Pāli: cattāro iddhipādā · Sanskrit: catvāra ṛddhipādāḥ · Tiếng Anh: the four bases of spiritual power
Tứ Như Ý Túc (iddhipāda), trong bản dịch Kinh Đại Bát Niết-bàn gọi là bốn thần túc, là bốn nền tảng đưa sự tu tập đến thành tựu: dục, tinh tấn, tâm và tư duy. Tương Ưng Như Ý Túc (SN 51) nêu cả bốn bằng cùng một công thức: tu tập như ý túc «câu hữu với dục định tinh cần hành», rồi lần lượt với tinh tấn định, tâm định và tư duy định. Nói giản dị: nương vào ý muốn lành, vào sự siêng năng, vào chính tâm hay vào sự xem xét mà tâm được định; định ấy đi cùng bốn chánh cần — ngăn và bỏ điều bất thiện, khơi và giữ điều thiện. Kinh có liên hệ bốn pháp này với thần thông, nhưng cũng nói chúng đưa đến ly tham, giác ngộ và Niết-bàn. Với người mới, đây là bài học giữ việc tu bền bỉ: có ý muốn, có sức, có tâm gom lại, có sự xem xét — không quá chùng, cũng không quá căng.
Trích nguyên văn bản dịch của HT. Thích Minh Châu trong thư viện Inti Dharma (Tương Ưng Bộ Kinh 51.1).
Có bốn như ý túc này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa từ bờ bên này đến bờ bên kia. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập như ý túc, câu hữu với dục định tinh cần hành; tu tập như ý túc, câu hữu với tinh tấn định tinh cần hành; tu tập như ý túc, câu hữu với tâm định tinh cần hành; tu tập như ý túc, câu hữu với tư duy định tinh cần hành. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là bốn như ý túc, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa từ bờ bên này đến bờ bên kia.
Dục (chanda) ở đây là ý muốn làm điều lành, không phải tham dục; bản dịch có chỗ ghi rõ là «ý muốn». Tinh tấn (viriya) là sự siêng năng, bền bỉ. Tâm (citta) là chính tâm được nuôi dưỡng và gom về một mối. Tư duy (vīmaṃsā) là sự xem xét, tìm hiểu cho rõ. Bài kinh SN 51.13 giải thích: nương vào dục mà tâm được định, được nhất tâm, gọi là dục định; ba trường hợp kia cũng vậy. Còn «tinh cần hành» là bốn nỗ lực: khởi ý muốn, tinh cần, quyết tâm để điều ác chưa sinh không sinh, điều ác đã sinh được đoạn trừ, điều thiện chưa sinh được sinh khởi, điều thiện đã sinh được tăng trưởng. Vậy mỗi như ý túc có ba phần: phẩm chất làm chỗ dựa, sự định tâm và nỗ lực đúng hướng.
Dùng ý muốn để buông ý muốn
Kinh SN 51.15 kể Tôn giả Ānanda nói với Bà-la-môn Uṇṇābha rằng đời sống phạm hạnh nhằm đoạn tận dục, và con đường ấy là bốn như ý túc. Vị Bà-la-môn vặn lại: lấy dục trừ dục thì không bao giờ dứt. Tôn giả hỏi: trước khi đến khu vườn, ông có ý muốn, tinh tấn, tâm và tư duy thúc đẩy mình đi; đến nơi rồi, những điều ấy có lắng xuống không? Ông đáp có. Cũng vậy, với bậc A-la-hán, dục, tinh tấn, tâm và tư duy từng dùng để đi đến mục đích đều lắng xuống khi mục đích đã thành. Ý muốn lành vì thế là phương tiện để đi tới, không phải điều đáng e ngại.
Không quá chùng, không quá căng
Kinh Phân Tích (SN 51.20) dạy tu từng như ý túc với ý nghĩ: dục của ta sẽ không quá thụ động, không quá hăng say, không co rút bên trong, không phân tán bên ngoài. Kinh giải thích: quá thụ động là đi đôi với biếng nhác; quá hăng say là đi đôi với trạo cử, dao động; co rút bên trong là đi đôi với hôn trầm thụy miên; phân tán bên ngoài là chạy theo năm dục. Tinh tấn, tâm và tư duy cũng theo khuôn ấy. Hành giả giữ sự tu như nhau trước và sau, ngày và đêm, với tâm rộng mở, không gò bó, sáng sủa. Kinh SN 51.11 kể Đức Phật, khi còn là Bồ-tát, đã suy xét như vậy.
Như ý túc và thần thông
Chữ «như ý» (iddhi) trong kinh chỉ thần thông: kinh SN 51.19 gọi các thần thông như một thân hiện ra nhiều thân là như ý, và gọi con đường đưa đến chứng được như ý là như ý túc. Kinh SN 51.20 kết thúc bằng nhiều loại thần thông, rồi sự đoạn tận các lậu hoặc với tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Cũng trong tương ưng này, SN 51.4 nói bốn như ý túc đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, giác ngộ, Niết-bàn; SN 51.19 nói con đường để tu chúng là Bát Thánh đạo. Kinh Kevaddha (DN 11) ghi Thế Tôn thấy nguy hiểm trong việc dùng thần thông biến hóa để gây lòng tin, và nói đến «giáo hóa thần thông»: dạy người nên suy tư, tác ý thế nào, bỏ điều gì. Người học vì thế không lấy thần thông làm mục tiêu, cũng không tự nhận mình đã đạt.
Vị trí trong 37 phẩm trợ đạo
Trong Kinh Đại Bát Niết-bàn (DN 16), ba tháng trước khi diệt độ, Thế Tôn dặn các Tỷ-kheo khéo học và tu tập những pháp Ngài đã chứng ngộ: bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy bồ-đề phần và tám Thánh đạo phần. Truyền thống gọi chung bảy nhóm này là 37 phẩm trợ đạo. Tứ như ý túc đứng thứ ba và nối chặt với nhóm thứ hai: phần «tinh cần hành» trong mỗi như ý túc chính là bốn chánh cần, còn phần định cho thấy đây cũng là con đường nuôi tâm định. Kinh SN 51.2 cũng nói: ai bỏ lỡ bốn như ý túc là bỏ lỡ Thánh đạo đưa đến đoạn tận khổ đau.
Đọc thử miễn phí
Không cần tài khoản để thử một bước thực hành
Mở một đoạn ngắn từ chính bài này, thực hành ngay tại đây, rồi tạo tài khoản nếu muốn lưu tiến trình và mở khóa cõi giới.
Chạm mở để đọc một đoạn ngắn và thử một bước thực hành trước khi đăng ký.
Thực hành trong hôm nay
1.Trước một buổi ngồi thiền hay một việc lành, nói rõ với mình một ý muốn lành cụ thể, chẳng hạn mười phút này chỉ biết rõ hơi thở.
2.Giữa buổi thực hành, soi bốn kiểu lệch mà SN 51.20 nêu: quá chùng, quá căng, co rút buồn ngủ hay tán ra bên ngoài, rồi chỉnh nhẹ.
3.Nếu thấy mình đang mong một cảm giác lạ hay năng lực đặc biệt, nhẹ nhàng đưa ý muốn về lại mục đích bớt tham, sân, si.
Câu hỏi thường gặp
Tứ như ý túc gồm những pháp nào?
Gồm bốn như ý túc câu hữu với dục định, tinh tấn định, tâm định và tư duy định, mỗi pháp đều đi cùng «tinh cần hành», tức bốn chánh cần. Nói gọn là dục, tinh tấn, tâm và tư duy.
Tứ như ý túc nghĩa là gì?
«Như ý» (iddhi) là thần thông, rộng hơn là sự thành tựu; «túc» (pāda) là chân, chỗ dựa. Kinh SN 51.19 gọi như ý túc là con đường đưa đến chứng được như ý. Kinh Đại Bát Niết-bàn (DN 16) gọi nhóm này là bốn thần túc, tức tứ thần túc.
Tứ như ý túc có phải là pháp luyện thần thông không?
Kinh có nói bốn pháp này có thể đưa đến thần thông, nhưng đặt chúng trong Bát Thánh đạo và hướng về ly tham, Niết-bàn. Thế Tôn còn thấy nguy hiểm trong việc dùng thần thông để gây lòng tin (DN 11). Người học dùng bốn pháp này để nuôi điều thiện, không để tìm năng lực lạ.
Tứ như ý túc đứng ở đâu trong 37 phẩm trợ đạo?
Là nhóm thứ ba, sau Tứ niệm xứ và Tứ chánh cần, trước Ngũ căn, Ngũ lực, Thất giác chi và Bát Chánh Đạo, đúng thứ tự Kinh Đại Bát Niết-bàn (DN 16) liệt kê.
Người mới bắt đầu nên tu tứ như ý túc thế nào?
Bắt đầu từ những phẩm chất gần gũi: một ý muốn lành rõ ràng, sự siêng năng vừa sức, tâm gom vào một đề mục và việc xem lại cách mình tu. Dùng bốn kiểu lệch trong SN 51.20 để tự điều chỉnh. Nếu thực hành làm tăng lo âu, mất ngủ hay bất ổn, hãy dừng lại; tu tập không thay thế hỗ trợ chuyên môn khi cần.