Pāli: pañcindriya, pañcabala · Sanskrit: pañcendriya, pañcabala · Tiếng Anh: the five faculties and the five powers
Ngũ căn ngũ lực là cùng năm phẩm chất tín, tấn, niệm, định và tuệ: gọi là «căn» (indriya) khi nói về khả năng làm chủ, dẫn dắt tâm, và gọi là «lực» (bala) khi nói về sức mạnh không bị điều ngược lại lay chuyển. Theo kinh SN 48.10, tín là đặt lòng tin nơi sự giác ngộ của Như Lai; tấn là siêng năng đoạn trừ điều bất thiện, làm đầy đủ điều thiện; niệm là nhớ biết rõ và quán thân, thọ, tâm, pháp; định là tâm được định, nhất tâm, qua bốn thiền; tuệ là thấy sự sinh diệt của các pháp và biết như thật Bốn Thánh đế. Kinh Tại Sāketa (SN 48.43) dạy năm căn tức là năm lực, như một con sông có hòn đảo ở giữa có thể tính là một dòng hay hai dòng. Người mới có thể tập nhận ra năm phẩm chất này trong đời sống và giữ chúng quân bình, thay vì dùng chúng để tự chấm điểm chứng đắc.
Trích nguyên văn bản dịch của HT. Thích Minh Châu trong thư viện Inti Dharma (Tương Ưng Bộ Kinh 48.43).
Cái gì là tín căn, này các Tỷ-kheo, cái ấy là tín lực. Cái gì là tín lực, cái ấy là tín căn. Cái gì là tấn căn, cái ấy là tấn lực. Cái gì là tấn lực, cái ấy là tấn căn … Cái gì là tuệ căn, cái ấy là tuệ lực. Cái gì là tuệ lực, cái ấy là tuệ căn.
Ví như, này các Tỷ-kheo, một con sông thiên về phương Đông, hướng về phương Đông, xuôi về phương Đông, và giữa con sông có hòn đảo.
Kinh SN 48.8 chỉ chỗ cần thấy từng căn: tín căn ở bốn chi phần Dự lưu, mà bản dịch gọi là bốn chánh tín đối với Phật, Pháp, Tăng và Giới; tấn căn ở bốn chánh cần; niệm căn ở bốn niệm xứ; định căn ở bốn thiền; tuệ căn ở Bốn Thánh đế. Kinh AN 5.15 nói y như vậy về năm lực. Như thế, mỗi căn nối với một nhóm pháp quen thuộc chứ không phải một khái niệm rời rạc: tín có đối tượng rõ ràng, tấn có hướng đi, niệm nhớ biết điều đang xảy ra, định là tâm lắng và gom về một mối, tuệ thấy khổ, nguyên nhân của khổ, sự diệt khổ và con đường.
Căn và lực khác nhau thế nào?
Kinh Tại Sāketa (SN 48.43) nói có một cách nhìn theo đó năm căn là năm lực và năm lực là năm căn. Đức Phật ví với một con sông chảy về phương Đông, giữa dòng có hòn đảo: tính phần nước phía Đông và phía Tây của đảo thì là một dòng; tính phần nước phía Bắc và phía Nam thì là hai dòng. Vậy không có mười pháp khác nhau, mà là năm phẩm chất được gọi theo hai mặt. Phân Tích Đạo (Ps 2.9), một tác phẩm thuộc Tiểu Bộ, định nghĩa mỗi lực là sự không dao động: tín không dao động trước sự thiếu đức tin, tấn trước sự biếng nhác, niệm trước sự buông lung, định trước sự trạo cử, tuệ trước vô minh. Còn chữ indriya vốn chỉ năng lực làm chủ một phạm vi; vì thế «căn» nhấn vào vai trò dẫn dắt, «lực» nhấn vào sức đứng vững.
Năm căn nâng đỡ nhau
Trong kinh SN 48.50, Tôn giả Sāriputta trình bày một chuỗi: người đệ tử có lòng tin thì có thể mong sẽ tinh tấn bỏ điều bất thiện, làm sinh khởi điều thiện; có tin và tấn thì niệm được an trú; có niệm thì tâm được định; có định thì trí tuệ hiểu rõ vòng luân hồi và sự chấm dứt của nó. Đến cuối, lòng tin thành xác tín: điều trước kia chỉ được nghe, nay tự thân chứng nghiệm và thấy rõ bằng trí tuệ. Thế Tôn tán thán lời ấy. Vậy tín không phải điểm dừng, còn tuệ không gạt bỏ tín mà làm cho tín đứng vững. Kinh SN 48.52 ví Thánh trí như cây xà ngang của ngôi nhà mái nhọn: chừng nào xà chưa gác lên, các kèo chưa đứng vững; chừng nào Thánh trí chưa khởi, bốn căn tín, tấn, niệm, định chưa vững.
Giữ năm căn quân bình
Kinh AN 6.55 kể Tôn giả Soṇa sống rất tinh cần mà tâm chưa giải thoát, nên nghĩ đến chuyện hoàn tục. Thế Tôn nhắc: dây đàn quá căng hay quá chùng đều không dùng được, phải vặn vừa mức; cũng vậy, tinh tấn quá căng đưa đến dao động, quá chùng đưa đến biếng nhác. Ngài dạy giữ tinh tấn cho bình đẳng và thể nhập các căn một cách bình đẳng. Trong Tương Ưng Giác Chi (SN 46.53), Thế Tôn nói niệm thì lợi ích trong mọi trường hợp. Truyền thống chú giải Theravāda nói rõ hơn theo cặp: tín mạnh thiếu tuệ dễ thành tin không xét, tuệ mạnh thiếu tín dễ nghiêng về xảo biện; tấn mạnh thiếu định dễ dao động, định mạnh thiếu tấn dễ uể oải; còn niệm thì lúc nào cũng cần. Cách ghép cặp này là lời chú giải, không nằm nguyên văn trong các bài kinh trên.
Tuệ đứng đầu, năm lực xuôi về Niết-bàn
Kinh Đại Bát Niết-bàn (DN 16) xếp năm căn và năm lực liền sau bốn thần túc và ngay trước bảy bồ-đề phần, tức Thất giác chi; niệm, tinh tấn và định còn trở lại trong nhóm giác chi. Trong các pháp thuộc phần giác ngộ, kinh SN 48.51 ví tuệ căn như sư tử giữa các loài thú, kinh SN 48.54 ví như dấu chân voi mà mọi dấu chân khác đều nằm gọn trong đó. Về năm lực, kinh SN 50.1 dạy: như sông Hằng xuôi về phương Đông, người tu tập năm lực gắn với viễn ly, ly tham, đoạn diệt thì xuôi về Niết-bàn. Kinh tạng còn có những bộ năm lực khác, như AN 5.204 nêu tín, tàm, quý, tinh tấn, tuệ; ngũ lực trong 37 phẩm trợ đạo là tín, tấn, niệm, định, tuệ.
Đọc thử miễn phí
Không cần tài khoản để thử một bước thực hành
Mở một đoạn ngắn từ chính bài này, thực hành ngay tại đây, rồi tạo tài khoản nếu muốn lưu tiến trình và mở khóa cõi giới.
Chạm mở để đọc một đoạn ngắn và thử một bước thực hành trước khi đăng ký.
Thực hành trong hôm nay
1.Sáng nay, tự hỏi trong năm căn tín, tấn, niệm, định, tuệ, căn nào đang yếu nhất, rồi chọn một việc nhỏ để nuôi nó.
2.Khi thấy mình hăng quá mức hoặc uể oải, nhớ hình ảnh dây đàn trong AN 6.55 và chỉnh nhịp cho vừa.
3.Khi vừa tin một điều mới nghe, dành một phút xem xét bằng hiểu biết; khi đang lý luận nhiều, quay về một việc lành cụ thể.
Câu hỏi thường gặp
Ngũ căn ngũ lực gồm những gì?
Cả hai đều gồm tín, tấn, niệm, định, tuệ. Gọi là căn khi nói về vai trò dẫn dắt, gọi là lực khi nói về sức không bị điều ngược lại lay chuyển; kinh SN 48.43 nói năm căn tức là năm lực.
Ngũ căn ngũ lực và thất bồ đề phần liên quan thế nào?
Đây là các nhóm đứng liền nhau trong 37 phẩm trợ đạo mà DN 16 liệt kê: năm căn, năm lực rồi bảy bồ-đề phần, tức Thất giác chi gồm niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định, xả. Niệm, tinh tấn và định có mặt ở cả hai bên.
«Ngũ căn» có phải là năm giác quan không?
Trong tiếng Việt, ngũ căn đôi khi chỉ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Tương Ưng Căn (SN 48) cũng có nhóm sáu căn từ mắt đến ý (SN 48.25) và nhóm năm căn lạc, khổ, hỷ, ưu, xả (SN 48.31). Nhưng ngũ căn trong 37 phẩm trợ đạo là tín, tấn, niệm, định, tuệ.
Người mới bắt đầu nên tu ngũ căn ngũ lực thế nào?
Hãy nhận ra căn nào đang mạnh, căn nào đang yếu trong ngày, rồi nuôi căn yếu bằng việc nhỏ: đọc một đoạn kinh cho tín, giữ một thói quen lành cho tấn, biết hơi thở cho niệm. Nếu ngồi thiền làm tăng lo âu, mất ngủ hay bất ổn, hãy dừng lại; tu tập không thay thế hỗ trợ chuyên môn khi cần.