunày thức ăn đêu hết, đem thứ của báu ấy đối ra đểtiêu dùng. Khi đó Ma-ma-để đáp lại chúng Tăngrăng:— Trước kia các vị khách thương tự cho tôi củabáu, nay duyên cớ gì mà lại xin tôi._ Các bậc Thượng tọa, Duy na nói với Ma-ma-đề:— Trước kia đàn-việt đem của báu cúng dườngchúng Tăng nhờ ông giữ giùm, nay chúng Tăng hệtlương thực nên lây thứ ấ ây Ta dùng đỡ.Lúc đó Ma-ma-đề nồi sân mà nói răng:— Những của báu này là của tôi, duyên cớ gì màđòi hỏi. Nếu có thiêu hãy lấy phần mà ăn.Khi ấy chúng Tăng thây Ma-ma-đề khởi ác ýrôi bèn bỏ ra đi.Do lời ác khâu khi dễ chúng Tăng, sau khi thânhoại mạng chung, đọa địa ngục A-tỳ, thân thườnglăn lộn trong phân uê. Trải qua chín mươi hai kiếp,từ trong địa ngục ra, nay lại sinh vào trong ao phầnuế nảy, trải qua mây năm chưa được giải thoát. Tạivì sao? Vì thời quá khứ có Đức Phật Thi-khí dẫncác Ty-kheo đi ngang qua hầm này, bảo các đệ tửnói rõ ngọn nguôn. Kế đến có Đức Phật tên Tùy-diệp cũng dẫn các Tỳ-kheo đi đến đó nói rõ nhânduyên. Từ đó mạng chung lại rơi vào địa ngục. Trảiqua vạn ức năm, sau đó mạng chung lại sinh vàotrong đây. Kế đến có Đức Phật tên Câu-lưu-tôn,cũng cùng đồ chúng đi quanh ao này, chỉ bày nóirõ nguôn gốc con trùng trong ao nước này cho cácTỷ-kheo nghe. Kê đến có Đức Phật Câu-na-hàmMâu-ni cũng cùng các đệ tử, đi đến ao này. Lại đếnĐức Phật Ca-diệp cũng dẫn các đệ tử đến đâythuyết về nhân duyên cái ao này. Lân lượt bảy vịPhật, đến Ta là Thích-ca Mâu-mi, hôm nay chỉ bàyngọn nguôn nhân duyên của ao nước nay. Trôngthây con trùng ấy ở đời hiện kiếp và tương lai đềumang thân hình như vậy.Khi ấy các Tỳ-kheo nghe Đức Phật nói kinh sợlông tóc dựng ngược, cùng nhau cô gắng tu, giữgìn thần miệng ý, tin thọ lời Đức Phật, hoan hỷphụng hành.
Phẩm 69: SA-DI QUẦN-ĐÈ,
Tôi nghe như thế này:Thuở nọ Đức Phật ở tại vườn Kỳ-đà Cấp côđộc, thuộc nước Xá-vệ. Bây giờ Tôn giả Xá-lợi-phât, ngày đêm ba thời thường dùng Thiên nhãnquán sát thế gian, ai đáng được độ thì ngài đi đếnđó độ. Lúc đó có các thương buôn, muốn đi đếnnước khác. Những thương buôn này đem theo mộtcon chó đi đường. Thấy người ta buôn bán nghỉngơi, con chó bèn trộm lây thịt. Khi ây nhữngngười buôn bán nỗi giận, đánh con chó gãy chân,quăng ngoài đồng trồng, rôi bỏ đi. Ngài Xá- lợi-phất dùng Thiên nhãn từ xa trông thấy con chó nămtrên đất đói khát khốn cùng, sắp chêt. Ngài mặc yôm bình bát vào thành khât thực, khất thực xongbay đến chỗ con chó, đem lòng thương xót, cho nóthức ăn. Chó được ăn mạnh khỏe sông lại, tronglòng vui mừng vô cùng. Bây giờ ngài Xá-lợi-phâtvì con chó thuyết đây đủ pháp giải thoát vi diệu.Sau đó con chó mạng chung sinh vào nhà một Bà-la-môn ở nước Xá-VvỆ.Lúc đó ngài Xá-lợi-phất một mình đi khắt thực,vị Bà-la-môn trông thây hỏi:— Tôn giả đi một mình không có Sa-di sao?Ngài Xá-lợi-phất nói:— Tôi không có Sa-dI, nghe nói ông có con traI,tôi muốn gặp nó.VỊ Bà-la-môn nói:— Tôi có một đứa con trai tên Quân-đề, còn rấtnhỏ, không thể cho theo được, bao ø1ờ nó khôn lớntôi sẽ cho ngài.Ngài Xá-lợi-phât nghe nói xong ghi nhớ tronglòng, rôi trở về tinh xá Kỷ hoàn. Bảy năm sau, ngảilại đến nhà ông Bả-la-môn hỏi. Bấy giờ vị Bà-la-môn đem đứa con trai mình giao phó cho ngài Xá-lợi-phất để được xuất gIa. Khi đó ngài Xá-lợi-phấtbèn nhận cậu bé dẫn về tinh xá Kỳ hoàn cho làmSa-di, dần dân thuyết các Diệu pháp tâm được khaimở, đắc quả A-la-hán, đây đủ Lục thông, công đứchoàn bị. Lúc ấy Sa-di Quân-đề đắc đạo rôi tự dùngtrí lực, quán xét đời quá khứ, vôn tạo hạnh øì màđược thọ thân hình này, gặp được Thánh sư, tuhành chứng quả. Quán thấy tiền thân mình là mộtcon chó nhờ ân Hòa thượng Xá-lợi-phất nay đượcthân người và đặc đạo quả, trong lòng vui mừngnghĩ răng: ““Fa nhờ ân thây được dứt các khô, nayđem thân này phục vụ cúng dường ngài hết mình,trọn đời làm Sa-di, không thọ đại giới.”Khi đó ngài A-nan bạch Phật:— Bạch Thế Tôn, vị ây này xưa kia làm hạnh ácnhư thế nào mà phải thọ thân chó và tạo căn lànhgì mà được giải thoát sớm như thê?Đức Phật bảo:— Này A-nan, về thời quá khứ Phật Ca-diếp cócác Ty-kheo tu tập ở một nơi. Có một Tỳ-kheo trẻâm thanh tao nhã, tụng niệm rất hay, ai cũng đềuưa thích nghe. Lại có một vị Tỳ-kheo giả tuôi đãcao âm thanh ô ê không thê đọc kinh, mỗi khi câttiếng tụng niệm nghe không được hay. Vị Tỳ-kheotrẻ lây đó làm trò đùa cho mình, không ngờ vị Tỳ-kheo già đã đắc quả A-la-hán, đầy đủ công đức củabậc Sa-môn.Lúc đó Tỷ-kheo trẻ thây tiếng của mình thanhthoát rất hay, cậy vào tiêng hay của mình mả chêtrách vị trưởng lão kia tụng tiếng như chó sủa. VịTỳ-kheo giả bèn kêu Tỳ-kheo trẻ nói:— Ông có biết tôi không?VỊ T-kheo trẻ đáp:— Tôi rất biết ông, ông là Tỳ-kheo đệ tử củaPhật Ca-diệp.VỊ Trưởng lão Ty-kheo nói:— Tôi đã đắc quả A-la-hán rồi, đây đủ đức hạnhcủa bậc Sa-môn.Khi đó vị Tỳ-kheo trẻ nghe rôi trong lòng lo sợ,lông tóc dựng ngược, tự trách liền bái lạy sám hốitội lỗi của mình. Vị Tỳ- -kheo già hoan hỷ cho sámhối. Nhưng do lời nói ác ấy trong năm trăm đờithường thọ thân chó, may là ông có xuất gia trì thọtịnh giới nên nay được thân người gặp Ta và đượcgiải thoát.Bấy giờ ngài A-nan nghe Đức Phật nói xongvui mừng đảnh lễ phụng hành.