Ja 113Sigala Jātaka
Tên Pāli / Sanskrit:Siṅgālajātaka
"Con dã can say rượu."—Câu chuyện này được Đức Thế Tôn kể tại Trúc Lâm, liên quan đến Devadatta. Chư Tăng đã tụ họp tại Giảng đường Chánh Pháp và đang bàn luận về việc Devadatta đã dẫn năm trăm đệ tử đến Gayāsīsa, rồi dẫn dắt họ vào mê lầm bằng cách tuyên bố rằng Chánh Pháp hiển hiện nơi ông ta "chứ không phải nơi vị sa-môn Gotama"; về việc ông ta đang dùng lời dối trá phá hoại Tăng-già; và về việc ông ta giữ hai ngày trai giới trong một tuần. Trong khi chư Tăng đang ngồi bàn luận về sự gian ác của Devadatta, Đức Thế Tôn bước vào và được nghe trình bày đề tài cuộc bàn luận. "Này các Tỳ-kheo," Ngài dạy, "Devadatta đã là kẻ dối trá trong quá khứ cũng như hiện tại." Nói xong, Ngài kể lại câu chuyện quá khứ.
Lưu tiến độ đọc kinh
Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.
– Chuyện Tiền Thân Đức Phật
– Quyển 1 Ekanipāta
113. Sigala Jātaka
"Con dã can say rượu." — Câu chuyện này được Bậc Đạo Sư kể khi đang trú ở Rừng tre, về Devadatta. Các Tỳ-kheo đã tụ tập PTS vp Pali 425 trong Giảng đường Chân lý và đang nói về việc Devadatta đã đến Gayasisa cùng với năm trăm đệ tử, dẫn dắt họ vào tà đạo bằng cách tuyên bố rằng Chân lý được thể hiện nơi ông ấy "chứ không phải nơi sa-môn Gotama"; về việc ông ấy dùng lời gian dối để chia rẽ Tăng đoàn; và về việc ông ấy giữ hai ngày trai giới mỗi tuần. Và khi các vị đang ngồi bàn luận về sự xấu xa của Devadatta, Bậc Đạo Sư bước vào và được thông báo về chủ đề của cuộc đàm luận. "Này các Tỳ-kheo," Ngài nói, "Devadatta đã là một kẻ nói dối lớn trong quá khứ cũng như bây giờ." Rồi Ngài kể câu chuyện xưa.
Ngày xưa, khi Brahmadatta trị vì ở Benares, Bồ-tát sinh làm Thần Cây trong một rừng nghĩa địa. Thời đó một lễ hội được công bố ở Benares, và người dân quyết định cúng tế cho các hung thần. Vì vậy họ rải cá và thịt khắp sân nhà, đường phố và các nơi khác, và bày ra những vại rượu lớn.
Vào lúc nửa đêm, một con dã can lẻn vào thành phố qua cống thoát nước và ăn chơi thỏa thích với thịt và rượu. Bò vào bụi cây, nó ngủ say cho đến khi bình minh ló dạng. Thức giấc và thấy trời đã sáng, nó biết không thể an toàn để trở về lúc này.
Vì vậy nó nằm im lặng gần đường, nơi không ai trông thấy, cho đến khi cuối cùng thấy một Bà-la-môn cô độc đang trên đường ra hồ để súc miệng. Bấy giờ con dã can tự nhủ: "Các Bà-la-môn là những kẻ tham lam. Ta phải lợi dụng lòng tham đó để khiến ông ta cõng ta ra khỏi thành trong vạt áo dưới áo choàng ngoài." Vì vậy, bằng giọng người, nó kêu lên: "Bà-la-môn."
"Ai gọi tôi đó?" vị Bà-la-môn quay lại hỏi. "Ta đây, Bà-la-môn." "Chuyện gì thế?" "Ta có hai trăm đồng vàng, Bà-la-môn; và nếu ông giấu ta trong vạt áo dưới áo choàng ngoài và đưa ta ra khỏi thành mà không để ai thấy, ông sẽ được tất cả."
Vị Bà-la-môn tham lam nhận lời, giấu con dã can và cõng con vật ra khỏi thành một đoạn. "Đây là nơi nào vậy, Bà-la-môn?" con dã can hỏi. "Ồ, đó là nơi này nơi kia," vị Bà-la-môn đáp. "Đi thêm một chút nữa," con dã can nói, và cứ thúc giục vị Bà-la-môn đi thêm một chút nữa, cho đến khi cuối cùng đến được nơi thiêu xác. PTS vp Pali 426 "Đặt ta xuống đây," con dã can nói; và vị Bà-la-môn làm vậy. "Trải áo choàng của ông ra mặt đất, Bà-la-môn." Và vị Bà-la-môn tham lam làm theo. PTS vp En 256
"Bây giờ hãy đào cây này lên khỏi gốc," nó bảo, và trong khi vị Bà-la-môn đang làm việc, nó bước lên áo choàng, rồi phóng uế năm nơi — bốn góc và ở giữa. Xong xuôi, nó chạy vào rừng.
Bấy giờ Bồ-tát, đứng trong chẽ đôi của cây, đọc câu kệ này:
Con dã can say rượu, Bà-la-môn, lừa gạt lòng tin của ông!
Ông sẽ chẳng tìm thấy đây trăm đồng tiền xu nào,
Huống chi điều ông tìm kiếm, hai trăm đồng vàng.
Và sau khi đọc những câu thơ này, Bồ-tát nói với vị Bà-la-môn: "Hãy đi giặt áo choàng và tắm rửa, rồi lo công việc của mình." Nói xong, Ngài biến mất khỏi tầm mắt, và vị Bà-la-môn làm theo lời dặn, ra về rất xấu hổ vì đã bị lừa như thế.
Kết thúc bài học, Bậc Đạo Sư nhận diện Bổn Sinh: "Devadatta lúc bấy giờ là con dã can, còn Ta là Thần Cây."
Chuyện Tiền Thân, hay Các Câu Chuyện Về Những Kiếp Trước Của Đức Phật, do E.B. Cowell chủ biên, Nhà xuất bản Đại học Cambridge ấn hành.
- Quyển 1, do Robert Chalmers dịch, 1895.
- Quyển 2, do W.H.D. Rouse dịch, 1895.
- Quyển 3, do H.T. Francis và R.A. Neil dịch, 1897.
- Quyển 4, do W.H.D. Rouse dịch, 1901.
- Quyển 5, do H.T. Francis dịch, 1905.
- Quyển 6, do E.B. Cowell và W.H.D. Rouse dịch, 1907.
Các bản dịch này thuộc phạm vi công cộng. Bạn được tự do sử dụng theo bất kỳ cách nào.
Được quét, hiệu đính và định dạng tại sacred-texts.com, tháng 1 năm 2006 – tháng 2 năm 2010, bởi John Bruno Hare và các cộng sự. Cảm ơn Sacred Texts Archive đã làm cho các văn bản này có thể truy cập dưới dạng kỹ thuật số.
Được chuẩn bị cho SuttaCentral bởi Tỳ-kheo Sujato.
Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.
🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.