Inti DharmaInti Dharma
← Kinh điển
Đại Thừa — Tạng Bắc Truyền · Bộ Pháp Hoa

Diệu Pháp Liên Hoa Kinh

Tên Pāli / Sanskrit:Saddharmapuṇḍarīka

📖40,618 từ · ~162 phút đọc
2
Tóm tắt

Kinh "vua" của Bắc Truyền. Nhất Phật thừa — mọi chúng sinh đều thành Phật. 28 phẩm, phẩm Phổ Môn về Quán Thế Âm rất nổi tiếng.

Bản dịch đầy đủ (Tiếng Việt)

Diệu Pháp Liên Hoa Kinh quyển 1

1. Phẩm Tựa

Tôi nghe như thế này, vào lúc đức Phật ở tại thành Vương Xá, giữa núi Kỳ-xà-quật, cùng với chúng đại tỳ-kheo 1.200 vị, [1] hết thảy đều là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã dứt, không bị phiền não trở lại, được lợi lạc bản thân, dứt hết trói buộc trong các cõi hiện hữu, tâm được tự tại.

Tên các ngài là: A-nhã Kiều-trần-như, [2] Ma-ha Ca-diếp, [3] Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp, Già-da Ca-diếp, Na-đề Ca-diếp, [4] Xá-lợi-phất, [5] Đại Mục-kiền-liên, [6] Ma-ha Ca-chiên-diên, [7] A-nậu-lâu-đà, [8] Kiếp-tân-na, [9] Kiều-phạm-ba-đề, [10] Ly-bà-đa, [11] Tất-lăng-già-bà-sa, [12] Bạc-câu-la, [13] Ma-ha Câu-hi-la, [14] Nan-đà, [15] Tôn-đà-la Nan-đà, [16] Phú-lâu-na Di-đà-la-ni tử, [17] Tu-bồ-đề, [18] A-nan, [19] La-hầu-la. [20] Đó là các vị đại A-la-hán được nhiều người biết đến. [21]

Lại có các vị hữu học, vô học [22] đến 2.000 người.

Tỳ-kheo-ni Ma-ha Ba-xà-ba-đề [23] cùng với ni chúng 6.000 người cùng đến. Mẹ của La-hầu-la là tỳ-kheo-ni Da-du-đà-la [24] cũng cùng đến với ni chúng.

Có 80.000 vị Đại Bồ Tát, tất cả đều không còn thối chuyển đối với quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, [25] đều đạt được đà-la-ni, có tài biện luận vui thích thuyết giảng, chuyển bánh xe pháp không còn thối chuyển, từng cúng dường vô số trăm nghìn đức Phật, ở nơi chư Phật gieo trồng các gốc công đức, thường được chư Phật ngợi khen xưng tán, dùng tâm từ tu thân, khéo thể nhập trí tuệ Phật, thông đạt trí tuệ lớn lao, đạt đến bờ giải thoát, danh xưng được nghe biết khắp vô số thế giới, thường cứu độ vô số trăm ngàn chúng sanh.

Danh hiệu của các vị là: Bồ Tát Văn-thù-sư-lợi, [26] Bồ Tát Quán Thế Âm, [27] Bồ Tát Đắc Đại Thế, [28] Bồ Tát Thường Tinh Tấn, [29] Bồ Tát Bất Hưu Tức, [30] Bồ Tát Bảo Chưởng, [31] Bồ Tát Dược Vương, [32] Bồ Tát Dũng Thí, [33] Bồ Tát Bảo Nguyệt, [34] Bồ Tát Nguyệt Quang, [35] Bồ Tát Mãn Nguyệt, [36] Bồ Tát Đại Lực, [37] Bồ Tát Vô Lượng Lực, [38] Bồ Tát Việt Tam Giới, [39] Bồ Tát Bạt-đà-bà-la, [40] Bồ Tát Di-lặc, [41] Bồ Tát Bảo Tích, [42] Bồ Tát Đạo Sư [43] … Các vị Đại Bồ Tát như vậy, cả thảy 80.000 vị cùng tham dự pháp hội.

Lúc bấy giờ có Thích-đề-hoàn-nhân [44] và quyến thuộc 20.000 vị thiên tử cùng đến. Lại có Thiên tử Danh Nguyệt, Thiên tử Phổ Hương, Thiên tử Bảo Quang, Tứ đại Thiên vương [45] và quyến thuộc 10.000 thiên tử cùng đến. Thiên tử Tự Tại, Thiên tử Đại Tự Tại và quyến thuộc 30.000 thiên tử cùng đến. Phạm Thiên vương chủ thế giới Ta-bà, [46] cùng Đại Phạm Thi-khí, [47] Đại Phạm Quang Minh [48] ... và quyến thuộc 12.000 thiên tử cùng đến.

Có 8 vị long vương: [49] Long vương Nan-đà, Long vương Bạt-nan-đà, Long vương Sa-già-la, Long vương Hòa-tu-cát, Long vương Đức-xoa-ca, Long vương A-na-bà-đạt-đa, Long vương Ma-na-tư, Long vương Ưu-bát-la, [50] mỗi vị đều cùng với mấy trăm ngàn quyến thuộc đến tham dự pháp hội.

Có bốn vị vua khẩn-na-la: [51] Vua Khẩn-na-la Pháp, Vua Khẩn-na-la Diệu Pháp, Vua Khẩn-na-la Đại Pháp, Vua Khẩn-na-la Trì Pháp, mỗi vị đều cùng với mấy trăm ngàn quyến thuộc đến tham dự pháp hội.

Có bốn vị vua càn-thát-bà: [52] Vua Càn-thát-bà Nhạc, Vua Càn-thát-bà Nhạc Âm, Vua Càn-thát-bà Mỹ, Vua Càn-thát-bà Mỹ Âm, mỗi vị đều cùng với trăm ngàn quyến thuộc đến dự pháp hội.

Có bốn vị vua a-tu-la: [53] Vua A-tu-la Bà-trĩ, Vua A-tu-la Khư-la-kiển-đà, Vua A-tu-la Tì-ma-chất-đa-la, Vua A-tu-la La-hầu, mỗi vị đều cùng với mấy trăm ngàn quyến thuộc đến dự pháp hội.

Có bốn vị vua ca-lâu-la: [54] Vua Ca-lâu-la Đại Uy Đức, Vua Ca-lâu-la Đại Thân, Vua Ca-lâu-la Đại Mãn, Vua Ca-lâu-la Như Ý, mỗi vị đều cùng với mấy trăm ngàn quyến thuộc đến dự pháp hội.

Vua A-xà-thế con bà Vi-đề-hi [55] cùng với mấy trăm ngàn quyến thuộc, hết thảy đều đảnh lễ sát chân Phật, rồi lui lại ngồi sang một bên.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn có bốn chúng đi nhiễu quanh, cúng dường, cung kính, tôn trọng, tán thán, vì các vị Bồ Tát giảng thuyết kinh Đại thừa tên là Vô Lượng Nghĩa, Giáo Bồ Tát Pháp, Phật Sở Hộ Niệm. [56] Phật thuyết kinh ấy xong, ngồi kết già nhập Tam-muội Vô Lượng Nghĩa Xứ, thân tâm chẳng động.

Lúc bấy giờ trời mưa xuống các loại hoa mạn-đà-la, ma-ha mạn-đà-la, [57] mạn-thù-sa, ma-ha mạn-thù-sa; [58] hoa rơi trên thân Phật và khắp thảy đại chúng.

Cõi đất chấn động khắp thế giới Phật. Bấy giờ trong hội có các vị tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, trời, rồng, dạ-xoa, [59] càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, [60] người và các loài phi nhân… [61] cùng các vị tiểu vương, chuyển luân thánh vương. Đại chúng gặp việc chưa từng có, hoan hỷ chắp tay, một lòng chiêm ngưỡng Phật.

Lúc bấy giờ, đức Phật phóng hào quang từ nơi tướng bạch hào giữa hai chân mày, [62] soi chiếu 18.000 thế giới ở phương đông, không một nơi nào không soi thấu, phía dưới chiếu đến địa ngục A-tỳ, [63] phía trên chiếu đến cõi trời A-ca-ni-trá. [64]

Từ nơi thế giới này thấy hết thảy sáu đường chúng sanh các cõi kia, [65] lại thấy chư Phật hiện tại ở các cõi ấy cùng nghe được những kinh điển giáo pháp mà chư Phật ấy thuyết giảng, cùng thấy các vị tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, những vị tu hành đạt đạo. Lại thấy các vị Đại Bồ Tát, đủ mọi nhân duyên, đủ mọi tín giải, đủ mọi tướng mạo, thực hành đạo Bồ Tát. Lại thấy chư Phật nhập Niết-bàn ; lại thấy sau khi chư Phật nhập Niết-bàn, đại chúng thu xá-lợi Phật, dựng tháp thờ bằng bảy món báu.

Lúc bấy giờ Bồ Tát Di-lặc nghĩ rằng: “Nay đức Thế Tôn hiện tướng thần biến, do nhân duyên gì mà có điềm lành này? Nay đức Phật Thế Tôn đã nhập tam-muội, việc biến hiện hy hữu không thể nghĩ bàn này nên hỏi ai? Ai có thể giải đáp?” Rồi lại nghĩ rằng: “Ngài Văn-thù-sư-lợi là con đấng Pháp vương, đã từng thân cận cúng dường vô số chư Phật trong quá khứ, chắc hẳn đã từng được thấy tướng ít có này, nay ta nên thưa hỏi.” Lúc ấy các vị tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, cùng với chư thiên, loài rồng, quỷ thần... cũng đều nghĩ rằng: “Tướng thần thông hào quang chiếu sáng của đức Phật, nay biết thưa hỏi ai?”

Lúc bấy giờ, Bồ Tát Di-lặc muốn dứt mối nghi của mình, lại quán sát thấy được tâm nghi của bốn chúng tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di cùng chư thiên, loài rồng, quỷ thần... nên thưa hỏi ngài Văn-thù-sư-lợi rằng: “Do nhân duyên gì mà có điềm lành Phật hiện tướng thần thông, phóng hào quang lớn chiếu đến 18.000 thế giới ở phương đông, [đại chúng] thấy hết được những cõi Phật trang nghiêm nơi ấy?”

Khi ấy, Bồ Tát Di-lặc muốn lặp lại ý nghĩa trên liền đọc kệ thưa hỏi rằng:

Ngài Văn-thù-sư-lợi!

Vì sao đấng Đạo sư,

Từ giữa hai chân mày,

Phóng hào quang soi chiếu.

Mưa hoa mạn-đà-la,

Với hoa mạn-thù-sa,

Gió thơm hương chiên-đàn,

Đại chúng đều hoan hỷ?

Lại do nhân duyên này,

Mặt đất đều nghiêm tịnh,

Và khắp thế giới này,

Chấn động theo sáu cách. [66]

Bấy giờ cả bốn chúng,

Đều vui mừng hoan hỷ,

Thân ý đều sảng khoái,

Được việc chưa từng có.

Hào quang từ giữa mày,

Soi chiếu thấu phương đông,

Khắp mười tám ngàn cõi,

Đều sáng đẹp sắc vàng;

Từ địa ngục A-tỳ,

Lên đến trời Hữu đỉnh,

Các thế giới trong đó,

Đủ sáu đường chúng sanh,

Sống, chết, đi về đâu,

Hay nghiệp duyên lành dữ,

Chịu quả báo tốt xấu,

Từ đây đều thấy rõ.

Lại thấy các đức Phật,

Bậc Sư tử Thánh chủ,

Diễn thuyết nhiều kinh điển,

Đều vi diệu bậc nhất.

Âm thanh thật thanh tịnh,

Tiếng nói nghe dịu dàng,

Dạy bảo hàng Bồ Tát,

Vô số muôn ngàn người.

Tiếng cõi trời sâu mầu,

Ai ai cũng thích nghe.

Mỗi vị nơi cõi mình,

Đều giảng thuyết chánh pháp,

Cùng đủ mọi nhân duyên,

Và vô số thí dụ,

Làm sáng tỏ Phật pháp,

Để khai ngộ chúng sanh.

Với những người gặp khổ,

Chán bỏ già, bệnh, chết,

Vì họ thuyết Niết-bàn,

Dứt hết mọi cảnh khổ.

Với những người có phước,

Đã từng cúng dường Phật,

Quyết cầu pháp vượt trội,

Liền dạy pháp Duyên giác;

Riêng với hàng con Phật,

Tu đủ mọi công hạnh,

Cầu trí tuệ Vô thượng,

Liền thuyết đạo thanh tịnh.

Thưa Văn-thù-sư-lợi!

Tôi ở tại nơi đây,

Thấy nghe những việc ấy,

Cùng muôn ngàn việc khác,

Hội chúng đủ hạng người,

Nay chỉ xin lược nói.

Tôi thấy những cõi kia,

Có vô số Bồ Tát,

Dùng đủ mọi nhân duyên,

Để cầu thành Phật đạo.

Có người thường bố thí,

Vàng bạc với san hô,

Hạt châu quý ma-ni,

Xa cừ cùng mã não,

Kim cương, các trân bảo,

Nô tỳ và xe cộ,

Trang trí bằng châu báu,

Đều hoan hỷ bố thí.

Hồi hướng cầu Phật đạo,

Nguyện đạt được Phật thừa,

Bậc nhất trong ba cõi,

Chư Phật đều khen ngợi.

Hoặc có những Bồ Tát,

Bố thí cả xe quý,

Có bốn ngựa, lọng che,

Cùng trang sức xinh đẹp.

Lại thấy các Bồ Tát,

Bố thí cả xương thịt,

Chân tay cùng vợ con,

Vì cầu đạo Vô thượng.

Lại thấy các Bồ Tát,

Ưa thích, vui mừng thí,

Đầu, mắt cùng thân thể,

Vì cầu trí tuệ Phật.

Thưa Văn-thù-sư-lợi!

Tôi thấy các vị vua,

Đến viếng thăm chỗ Phật,

Thưa hỏi đạo Vô thượng,

Rồi bỏ cõi dục lạc,

Cung điện nhiều mỹ nữ,

Cạo sạch cả râu tóc,

Mặc pháp phục xuất gia.

Hoặc thấy các Bồ Tát,

Mà hiện làm tỳ-kheo,

Sống cô độc nhàn tĩnh,

Ưa thích tụng kinh điển.

Lại thấy các Bồ Tát,

Sức dũng mãnh tinh tấn,

Vào tận trong núi sâu,

Nỗ lực tư duy đạo.

Lại thấy bậc ly dục,

Thường sống nơi nhàn tịnh,

Tu sâu pháp thiền định,

Đạt được năm thần thông.

Lại thấy các Bồ Tát,

Trong thiền định chắp tay,

Dùng muôn ngàn lời kệ,

Ngợi khen các đức Phật.

Lại thấy các Bồ Tát

Trí sâu chí nguyện vững,

Thường thưa hỏi chư Phật,

Nghe giảng liền thọ trì.

Lại thấy hàng con Phật,

Đã trọn đủ định, tuệ,

Dùng vô số thí dụ,

Vì đại chúng giảng pháp.

Vui thích thuyết chánh pháp,

Giáo hóa các Bồ Tát,

Phá trừ hết quân ma,

Đánh vang rền trống Pháp.

Lại thấy các Bồ Tát,

Trụ yên trong tịch lặng,

Trời, rồng đều cung kính,

Nhưng không lấy làm vui.

Lại thấy các Bồ Tát,

Từ rừng sâu phóng quang,

Chúng sanh khổ địa ngục,

Khiến được vào đạo Phật.

Lại thấy hàng con Phật,

Tỉnh thức không ngủ nghỉ,

Trong rừng sâu kinh hành,

Chuyên cần cầu đạo Phật.

Lại thấy người giữ giới,

Oai nghi không khuyết tổn,

Trong sáng như châu ngọc,

Để cầu thành Phật đạo.

Lại thấy hàng con Phật,

An trụ sức nhẫn nhục,

Dù những kẻ kiêu mạn,

Mắng chửi và đánh đập,

Cũng đều nhẫn nhịn được,

Để cầu thành Phật đạo.

Lại thấy hàng Bồ Tát,

Lìa xa chuyện cợt đùa,

Không gần kẻ ngu si,

Thân cận bậc trí tuệ,

Chuyên tâm trừ loạn tưởng,

Giữa núi rừng nhiếp tâm,

Trong suốt muôn ngàn năm,

Để cầu thành Phật đạo.

Hoặc thấy hàng Bồ Tát,

Dùng thức ăn ngon quý,

Cùng trăm loại thuốc thang,

Cúng dường Phật và Tăng.

Dùng y phục thượng hạng,

Giá muôn ngàn lượng vàng,

Hoặc quý báu vô giá,

Cúng dường Phật và Tăng.

Dùng trăm ngàn muôn loại,

Nhà quý gỗ chiên-đàn,

Với tòa ngồi tốt đẹp,

Cúng dường Phật và Tăng.

Dâng vườn rừng yên tĩnh,

Có hoa trái sum suê,

Suối chảy, hồ trong mát,

Cúng dường Phật và Tăng.

Cúng dường những thứ ấy,

Đều tốt đẹp nhiệm mầu,

Tâm hoan hỷ không chán,

Vì cầu đạo Vô thượng.

Hoặc có hàng Bồ Tát,

Thuyết giảng pháp tịch diệt,

Dùng mọi cách chỉ bày,

Cho vô số chúng sanh.

Hoặc thấy hàng Bồ Tát,

Quán chiếu các tánh pháp,

Vốn thật không hai tướng,

Thảy đều như hư không.

Lại thấy hàng con Phật,

Tâm không chút dính mắc,

Dùng trí tuệ nhiệm mầu,

Để cầu đạo Vô thượng.

Thưa Văn-thù-sư-lợi!

Lại có hàng Bồ Tát,

Sau khi Phật diệt độ,

Liền cúng dường xá-lợi.

Lại thấy hàng con Phật,

Xây dựng các tháp miếu,

Nhiều như cát sông Hằng,

Làm trang nghiêm cõi nước.

Tháp báu đẹp tuyệt vời,

Cao năm ngàn do-tuần,

Ngang, rộng giống như nhau,

Đều hai ngàn do-tuần.

Mỗi một ngôi tháp miếu,

Đều có ngàn cờ phướn,

Cùng màn ngọc phủ che,

Với chuông nhỏ hòa ngân.

Có chư thiên, long, thần,

Người và loài phi nhân,

Dùng hương, hoa, âm nhạc,

Thường dâng lên cúng dường.

Thưa Văn-thù-sư-lợi!

Hết thảy hàng Phật tử,

Vì cúng dường xá-lợi,

Nên trang nghiêm tháp miếu,

Khắp cõi nước tự nhiên,

Thành tươi đẹp tuyệt vời,

Như cây chúa cõi trời,

Đang mùa hoa nở rộ.

Một lần Phật phóng quang,

Tôi cùng cả hội chúng,

Đều thấy cõi nước này,

Đủ mọi vẻ tươi đẹp.

Thần lực của chư Phật,

Trí tuệ thật ít có,

Phóng hào quang thanh tịnh,

Chiếu vô số cõi nước.

Chúng tôi đều được thấy,

Việc xưa nay chưa có.

Nguyện Phật tử Văn-thù!

Vì đại chúng giải nghi.

Bốn chúng đều ngưỡng vọng,

Mong đợi ngài và tôi,

Nói rõ Phật vì sao,

Phóng tỏa hào quang này.

Xin kịp thời giải đáp,

Dứt nghi để được vui.

Lại vì lợi ích gì,

Phật hiện phóng hào quang?

Phật ngồi nơi đạo trường,

Đã chứng đắc diệu pháp,

Nay sẽ thuyết pháp ấy,

Hay vì ai thụ ký?

Nên hiện các cõi Phật,

Với châu báu nghiêm tịnh.

Lại thấy các cõi Phật,

Chẳng phải duyên nhỏ nhặt.

Ngài Văn-thù nên biết,

Bốn chúng, hàng trời, rồng...

Đều mong ngóng chờ xem,

Ngài nói ra những gì?

Lúc bấy giờ, ngài Văn-thù-sư-lợi nói với Đại Bồ Tát Di-lặc, các vị đại sĩ và thiện nam tử: “Theo như tôi suy xét thì nay đức Phật Thế Tôn muốn thuyết pháp lớn lao, mưa xuống cơn mưa pháp lớn, thổi tù và pháp lớn, [67] đánh tiếng trống pháp lớn, diễn giảng nghĩa pháp lớn.

“Các vị thiện nam tử! Tôi ở nơi chư Phật trong quá khứ từng thấy điềm lành này, phóng hào quang này rồi ắt thuyết pháp lớn lao. Cho nên biết được rằng, nay Phật hiện hào quang cũng giống như vậy, muốn cho chúng sanh thảy đều nghe biết pháp khó tin nhận với tất cả thế gian, cho nên hiện điềm lành này.

“Các thiện nam tử! Như trong quá khứ cách đây vô lượng vô biên không thể nghĩ bàn a-tăng-kì số kiếp.

“Lúc bấy giờ có đức Phật hiệu là Nhật Nguyệt Đăng Minh [68] Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. [69]

“[Đức Phật ấy] diễn thuyết chánh pháp lúc ban sơ tốt đẹp, khoảng giữa tốt đẹp, sau cùng cũng tốt đẹp, ý nghĩa sâu xa, ngôn ngữ khéo léo mầu nhiệm, thuần khiết không xen tạp, đầy đủ tướng trạng của hạnh thanh tịnh trong sáng.

“Vì người cầu quả Thanh văn mà thuyết pháp tứ đế [70] thích hợp, vượt thoát sinh già bệnh chết, rốt ráo đạt Niết-bàn; vì người cầu quả Duyên giác [71] mà thuyết pháp mười hai nhân duyên thích hợp; vì các Bồ Tát mà thuyết sáu ba-la-mật [72] thích hợp, khiến cho đạt được quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, thành tựu Nhất thiết chủng trí. [73]

“Tiếp đến có Phật cũng hiệu là Nhật Nguyệt Đăng Minh, rồi tiếp nữa lại có Phật cũng hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh, như vậy đến 20.000 vị Phật đều cùng một hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh, lại cũng đồng một dòng họ là Phả-la-đọa. Ngài Di-lặc nên biết, từ vị Phật ban đầu đến vị Phật cuối cùng đều cùng một danh hiệu là Nhật Nguyệt Đăng Minh, đều có đầy đủ mười đức hiệu, và những điều thuyết pháp từ ban sơ, khoảng giữa cho đến cuối cùng đều tốt đẹp.

“Vị Phật sau cùng, lúc chưa xuất gia có tám người con. Người thứ nhất tên là Hữu Ý, thứ hai là Thiện Ý, thứ ba là Vô Lượng Ý, thứ tư là Bảo Ý, thứ năm là Tăng Ý, thứ sáu là Trừ Nghi Ý, thứ bảy là Hưởng Ý, thứ tám là Pháp Ý. Tám vị vương tử này đều có oai đức tự tại, mỗi vị đều cai trị bốn thiên hạ. Các vị vương tử nghe tin phụ vương xuất gia, đắc quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, liền xả bỏ vương vị theo cha xuất gia, phát tâm Đại thừa, thường tu hạnh thanh tịnh, đều là những vị pháp sư, ở nơi muôn ngàn đức Phật trồng các cội lành.

“Bấy giờ đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh thuyết kinh Đại thừa tên là Vô Lượng Nghĩa, Giáo Bồ Tát Pháp, Phật Sở Hộ Niệm. Thuyết kinh xong liền ở giữa đại chúng ngồi kết già nhập tam-muội Vô lượng nghĩa xứ, [74] thân tâm chẳng động. Khi ấy, trời mưa xuống hoa mạn-đà-la, hoa ma-ha mạn-đà-la, hoa mạn-thù-sa, hoa ma-ha mạn-thù-sa, hoa rải lên thân Phật và đại chúng.

Khắp cõi Phật, mặt đất chấn động theo sáu cách. Khi ấy trong hội có các vị tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, trời, rồng, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, người và loài phi nhân, cùng các vị tiểu vương, chuyển luân thánh vương... Đại chúng như vậy được việc chưa từng có, đều hoan hỷ chắp tay, một lòng chiêm ngưỡng Phật.

Khi ấy, đức Như Lai phóng hào quang từ nơi tướng lông trắng giữa hai chân mày, soi chiếu về phương đông đến 18.000 cõi Phật, không nơi nào không soi thấu, cũng giống như ngày nay đã thấy hiển bày các cõi Phật. Ngài Di-lặc nên biết, khi ấy trong chúng hội có hai triệu Bồ Tát ưa muốn nghe pháp. Các vị Bồ Tát này thấy hào quang soi chiếu khắp các cõi Phật, được điều chưa từng có, đều muốn rõ biết nhân duyên của hào quang này.

“Bấy giờ có vị Bồ Tát tên là Diệu Quang, [75] có 800 người đệ tử. Khi ấy, đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh ra khỏi tam-muội, nhân vì Bồ Tát Diệu Quang mà thuyết kinh Đại thừa tên là Diệu Pháp Liên Hoa, Giáo Bồ Tát Pháp, Phật Sở Hộ Niệm, trong 60 tiểu kiếp không đứng dậy khỏi tòa ngồi. Chúng hội cũng ngồi yên một chỗ, trong 60 tiểu kiếp thân tâm không dao động, lắng nghe Phật thuyết kinh, đều cảm thấy chỉ như thời gian một bữa ăn. Lúc ấy trong chúng hội không một người nào thấy thân hoặc tâm sinh ra lười mỏi.

“Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh qua 60 tiểu kiếp thuyết kinh này rồi, liền tuyên bố với chúng hội gồm các vị phạm chí, ma, sa-môn, bà-la-môn, chư thiên, người, a-tu-la rằng: ‘Hôm nay vào lúc giữa đêm, Như Lai sẽ nhập Niết-bàn Vô dư.’ [76]

“Bấy giờ có vị Bồ Tát tên là Đức Tạng, [77] Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh liền thụ ký, nói với các vị tỳ-kheo: ‘Bồ Tát Đức Tạng này sẽ thành Phật tiếp theo, hiệu là Tịnh Thân Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Đẳng Giác…’ [78]

“Đức Phật thụ ký rồi, đến giữa đêm liền nhập Niết-bàn Vô dư. Sau khi Phật diệt độ, Bồ Tát Diệu Quang thọ trì kinh Diệu Pháp Liên Hoa, trọn 80 tiểu kiếp vì người khác giảng thuyết. Tám người con của đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh đều thờ ngài Diệu Quang làm thầy, được ngài dạy dỗ, khiến cho được tâm kiên cố đối với quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh Giác.

Các vương tử này, sau khi cúng dường vô số trăm ngàn muôn ức vị Phật rồi thảy đều thành Phật. Vị thành Phật sau cùng hiệu là Nhiên Đăng. Trong số 800 đệ tử, có một người tên là Cầu Danh, tham chấp lợi dưỡng, tuy cũng tụng đọc kinh điển nhưng không thông hiểu, phần nhiều đều quên mất, cho nên có hiệu là Cầu Danh.

Người này vì cũng từng gieo trồng nhiều căn lành nên được gặp vô số trăm ngàn muôn ức đức Phật, đều cúng dường, cung kính, tôn trọng, tán thán.

“Ngài Di-lặc nên biết, Bồ Tát Diệu Quang thuở ấy nào phải ai khác, chính là tôi đây. Còn Bồ Tát Cầu Danh chính là ngài đó.

“Nay tôi thấy điềm lành này so với thuở xưa không khác, nên suy xét rằng: “Hôm nay đức Như Lai sẽ thuyết giảng kinh Đại thừa tên là Diệu Pháp Liên Hoa, Giáo Bồ Tát Pháp, Phật Sở Hộ Niệm.”

Bấy giờ, ngài Văn-thù-sư-lợi ở giữa đại chúng muốn trùng tuyên ý nghĩa trên nên đọc kệ rằng:

Tôi nhớ đời quá khứ,

Vô lượng vô số kiếp,

Có Phật, đấng cao quý,

Hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh.

Thế Tôn thuyết giảng pháp,

Độ vô lượng chúng sanh,

Vô số ức Bồ Tát,

Khiến vào trí tuệ Phật.

Khi Phật chưa xuất gia,

Sinh ra tám vương tử,

Thấy Đại thánh xuất gia,

Cũng theo tu thanh tịnh.

Khi Phật thuyết Đại thừa,

Kinh tên Vô Lượng Nghĩa,

Liền ở giữa đại chúng,

Vì người rộng phân biệt.

Phật thuyết kinh ấy rồi,

Liền ngồi trên pháp tòa,

Kết già nhập tam-muội,

Tên Vô Lượng Nghĩa Xứ.

Trời mưa hoa mạn-đà,

Trống trời tự nhiên vang,

Chư thiên, rồng, quỷ thần,

Cúng dường Bậc Tôn quý.

Hết thảy bao cõi Phật,

Đều tức thời chấn động,

Phật phóng quang giữa mày,

Hiện những việc ít có.

Hào quang chiếu phương đông,

Mười tám ngàn cõi Phật,

Chúng sanh đều được thấy,

Chỗ nghiệp báo sinh tử.

Cũng thấy các cõi Phật,

Dùng châu báu trang nghiêm,

Màu lưu ly, pha lê,

Đều do hào quang Phật.

Lại thấy chúng trời người,

Rồng, thần và dạ-xoa,

Càn-thát, khẩn na la,

Đều cúng dường Phật ấy.

Lại thấy các vị Phật,

Tự nhiên thành Phật đạo,

Thân sáng như núi vàng,

Đoan nghiêm rất vi diệu.

Trong sạch như lưu ly,

Hiện thành tượng vàng ròng,

Thế Tôn giữa đại chúng,

Rộng thuyết pháp sâu mầu.

Nơi mỗi một cõi Phật,

Có vô số Thanh văn,

Nương hào quang Phật chiếu,

Thấy rõ các chúng ấy.

Hoặc có những tỳ-kheo,

Thường sống giữa núi rừng,

Tinh tấn giữ giới hạnh,

Như giữ hạt minh châu.

Lại nhờ hào quang Phật,

Thấy được các Bồ Tát,

Hành bố thí, nhẫn nhục...

Nhiều như cát sông Hằng.

Lại thấy các Bồ Tát,

Vào sâu các thiền định,

Thân tâm lặng chẳng động,

Để cầu đạo Vô thượng.

Lại thấy các Bồ Tát,

Biết tướng pháp tịch diệt,

Ở nơi cõi nước mình,

Thuyết pháp cầu đạo Phật.

Bấy giờ cả bốn chúng,

Thấy Phật Nhật Nguyệt Đăng,

Hiện sức thần thông lớn,

Trong tâm đều hoan hỷ,

Các vị cùng hỏi nhau,

Đây là nhân duyên gì?

Đấng trời người tôn kính,

Vừa ra khỏi tam-muội,

Khen Bồ Tát Diệu Quang,

Ông là tai mắt đời,

Người người đều tin theo.

Có thể giữ kho pháp,

Những gì ta thuyết giảng,

Chỉ riêng ông rõ biết.

Thế Tôn ngợi khen rồi,

Khiến Diệu Quang hoan hỷ,

Liền thuyết kinh Pháp hoa,

Trọn sáu mươi tiểu kiếp,

Không rời khỏi chỗ ngồi.

Pháp nhiệm mầu Phật thuyết,

Ngài Pháp sư Diệu Quang,

Đều có thể thọ trì.

Phật thuyết kinh Pháp Hoa,

Khiến đại chúng hoan hỷ,

Rồi ngay trong ngày ấy,

Bảo khắp chúng trời, người:

“Nghĩa thật tướng các pháp,

Đã vì chúng giảng thuyết,

Nay vào giữa đêm này,

Ta sẽ nhập Niết-bàn.

Hãy chuyên tâm tinh tấn,

Lìa xa thói phóng túng,

Cơ hội gặp Phật khó,

Trăm ngàn kiếp mới có.”

Hàng đệ tử Thế Tôn,

Nghe Phật nhập Niết-bàn,

Ai ai cũng bi thương,

Sao Phật chóng nhập diệt?

Bậc Thánh chủ Pháp vương,

An ủi vô số chúng:

“Như Ta diệt độ rồi,

Các người chớ lo sợ.

Bồ Tát Đức Tạng đây,

Tâm đã rõ thông được,

Tướng thật pháp vô lậu,

Kế tiếp sẽ thành Phật,

Hiệu Tịnh Thân Như Lai,

Cũng độ vô số chúng.”

Đêm ấy Phật diệt độ,

Như củi hết lửa tắt.

Phân chia Xá-lợi Phật,

Rồi dựng vô số tháp.

Tỳ-kheo, tỳ-kheo ni,

Nhiều như cát sông Hằng,

Lại càng thêm tinh tấn,

Để cầu đạo Vô thượng.

Ngài Pháp sư Diệu Quang,

Vâng giữ pháp tạng Phật,

Trong tám mươi tiểu kiếp,

Rộng thuyết kinh Pháp hoa.

Tám vương tử con Phật,

Được Diệu Quang chỉ bày,

Vững vàng trong đạo Phật,

Rồi gặp vô số Phật,

Đều cung kính cúng dường,

Vâng theo tu hành đạo,

Tiếp nối đều thành Phật,

Lần lượt được thụ ký.

Cho đến Phật sau cùng,

Hiệu là Phật Nhiên Đăng,

Là thầy các tiên nhân,

Độ thoát vô số chúng.

Ngài Pháp sư Diệu Quang,

Lại có một đệ tử,

Thường ôm lòng biếng nhác,

Mê đắm đường danh lợi,

Tham cầu không biết chán,

Giao du các nhà giàu,

Tụng kinh rồi vất bỏ,

Quên mất không rõ nghĩa.

Vì nhân duyên như thế,

Nên tên là Cầu Danh.

Nhưng tạo các nghiệp lành,

Được gặp vô số Phật,

Cúng dường chư Phật rồi,

Vâng theo, tu hành đạo,

Đủ sáu ba-la-mật,

Nay gặp đức Thích-ca.

Sau này sẽ thành Phật,

Hiệu là Phật Di-lặc,

Rộng độ khắp chúng sanh,

Số nhiều đến vô lượng.

Phật xưa diệt độ rồi,

Cầu Danh chính là ông.

Còn Pháp sư Diệu Quang,

Nay chính là tôi đây.

Tôi thấy Phật Đăng Minh,

Xưa phóng quang như thế,

Nên biết Phật ngày nay,

Sắp thuyết kinh Pháp Hoa.

Tướng nay, điềm lành xưa,

Là phương tiện chư Phật.

Nay Phật phóng hào quang,

Giúp hiện nghĩa tướng thật.

Chư vị nay nên biết,

Chắp tay một lòng chờ,

Phật sẽ ban mưa pháp,

Sung túc người cầu đạo.

Người cầu quả Tam thừa,

Nếu như còn nghi vấn,

Phật sẽ giúp đoạn trừ,

Dứt sạch không còn nghi.

2. Phẩm Phương tiện

Bấy giờ, đức Thế Tôn an lành ra khỏi thiền định, bảo ngài Xá-lợi-phất: “Trí tuệ của chư Phật rất sâu xa không thể suy lường, cửa trí tuệ ấy khó hiểu khó vào, hết thảy hàng Thanh văn, Phật Bích-chi đều không có khả năng rõ biết.

“Vì sao vậy? Phật từng thân cận với trăm ngàn muôn ức vô số chư Phật, hết sức thực hành vô số đạo pháp của chư Phật, dũng mãnh tinh tấn, danh xưng được nghe biết rộng khắp, thành tựu pháp rất sâu xa chưa từng có, tùy chỗ thích hợp mà giảng thuyết, ý nghĩa khó hiểu.

“Xá-lợi-phất! Từ khi ta thành Phật đến nay, dùng đủ mọi nhân duyên, đủ mọi thí dụ, rộng nói các giáo pháp cùng vô số phương tiện, dẫn dắt chúng sanh khiến cho lìa bỏ mọi sự bám chấp.

“Vì sao vậy? Phương tiện, tri kiến ba-la-mật của đức Như Lai hết thảy đều trọn đủ. Xá-lợi-phất! Tri kiến của Như Lai rộng lớn sâu xa, không ngăn ngại, không thể suy lường, những phẩm đức như lực, [79] vô sở úy, [80] thiền định, giải thoát tam-muội đều thâm nhập tận cùng, thành tựu hết thảy các pháp chưa từng có.

“Xá-lợi-phất! Như Lai có thể phân biệt mọi điều, khéo giảng thuyết các pháp, lời lẽ êm dịu uyển chuyển, làm vui lòng đại chúng. Xá-lợi-phất! Theo chỗ cốt yếu mà nói thì Phật đã thành tựu hết vô lượng vô biên các pháp chưa từng có.

“Thôi đi, Xá-lợi-phất! Không nên nói nữa. Vì sao vậy? Pháp mà Phật đã thành tựu cao tột khó hiểu, ít có nhất, chỉ Phật với Phật mới có thể cứu xét đến chỗ rốt ráo.

“Tướng thật của các pháp, đó là nói các pháp có tướng như vậy, tánh như vậy, thể như vậy, lực như vậy, chỗ làm như vậy, nhân như vậy, duyên như vậy, quả như vậy, báo như vậy, từ gốc đến ngọn rốt ráo bình đẳng như vậy.”

Bấy giờ đức Thế Tôn muốn nhắc lại những ý nghĩa trên nên nói kệ rằng:

“Bậc Thế Hùng khôn lường,

Chư thiên và nhân loại,

Cùng các loài chúng sanh,

Đều không thể hiểu Phật.

Phật lực, vô sở úy,

Giải thoát, các tam-muội,

Các pháp khác của Phật,

Đều không thể suy lường.

Từng theo vô số Phật,

Tu hành đủ các pháp,

Rất sâu xa nhiệm mầu ,

Khó thấy, khó rõ biết.

Trong vô số ức kiếp,

Tu các phẩm đạo rồi,

Chứng quả nơi Đạo trường,

Ta đều rõ biết hết.

Quả báo lớn lao ấy,

Đủ mọi nghĩa tánh tướng,

Ta với mười phương Phật,

Mới có thể rõ biết.

Pháp không thể chỉ bày,

Tướng ngôn ngữ dứt bặt.

Các loài chúng sanh khác,

Không thể nào hiểu được,

Trừ các vị Bồ Tát,

Với đức tin kiên cố.

Chúng đệ tử của Phật,

Từng cúng dường chư Phật,

Đã dứt sạch lậu hoặc,

Trụ nơi thân cuối cùng,

Dù những bậc như vậy,

Vẫn không sức thọ nhận.

Nếu người khắp thế gian,

Đều như Xá-lợi-phất,

Dùng hết sức suy lường,

Cũng không rõ trí Phật.

Ví như khắp mười phương,

Đều như Xá-lợi-phất,

Cùng các đệ tử khác,

Tràn ngập khắp mười phương,

Cùng hết sức suy lường,

Cũng không thể rõ biết.

Hàng Duyên giác trí sáng,

Bậc Vô lậu thân cuối,

Cũng đầy khắp mười phương,

Số nhiều như tre rừng,

Như vậy cùng chuyên tâm,

Trong vô số ức kiếp,

Muốn suy biết trí Phật,

Cũng không biết được gì.

Bồ Tát mới phát tâm,

Cúng dường vô số Phật,

Rõ biết các ý nghĩa,

Lại khéo thuyết giảng pháp.

Nhiều như lúa, mè, tre...

Đầy khắp cõi mười phương,

Chuyên tâm dùng trí mầu,

Trong Hằng sa số kiếp,

Cùng chung sức suy lường,

Không thể rõ trí Phật.

Các Bồ Tát bất thối,

Nhiều như cát sông Hằng,

Một lòng cùng suy cầu,

Cũng không thể rõ biết.”

Phật bảo Xá-lợi-phất:

“Pháp sâu xa vi diệu,

Vô lậu, không nghĩ bàn,

Ta nay đã trọn thành,

Tướng ấy riêng ta biết,

Cũng như mười phương Phật.

Xá-lợi-phất nên biết,

Lời chư Phật không khác,

Đối với pháp Phật thuyết,

Phải tin sâu, tin chắc.

Pháp Phật lâu về sau,

Phải thuyết dạy chân thật.

Phật bảo chúng Thanh văn,

Cùng chúng cầu Duyên giác:

‘Ta dạy cho thoát khổ,

Nhưng chưa được Niết-bàn.’

Phật dùng sức phương tiện,

Tạm bày ra ba thừa,

Chúng sanh nhiều bám chấp,

Dẫn dắt cho giải thoát.

Bấy giờ trong đại chúng có các vị Thanh văn đã chứng A-la-hán, dứt sạch lậu hoặc, giống như ngài A-nhã Kiều-trần-như... cả thảy 1.200 vị, cùng những vị tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di phát tâm cầu quả Thanh văn, quả Phật Bích-chi, hết thảy đều nghĩ rằng: “Hôm nay đức Thế Tôn vì sao lại ân cần ngợi khen xưng tán pháp phương tiện mà nói: ‘Pháp Phật đã chứng đắc rất sâu xa khó hiểu, có nói ra điều gì thì ý nghĩa đều khó rõ biết, hết thảy hàng Thanh văn, Duyên giác đều không thể hiểu được?’

“Phật [từng] thuyết dạy một nghĩa giải thoát, chúng ta cũng được pháp ấy, [tưởng rằng] đạt đến Niết-bàn, nhưng nay thì không biết nghĩa ấy hướng về đâu?”

Lúc bấy giờ, ngài Xá-lợi-phất biết lòng nghi của bốn chúng và chính mình cũng chưa hiểu nên bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Do nhân duyên gì mà nay Phật ân cần ngợi khen xưng tán phương tiện bậc nhất cùng pháp thâm sâu vi diệu khó hiểu của chư Phật? Con từ xưa nay theo Phật chưa từng được nghe những lời như vậy. Nay bốn chúng đều ôm lòng nghi, nguyện Thế Tôn giảng rõ việc này: Thế Tôn vì sao lại ân cần ngợi khen xưng tán pháp thâm sâu vi diệu khó hiểu?”

Khi ấy, ngài Xá-lợi-phất muốn nhắc lại nghĩa trên nên đọc kệ rằng:

Đấng Đại Thánh trí tuệ,

Lâu mới thuyết pháp này.

Tự nói đã chứng đắc,

Lực, vô úy, tam-muội,

Cùng thiền định giải thoát,

Pháp không thể nghĩ bàn.

Nơi đạo trường chứng đắc,

Không ai đủ sức hỏi,

Ý Phật khó suy lường,

Cũng không thể thưa hỏi,

Nên Phật tự nói ra,

Ngợi khen đạo chư Phật,

Trí tuệ cực vi diệu,

Chư Phật đã đạt được.

A-la-hán vô lậu,

Cùng người cầu Niết-bàn,

Nay chìm trong lưới nghi,

Vì sao Phật nói vậy?

Những người cầu Duyên giác,

Tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni,

Chư thiên, rồng, quỷ thần,

Với loài càn-thát-bà...

Nhìn nhau lòng phân vân,

Cùng chiêm ngưỡng Thế Tôn,

Việc này là thế nào?

Nguyện được Phật giảng giải.

Trong hàng chúng Thanh văn,

Phật khen con bậc nhất,

Nay con dùng trí mình,

Không thể hiểu, nghi hoặc:

Đây là pháp rốt ráo?

Hay là đạo tu hành?

Chúng từ miệng Phật sinh,

Đều chắp tay mong đợi,

Nguyện Phật ban tiếng mầu,

Nói ra pháp như thật.

Chư thiên, rồng, quỷ thần...

Số nhiều như cát sông,

Bồ Tát cầu quả Phật,

Số đến tám mươi ngàn,

Lại từ muôn ức nước,

Vua Chuyển luân đến đây,

Cùng chắp tay cung kính,

Muốn nghe đạo trọn đủ.

Bấy giờ, đức Phật bảo ngài Xá-lợi-phất: “Thôi, thôi, không nên nói nữa! Nếu ta nói ra việc này thì hết thảy chư thiên và loài người ở thế gian đều sẽ kinh sợ nghi ngờ.”

Ngài Xá-lợi-phất lại bạch Phật: “Thế Tôn! Kính nguyện Phật nói ra, kính nguyện Phật nói ra. Vì sao vậy? Trong chúng hội này có vô số trăm ngàn muôn ức a-tăng-kỳ chúng sanh đã từng được gặp chư Phật, căn tánh lanh lợi dũng mãnh, trí tuệ sáng suốt rõ biết, nếu được nghe Phật thuyết dạy ắt có thể cung kính tin nhận.”

Lúc ấy, ngài Xá-lợi-phất muốn nhắc lại nghĩa trên nên nói kệ rằng:

Đấng Pháp vương Vô thượng,

Xin thuyết dạy, đừng lo,

Vì vô số chúng hội,

Phải có người kính tin.

Đức Phật lại ngăn lời ngài Xá-lợi-phất: “Nếu ta nói ra việc này, hết thảy hàng trời, người, a-tu-la... trong khắp thế gian đều sẽ kinh sợ nghi ngờ, các tỳ-kheo tăng thượng mạn [81] sẽ phải sa vào hố sâu tội lỗi vì phỉ báng.”

Bấy giờ, đức Thế Tôn nhắc lại nghĩa trên bằng kệ rằng:

Thôi thôi không nên nói,

Pháp Phật khó nghĩ bàn.

Những kẻ tăng thượng mạn,

Ắt không thể kính tin.

Bấy giờ, ngài Xá-lợi-phất một lần nữa bạch Phật: “Thế Tôn! Kính nguyện Phật nói ra, kính nguyện Phật nói ra. Nay trong hội này, những người như con, số nhiều đến trăm ngàn muôn ức, trải qua nhiều đời đã từng được Phật giáo hóa. Những người này ắt sẽ có thể kính tin, trong đêm dài sinh tử họ sẽ an ổn, được nhiều lợi ích.” Khi ấy, ngài Xá-lợi-phất muốn nhắc lại nghĩa trên nên nói kệ rằng:

Đấng Thế Tôn Vô thượng,

Nguyện thuyết pháp bậc nhất.

Con là con trưởng Phật,

Xin thương mà giảng thuyết,

Trong hội vô số chúng,

Có thể kính tin lời.

Phật đã qua bao đời,

Giáo hóa những người này,

Nay một lòng chắp tay,

Muốn nghe lời Phật dạy.

Chúng con một ngàn hai,

Cùng người cầu quả Phật,

Nguyện vì hội chúng này,

Thương xót phân biệt nói.

Đại chúng nghe pháp này,

Ắt sinh lòng hoan hỷ.

Bấy giờ, đức Thế Tôn bảo ngài Xá-lợi-phất: “Ông đã hết lòng thưa thỉnh ba lần, lẽ nào ta lại không nói. Nay ông hãy chú ý lắng nghe, khéo suy xét kỹ và ghi nhớ, ta sẽ vì các ông mà phân biệt giảng nói.”

Khi đức Phật vừa nói ra lời này, trong chúng hội liền có 5.000 tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di cùng đứng dậy khỏi tòa ngồi, lễ Phật rồi lui ra. Vì sao vậy? Những người ấy gốc tội sâu nặng, lại là hàng tăng thượng mạn, chưa chứng nói là chứng, chưa đắc nói là đắc, có những lỗi lầm như vậy nên không ở lại. Đức Thế Tôn lặng thinh không ngăn cản.

Bấy giờ, đức Phật bảo ngài Xá-lợi-phất: “Trong hội chúng này nay không còn cành lá, chỉ thuần hạt chắc. Này Xá-lợi-phất, những kẻ tăng thượng mạn ấy lui ra cũng tốt. Nay ông hãy khéo lắng nghe, ta sẽ vì các ông thuyết giảng.”

Ngài Xá-lợi-phất thưa: “Xin vâng, Thế Tôn! Chúng con nguyện vui thích muốn nghe.”

Đức Phật bảo ngài Xá-lợi-phất: “Pháp vi diệu này, chư Phật Như Lai đúng thời mới thuyết, như hoa ưu-đàm-bát đúng thời chỉ nở một lần. Này Xá-lợi-phất! Các ông nên tin lời Phật thuyết dạy, không hề hư dối. Xá-lợi-phất! Chư Phật tùy chỗ thích hợp mà thuyết pháp, ý nghĩa khó nhận hiểu.

“Vì sao vậy? Ta dùng vô số phương tiện, đủ mọi nhân duyên, thí dụ, ngôn từ để giảng thuyết các pháp. Pháp ấy không thể suy lường phân biệt mà hiểu được, chỉ có chư Phật mới đủ khả năng thấu hiểu. Vì sao vậy? Chư Phật Thế Tôn chỉ vì duy nhất một đại sự nhân duyên mà xuất hiện ở đời.

“Xá-lợi-phất! Thế nào là chư Phật Thế Tôn chỉ vì duy nhất một đại sự nhân duyên mà xuất hiện ở đời?

“Chư Phật Thế Tôn vì muốn giúp chúng sanh khai mở tri kiến Phật để được thanh tịnh nên xuất hiện ở đời; muốn chỉ bày cho chúng sanh thấy được tri kiến Phật nên xuất hiện ở đời; muốn khiến cho chúng sanh tỏ ngộ tri kiến Phật nên xuất hiện ở đời; muốn giúp cho chúng sanh thể nhập đạo tri kiến Phật nên xuất hiện ở đời.

“Xá-lợi-phất, đó là chư Phật chỉ vì duy nhất một đại sự nhân duyên mà xuất hiện ở đời.”

Đức Phật bảo ngài Xá-lợi-phất: “Chư Phật Như Lai chỉ giáo hóa Bồ Tát, [82] hết thảy việc làm thường chỉ vì một mục đích duy nhất là dùng tri kiến Phật để chỉ bày, khai ngộ chúng sanh. Xá-lợi-phất! Như Lai chỉ dùng một Phật thừa vì chúng sanh thuyết pháp, không có thừa nào khác như Nhị thừa, Tam thừa.

“Xá-lợi-phất! Pháp của hết thảy chư Phật mười phương cũng đều như vậy. Xá-lợi-phất! Chư Phật trong quá khứ dùng vô lượng vô số phương tiện, đủ mọi nhân duyên, thí dụ, ngôn từ để vì chúng sanh thuyết giảng các pháp; các pháp ấy đều là một Phật thừa. Những chúng sanh được nghe pháp từ chư Phật, rốt ráo đều đạt được Nhất thiết chủng trí.

“Này Xá-lợi-phất! Chư Phật trong tương lai ra đời, lại cũng sẽ dùng vô lượng vô số phương tiện, đủ mọi nhân duyên, thí dụ, ngôn từ để vì chúng sanh thuyết giảng các pháp, các pháp ấy đều là một Phật thừa. Những chúng sanh được nghe pháp từ chư Phật, rốt ráo đều đạt được Nhất thiết chủng trí.

“Xá-lợi-phất! Chư Phật Thế Tôn hiện tại trong vô lượng trăm ngàn muôn ức cõi Phật mang lại rất nhiều lợi ích an lạc cho chúng sanh, chư Phật ấy lại cũng dùng vô lượng vô số phương tiện, đủ mọi nhân duyên, thí dụ, ngôn từ để vì chúng sanh thu-yết giảng các pháp, các pháp ấy đều là một Phật thừa. Những chúng sanh được nghe pháp từ chư Phật, rốt ráo đều đạt được Nhất thiết chủng trí.

“Xá-lợi-phất! [Tất cả] chư Phật ấy cũng chỉ giáo hóa Bồ Tát, muốn dùng tri kiến Phật để chỉ bày chúng sanh, muốn dùng tri kiến Phật để khai ngộ chúng sanh, muốn giúp cho chúng sanh thể nhập tri kiến Phật.

“Xá-lợi-phất! Ta nay cũng như vậy, biết rõ chúng sanh có đủ mọi ham muốn, bám chấp sâu nặng trong tâm, nên tùy theo bản tánh của chúng sanh mà dùng đủ mọi nhân duyên, thí dụ, ngôn từ, sức phương tiện để thuyết giảng pháp. Xá-lợi-phất, như vậy đều là vì để giúp chúng sanh đạt một Phật thừa, được Nhất thiết chủng trí.

“Xá-lợi-phất! Trong khắp thế giới mười phương vốn không có hai thừa, huống gì lại có ba? Xá-lợi-phất, chư Phật thị hiện ở đời xấu ác có năm sự uế trược, đó là kiếp trược, phiền não trược, chúng sanh trược, kiến trược, mạng trược. [83] Như vậy, này Xá-lợi-phất, vào thời kiếp trược hỗn loạn, chúng sanh cấu nhiễm nặng nề, nhiều tham lam, ganh ghét, tạo thành các gốc rễ bất thiện, nên chư Phật dùng sức phương tiện, đối với một Phật thừa mà phân biệt thuyết dạy thành ba thừa.

“Xá-lợi-phất! Nếu các đệ tử của ta có người tự cho mình là A-la-hán, Phật Bích-chi mà không nghe không biết việc chư Phật Như Lai chỉ giáo hóa Bồ Tát, những người ấy không phải đệ tử Phật, cũng không phải A-la-hán, không phải Phật Bích-chi.

“Lại nữa, Xá-lợi-phất, những tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni ấy tự cho mình đã chứng quả A-la-hán, cho đó là thân sau cùng, đã được Niết-bàn rốt ráo, không có chí hướng cầu quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Nên biết rằng hạng người ấy đều là tăng thượng mạn. Vì sao vậy? Nếu có tỳ-kheo nào thật sự chứng quả A-la-hán mà không tin nhận pháp Nhất thừa thì thật vô lý, trừ phi sau Phật diệt độ, hiện tiền không có Phật.

“Vì sao vậy? Sau khi Phật diệt độ thì người có thể thọ trì, tụng đọc, giảng giải những kinh như thế này rất khó gặp được. Nhưng nếu gặp Phật ở cõi khác thì ở trong giáo pháp này liền được thấu triệt rõ ràng.

“Xá-lợi-phất! Các ông nên hết lòng tin hiểu, thọ trì lời Phật dạy. Lời của chư Phật Như Lai không hư dối, thật không có thừa nào khác, chỉ duy nhất một Phật thừa.”

Bấy giờ, Thế Tôn muốn nhắc lại ý nghĩa trên liền nói kệ rằng:

Tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni,

Ôm lòng tăng thượng mạn,

Ưu-bà-tắc ngã mạn,

Ưu-bà-di bất tín.

Bốn chúng thuộc hạng này,

Số nhiều đến năm ngàn.

Không tự thấy lỗi mình,

Giới luật có thiếu sót,

Ôm tiếc lỗi của mình.

Do oai đức của Phật,

Nên những người kém cỏi,

Hạng trí nhỏ rời đi,

Vì phước đức mỏng manh,

Không đủ sức tiếp nhận.

Hội chúng sạch cành lá,

Chỉ còn quả hạt chắc,

Xá-lợi-phất, lắng nghe:

Pháp chư Phật chứng đắc,

Vô số lực, phương tiện,

Vì chúng sanh thuyết dạy.

Chúng sanh tâm khởi niệm,

Cùng đủ mọi việc làm,

Có bao nhiêu tham muốn,

Nghiệp đời trước thiện ác,

Phật đều rõ biết hết.

Dùng nhân duyên, thí dụ,

Sức phương tiện, ngôn từ,

Khiến cho đều hoan hỷ.

Hoặc thuyết giảng Khế kinh,

Hay Già-đà, Bản sự,

Bản sinh, Vị tằng hữu,

Lại thuyết kinh Nhân duyên,

Thí dụ cùng Kỳ-dạ,

Kinh Ưu-ba-đề-xá. [84]

Kẻ ngu, ưa pháp nhỏ,

Bám chấp chốn sinh tử,

Gặp vô số chư Phật,

Vẫn không tu đạo mầu,

Nên bị khổ giày vò,

Vì họ, thuyết Niết-bàn.

Ta bày phương tiện này,

Giúp nhập trí tuệ Phật,

Chưa từng nói các ông,

Rồi sẽ thành Phật đạo.

Sở dĩ chưa từng nói,

Vì thời chưa thích hợp,

Nay chính lúc hợp thời,

Quyết định thuyết Đại thừa.

Chín bộ kinh đã thuyết, [85]

Là tùy thuận chúng sanh,

Nhập Đại thừa là gốc,

Cho nên thuyết kinh này.

Có Phật tử tâm tịnh,

Nhu hòa lại sáng suốt,

Nơi vô số chư Phật,

Đã tu sâu đạo mầu.

Vì những Phật tử ấy,

Thuyết kinh Đại thừa này,

Thụ ký những người ấy,

Tương lai thành quả Phật.

Người tâm thành niệm Phật,

Giữ giới hạnh thanh tịnh,

Vừa nghe được thành Phật,

Hoan hỷ khắp toàn thân.

Phật rõ biết tâm hạnh,

Vì họ thuyết Đại thừa.

Thanh văn hay Bồ Tát,

Nghe ta thuyết kinh này,

Dù chỉ một bài kệ,

Chắc chắn đều thành Phật.

Cõi Phật trong mười phương,

Chỉ có pháp Nhất thừa,

Không hai cũng không ba,

Trừ Phật phương tiện thuyết;

Chỉ là tên giả tạm,

Để dẫn dắt chúng sanh,

Thuyết dạy trí tuệ Phật,

Chư Phật hiện ở đời,

Chỉ có một sự thật,

Ngoài ra đều không thật.

Rốt không dùng Tiểu thừa,

Để cứu độ chúng sanh.

Phật trụ nơi Đại thừa,

Dùng pháp đã chứng đắc,

Định, tuệ, lực trang nghiêm,

Để cứu độ chúng sanh.

Phật chứng đạo Vô thượng,

Pháp bình đẳng Đại thừa,

Nếu dùng pháp Tiểu thừa,

Dù giáo hóa một người,

Ắt tâm Phật tham tiếc,

Việc ấy không thể có.

Nếu người tin theo Phật,

Như Lai không dối gạt,

Không tham tiếc, ganh ghét,

Dứt các pháp xấu ác.

Nên trong khắp mười phương,

Riêng Phật không sợ hãi.

Phật thân tướng trang nghiêm,

Hào quang chiếu thế gian,

Vô số chúng tôn kính,

Vì chúng thuyết tướng thật.

Xá-lợi-phất nên biết,

Phật xưa đã thệ nguyện,

Độ hết thảy chúng sanh,

Được như Phật không khác.

Như thệ nguyện từ trước,

Nay thành tựu viên mãn,

Giáo hóa khắp chúng sanh,

Khiến đều vào Phật đạo.

Nếu ta gặp chúng sanh,

Đều dạy bằng Phật đạo.

Kẻ thác loạn ngu si,

Mê hoặc chẳng nghe lời.

Ta biết chúng sanh ấy,

Chưa từng tu gốc thiện,

Bám chấp nặng năm dục,

Si mê, ái luyến khổ.

Do nhân duyên các dục,

Đọa vào ba đường ác,

Luân hồi trong sáu nẻo,

Chịu đủ các khổ độc.

Thọ thân từ bào thai,

Đời đời thêm nghiệp khổ.

Người thiếu phước, đức mỏng,

Bị các khổ bức bách,

Vào sâu rừng tà kiến,

Chấp có hoặc chấp không,

Cùng các loại kiến chấp,

Đủ số sáu mươi hai. [86]

Chấp sâu pháp hư dối,

Bám chặt không thể buông,

Ngã mạn, tự cao ngạo,

Dua nịnh, không chân thật,

Trong ngàn muôn ức kiếp,

Chẳng nghe danh xưng Phật,

Cũng chẳng nghe chánh pháp,

Người như vậy khó độ.

Cho nên, Xá-lợi-phất!

Ta bày ra phương tiện,

Thuyết dạy đường dứt khổ,

Bảo đó là Niết-bàn.

Tuy nói là Niết-bàn,

Nhưng chưa thật diệt độ,

Các pháp từ xưa nay,

Tướng thường tự tịch diệt.

Phật tử tu hành đạo,

Tương lai sẽ thành Phật.

Ta dùng sức phương tiện,

Mở bày pháp ba thừa.

Hết thảy các đức Phật,

Đều thuyết đạo Nhất thừa.

Nay đại chúng ở đây,

Nên dứt trừ nghi hoặc,

Chư Phật dạy không khác,

Duy Nhất thừa, không hai.

Vô số kiếp quá khứ,

Vô lượng Phật diệt độ,

Trăm ngàn muôn ức vị,

Số không thể tính đếm.

Các đức Phật như vậy,

Dùng nhân duyên, thí dụ,

Vô số sức phương tiện,

Giảng thuyết các tướng pháp.

Những bậc Thế Tôn ấy,

Đều thuyết pháp Nhất thừa,

Giáo hóa vô số chúng,

Khiến được vào Phật đạo.

Lại các bậc Đại thánh,

Rõ biết khắp thế gian,

Chư thiên cùng nhân loại,

Nhiều tham muốn sâu xa,

Nên dùng phương tiện khác,

Giúp hiển bày nghĩa thật.

Nếu có những chúng sanh,

Gặp Phật trong quá khứ,

Hoặc nghe pháp, bố thí,

Hoặc trì giới, nhẫn nhục,

Tinh tấn, thiền, trí tuệ...

Tu các pháp phúc, tuệ.

Phật dạy: Những người ấy,

Đều đã thành Phật đạo.

Chư Phật diệt độ rồi,

Ai khéo điều phục tâm,

Hết thảy những người ấy,

Đều đã thành phật đạo.

Chư Phật diệt độ rồi,

Ai cúng dường xá-lợi,

Dựng muôn ức ngọn tháp,

Bằng vàng, bạc, pha lê,

Xa cừ cùng mã não,

Hồng ngọc, châu lưu ly,

Cao rộng, sạch, trang nghiêm,

Trang hoàng nơi các tháp.

Hoặc dùng đá xây miếu,

Với chiên-đàn, trầm hương,

Gỗ mật, các loại khác,

Hay gạch, ngói, bùn đất...

Hoặc giữa nơi đồng trống,

Đắp gò cao thờ Phật,

Thậm chí trẻ chơi đùa,

Vun cát làm tháp Phật...

Những trường hợp như thế,

Đều đã thành Phật đạo.

Có người vì kính Phật,

Nên vẽ hình, tạc tượng,

Chạm khắc các tướng Phật,

Đều đã thành Phật đạo.

Hoặc dùng bảy món báu,

Hợp kim, đồng đỏ, trắng...

Hoặc chì, thiết... các loại,

Sắt, thép, gỗ, đất bùn...

Hoặc keo, nhựa sơn, vải...

Trang hoàng nên tượng Phật.

Những người làm như vậy,

Đều đã thành Phật đạo.

Hoặc vẽ hình tượng Phật,

Đủ phước tướng trang nghiêm,

Tự làm, sai người làm,

Đều đã thành Phật đạo.

Thậm chí trẻ chơi đùa,

Dùng cỏ, cây, ngọn bút,

Hoặc móng tay, ngón tay...

Vẽ thành hình tượng Phật.

Những đứa trẻ như thế,

Dần dần thêm công đức,

Trọn đủ tâm đại bi,

Đều đã thành Phật đạo.

Chỉ giáo hóa Bồ Tát,

Độ thoát vô số chúng.

Nếu người nơi tháp miếu,

Tượng báu hay hình Phật,

Dùng hoa, hương, phướn, lọng...

Tâm cung kính cúng dường.

Hoặc sai người tấu nhạc,

Đánh trống, thổi tù và...

Tiêu, sáo, đàn không hầu,

Đàn tỳ bà, chập chõa,

Bao âm thanh tuyệt diệu,

Đều dâng lên cúng dường.

Hoặc dùng tâm hoan hỷ,

Xưng tán công đức Phật,

Dù một lời nhỏ nhặt,

Đều đã thành phật đạo.

Nếu người tâm tán loạn,

Dùng chỉ một bông hoa,

Cúng dường tranh vẽ Phật,

Dần gặp vô số Phật.

Nếu có người lễ bái,

Hoặc là chỉ chắp tay,

Thậm chí đưa tay lên,

Hay cúi nhẹ đầu xuống.

Cúng dường hình tượng Phật,

Dần gặp vô số Phật.

Tự thành đạo Vô thượng,

Độ vô số chúng sanh,

Nhập Niết-bàn Vô dư,

Như củi hết lửa tắt.

Nếu người tâm tán loạn,

Vào tháp miếu thờ Phật,

Niệm một tiếng nam-mô,

Đều đã thành Phật đạo.

Nơi chư Phật quá khứ,

Hoặc còn, hoặc diệt độ,

Nếu được nghe pháp này,

Đều đã thành Phật đạo.

Các vị Phật tương lai,

Số nhiều đến vô lượng,

Tất cả chư Phật ấy,

Cũng phương tiện thuyết pháp.

Hết thảy các đức Phật,

Dùng vô số phương tiện,

Độ thoát muôn chúng sanh,

Vào trí Phật vô lậu,

Người đã được nghe pháp,

Không ai không thành Phật.

Chư Phật từng thệ nguyện,

Đạo Phật tu, Phật chứng,

Cũng làm cho chúng sanh,

Đều tu chứng đạo ấy.

Chư Phật đời vị lai,

Tuy thuyết trăm ngàn ức,

Đến vô số pháp môn,

Thật chỉ là Nhất thừa.

Chư Phật đủ phước trí,

Biết pháp không tự tánh,

Hạt giống Phật duyên khởi,

Cho nên thuyết Nhất thừa.

Pháp trụ nơi pháp vị,

Tướng thế gian thường trụ,

Nơi đạo trường rõ biết,

Đạo sư thuyết phương tiện.

Hàng trời người cúng dường,

Mười phương Phật hiện tại,

Số nhiều như cát sông,

Xuất hiện nơi thế gian,

Vì giúp chúng an ổn,

Cũng thuyết pháp như vậy.

Biết tịch diệt hơn hết,

Nhưng dùng sức phương tiện,

Tuy chỉ bày mọi đường,

Thật chỉ vì Phật thừa.

Rõ biết mọi tánh hạnh,

Tâm niệm của chúng sanh,

Và tập khí quá khứ,

Tham muốn, sức tinh tấn,

Cùng căn tánh lợi, độn.

Nên dùng mọi nhân duyên,

Nhiều thí dụ, ngôn từ,

Phương tiện thuyết ứng hợp.

Nay ta cũng như vậy,

Vì giúp chúng an ổn,

Dùng đủ mọi pháp môn,

Để chỉ bày Phật đạo.

Ta dùng sức trí tuệ,

Biết lòng dục chúng sanh,

Phương tiện giảng các pháp,

Khiến cho đều hoan hỷ.

Xá-lợi-phất nên biết!

Ta dùng Phật nhãn quán,

Thấy chúng sanh sáu đường,

Nghèo khốn, không phước trí,

Vào đường hiểm sanh tử,

Khổ triền miên không dứt,

Bám chấp năm món dục,

Như bò thích đuôi bò,

Tham ái tự che lấp,

Mê tối chẳng thấy gì.

Không cầu oai lực Phật,

Dứt trừ các pháp khổ,

Vào sâu rừng tà kiến,

Muốn dùng khổ dứt khổ.

Vì những chúng sanh ấy,

Ta khởi tâm đại bi.

Ban sơ ngồi đạo trường,

Ta nhìn cây, kinh hành,

Trong suốt hai mốt ngày,

Chỉ suy xét một việc:

Trí tuệ ta chứng đắc,

Thật vi diệu hơn hết.

Chúng sanh căn cơ thấp,

Tham đắm, nhiều si mê...

Những hạng chúng sanh này,

Làm sao có thể độ?

Khi ấy những Phạm vương,

Cùng các Thiên Đế thích,

Bốn Thiên vương Hộ thế,

Cùng Đại Tự tại thiên,

Và chúng chư thiên khác,

Quyến thuộc trăm ngàn muôn,

Cùng chắp tay cung kính,

Thỉnh Phật chuyển pháp luân.

Ta liền tự nghĩ rằng:

Nếu chỉ khen Phật thừa,

Chúng sanh chìm đắm khổ,

Không đủ sức tin nhận,

Sẽ chống phá, không tin,

Đọa sâu ba đường ác.

Ta không nên thuyết pháp,

Phải sớm nhập Niết-bàn.

Liền nhớ Phật quá khứ,

Từng dùng sức phương tiện.

Nay ta chứng chánh đạo,

Cũng nên thuyết ba thừa.

Khi ta nghĩ như vậy,

Mười phương Phật hiện ra,

Dùng Phạm âm khuyến khích:

“Lành thay! Phật Thích-ca,

Đấng Đạo sư bậc nhất,

Chứng pháp Vô thượng này,

Theo gương tất cả Phật,

Mà dùng sức phương tiện.

Chư Phật cũng chứng đắc,

Pháp vi diệu bậc nhất,

Nhưng cũng vì chúng sanh,

Phân biệt thuyết ba thừa.

Kém trí ưa pháp nhỏ,

Không tự tin thành Phật,

Nên phải dùng phương tiện,

Phân biệt các quả vị.

Tuy nói có ba thừa,

Chỉ giáo hóa Bồ Tát.”

Xá-lợi-phất nên biết!

Ta nghe tiếng chư Phật,

Thanh âm rất nhiệm mầu,

Liền vui cung kính Phật.

Rồi khởi lên ý nghĩ:

“Ta gặp đời uế trược,

Như lời chư Phật dạy,

Ta cũng thuận làm theo.”

Suy nghĩ như vậy rồi,

Liền đến Ba-la-nại.

Tướng các pháp vắng lặng,

Không thể dùng lời nói,

Phật dùng sức phương tiện,

Giảng cho năm tỳ-kheo.

Gọi là chuyển pháp luân,

Từ đó có Niết-bàn,

Lại có A-la-hán,

Có Pháp bảo, Tăng bảo.

Từ vô số kiếp xưa,

Ngợi khen pháp Niết-bàn,

Dứt hẳn khổ sinh tử,

Ta thường thuyết như vậy.

Xá-lợi-phất nên biết!

Ta thấy những Phật tử,

Quyết chí cầu Phật đạo,

Số nhiều đến vô lượng...

Đều khởi tâm cung kính,

Cùng đi đến chỗ Phật,

Họ từng theo chư Phật,

Được nghe pháp phương tiện.

Ta liền suy nghĩ rằng:

Bậc Như Lai xuất thế,

Chỉ bày trí tuệ Phật,

Nay chính lúc thích hợp.

Xá-lợi-phất nên biết!

Người căn thấp, trí hẹp,

Chấp tướng và kiêu mạn,

Không thể tin pháp này.

Phật hoan hỷ không ngại,

Nay giữa chúng Bồ Tát,

Chính thức bỏ phương tiện,

Chỉ thuyết đạo Vô thượng.

Bồ Tát nghe pháp này,

Đều dứt sạch lưới nghi,

Ngàn hai trăm La-hán,

Cũng đều sẽ thành Phật.

Như nghi thức thuyết pháp,

Của ba đời chư Phật,

Ta nay cũng như vậy,

Thuyết pháp không phân biệt.

Chư Phật hiện ở đời,

Rất lâu xa khó gặp,

Ngay khi đã xuất thế,

Thuyết pháp này càng khó.

Vô lượng vô số kiếp,

Được nghe pháp này khó,

Người đủ sức nghe pháp,

Càng khó tìm gặp hơn.

Giống như hoa ưu-đàm,

Mọi người đều ưa thích,

Giữa hai cõi trời, người,

Hiếm hoi mới xuất hiện.

Người nghe pháp hoan hỷ,

Ngợi khen chỉ một lời,

Cũng bằng như cúng dường,

Ba đời mười phương Phật.

Người như vậy ít gặp,

Hiếm hơn hoa ưu-đàm.

Các ông chớ hoài nghi,

Phật là vua các pháp,

Tuyên cáo cùng đại chúng,

Chỉ dùng đạo Nhất thừa,

Giáo hóa các Bồ Tát,

Không đệ tử Thanh văn.

Xá-lợi-phất, các ông,

Thanh văn cùng Bồ Tát,

Nên biết diệu pháp này,

Bí yếu của chư Phật.

Vì đời ác năm trược,

Chỉ tham đắm các dục,

Những chúng sanh như vậy,

Rốt chẳng cầu Phật đạo.

Những kẻ xấu đời sau,

Nghe Phật dạy Nhất thừa,

Mê hoặc không tin nhận,

Phá pháp, đọa cõi ác.

Người thanh tịnh, tàm quý,

Quyết chí cầu Phật đạo,

Nên vì những người ấy,

Rộng khen đạo Nhất thừa.

Xá-lợi-phất nên biết,

Pháp chư Phật như thế,

Dùng muôn ức phương tiện,

Để thuyết pháp thích hợp,

Nếu không học, không tu,

Thì không thể thấu hiểu.

Các ông đã rõ biết,

Phật là thầy thế gian,

Việc phương tiện quyền biến,

Đừng khởi sinh nghi hoặc.

Phải hết sức vui mừng,

Biết mình sẽ thành Phật.

---

Diệu Pháp Liên Hoa Kinh quyển 2

3. Phẩm Thí dụ

Lúc bấy giờ, ngài Xá-lợi-phất hân hoan phấn chấn, liền đứng dậy chắp tay, chiêm ngưỡng dung nhan Phật rồi bạch rằng:

“Nay con theo đức Thế Tôn mà được nghe pháp âm này, trong lòng hân hoan phấn chấn, được việc chưa từng có. Vì sao vậy? Trước đây con theo Phật, từng được nghe pháp như thế này, thấy các vị Bồ Tát được thụ ký sẽ thành Phật, mà [hàng Thanh văn như] chúng con không được dự phần [vào việc thụ ký ấy] nên hết sức tự cảm thương, nghĩ mình đã mất đi tri kiến vô lượng của Như Lai.

“Bạch Thế Tôn! Con thường một mình ở dưới gốc cây trong chốn núi rừng, mỗi khi tĩnh tọa hoặc đi kinh hành đều tự nghĩ rằng: ‘Chúng con cũng cùng thể nhập tánh pháp, vì sao đức Như Lai lại dùng pháp Tiểu thừa để hóa độ [chúng con]? Đây là lỗi của chúng con, chẳng phải do đức Thế Tôn. Vì sao vậy? Nếu chúng con đợi đến khi [Thế Tôn] thuyết dạy về nhân thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì ắt có thể dùng pháp Đại thừa mà được giải thoát. Nhưng chúng con lại không hiểu được sự thuyết dạy tùy phương tiện thích hợp [của đức Như Lai], nên ban sơ vừa được nghe pháp [Tiểu thừa], có sự tỏ ngộ liền tin nhận ngay, suy xét [theo đó], lấy đó làm chỗ chứng ngộ.’

“Bạch Thế Tôn! Con từ xưa nay, cả ngày lẫn đêm vẫn luôn tự trách mình, đến hôm nay theo Phật được nghe pháp chưa nghe, vốn chưa từng có, nên dứt trừ hết mọi sự nghi hoặc, hối tiếc, thân tâm thư thái an nhiên, được sự an ổn sảng khoái. Ngày hôm nay con mới biết mình đích thực là con Phật, sinh ra từ miệng Phật, hóa sinh từ pháp Phật, cũng được có phần trong pháp Phật.”

Khi ấy, ngài Xá-lợi-phất muốn lặp lại nghĩa trên nên đọc kệ rằng:

Con nghe pháp âm này,

Được việc chưa từng có.

Lòng hết sức mừng vui,

Lưới nghi hoặc dứt sạch.

Xưa nay nhờ ơn Phật,

Dạy chẳng mất Đại thừa.

Tiếng Phật rất ít có,

Người nghe dứt não phiền,

Con đã sạch lậu hoặc,

Được nghe cũng dứt phiền.

Con ở trong hang núi,

Dưới gốc cây giữa rừng,

Ngồi thiền hoặc kinh hành,

Thường suy xét một việc:

“Chúng con thật đáng trách,

Sao tự xem thường mình?

Cũng đều là con Phật,

Cùng vào pháp vô lậu,

Nhưng tương lai không thể,

Giảng thuyết đạo Vô thượng.

Thân sắc vàng, tướng tốt,

Mười lực, các giải thoát. [1]

Chúng con cùng một pháp,

Nhưng chẳng được như Phật.

Không tám mươi vẻ đẹp,

Mười tám pháp chẳng cùng...

Những công đức như vậy,

Chúng con đều không có.

Con kinh hành một mình,

Thấy Phật giữa đại chúng,

Mười phương đều nghe danh,

Rộng làm lợi chúng sanh,

Tự xét không được vậy,

Vì tự xem thường mình.

Nên suốt ngày lẫn đêm,

Con thường xét việc này.

Muốn thưa hỏi Thế Tôn,

Tánh Phật còn hay mất?

Con thường thấy Thế Tôn,

Ngợi khen các Bồ Tát,

Rồi trong suốt ngày đêm,

Suy lường mãi việc ấy.

Hôm nay nghe Phật dạy,

Mới biết Phật tùy nghi.

Bởi pháp khó nghĩ bàn,

Phải phương tiện dẫn dắt.

Con vốn xưa tà kiến,

Làm thầy các Phạm chí.

Thế Tôn biết tâm con,

Thuyết Niết-bàn, trừ tà.

Con dứt sạch tà kiến,

Chứng đắc được pháp không.

Khi ấy con tự nhủ:

“Đã được diệt độ rồi.”

Hôm nay mới tự biết,

Chẳng phải thật diệt độ.

Chỉ khi đã thành Phật,

Đủ ba mươi hai tướng,

Khắp trời, người, dạ-xoa,

Rồng, thần... đều cung kính,

Khi ấy mới đúng là,

Thật Vô dư diệt độ.

Nay Phật giữa đại chúng,

Nói con sẽ thành Phật.

Con nghe tiếng pháp ấy,

Nghi hối đều dứt sạch.

Lúc vừa nghe Phật nói,

Rất kinh sợ, hoài nghi,

Cho là ma giả Phật,

Làm loạn tâm con chăng?

Phật dùng đủ mọi duyên,

Thí dụ, khéo giảng thuyết,

Tâm an ổn, như biển,

Con nghe dứt lòng nghi.

Phật thuyết trong quá khứ,

Vô số Phật diệt độ,

Trụ yên trong phương tiện,

Cũng đều thuyết pháp này.

Phật hiện tại, tương lai,

Nhiều vô số, vô lượng,

Cũng đều dùng phương tiện,

Diễn thuyết pháp như vậy.

Như Thế Tôn hiện nay,

Từ sinh ra, xuất gia,

Thành đạo, chuyển pháp luân,

Cũng dùng phương tiện thuyết.

Phật thuyết đạo chân thật,

Ba-tuần không thể thuyết.

Nên con biết chắc chắn,

Không phải ma giả Phật.

Bởi con sa lưới nghi,

Nên tưởng rằng ma nói.

Nghe tiếng Phật êm dịu,

Sâu xa, rất vi diệu,

Diễn giảng pháp thanh tịnh,

Tâm con rất hoan hỷ.

Dứt nghi nan hối tiếc,

An trụ trong thật trí,

Con nhất định thành Phật,

Được trời người cung kính.

Chuyển Pháp luân Vô thượng,

Giáo hóa các Bồ Tát.

Lúc bấy giờ, đức Phật bảo ngài Xá-lợi-phất: “Hôm nay ta sẽ nói rõ giữa đại chúng này, có chư thiên, loài người, sa-môn, bà-la-môn v.v... Trước đây ta từng ở nơi 20.000 ức vị Phật, vì thuyết dạy đạo Vô thượng nên thường giáo hóa ông. Ông cũng theo ta học đạo trong suốt đêm dài [của vô minh si ám]. Ta dùng phương tiện dẫn dắt ông được sinh vào trong Chánh pháp của ta. Xá-lợi-phất! Xưa ta dạy ông chí nguyện hướng theo Phật đạo, nay ông đã quên hết cả rồi nên [khi chứng quả Tiểu thừa] mới tự cho mình đã được diệt độ. Nay ta muốn làm cho ông nhớ lại chí nguyện và sự tu tập thuở xưa nên mới vì hàng Thanh văn mà thuyết kinh Đại thừa này, tên là Diệu Pháp Liên Hoa, Giáo Bồ Tát Pháp, Phật Sở Hộ Niệm.

“Xá-lợi-phất! Trong tương lai trải qua vô lượng vô biên số kiếp không thể nghĩ bàn, ông sẽ cúng dường biết bao nhiêu là ngàn muôn ức vị Phật, cung kính thọ trì Chánh pháp, thực hành đầy đủ mọi công hạnh của đạo Bồ Tát, rồi sẽ được thành Phật hiệu là Hoa Quang Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn.

“Cõi Phật ấy tên là Ly Cấu, đất đai bằng phẳng ngay ngắn, thanh tịnh trang nghiêm, an ổn vui hòa, phong phú sung túc, chư thiên và loài người đều đông đúc thịnh vượng. Mặt đất nơi ấy toàn bằng lưu ly, đường đi thông suốt về tám hướng, dùng dây bằng vàng ròng giăng theo ven đường, hai bên đường đều có những cây bằng bảy báu đứng thành hàng, trên cây lúc nào cũng có hoa trái.

“Đức Như Lai Hoa Quang cũng dùng ba thừa để giáo hóa chúng sanh. Xá-lợi-phất! Khi đức Phật ấy ra đời, tuy không phải đời xấu ác nhưng do phát nguyện từ trước nên vẫn thuyết giảng giáo pháp ba thừa.

“Kiếp ấy tên là Đại bảo Trang Nghiêm. Vì sao tên là Đại Bảo Trang Nghiêm? Vì cõi Phật ấy xem các vị Bồ Tát là đại bảo, nghĩa là báu vật lớn lao.

Các vị Bồ Tát ấy số nhiều vô lượng vô biên, không thể nghĩ bàn, vượt ngoài giới hạn của mọi sự tính toán hay thí dụ so sánh, chỉ trí tuệ Phật mới rõ biết được số lượng ấy. Khi [các Bồ Tát] muốn bước đi liền [tự nhiên] có hoa báu nâng dưới bàn chân. Các vị Bồ Tát ấy không phải mới phát tâm, mà đều đã từ lâu vun trồng cội gốc công đức, tu hạnh thanh tịnh ở nơi vô lượng trăm ngàn vạn ức đức Phật, thường được chư Phật ngợi khen tán thán, thường tu tập trí tuệ Phật, có đầy đủ các pháp thần thông lớn lao, khéo rõ biết cửa vào của hết thảy các pháp, chân thật không hư dối, tâm thường nhớ nghĩ chí nguyện kiên cố.

Các vị Bồ Tát như vậy đông đảo đầy khắp cõi Phật ấy.

“Xá-lợi-phất! Thọ lượng của đức Phật Hoa Quang là mười hai tiểu kiếp, không tính thời gian còn là Vương tử, chưa thành Phật. Người dân trong cõi Phật ấy có tuổi thọ tám tiểu kiếp.

“Sau khi trải qua mười hai tiểu kiếp, đức Như Lai Hoa Quang thụ ký cho Bồ Tát Kiên Mãn sẽ thành tựu quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Ngài bảo các vị tỳ-kheo: “Bồ Tát Kiên Mãn đây sẽ thành Phật tiếp theo [sau ta], hiệu là Hoa Túc An Hành Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri ... Cõi Phật ấy cũng giống như cõi này.”

“Xá-lợi-phất! Sau khi đức Phật Hoa Quang diệt độ rồi, Chánh pháp tiếp tục lưu truyền được ba mươi hai tiểu kiếp, thời Tượng pháp cũng lưu truyền ba mươi hai tiểu kiếp.”

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn muốn nhắc lại những ý nghĩa trên nên nói kệ rằng:

Xá-lợi-phất tương lai,

Thành Đại trí Thế Tôn,

Hiệu là Phật Hoa Quang,

Sẽ độ vô số chúng.

Cúng dường vô số Phật,

Trọn đủ hạnh Bồ Tát,

Các công đức, thập lực...

Rồi chứng quả Vô thượng.

Trải qua vô số kiếp,

Thời Đại Bảo Trang Nghiêm.

Cõi nước tên Ly Cấu,

Thanh tịnh không uế nhiễm,

Mặt đất bằng lưu ly,

Dây vàng ròng ven đường,

Cây bảy báu đủ màu,

Hoa trái thường sum suê.

Các Bồ Tát cõi ấy,

Giữ chí nguyện kiên cố,

Và trọn đủ tất cả,

Thần thông, ba-la-mật,

Ở nơi vô số Phật,

Khéo học đạo Bồ Tát.

Phật Hoa Quang giáo hóa,

Những Bồ Tát như thế.

Phật từng là vương tử,

Bỏ ngai vàng, vinh hoa,

Trong lần tái sinh cuối,

Xuất gia, thành Phật đạo.

Phật Hoa Quang ở đời,

Được mười hai tiểu kiếp.

Nhân dân cõi Phật ấy,

Tuổi thọ tám tiểu kiếp.

Sau khi Phật diệt độ,

Chánh pháp vẫn lưu truyền,

Ba mươi hai tiểu kiếp,

Rộng độ khắp chúng sanh.

Chánh pháp diệt, Tượng pháp

Truyền ba hai tiểu kiếp.

Xá-lợi Phật rộng truyền,

Trời, người đều cúng dường.

Nói về Phật Hoa Quang,

Sự việc là như vậy.

Bậc Thánh Lưỡng Túc Tôn,

Cao tột chẳng ai bằng.

Chính ông thành Phật ấy,

Nên hãy tự mừng vui.

Khi ấy, bốn chúng tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, chư thiên, loài rồng, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già..., đại chúng như vậy thấy ngài Xá-lợi-phất ở trước đức Phật được thụ ký quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì trong tâm đều hết sức vui mừng, vô cùng phấn chấn, mỗi người đều cởi những tấm áo quý đang khoác trên người ra dâng lên cúng dường Phật. Các vị Thích-đề-hoàn-nhân, Phạm Thiên vương v.v... cùng vô số chư thiên cũng đều dùng những tấm y tuyệt đẹp của cõi trời, những hoa mạn-đà-la, hoa đại mạn-đà-la ở cõi trời... tung rải lên cúng dường Phật.

Những tấm y báu cõi trời khi rơi xuống liền dừng lại trên không trung rồi tự xoay chuyển giữa trời, có trăm ngàn loại âm nhạc của chư thiên đồng thời trỗi lên ở giữa không trung, từ trên mưa xuống các loại hoa trời, rồi [chư thiên] cất tiếng nói rằng: “Đức Phật xưa đã chuyển bánh xe pháp lần đầu tiên ở thành Ba-la-nại, hôm nay lại chuyển bánh xe pháp Vô thượng lớn lao bậc nhất.”

Lúc bấy giờ chư thiên muốn lặp lại ý nghĩa trên nên nói kệ rằng:

Xưa ở Ba-la-nại,

Phật từng chuyển pháp luân,

Dạy tứ đế, các pháp,

Sinh, diệt của năm uẩn. [2]

Nay lại chuyển pháp luân,

Vô thượng, tối nhiệm mầu.

Pháp này thật sâu xa,

Ít người có thể tin.

Chúng con từ xưa nay,

Nghe Phật dạy rất nhiều,

Chưa từng nghe pháp này,

Rất nhiệm mầu, sâu xa.

Nay Phật thuyết pháp này,

Chúng con đều vui theo.

Đại trí Xá-lợi-phất,

Nay được Phật thụ ký.

Chúng con cũng như vậy,

Nhất định sẽ thành Phật.

So với khắp thế gian,

Là tôn quý, cao nhất.

Phật đạo không nghĩ bàn,

Phương tiện tùy nghi nói.

Con được bao phước nghiệp,

Dù đời này, đời trước,

Cùng công đức gặp Phật,

Đều hồi hướng Phật đạo.

Lúc ấy ngài Xá-lợi-phất bạch Phật: “Thế Tôn! Nay con không còn nghi ngờ hối tiếc, vì tự thân mình ở trước Phật đã được Phật thụ ký sẽ thành tựu quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Trong số một ngàn hai trăm vị đạt được tâm tự tại [3] ở đây, thuở xưa khi còn ở bậc hữu học, Phật thường dạy các vị rằng: ‘Giáo pháp của ta có thể giúp xa lìa sinh, già, bệnh, chết, rốt ráo được Niết-bàn.’ Các vị hữu học và vô học ở đây, mỗi vị cũng đều đã lìa xa kiến chấp [4] về tự ngã cũng như những kiến chấp về có hoặc không..., đều tự cho rằng mình đã đạt được Niết-bàn, nay ở trước đức Thế Tôn được nghe những điều chưa từng nghe, thảy đều rơi vào sự nghi hoặc.

“Lành thay, bạch Thế Tôn! Nguyện Phật vì bốn chúng thuyết dạy rõ nhân duyên, khiến cho được xa lìa sự nghi ngờ hối tiếc.”

Lúc bấy giờ đức Phật bảo ngài Xá-lợi-phất: “Chẳng phải trước đây ta đã từng nói rằng ‘Các đức Phật Thế Tôn dùng đủ mọi nhân duyên, thí dụ, ngôn từ, phương tiện để thuyết pháp, đều là vì [dẫn dắt đến] quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác’ đó sao? Cho nên, hết thảy những điều thuyết dạy đó đều là vì giáo hóa hàng Bồ Tát.

“Nhưng này Xá-lợi-phất, nay ta lại sẽ dùng thí dụ để làm sáng tỏ ý nghĩa ấy. Những ai có trí tuệ, nhờ thí dụ này sẽ hiểu được.

“Xá-lợi-phất! Ví như ở một đất nước, đô thành hay thôn xóm kia, có vị đại trưởng giả tuổi cao sức yếu, giàu có vô cùng, sở hữu rất nhiều ruộng vườn, nhà cửa, tôi tớ. Căn nhà của ông hết sức rộng lớn nhưng chỉ có duy nhất một cửa ra vào. Trong nhà có rất nhiều người, một trăm, hai trăm, thậm chí đến năm trăm người cùng ở bên trong. Căn nhà ấy, cả nhà chính và các tầng gác đều mục nát, tường vách nghiêng đổ, cột trụ hư mục, xà nhà với mái nhà đều sắp sụp đổ, rồi bỗng nhiên bốn phía đều có lửa dữ cùng lúc bốc lên, thiêu đốt cả căn nhà. Ông trưởng giả ấy có những người con, hoặc mười người, hoặc hai mươi người, thậm chí đến ba mươi người, đều đang ở trong căn nhà ấy.

“Ông trưởng giả thấy lửa dữ bốc lên quanh bốn phía nhà thì hết sức kinh hãi, liền nghĩ rằng: ‘Nay ta tuy có thể xuyên qua cửa đang cháy mà thoát ra ngoài an ổn, nhưng các con ta đều còn đang ở trong nhà, vui chơi đùa giỡn không hay không biết gì, không chút sợ hãi, lửa cháy thiêu thân, đau đớn kinh người, tâm không chán sợ, không có ý muốn thoát ra.’

“Xá-lợi-phất! Ông trưởng giả ấy lại nghĩ rằng: ‘Thân ta mạnh, tay ta khỏe, có thể dùng vạt áo rộng [bọc lấy các con], hoặc đặt chúng trên ghế, trên bàn lớn rồi đưa ra khỏi nhà.’ Nhưng rồi ông lại nghĩ: ‘Nhà này chỉ có một cửa, lại nhỏ hẹp, các con ta thơ dại chưa đủ nhận thức, đắm vui trong chỗ chơi đùa, [nếu làm vậy] e rằng chúng vùng vẫy rơi xuống, ắt phải bị lửa thiêu.’

“Nay ta nên vì chúng nói ra những việc đáng kinh sợ, rằng căn nhà này đã bốc cháy, phải nhanh chóng thoát ra, đừng để cho bị lửa thiêu đốt.’ Nghĩ như vậy rồi liền y theo đó bảo với các con: ‘Hãy mau mau ra khỏi nhà này.’

“Tuy người cha ấy thương xót các con, dùng lời khéo léo dẫn dụ, nhưng các con ông đang vui chơi đùa giỡn, không chịu nghe theo, không chút kinh sợ, không hề có ý muốn thoát ra khỏi nhà, lại cũng không biết lửa là gì, nhà cửa là gì, sao gọi là cháy mất... chỉ cùng nhau vui đùa, chạy tới chạy lui chỗ này chỗ kia rồi giương mắt nhìn cha mà thôi.

“Bấy giờ, ông trưởng giả liền suy nghĩ rằng: ‘Căn nhà này đang bị lửa dữ thiêu đốt, nếu ta và các con không kịp thời thoát ra bên ngoài ắt sẽ bị thiêu cháy. Nay ta phải dùng phương tiện để làm sao cho các con ta thoát khỏi tai nạn này.’

“Người cha biết ý các con trước đây đều ưa thích những món đồ chơi quý lạ, ắt sẽ rất muốn có, liền bảo chúng rằng: ‘Có những món đồ chơi các con rất thích, hiếm có khó được, nay nếu các con không mau nhận lấy thì sau này sẽ phải hối tiếc. Đó là đủ các loại xe dê, xe nai, xe trâu, hiện nay đều đang ở bên ngoài cửa, có thể dùng để vui chơi. Các con từ trong căn nhà đang cháy này nên nhanh chóng chạy ra bên ngoài, cứ tùy theo ý thích mà lấy, cha sẽ cho các con tất cả.’

“Bấy giờ, những đứa con nghe cha nói đến các món đồ chơi quý báu hợp với ý thích, tất cả đều hết sức nhanh chóng, thúc đẩy chen lấn, tranh nhau cùng chạy nhanh ra khỏi căn nhà đang cháy.”

“Khi ấy, ông trưởng giả thấy các con đã bình an ra khỏi, đều đến ngồi nơi khoảng đất trống giữa ngã tư đường, không còn gì chướng ngại nên hết sức yên lòng, vui mừng phấn chấn. Lúc ấy, những người con đều thưa với cha rằng: ‘Trước đây cha đã hứa cho đầy đủ các món đồ chơi đẹp, như xe dê, xe nai, xe trâu, giờ xin cha hãy cho.’

“Xá-lợi-phất! Khi ấy ông trưởng giả liền cho tất cả các con mỗi người một cỗ xe lớn như nhau. Xe ấy cao rộng, trang hoàng bằng các vật báu, có lan can bao quanh, bốn phía treo chuông nhỏ, bên trên lại có lọng che, cũng dùng các loại châu báu quý lạ để trang trí, có dây báu quấn quanh lọng với những vòng hoa rủ xuống, [trên xe] trải nhiều lớp thảm, có gối đỏ [tựa đầu]. Xe được kéo bằng trâu trắng lớn có màu da thuần khiết, hình thể mập mạp xinh đẹp, gân cốt bắp thịt nở nang mạnh mẽ, bước đi ngay ngắn, lướt nhanh như gió, lại có nhiều người đi theo hầu hạ, bảo vệ.

“Vì sao vậy? Ông trưởng giả này giàu có vô cùng, có đủ mọi kho tàng mà tất cả đều chất chứa đầy tràn, nên ông nghĩ rằng: ‘Ta có tiền bạc của cải nhiều không kể xiết, không nên cho con ta những cỗ xe xấu nhỏ. Nay những đứa trẻ này đều là con ta, được ta thương yêu như nhau không hề thiên lệch. Ta có vô số những cỗ xe lớn bằng bảy báu như thế này, nên dùng tâm bình đẳng mà chia đều cho tất cả các con, không nên khác biệt nhau. Vì sao vậy? Nếu ta đem những cỗ xe như thế này mà tặng cho dân khắp trong một nước còn không thiếu, huống hồ chỉ cho các con ta?’ Khi ấy những người con của ông trưởng giả, mỗi người đều đi trên một cỗ xe lớn, được việc chưa từng có, hơn cả sự mong đợi.

“Xá-lợi-phất! Ý ông nghĩ sao, vị trưởng giả ấy cho các con những cỗ xe lớn quý báu như nhau [thay vì xe dê, xe nai, xe trâu như đã hứa], vậy có mắc lỗi nói dối hay chăng?”

Ngài Xá-lợi-phất thưa: “Không phải vậy, bạch Thế Tôn! Vị trưởng giả ấy [trước đây nói như vậy] chỉ là vì muốn cho các con thoát khỏi nạn lửa cháy, bảo toàn mạng sống, chẳng phải là nói dối. Vì sao vậy?

Nếu giữ được mạng sống thì xem như đã được món đồ chơi quý báu rồi, huống chi lại là dùng phương tiện trong nhà đang cháy kia để cứu thoát [các con] ra. Bạch Thế Tôn! Ví như vị trưởng giả kia thậm chí không cho [các con] chiếc xe nào dù là nhỏ nhất thì cũng không phải là nói dối.

Vì sao vậy? Vì trước tiên ông trưởng giả ấy đã có ý nghĩ rằng: ‘Ta dùng phương tiện này để khiến cho các con được thoát ra [khỏi căn nhà đang cháy].’ Vì lý do ấy, ông không mắc lỗi nói dối. Huống chi ông trưởng giả tự biết mình giàu có vô cùng, muốn làm lợi ích cho các con nên bình đẳng ban cho [mỗi người một] cỗ xe lớn.”

Đức Phật bảo ngài Xá-lợi-phất: “Lành thay, lành thay! Đúng như ông nói. Này Xá-lợi-phất!

Đức Như Lai cũng giống như vậy, là đấng cha lành của hết thảy [chúng sanh trong] thế gian, đối với tất cả những sự sợ hãi, phiền não, suy yếu, tai họa, lo âu hay sự tối tăm che lấp của vô minh, ngài đều đã vĩnh viễn dứt sạch hoàn toàn, thành tựu vô số những sự thấy biết cùng [các phẩm tính như] lực, vô sở úy, có sức thần thông lớn lao cùng sức trí tuệ, đầy đủ các phương tiện trí tuệ ba-la-mật, đại từ đại bi, thường làm những việc hiền thiện lợi ích cho hết thảy chúng sanh, không hề mỏi mệt.

Đức Như Lai sinh vào trong ba cõi này như căn nhà mục nát đang bốc cháy, vì cứu độ chúng sanh thoát khỏi ngọn lửa dữ của sinh, già, bệnh, chết, buồn đau, khổ não, ngu si, tối tăm hôn ám và ba món độc: tham lam, sân hận, si mê, nên ngài giáo hóa khiến cho đạt được quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

“Đức Như Lai nhìn thấy các chúng sanh bị thiêu đốt bởi sinh, già, bệnh, chết, buồn đau, khổ não, lại cũng vì năm món dục và tiền tài, lợi lộc mà phải chịu đủ mọi thứ khổ đau, lại vì sự tham lam bám chấp tìm cầu mà hiện tại phải chịu mọi sự khổ não, đời sau còn phải khổ vì đọa vào các cảnh giới địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Nếu như được sinh lên cõi trời hoặc cõi người, lại cũng phải chịu những nỗi khổ như nghèo cùng khốn khó, phải xa lìa người mình thương yêu, phải gặp gỡ người mình oán ghét... đủ mọi nỗi khổ như vậy.

Chúng sinh chìm đắm trong những nỗi khổ ấy, vui mừng đùa giỡn, không hay không biết, chẳng khiếp chẳng sợ, cũng không sinh tâm chán bỏ, không cầu được giải thoát, ở trong ba cõi như căn nhà đang bốc cháy mà mãi chạy loanh quanh đó đây, dù phải gặp những nỗi khổ lớn lao nhưng không cho đó là đáng sợ.

“Này Xá-lợi-phất! Phật nhìn thấy như vậy, liền suy nghĩ rằng: ‘Ta là đấng cha lành của chúng sanh, phải giúp trừ cho hết khổ nạn, mang đến cho chúng sanh niềm vui từ trí tuệ Phật vô lượng vô biên, khiến họ được vui thích.’

“Xá-lợi-phất! Rồi Như Lai lại nghĩ: ‘Nếu ta chỉ dùng sức thần thông và sức trí tuệ, không dùng phương tiện, vì chúng sanh mà ngợi khen xưng tán tri kiến, lực, vô sở úy… của Như Lai, thì chúng sanh không thể nào nhờ đó để được cứu độ. Vì sao vậy? Vì chúng sanh chưa thoát khỏi sinh, già, bệnh, chết, buồn lo, khổ não... đang bị thiêu đốt trong ba cõi như căn nhà đang cháy, dựa vào đâu để có thể hiểu được trí tuệ Phật?’

“Xá-lợi-phất! Cũng như ông trưởng giả kia tuy có sức mạnh nhưng không dùng đến, chỉ ân cần dùng phương tiện dẫn dụ để cứu thoát các con ra khỏi nạn nhà cháy, sau đó mới cho mỗi người một cỗ xe lớn quý báu. Đức Như Lai cũng vậy, tuy có lực, vô sở úy... nhưng không dùng đến, chỉ dùng phương tiện trí tuệ, trong căn nhà lửa ba cõi này mà cứu vớt chúng sanh, vì chúng sanh thuyết dạy ba thừa: Thanh văn thừa, Duyên giác thừa, Phật thừa mà nói rằng: “Các người chớ nên vui thú trong ba cõi như căn nhà đang cháy, chớ tham muốn những hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, sự xúc chạm thô trược thấp hèn.

Nếu tham muốn bám chấp thì sinh ra ái luyến, ắt sẽ bị thiêu cháy. Các người phải nhanh chóng thoát ra khỏi ba cõi, sẽ đạt được ba thừa: Thanh văn thừa, Duyên giác thừa, Phật thừa. Ta nay vì các người mà bảo đảm cho việc này, nhất định không hề hư dối.

Các người hãy chuyên cần tinh tấn tu tập.’

“Đức Như Lai dùng phương tiện dẫn dụ khuyên bảo khuyến khích chúng sanh nên lại nói rằng: ‘Các người nên biết, giáo pháp ba thừa này được các bậc thánh ngợi khen xưng tán, tự do tự tại không trói buộc, không có chỗ nương dựa mong cầu. Nương theo [giáo pháp] ba thừa này, dùng các pháp vô lậu như căn, lực, giác, đạo, thiền định, giải thoát, tam-muội v.v... để tự vui thích, liền được vô lượng an ổn, khoái lạc.’

“Xá-lợi-phất! Nếu có những chúng sanh nào trong tâm có tánh trí, theo Phật Thế Tôn nghe pháp rồi tin nhận, lưu tâm chuyên cần tinh tấn, muốn nhanh chóng thoát ra ngoài ba cõi, tự mình cầu đạt Niết-bàn, đó gọi là hàng Thanh văn thừa, cũng giống như những đứa con [của ông trưởng giả] vì muốn được xe dê mà [nhanh chóng] ra khỏi căn nhà đang cháy.

“Nếu có những chúng sanh nào theo Phật Thế Tôn nghe pháp rồi tin nhận, lưu tâm chuyên cần tinh tấn, cầu đạt trí tuệ tự nhiên, vui thích sống cô độc tịch tịnh, rõ biết sâu xa nhân duyên của các pháp, đó gọi là hàng Duyên giác thừa, cũng giống như những đứa con [của ông trưởng giả] vì muốn được xe nai mà [nhanh chóng] ra khỏi căn nhà đang cháy.

“Nếu có những chúng sanh nào theo Phật Thế Tôn nghe pháp rồi tin nhận, chuyên cần tinh tấn tu tập, cầu trí tuệ biết tất cả, trí tuệ tự nhiên, trí tuệ không do thầy dạy, cùng những phẩm tính của Như Lai như tri kiến, lực, vô sở úy, thường thương xót nhớ nghĩ, làm an vui vô lượng chúng sanh, làm lợi ích khắp hàng trời người, độ thoát hết thảy [chúng sanh], đó gọi là hàng Đại thừa. Bồ Tát cầu Đại thừa như vậy nên gọi là Đại [Bồ Tát], cũng giống như những đứa con [của ông trưởng giả] vì muốn được xe trâu mà [nhanh chóng] ra khỏi căn nhà đang cháy.

“Xá-lợi-phất! Cũng như ông trưởng giả kia nhìn thấy các con đã an toàn ra khỏi căn nhà đang cháy, đến được chỗ không còn lo sợ, tự nghĩ mình giàu có tài vật nhiều không kể xiết, liền cho tất cả các con cùng một loại xe lớn [quý báu] như nhau. Đức Như Lai cũng vậy, là đấng cha lành của hết thảy chúng sanh, ngài nhìn thấy vô số muôn ức chúng sanh nhờ các pháp môn Phật dạy mà thoát ra khỏi khổ não trong ba cõi, vượt qua đường hiểm nguy đáng sợ, đạt được niềm vui Niết-bàn.

“Khi ấy đức Như Lai liền nghĩ rằng: ‘Ta có kho tàng Chánh pháp của chư Phật gồm vô lượng vô biên trí tuệ, lực, vô sở úy… Những chúng sanh này đều là con ta, sẽ bình đẳng trao cho Đại thừa, không để chỉ riêng một người được diệt độ, đối với tất cả đều dùng sự diệt độ của Như Lai mà khiến cho được diệt độ.’

“[Cho nên, với] tất cả những chúng sanh đã thoát ra ngoài ba cõi, [đức Như Lai] đều trao cho đầy đủ sự an vui từ thiền định, giải thoát... của chư Phật, tất cả đều cùng một tướng thể, một chủng loại được các bậc thánh ngợi khen xưng tán, thường làm khởi sinh niềm vui nhiệm mầu thanh tịnh bậc nhất.

“Này Xá-lợi-phất! Như ông trưởng giả kia, ban đầu dùng ba loại xe để dẫn dụ các con [ra khỏi căn nhà đang cháy], sau đó lại chỉ cho cùng một loại xe lớn quý báu trang nghiêm, thoải mái bậc nhất, nhưng ông trưởng giả ấy không hề có lỗi nói dối. Đức Như Lai cũng vậy, không hề hư dối, tuy là ban đầu thuyết dạy ba thừa để dẫn dắt chúng sanh nhưng sau lại chỉ dùng Đại thừa để độ thoát hết thảy. Vì sao vậy? Vì đức Như Lai có kho tàng chứa vô lượng các pháp trí tuệ, lực, vô sở úy… có thể ban pháp Đại thừa cho hết thảy chúng sanh, [nhưng có những chúng sanh không nhận được] chỉ vì không phải tất cả chúng sanh đều có khả năng thọ nhận.

“Xá-lợi-phất! Do nhân duyên như vậy, nên biết rằng chư Phật dùng sức phương tiện mà từ một Phật thừa phân biệt thuyết dạy thành ba thừa.”

[Khi ấy,] đức Phật muốn lặp lại những ý nghĩa trên nên đọc kệ rằng:

Ví như ông trưởng giả,

Có một căn nhà lớn.

Nhà cũ kỹ đã lâu,

Lại thêm rất xấu tệ.

Sảnh đường cao sắp đổ,

Cột trụ mục rệu rã,

Xà, rường đều nghiêng lệch,

Nền móng lún sụp cả.

Tường vách nứt nghiêng đổ,

Vôi vữa tróc rơi xuống.

Mái lợp rớt ngổn ngang.

Các xà nhà lệch khớp,

Đầy chướng ngại quanh co,

Ô uế ngập bốn bề.

Hiện có năm trăm người,

Đang sống trong nhà ấy.

Cú, [5] diều hâu, kên kên,

Quạ, khách, cưu, [6] bồ câu…

Rắn hổ mang, bọ cạp,

Rết độc, sâu do diên, [7]

Tắc kè, trùng nhiều chân... [8]

Vượn, chồn cáo, chuột nhắt,

Với các loại trùng độc,

Cùng dọc ngang ruổi chạy.

Nước tiểu, phân hôi thối,

Nhơ nhớp chảy lan tràn.

Giòi, bọ hung lúc nhúc,

Trên những ô uế đó.

Lũ cáo, sói, chồn hoang,

Liếm láp rồi giẫm đạp,

Cắn xé những xác chết,

Làm vung vãi xương thịt...

Do vậy bầy chó hoang,

Cùng xúm lại tranh nhau.

Chúng đói, gầy, sợ sệt,

Khắp chốn tìm thức ăn,

Cấu xé giành giật nhau,

Gầm rú, sủa, tru tréo.

Căn nhà ấy biến dạng,

Đáng sợ đến như thế.

Nên khắp nơi đều có,

Lũ yêu ma quỷ quái,

Quỷ dạ-xoa ác độc,

Ăn nuốt xương thịt người.

Đủ các loài trùng độc,

Lũ chim, thú hung ác,

Ấp trứng hoặc sinh con,

Tự che giấu, bảo vệ,

Bầy dạ-xoa đua nhau,

Giành giật để ăn nuốt.

Ăn đã no nê rồi,

Tâm hung ác càng mạnh,

Chúng đánh nhau gào thét,

Nghe đáng sợ vô cùng.

Loài quỷ cưu-bàn-trà, [9]

Ngồi xổm trên gò đất,

Hoặc có lúc lơ lửng,

Cách đất một, hai thước,

Bay qua rồi bay lại,

Tha hồ đùa bỡn nhau.

Nắm chặt hai chân chó,

Đánh cho kêu thất thanh,

Rồi đá bồi vào cổ,

Chó sợ, quỷ tự vui.

Lại có nhóm quỷ khác,

Thân thể rất cao lớn,

Đen đúa, gầy, trần truồng,

Thường ở trong nhà này,

Phát tiếng lớn, hung hãn,

Kêu la mong được ăn.

Lại có những con quỷ,

Cổ nhỏ như kim khâu.

Còn có những con quỷ,

Đầu giống như đầu trâu,

Hoặc ăn nuốt thịt người,

Hoặc ăn cả thịt chó.

Đầu tóc như cỏ rối,

Hung hiểm, ác, nguy hại,

Vì đói khát bức bách,

Kêu thét chạy khắp nơi.

Bọn dạ-xoa, ngạ quỷ,

Loài chim, thú hung dữ,

Khắp bốn phía, đói khát,

Rình rập ngoài song cửa.

Những hiểm nạn như thế,

Thật đáng sợ vô cùng.

Nhà cũ, mục nát ấy,

Thuộc sở hữu một người.

Người vừa mới ra ngoài,

Chỉ trong một chốc lát,

Thì từ phía sau nhà,

Bỗng nhiên lửa cháy lên.

Rồi đồng loạt bốn phía,

Lửa bốc cao hừng hực.

Rồi xà ngang cột dọc,

Nổ lớn, xé tung ra,

Gãy đổ cùng rơi rụng,

Tường vách nghiêng đổ xuống.

Các quỷ thần trong nhà,

Đều lớn tiếng kêu la,

Lũ kên kên, diều hâu...

Với quỷ cưu-bàn-trà...

Đều kinh hoàng, hốt hoảng,

Không thể tự thoát ra.

Những thú dữ, trùng độc...

Chui trốn vào hang hốc...

Lũ quỷ tỳ-xá-xà, [10]

Cũng đang trong nhà ấy,

Vì phúc đức mỏng manh,

Bị sức lửa bức bách,

Quay sang giết hại nhau,

Rồi uống máu, ăn thịt.

Lúc ấy loài chồn hoang,

Hết thảy đều chết trước.

Những thú lớn hung dữ,

Liền tranh nhau ăn thịt,

Mùi hôi thối, khét nghẹt...

Bao phủ khắp bốn bề.

Ông trưởng giả chủ nhà,

Còn đang đứng ngoài cửa,

Nghe có người nói rằng:

“Những đứa con của ông,

Lúc trước cùng đi chơi,

Vào cả trong nhà này.

Chúng nhỏ dại, không biết,

Ham chơi đùa trong ấy.”

Ông trưởng giả nghe rồi,

Hốt hoảng vào nhà cháy.

Tìm cách cứu các con,

Khỏi nạn lửa thiêu chết.

Nói cho các con biết,

Những nguy hiểm, tai nạn,

Nào quỷ dữ, trùng độc...

Ngọn lửa đang lan khắp...

Bao nỗi khổ tuần tự,

Tiếp nối nhau không dứt.

Rắn hổ mang, bọ cạp...

Cùng lũ quỷ dạ-xoa,

Với quỷ cưu-bàn-trà,

Chồn, cáo và chó hoang,

Kên kên, cú, diều hâu,

Cùng những loài rết độc,

Chúng đang cơn đói khát,

Thật rất đáng kinh sợ.

Nơi đây đầy khổ nạn,

Lại thêm lửa bốc cao.

Các con chưa hiểu biết,

Nên tuy nghe cha dạy,

Vẫn tiếp tục ham chơi,

Đùa giỡn mãi không thôi.

Bấy giờ ông trưởng giả,

Liền tự suy nghĩ rằng:

“Các con ta thế này,

Khiến ta thêm buồn khổ.

Nay trong căn nhà này,

Chẳng có gì đáng vui.

Vậy mà các con ta,

Mãi đắm say vui đùa,

Không nghe lời ta dạy,

Nên sắp bị lửa thiêu.”

Ông liền suy nghĩ kỹ,

Bày ra các phương tiện,

Rồi bảo các con rằng:

“Cha có đủ mọi loại,

Đồ chơi rất quý báu,

Như xe đẹp và quý,

Gồm xe dê, xe nai,

Và cả xe trâu lớn.

Nay sẵn có ngoài cửa,

Các con hãy mau ra.

Cha đã vì các con,

Làm ra những xe này.

Các con tùy sở thích,

Cứ tha hồ vui chơi.”

Các con nghe cha nói,

Về những loại xe ấy.

Liền tức thời đua nhau,

Nhanh chóng chạy ra ngoài.

Đến được chỗ đất trống,

Lìa xa mọi nạn khổ.

Trưởng giả thấy các con,

Ra khỏi căn nhà cháy,

An ổn ngã tư đường.

Liền ngồi tòa sư tử,

Tự nói lời vui mừng:

“Ta nay mừng lắm thay!

Những đứa con của ta,

Sinh dưỡng rất khó khăn,

Vì tuổi nhỏ dại khờ,

Nên vào nhà nguy hiểm,

Có rất nhiều trùng độc,

Cùng yêu quái đáng sợ.

Lửa dữ cháy phừng phừng,

Bốn bề cùng nổi dậy.

Nhưng những đứa con này,

Vẫn mê mải ham chơi.

Ta đã cứu chúng ra,

Thoát khỏi được tai nạn.

Nên bảo cùng mọi người,

Ta nay rất mừng vui.”

Lúc bấy giờ các con,

Thấy cha đã yên ngồi,

Liền kéo nhau đến đó.

Thưa cùng cha thế này:

“Xin ban cho chúng con,

Ba loại xe quý đẹp,

Như trước đây đã hứa:

‘Nếu các con ra ngoài,

Cha sẽ cho ba xe,

Tùy ý các con muốn.’

Nay đã đúng lúc rồi,

Xin cha thương ban cho.”

Ông trưởng giả rất giàu,

Có nhiều kho tàng lớn,

Vàng bạc cùng lưu ly,

Xa cừ và mã não.

Nên dùng các vật báu,

Làm thành cỗ xe lớn.

Trang hoàng thật xinh đẹp.

Quanh xe có lan can,

Bốn phía treo chuông nhỏ.

Dây bằng vàng quấn quanh,

Kết ngọc trai thành lưới,

Giăng phủ bên trên xe.

Dùng hoa vàng, chuỗi ngọc,

Buông rủ khắp bốn bên.

Dùng tơ lụa đủ màu,

Bao bọc vòng quanh xe,

Dùng lụa, bông mềm mại,

Để trải làm nệm xe.

Dùng vải mịn tốt nhất,

Giá trị đến nghìn muôn,

Trắng đẹp, sạch, thuần khiết,

Bao phủ trên mặt nệm.

Lại dùng trâu trắng lớn,

Mập mạp và khỏe mạnh,

Hình dáng rất xinh đẹp,

Để kéo xe quý ấy.

Có nhiều người đi theo,

Để hầu hạ, bảo vệ.

Dùng xe tốt đẹp ấy,

Ban đều cho các con.

Những người con khi ấy,

Rất vui mừng phấn chấn,

Ngồi trên cỗ xe quý,

Dạo chơi khắp bốn phương,

Cùng chơi đùa vui thích,

Tự do không ngăn ngại.

Phật bảo Xá-lợi-phất:

Ta cũng giống như vậy.

Tôn quý giữa chư thánh.

Cha lành khắp thế gian,

Nên hết thảy chúng sanh,

Đều là con Như Lai.

Mãi đắm vui thế gian,

Không có tâm trí tuệ.

Ba cõi không an ổn,

Như căn nhà đang cháy,

Ngập tràn các nỗi khổ,

Thật đáng sợ vô cùng.

Thường chịu khổ sinh, già,

Bệnh, chết và âu lo...

Những thứ lửa như vậy,

Thiêu đốt mãi không dừng.

Như Lai đã lìa xa,

Nhà cháy là ba cõi,

Sống thanh nhàn, tịch lặng,

Trong rừng vắng an ổn.

Nay khắp ba cõi này,

Đều thuộc về Như Lai,

Nên chúng sanh trong đó,

Đều là con Như Lai.

Mà nay ba cõi ấy,

Đẫy dẫy các khổ nạn,

Chỉ riêng đức Như Lai,

Có khả năng cứu giúp.

Nhưng dù đã dạy bảo,

Chúng sinh không tin nhận.

Vì đối với các dục,

Quá đắm nhiễm, tham chấp.

Nên Phật dùng phương tiện,

Vì họ nói ba thừa.

Để giúp cho chúng sanh,

Biết khổ trong ba cõi.

Mở bày và giảng giải,

Con đường xuất thế gian.

Những chúng sanh được nghe,

Nếu có tâm quyết định,

Liền đầy đủ ba minh,

Cùng với sáu thần thông.

Hoặc đạt quả Duyên giác,

Hoặc Bồ Tát bất thối.

Nghe đây, Xá-lợi-phất!

Ta chỉ vì chúng sanh,

Mà dùng thí dụ này,

Để thuyết một Phật thừa.

Các ông nếu có thể,

Tin nhận những lời này,

Thì tất cả đều sẽ,

Được thành tựu Phật đạo.

Phật thừa này vi diệu,

Vốn thanh tịnh bậc nhất,

Đối với khắp thế gian,

Không có gì hơn được.

Chư Phật đều hoan hỷ.

Và hết thảy chúng sanh,

Nên ngợi khen xưng tán,

Cùng cúng dường lễ bái.

Gồm vô số muôn ngàn,

Các pháp lực, giải thoát,

Thiền định và trí tuệ,

Cùng những pháp Phật khác.

Đạt được Phật thừa này,

Sẽ giúp cho các ông,

Ngày đêm vô số kiếp,

Thường được vui rong chơi.

Với các vị Bồ Tát,

Cùng đại chúng Thanh văn,

Nương theo thừa báu này,

Liền thẳng đến Đạo trường.

Vì nhân duyên như vậy,

Nên tìm khắp mười phương,

Không có thừa nào khác,

Trừ phương tiện của Phật.

Phật bảo Xá-lợi-phất:

“Nay tất cả các ông,

Đều là con Như Lai,

Phật là đấng cha lành.

Các ông qua nhiều kiếp,

Bị khổ não thiêu đốt,

Đều được ta cứu giúp,

Đưa ra ngoài ba cõi.

Trước đây tuy Phật nói:

“Các ông được diệt độ”

Nhưng chỉ dứt sinh tử,

Thật chưa được diệt độ.

Nay việc cần phải làm,

Chỉ cầu trí tuệ Phật.

Nếu như có Bồ Tát

Ở giữa chúng hội này,

Có thể chuyên tâm nghe,

Pháp thật của chư Phật.

Là chư Phật Thế Tôn,

Tuy dùng nhiều phương tiện,

Chúng sinh được giáo hóa,

Thảy đều là Bồ Tát.

Người trí tuệ hạn hẹp,

Lại đắm sâu ái dục,

Phật vì những người ấy,

Trước chỉ bày Khổ đế.

Chúng sinh ấy vui mừng,

Được điều chưa từng có,

Thấy Phật nói Khổ đế,

Đúng sự thật không khác.

Nếu có những chúng sanh,

Không biết nguồn gốc khổ,

Bám chấp nhân tạo khổ,

Không một chút tạm dừng.

Phật vì những người ấy,

Thuyết dạy đạo phương tiện,

Rằng nguyên nhân các khổ,

Đều ở nơi tham dục.

Nếu tham dục dứt trừ,

Không còn chỗ sinh khởi,

Thì các khổ dứt sạch,

Đó gọi là Diệt đế.

Vì muốn đạt Diệt đế,

Nên tu hành theo đạo,

Lìa các khổ trói buộc,

Gọi là được giải thoát.

Người ấy nhờ nơi đâu,

Mà đạt được giải thoát?

Chỉ xa lìa hư dối,

Mà gọi là giải thoát.

Thật ra vẫn chưa được,

Giải thoát hết tất cả.

Nên Phật nói người ấy,

Chưa thật được diệt độ.

Người ấy chưa đạt được,

Đạo Vô thượng Chánh giác,

Nên ý Phật không muốn,

Cho đó là diệt độ.

Phật là đấng Pháp vương,

Tự tại với các pháp,

Làm an ổn chúng sanh,

Nên xuất hiện ở đời.

Nghe đây Xá-lợi-phất!

Pháp ấn này của ta,

Thuyết dạy chỉ vì muốn,

Làm lợi ích thế gian.

Các ông đi khắp nơi,

Chớ sai lệch nói ra.

Nếu có người nghe được,

Mừng vui, cung kính nhận,

Nên biết rằng người ấy,

Đã được trí bất thối.

Nếu có người tin nhận,

Kinh điển, giáo pháp này,

Đó là người đã từng,

Gặp Phật trong quá khứ,

Từng cung kính cúng dường,

Cũng từng nghe pháp này.

Nếu như ai có thể,

Tin lời ông nói ra,

Đó là người thấy Phật,

Cũng thấy được chính ông,

Cùng chư tỳ-kheo tăng,

Và chư vị Bồ Tát.

Thuyết kinh Pháp Hoa này,

Vì trí tuệ thâm sâu.

Người trí cạn nghe qua,

Nghi ngờ không hiểu được.

Hết thảy hàng Thanh văn,

Cùng với Phật Bích-chi,

Đối với kinh điển này,

Không đủ sức theo kịp.

Đến như Xá-lợi-phất,

Mà đối với kinh này,

Phải nhờ tin mới nhận,

Huống gì Thanh văn khác?

Hết thảy Thanh văn khác,

Đều do tin lời Phật,

Mà đón nhận kinh này,

Không phải tự hiểu được.

Lại nữa, Xá-lợi-phất!

Gặp người kiêu mạn, lười,

Bám chấp nơi tự ngã,

Đừng thuyết giảng kinh này.

Kẻ phàm phu trí cạn,

Đắm sâu trong năm dục,

Nghe kinh không thể hiểu,

Cũng đừng thuyết kinh này.

Nếu có người không tin,

Chê, hủy báng kinh này,

Đó là dứt hết sạch,

Giống Phật của người đời.

Ai cau mày nhăn mặt,

Ôm lòng hoài nghi kinh,

Đều phải chịu tội báo,

Nên ông hãy lắng nghe.

Khi Phật còn tại thế,

Hoặc Phật đã diệt độ,

Nếu có người phỉ báng,

Những kinh điển thế này,

Thấy người khác tụng đọc,

Sao chép hoặc thọ trì,

Liền khinh bỉ, ganh ghét,

Rồi ôm lòng oán hận.

Tội báo của người ấy,

Nay ông hãy lắng nghe.

Người ấy sau khi chết,

Sinh vào ngục Vô gián, [11]

Trải qua trọn một kiếp,

Lại sinh vào kiếp nữa.

Cứ vậy mà tiếp nối,

Cho đến vô số kiếp.

Ra khỏi địa ngục rồi,

Sẽ đọa làm súc sinh.

Hoặc chó hoặc chồn hoang,

Với hình thể gầy còm,

Đen đủi, đầy ghẻ lở,

Bị con người đánh đuổi.

Lại còn bị nhiều người,

Căm ghét và khinh khi,

Thường khổ vì đói khát,

Nên xương thịt khô gầy.

Sống chịu nhiều độc hại,

Chết vùi trong ngói đá.

Vì dứt mất giống Phật,

Chịu tội báo như vậy.

Hoặc làm thân lạc đà,

Hoặc sinh trong giống lừa,

Thân mang, kéo nặng nề,

Lại còn bị đánh đập,

Mong ăn cỏ uống nước,

Không biết gì khác hơn.

Vì hủy báng kinh này,

Chịu tội báo như vậy.

Nếu sinh làm chồn hoang,

Lang thang vào xóm làng,

Thân hình đầy ghẻ chốc,

Lại thiếu mất một mắt,

Còn bị lũ trẻ con,

Theo đánh đập, ném đá.

Chịu đủ mọi đau đớn,

Cho đến phải chết đi.

Và sau khi đã chết,

Liền sinh làm mãng xà,

Thân hình to lớn, dài

Đến năm trăm do-tuần,

Ngu si, điếc, không chân,

Chỉ trườn đi nhờ bụng,

Bị những loài trùng nhỏ,

Rúc rỉa thân ăn thịt,

Nên ngày đêm chịu khổ,

Không một lúc được dừng.

Vì hủy báng kinh này,

Chịu tội báo như vậy.

Nếu như được làm người,

Thì các căn ngu độn,

Lùn, xấu xí, què quặt,

Mù, điếc lại gù lưng,

Khi nói ra điều gì,

Người khác không tin nhận.

Mở miệng bốc mùi hôi,

Bị ma quỷ khống chế,

Sống nghèo khốn, hèn hạ,

Bị người khác sai khiến.

Nhiều bệnh tật, gầy ốm,

Lại không nơi nương tựa.

Dù gần gũi cậy nhờ,

Người không chút lưu tâm.

Nếu học hỏi được gì,

Rồi cũng nhanh quên mất.

Nếu học theo nghề thuốc,

Dùng đúng phương trị bệnh,

Bệnh người vẫn tăng thêm,

Thậm chí đến phải chết.

Nếu tự mình có bệnh,

Không ai cứu chữa được.

Dù dùng phương thuốc hay,

Bệnh vẫn càng thêm nặng.

Như người khác phản nghịch,

Cướp bóc, trộm của người,

Đủ các tội như thế,

Vô cớ chịu liên lụy.

Người chịu tội như vậy,

Vĩnh viễn không gặp Phật,

Bậc đứng đầu chư thánh,

Thường thuyết pháp giáo hóa.

Người chịu tội như vậy,

Thường sinh các nan xứ. [12]

Điên cuồng, điếc, loạn tâm,

Vĩnh viễn không nghe pháp.

Trong vô số kiếp sống,

Nhiều như cát sông Hằng,

Sinh ra đều câm điếc,

Không đủ các giác quan.

Thường xuyên vào địa ngục,

Như người đi dạo vườn.

Cõi ngạ quỷ, súc sinh,

Là nhà ở của họ.

Lạc đà, lừa, chó, lợn,

Là chốn họ sinh vào.

Vì hủy báng kinh này,

Chịu tội báo như vậy.

Nếu như được làm người,

Phải tự mang vào thân,

Những nạn mù, điếc, câm,

Cùng nghèo khốn, suy kiệt.

Bệnh phù thũng, khô khát,

Bệnh ghẻ lở, ung thư,

Đủ các bệnh như vậy,

Bám theo như áo quần.

Thân thể thường hôi hám,

Đầy cáu bẩn, dơ nhớp.

Chấp chặt vào tự ngã,

Sân hận càng tăng thêm,

Tâm tham dâm cực mạnh,

Đến không chừa cầm thú.

Vì hủy báng kinh này,

Chịu tội báo như vậy.

Phật bảo Xá-lợi-phất:

“Dù nói đến trọn kiếp,

Cũng chưa hết tội lỗi,

Của người hủy báng kinh.

Vì nhân duyên như thế,

Nên ta dạy ông rằng:

Gặp những người ngu si,

Đừng thuyết giảng kinh này.”

Như gặp người nhanh nhạy,

Có trí tuệ sáng suốt,

Lại nghe nhiều, nhớ lâu,

Phát tâm cầu Phật đạo.

Với những người như thế,

Nên vì họ thuyết kinh.

Như có người từng gặp,

Ngàn muôn ức vị Phật,

Gieo trồng các căn lành,

Lòng sâu vững, kiên cố.

Với những người như thế,

Nên vì họ thuyết kinh.

Như có người tinh tấn,

Thường tu tập tâm từ,

Không tiếc cả thân mạng,

Nên vì họ thuyết kinh.

Ai một lòng cung kính,

Không có ý gì khác,

Lìa xa người phàm tục,

Sống một mình núi vắng. [13]

Với những người như thế,

Nên vì họ thuyết kinh.

Lại này, Xá-lợi-phất!

Nếu gặp được những người,

Từ bỏ bạn xấu ác,

Thường gần gũi bạn lành.

Với những người như thế,

Nên vì họ thuyết kinh.

Nếu gặp những Phật tử,

Giữ giới thật thuần khiết,

Như minh châu trong sáng,

Thường cầu kinh Đại thừa.

Với những người như thế,

Nên vì họ thuyết kinh.

Nếu người không sân hận,

Tánh ngay thẳng, nhu hòa,

Thường thương xót muôn loài,

Và cung kính chư Phật.

Với những người như thế,

Nên vì họ thuyết kinh.

Lại có những Phật tử,

Khi ở giữa đại chúng,

Dùng tâm ý thanh tịnh,

Với đủ mọi nhân duyên,

Cùng thí dụ, ngôn từ,

Thuyết pháp không ngăn ngại.

Với những người như thế,

Nên vì họ thuyết kinh.

Nếu có những tỳ-kheo,

Muốn được Nhất thiết trí,

Khắp bốn phương cầu pháp,

Chắp tay cung kính nhận.

Chỉ ưa thích thọ trì,

Những kinh điển Đại thừa,

Thậm chí không thọ nhận,

Một bài kệ kinh khác.

Với những người như thế,

Nên vì họ thuyết kinh.

Như có người chí tâm,

Cầu được xá-lợi Phật,

Cầu kinh này cũng vậy,

Cầu được, cung kính nhận,

Người ấy tâm không cầu

Bất cứ kinh nào khác,

Lại cũng chưa từng nghĩ

Đến kinh sách ngoại đạo.

Với những người như thế,

Nên vì họ thuyết kinh.”

Phật bảo Xá-lợi-phất:

“Dù kể đến trọn kiếp,

Cũng chưa hết tướng trạng,

Những người cầu Phật đạo.

Những người ta kể trên,

Ắt có thể tin hiểu.

Ông nên vì họ thuyết,

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.”

4. Phẩm Tin hiểu

Lúc bấy giờ, các ngài Tuệ mạng [14] Tu-bồ-đề, Ma-ha Ca-chiên-diên, Ma-ha Ca-diếp, Ma-ha Mục-kiền-liên, được nghe Phật thuyết pháp chưa từng có, lại thấy đức Thế Tôn thụ ký cho ngài Xá-lợi-phất sẽ được quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì khởi tâm cho là điều hy hữu, vui mừng phấn chấn, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, chỉnh trang y phục, trần vai áo phải, quỳ gối phải sát đất, chắp tay một lòng cúi mình cung kính chiêm ngưỡng tôn nhan rồi bạch Phật rằng:

“Chúng con đứng đầu trong hàng tăng chúng, nay đều đã già nua, tự cho rằng mình đã được Niết-bàn, không còn gì để nhận lãnh thêm, nên không còn tiến lên mong cầu quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Đức Thế Tôn thuở trước thuyết pháp đã lâu, khi ấy chúng con ngồi trong pháp hội mà thân thể mỏi mệt, chỉ nghĩ nhớ đến các pháp không, vô tướng, vô tác, [15] còn đối với các pháp của hàng Bồ Tát như thần thông du hí, làm thanh tịnh cõi Phật, thành tựu chúng sanh… thì tâm chúng con không hề vui thích.

“Vì sao vậy? Đức Thế Tôn đã giúp chúng con thoát ra ngoài ba cõi, chứng đạt Niết-bàn, nay chúng con lại già cả suy yếu, [cho nên] đối với việc Phật giáo hóa chư Bồ Tát pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, trong tâm [chúng con] không hề sinh khởi dù chỉ một niệm vui thích.

“Hôm nay ở trước Phật, chúng con được nghe Phật thụ ký cho hàng Thanh văn sẽ được quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, trong lòng chúng con hết sức vui mừng, được việc chưa từng có, thật không hề nghĩ rằng hôm nay bỗng dưng lại được nghe giáo pháp xưa nay hiếm có, nên tự sâu thẳm trong lòng chúng con cảm thấy vô cùng may mắn, vui mừng vì đạt được sự lợi ích lớn lao, cũng giống như người không hề mong cầu mà tự nhiên có được vô số châu ngọc quý báu.

“Bạch Thế Tôn! Hôm nay chúng con muốn nêu ra một thí dụ để làm rõ ý nghĩa như trên.

“Ví như có một người kia, khi tuổi còn thơ ấu đã bỏ cha trốn biệt đến phương xa, ở lâu nơi xứ ấy, hoặc mười năm, hoặc hai mươi năm, cho đến năm mươi năm. Khi tuổi đã lớn, cảnh nhà trở nên nghèo cùng khốn khó, phải lưu lạc khắp bốn phương để mưu cầu sự ăn mặc. Người ấy đi mãi như vậy, dần dần lại đúng hướng về nước cũ.

“Người cha từ trước đến nay tìm con mãi không được, cuối cùng dừng chân cư ngụ ở một thành [cũng trong nước ấy]. Nhà ông cực kỳ giàu có, có vô số tiền tài vật báu như vàng, bạc, lưu ly, san hô, hổ phách, pha lê, trân châu … Các kho chứa của ông luôn tràn đầy dư dật. Trong nhà có rất nhiều tôi tớ, người giúp việc, các phụ tá quản lý, thuộc hạ... Nhà ông có vô số các loại xe cộ, voi, ngựa, trâu, dê… Việc làm ăn xuất nhập thu lợi tức ở khắp các nước, thương nhân giao dịch mua bán, hoặc đến mua tận nhà ông cũng rất nhiều.

“Lúc bấy giờ đứa con nghèo cùng khốn khổ kia lưu lạc khắp các thôn ấp, đi qua cả kinh thành, cuối cùng đến thành mà người cha đang cư ngụ. Tấm lòng cha mẹ luôn thương nhớ con, nhưng dù cách xa con đã hơn 50 năm vẫn chưa từng đem chuyện này nói với người khác, chỉ tự suy tư ôm lòng buồn tiếc, nghĩ mình già yếu suy kiệt, sở hữu rất nhiều tiền tài vật chất, vàng bạc châu báu, kho chứa đầy tràn dư dật mà nay không con nối dõi, một mai chết đi thì tiền bạc của cải đành tiêu tán hết, không có người giao phó. Do vậy ông thường ôm lòng nhớ tưởng đến con, tự nghĩ: ‘Nếu ta được gặp lại con, giao phó hết tài sản cho con thì không còn phải lo lắng gì nữa, thật an vui thanh thản biết bao.’

“Bạch Thế Tôn! Bấy giờ đứa con nghèo khổ khốn cùng kia làm thuê kiếm sống, dần dần đi đến nhà cha mình, đứng ở ngoài cửa nhìn vào xa xa bên trong, thấy người cha ngồi trên giường sư tử, đặt chân trên ghế quý, có các vị bà-la-môn, sát-đế-lợi, cư sĩ cùng cung kính vây quanh, trên người trang sức trân châu anh lạc giá trị đến ngàn muôn lượng vàng, [16] có những viên chức, tôi tớ tay cầm phất trần màu trắng đứng hầu hai bên, phía trên có màn báu giăng che với các dải hoa đẹp, cờ phướn rủ xuống, có nước thơm rưới lên mặt đất, tung rải các loại hoa thơm danh tiếng, có rất nhiều đồ vật quý báu được bày biện để xuất ra, nhập vào, cất giữ hoặc phân phối… [Người con nhìn thấy] đủ hết thảy những sự trang hoàng uy nghiêm như thế, oai đức đặc biệt cao quý.

“Đứa con nghèo khổ khốn cùng ấy nhìn thấy người cha thế lực quá lớn lao nên ôm lòng lo sợ, lấy làm hối tiếc vì đã tìm đến nơi này, liền tự nghĩ rằng: ‘Người như thế này hẳn phải là đức vua hoặc ngang hàng với vua, không phải chỗ mà ta có thể đem sức lực [làm thuê] để kiếm tiền. Chi bằng ta hãy tìm đến xóm nghèo, có chỗ để ta ra sức làm thuê, dễ dàng kiếm được cơm ăn áo mặc. Nếu như ta nấn ná lâu ở nơi này, e rằng có người nhìn thấy sẽ cưỡng bức ta phải làm việc [cho họ].’ Nghĩ như vậy rồi liền vội vã bỏ đi.

“Khi ấy, ông trưởng giả ngồi trên giường sư tử, vừa nhìn thấy con liền nhận ra ngay, trong lòng hết sức vui mừng, nghĩ rằng: ‘Tất cả tiền tài, của cải, kho tàng của ta, nay đã có chỗ để giao phó rồi. Ta vẫn thường nhớ nghĩ đến đứa con này, không biết làm sao gặp lại, nay nó bỗng nhiên tự tìm đến, thật hết sức đúng với tâm nguyện của ta. Ta tuy đã già nua suy yếu nhưng vẫn còn có lòng tham tiếc [muốn cho tài sản được duy trì].’

“[Nghĩ vậy rồi ông] liền lập tức sai một người hầu cận gấp rút đuổi theo bắt đứa con ấy trở lại. Khi đó, người được ông sai đi liền chạy nhanh theo kịp, bắt lấy người con. Đứa con cùng khổ ấy hết sức kinh ngạc, vội lớn tiếng than oán: ‘Tôi chẳng làm gì xúc phạm, sao lại bị bắt?’ Người được sai đi [chẳng nói năng gì,] lại càng gấp rút bắt lấy, cưỡng bức đưa về.

“Bấy giờ, đứa con cùng khổ kia tự nghĩ mình không có tội gì mà bị bắt giữ, lần này chắc nhất định phải chết. [Nghĩ như vậy nên] càng thêm kinh sợ đến nỗi ngã lăn ra đất bất tỉnh. Người cha từ xa trông thấy như vậy liền bảo với người mà ông đã sai khiến: ‘Ta không cần người ấy, chớ cưỡng bức đưa về. Hãy dùng nước lạnh tưới lên mặt cho tỉnh lại. Đừng nói gì thêm với nó.’ Vì sao vậy? Vì người cha biết con mình [đang khi ấy] ý chí thấp hèn, nên tự biết rằng sự giàu sang cao quý của mình đã khiến cho đứa con rất khó [tiếp cận]. Ông xét kỹ thấy đúng thật là con mình, nhưng phải dùng phương tiện khéo léo, không nói cho người khác biết đó là con mình.

“[Khi đứa con tỉnh lại,] người được sai đến liền nói rằng: ‘Nay tôi thả ông ra, tùy ý muốn đi đâu thì đi.” Đứa con cùng khổ ấy hết sức vui mừng như được điều chưa từng có, từ dưới đất vùng đứng dậy, đi đến một xóm nghèo để [làm thuê] kiếm cơm ăn áo mặc.

“Bấy giờ, ông trưởng giả muốn dẫn dụ đứa con [trở về] nên bày ra phương tiện, bí mật sai khiến hai người có hình dung dáng vẻ tiều tụy, không chút uy đức, dặn dò: ‘Các ông hãy đi đến nơi ấy, thư thả nói với kẻ nghèo khốn ấy rằng: Chỗ kia có việc làm trả giá cao hơn. Nếu kẻ nghèo khốn ấy chịu nghe theo thì dẫn về đây để giao việc làm. Nếu như hỏi: Muốn tôi làm việc gì? thì đáp: Thuê ông làm việc hốt phân. Hai người chúng tôi sẽ cùng làm với ông.’

“Lúc ấy, hai người được sai khiến liền đi tìm người con khốn cùng kia. Khi tìm gặp được rồi liền nói rõ như lời dặn ở trên. Bấy giờ, người con khốn cùng trước tiên nhận tiền công, sau đó được giao việc hốt phân. Người cha nhìn thấy con [như vậy] thì thương xót mà lấy làm quái lạ.

“Rồi đến một ngày kia, ông nhìn qua song cửa sổ, xa xa thấy hình dáng con mình gầy ốm tiều tụy, nhớp nhúa vì bám đầy phân dơ cùng bụi đất. Ông liền cởi bỏ hết chuỗi ngọc và y phục tốt đẹp mềm mại cùng những thứ trang sức uy nghiêm, mặc vào người y phục thô xấu dơ bẩn, [tự làm cho] thân thể bám đầy bụi đất, rồi tay phải cầm dụng cụ hốt phân, dáng vẻ như có điều lo sợ, đi đến nói với những người làm công: ‘Các người hãy siêng năng làm việc, đừng biếng nhác dừng nghỉ.’ Ông dùng phương tiện như vậy mới đến gần được con mình.

Sau đó, ông lại nói với đứa con: ‘Này chàng trai! Con hãy thường xuyên ở đây làm, đừng bỏ đi nơi khác, ta sẽ trả thêm nhiều tiền hơn. Những gì con cần đến như vật chứa hoặc [thức ăn như] gạo, bột gạo, muối, giấm… [ta đều sẽ cung cấp đủ,] chớ nên tự nghi ngại.

Ta cũng có một nô bộc già hèn kém, có thể giao cho con sai khiến, nên hãy tự yên lòng. [Hãy xem] ta như cha của con, chớ nên lo lắng gì cả. Vì sao vậy? Ta nay tuổi cao già yếu mà con thì tuổi trẻ tráng niên, thường siêng làm việc, không dối trá, không lười nhác, không nóng giận, không thù hận, không nói lời than oán.

Ta thấy con không có những thói xấu ấy như những người làm thuê khác. Từ nay về sau, [ta xem con] như con ta sinh ra.’ Ông trưởng giả [nói vậy rồi] liền đặt cho tên mới và gọi là con mình. Đứa con cùng khốn ấy tuy vui mừng được sự đãi ngộ này nhưng vẫn tự cho mình là người hèn hạ từ bên ngoài đến làm thuê, do vậy mà phải qua 20 năm thường được sai làm việc hốt phân.

“Qua thời gian đó rồi, trong lòng mới tin cậy lẫn nhau, [người con] tự do ra vào [ngôi nhà ấy] không còn ngăn ngại, nhưng nơi ngủ nghỉ thì vẫn không rời chỗ cũ.

“Bạch đức Thế Tôn! Khi ấy ông trưởng giả có bệnh, tự biết mình không bao lâu sẽ chết, liền nói với người con khốn cùng kia: ‘Cha nay có rất nhiều vàng bạc châu báu, kho chứa tràn đầy, trong đó có những chỗ nhiều hay ít, cần giữ lại hay cho ra, con nên rõ biết tất cả. Lòng cha muốn vậy, con nên làm theo ý cha. Vì sao vậy? Nay cha với con đã là người một nhà, không khác biệt nhau, con phải chú tâm nhiều hơn, chớ để thất thoát [tài sản].’

“Bấy giờ, đứa con cùng khổ liền vâng theo lời dạy, nhận lãnh và tìm hiểu rõ biết tất cả tài sản, vàng bạc, châu báu cùng các kho chứa [của ông trưởng giả], nhưng tuyệt nhiên không hề có ý lấy [làm của mình] dù chỉ đáng một bữa ăn, cho đến nơi ngủ nghỉ vẫn không rời chỗ cũ, tâm ý [tự cho mình là] thấp hèn vẫn chưa thể từ bỏ.

“Lại trải qua một thời gian ngắn nữa, người cha biết ý con nay đã dần trở nên thông suốt rộng mở, thành tựu được chí khí lớn lao, biết tự chê bỏ tâm ý [tự ti] ngày trước.

“Đến lúc lâm chung, [ông trưởng giả] liền gọi người con ấy đến, rồi triệu tập hết thảy người trong gia tộc và [thỉnh mời] đức vua cùng các vị đại thần, sát-đế-lợi, cư sĩ… cùng đến, rồi tự tuyên bố rằng: ‘Quý vị nên biết rằng, đây chính là đứa con của tôi, do tôi sinh ra. Ngày trước ở nơi thành kia đã trốn tôi mà đi, lưu lạc khổ sở hơn 50 năm. [Xưa nó] vốn tên họ thế này, còn tôi tên họ thế này, trước đây ở thành ấy vẫn thường lo âu tìm kiếm [mãi không gặp], nay bỗng dưng gặp lại tại nơi này. Nó quả thật là con tôi, tôi thật là cha nó. Nay tất cả tiền bạc, tài sản của tôi đều là của nó, và từ trước đến giờ những việc xuất ra nhập vào [trong nhà] nó đều đã rõ biết.”

“Bạch đức Thế Tôn! Lúc bấy giờ đứa con cùng khổ kia nghe cha nói như vậy thì hết sức vui mừng, được điều chưa từng có, tự nghĩ rằng: ‘Ta vốn không hề có tâm mong cầu, nay cả kho tàng quý báu này tự nhiên tìm đến.’

“Bạch Thế Tôn! Trưởng giả hết sức giàu có kia ví như đức Như Lai, tất cả chúng con đều giống như con Phật. Đức Như Lai thường dạy rằng chúng con là con Phật. Bạch Thế Tôn! Chúng con vì ba sự khổ mà ở trong vòng sinh tử bị các phiền não thiêu đốt, mê muội ngu si không hiểu biết nên ưa thích bám chấp giáo pháp Tiểu thừa.

“Nay đức Thế Tôn giúp cho chúng con biết suy xét, dứt trừ dọn sạch phân dơ là các pháp hý luận. Chúng con theo lời dạy đó thêm chuyên cần tinh tấn, đạt được Niết-bàn [của Tiểu thừa, chỉ ví như] giá tiền làm thuê [nhận được] mỗi ngày. Khi đã được như vậy rồi thì trong lòng hết sức vui mừng, tự cho là đủ, liền tự nhủ rằng: ‘Nhờ chuyên cần tinh tấn trong pháp Phật nên chỗ đạt được thật lớn lao nhiều lắm.’

“Nhưng đức Thế Tôn trước đã rõ biết trong lòng chúng con bám chấp nơi sự vui thú thấp hèn, ưa thích pháp Tiểu thừa, nên tuy thấy chúng con buông thả mà vẫn tạm không vì chúng con phân biệt chỉ rõ: ‘Các ông rồi cũng đều có phần trong kho báu tri kiến của Như Lai.’ Đức Thế Tôn dùng sức phương tiện thuyết giảng về trí tuệ của Như Lai, chúng con theo Phật đạt được Niết-bàn [của Tiểu thừa, chỉ như] tiền công làm thuê [nhận được] mỗi ngày, nhưng lấy đó cho là đã được quá nhiều nên đối với Đại thừa không hề có ý mong cầu.

“Chúng con lại cũng nhân nơi trí tuệ của Như Lai mà vì chư Bồ Tát khai mở chỉ bày, diễn giảng [giáo pháp Đại thừa], nhưng tự thân mình thì đối với giáo pháp này không hề có chí nguyện [tu tập].

“Vì sao vậy? Vì Phật rõ biết tâm ý chúng con ưa thích pháp Tiểu thừa, nên dùng sức phương tiện mà thuyết pháp tùy thuận [theo ý muốn của chúng con], nhưng chúng con lại không biết rằng mình quả thật đều là con Phật. Ngày nay chúng con mới biết rằng đức Thế Tôn không hề tiếc giữ trí tuệ Phật.

“Vì sao vậy? Vì chúng con từ xưa nay vốn thật sự là con của đức Như Lai, nhưng lại ưa thích giáo pháp Tiểu thừa. Nếu như chúng con có lòng ưa thích Đại thừa, tất nhiên Phật sẽ vì chúng con thuyết dạy giáo pháp Đại thừa. Trong kinh Pháp Hoa này chỉ thuyết một thừa, nên thuở xưa ở trước các vị Bồ Tát chê trách hàng Thanh văn ưa thích pháp Tiểu thừa, nhưng thật ra Phật vẫn dùng pháp Đại thừa để giáo hóa. Cho nên chúng con nói rằng vốn không có tâm mong cầu mà nay tự nhiên đạt được báu vật lớn lao của đấng Pháp vương. Những gì hàng con Phật cần đạt được thì nay [chúng con] đều đã đạt được.”

Lúc bấy giờ ngài Đại Ca-diếp muốn lặp lại những ý nghĩa trên nên đọc kệ rằng:

“Chúng con ngày hôm nay,

Được nghe lời Phật dạy,

Nên vui mừng phấn khởi,

Được điều chưa từng có.

Phật dạy: ‘Hàng Thanh văn,

Rồi đều sẽ thành Phật.’

Bao nhiêu báu vô thượng,

Không cầu tự nhiên được.

Ví như đứa con nhỏ,

Dại khờ chưa hiểu biết.

Bỏ cha mà trốn đi,

Đến những miền xa xôi,

Lang thang khắp các nước,

Trải hơn năm mươi năm.

Người cha thường lo lắng,

Khắp bốn phương truy tìm,

Cho đến khi mỏi mệt,

Dừng ở một thành phố,

Rồi xây dựng nhà cửa,

Vui hưởng năm món dục.

Nhà ông rất giàu có,

Chất chứa lắm bạc vàng,

Cùng xa cừ, mã não,

Với trân châu, lưu ly,

Cùng voi, ngựa, trâu, dê…

Cho đến nhiều xe cộ,

Vườn ruộng cùng tôi tớ,

Người giúp việc rất nhiều.

Những lợi tức thu chi,

Trải rộng khắp các nước.

Người buôn bán cùng ông,

Ở khắp nơi đều có.

Nên có ngàn muôn người,

Luôn cung kính vây quanh.

Lại thường được đức vua,

Yêu mến, nhớ nghĩ đến.

Các quan chức, quý tộc,

Cũng đều kính ngưỡng ông.

Bởi có nhiều nhân duyên,

Nên đông người lui tới.

Ông giàu có như vậy,

Lại thế lực lớn lao.

Nhưng tuổi cao suy yếu,

Nên càng nhớ đến con.

Ngày đêm thường suy nghĩ:

‘Ta nay sắp chết rồi,

Con dại bỏ ta đi,

Đã hơn năm mươi năm.

Nay kho tàng, mọi thứ,

Biết phải làm sao đây?’

Đứa con nay cùng khốn,

Vì manh áo miếng cơm,

Lưu lạc khắp xóm làng,

Nước này sang nước khác.

Đôi khi đủ ăn mặc,

Có lúc chẳng được gì,

Nên đói gầy ốm yếu,

Thân thể đầy ghẻ chốc.

Đi dần qua các nơi,

Đến thành người cha ở.

Ngày lại ngày làm thuê,

Dần đến nhà người cha.

Bấy giờ ông trưởng giả,

Đang ở bên trong nhà,

Có màn báu giăng che,

Ngồi trên tòa sư tử,

Quyến thuộc cùng vây quanh,

Với nhiều người hầu cận,

Lại có người tính toán,

Bao vàng bạc, châu báu,

Đưa ra hoặc thu vào,

Đều ghi chép rành mạch.

Đứa con khổ, thấy cha,

Giàu, uy nghiêm, tôn quý,

Cho rằng đó là vua,

Hoặc bậc ngang hàng vua,

Nên kinh hãi, tự hỏi:

‘Sao đến chi chốn này?’

Rồi âm thầm tự nghĩ:

‘Nếu ta ở đây lâu,

Ắt sẽ bị bức bách,

Ép buộc làm công việc.’

Suy nghĩ như vậy rồi,

Liền vội vàng bỏ chạy,

Hỏi đường sang xóm nghèo,

Để đến đó làm thuê.

Khi ấy ông trưởng giả,

Ngồi trên tòa sư tử,

Từ xa nhìn thấy con,

Lặng yên nhận biết rồi.

Liền sai khiến một người,

Đuổi theo để bắt lại.

Đứa con sợ, kêu la,

Ngã xuống đất ngất xỉu:

‘Người này đuổi bắt ta,

Chắc ta sẽ bị giết.

Ôi chỉ vì cơm áo,

Khiến ta đến nỗi này.’

Trưởng giả biết con mình,

Ngu si, nghĩ phận hèn,

Sẽ không tin lời cha,

Không tin đó là cha.

Ông liền dùng phương tiện,

Sai khiến vài người khác,

Chột mắt và lùn, xấu,

Dáng vẻ không oai đức:

‘Hãy đến nói với nó,

Rằng ta muốn thuê người,

Để quét dọn phân dơ,

Trả công cao hơn nhiều.’

Đứa con khổ, nghe vậy,

Liền vui mừng đi theo,

Làm việc hốt phân dơ,

Và quét dọn phòng, nhà.

Trưởng giả qua cửa sổ,

Vẫn thường nhìn thấy con.

Nghĩ con mình ngu hèn,

Ưa làm việc thấp kém.

Cho nên ông trưởng giả,

Liền ăn mặc dơ nhớp,

Tay cầm đồ hốt phân,

Đi đến chỗ đứa con.

Dùng phương tiện gần gũi,

Khuyên bảo nên siêng làm:

‘Ta sẽ trả thêm tiền,

Và cho dầu thoa chân, [17]

Thức ăn uống đầy đủ,

Chăn chiếu dày đủ ấm.’

Ông dùng lời cứng rắn:

‘Ngươi phải siêng năng làm.’

Rồi lại nói dịu dàng:

‘Ta xem ngươi như con.’

Trưởng giả có trí tuệ,

Dần cho con ra, vào,

Trải qua hai mươi năm,

Giao hết mọi việc nhà,

Chỉ cho biết vàng, bạc,

Trân châu cùng pha lê,

Tài sản thu hoặc chi,

Cũng đều cho rõ biết.

Nhưng vẫn ở bên ngoài,

Ngủ nghỉ chốn am tranh,

Tự nghĩ mình nghèo khổ,

Không có tài sản ấy.

Người cha biết lòng con,

Dần dần đã mở rộng,

Nên muốn giao tài sản,

Liền mời hết thân tộc,

Cùng đức vua, quan lớn,

Và sát-lợi, cư sĩ…

Tuyên bố giữa mọi người:

‘Đây thật là con tôi,

Đã bỏ tôi đi xa,

Đến hơn năm mươi năm.

Từ lúc gặp lại nó,

Đã được hai mươi năm.

Xưa tôi ở thành ấy,

Thất lạc đứa con này,

Đi khắp nơi tìm kiếm,

Cuối cùng đến nơi đây.

Bao tài sản tôi có,

Nhà, đất với người làm,

Nay giao hết cho con,

Được tùy ý sử dụng.’

Đứa con nghĩ: ‘Xưa nghèo,

Tâm chí đều kém cỏi.

Nay ở nơi nhà cha,

Bỗng được nhiều châu báu,

Cùng nhà đất, ruộng vườn,

Hết thảy mọi tài sản.’

Nên hết sức vui mừng,

Được điều chưa từng có.

Đức Phật cũng như vậy,

Biết chúng ưa Tiểu thừa,

Nên chưa từng nói ra:

‘Các ông sẽ thành Phật.’

Phương tiện dạy chúng con,

Được các pháp vô lậu,

Thành tựu quả Tiểu thừa,

Thành đệ tử Thanh văn.

Phật lại sai chúng con,

Thuyết giảng đạo tối thượng,

Những ai tu tập theo,

Đều sẽ được thành Phật.

Chúng con vâng lời Phật,

Vì các Đại Bồ Tát,

Thuyết giảng các nhân duyên,

Cùng đủ loại thí dụ,

Dùng cách này, cách khác,

Để nói đạo Vô thượng.

Bao nhiêu hàng Phật tử,

Theo chúng con nghe pháp,

Rồi ngày đêm suy ngẫm,

Tu tập rất chuyên cần.

Đến lúc được chư Phật,

Vì họ mà thụ ký:

‘Các ông trong tương lai,

Đều sẽ được thành Phật.’

Con nghĩ: ‘Tạng bí mật,

Của chư Phật mười phương,

Đều chỉ vì Bồ Tát,

Nói lên pháp chân thật,

Chẳng phải vì chúng con,

Nói pháp chân thật ấy.’

Như đứa con khốn khổ,

Được gần gũi cha mình,

Tuy rõ biết tài sản,

Lòng không mong có được.

Chúng con tuy thuyết giảng,

Kho pháp Phật quý báu,

Nhưng tự không chí nguyện,

Nên cũng giống như vậy.

Chúng con diệt phiền não,

Tự cho là đã đủ,

Chỉ xong một việc này,

Không còn việc gì khác.

Chúng con dẫu được nghe,

Việc cõi Phật thanh tịnh,

Việc giáo hóa chúng sanh,

Cũng đều không vui thích.

Vì sao lại như vậy?

Vì hết thảy các pháp,

Đều trống không vắng lặng,

Không sinh cũng không diệt,

Không lớn cũng không nhỏ,

Không lậu hoặc, vô vi.

Thường suy ngẫm như thế,

Nên không sinh vui thích.

Chúng con suốt đêm dài,

Đối với trí tuệ Phật,

Không tham muốn, bám chấp,

Cũng không có chí nguyện,

Nhưng đối với các pháp,

Cho đó là rốt ráo.

Chúng con trong đêm dài,

Tu tập theo pháp không,

Được thoát ngoài ba cõi,

Thoát hoạn nạn khổ não,

Trụ nơi thân cuối cùng,

Vào Niết-bàn hữu dư. [18]

Theo lời Phật chỉ dạy,

Đạt đạo không hư dối,

Cho rằng đã thành tựu,

Báo đáp được ơn Phật.

Chúng con tuy vẫn thường,

Vì hết thảy Phật tử,

Thuyết giảng pháp Bồ Tát,

Hướng đến cầu đạo Phật,

Nhưng đối với pháp ấy,

Mãi mãi không ham thích.

Đạo sư tạm bỏ qua,

Vì biết tâm chúng con;

Ban đầu không khuyến tấn,

Pháp lợi ích chân thật.

Như ông trưởng giả kia,

Biết tâm con kém cỏi,

Nên dùng sức phương tiện,

Để uốn nắn tâm ấy,

Rồi sau mới giao phó,

Cho hết thảy tài sản.

Đức Phật cũng như thế,

Hiện ra việc ít có,

Biết tâm ưa Tiểu thừa,

Liền dùng sức phương tiện,

Để điều phục tâm ấy,

Rồi dạy trí Đại thừa.

Chúng con ngày hôm nay,

Được việc chưa từng có,

Trước đây không mong cầu,

Mà hôm nay đạt được.

Như đứa con khốn cùng,

Được vô số của quý.

Thế Tôn! Nay chúng con,

Đã đạt đạo, chứng quả,

Đối với pháp vô lậu,

Được mắt pháp thanh tịnh.

Chúng con trong đêm dài,

Giữ tịnh giới của Phật,

Hôm nay mới vừa được,

Kết quả như thế này.

Trong pháp của Pháp vương,

Tu Phạm hạnh [19] lâu dài,

Nay được quả vô lậu,

Tối thượng, không gì hơn.

Chúng con ngày hôm nay,

Mới thật là Thanh văn,

Đem âm thanh pháp Phật,

Khiến tất cả được nghe.

Chúng con ngày hôm nay,

Thật là bậc Ứng cúng, [20]

Đối với khắp thế gian,

Trời, người, ma, Phạm chí,

Khắp trong đại chúng ấy,

Xứng đáng nhận cúng dường.

Ân đức của Thế Tôn,

Đem sự việc ít có,

Thương xót dạy dỗ cho,

Chúng con được lợi ích.

Dẫu qua vô số kiếp,

Ai người đền đáp được?

Dù tay chân phụng sự,

Lại cúi đầu kính lễ,

Cúng dường đủ mọi thứ,

Cũng không báo đáp được.

Dù đội trên đỉnh đầu,

Gánh vác bằng hai vai,

Trải qua vô số kiếp,

Với hết lòng cung kính,

Lại dùng thức ăn ngon,

Vô số y phục quý,

Cùng những thứ chăn nệm,

Đủ các loại thuốc men.

Dùng chiên đàn Ngưu đầu, [21]

Cùng các loại trân bảo,

Để xây dựng tháp miếu,

Dùng vải quý trải đất…

Hết thảy những việc ấy,

Đều dùng để cúng dường,

Trải qua vô số kiếp,

Cũng không thể báo đáp.

Chư Phật là ít có,

Là vô lượng vô biên,

Là không thể nghĩ bàn.

Sức thần thông lớn lao,

Không lậu hoặc, vô vi,

Là vua của các pháp.

Thường vì kẻ hèn kém,

Nhẫn chịu những việc ấy,

Mang lấy tướng phàm phu,

Để thuyết pháp thích hợp.

Chư Phật với các pháp,

Đã hoàn toàn tự tại.

Rõ biết sự ưa muốn,

Cùng chí hướng, sức lực…

Của hết thảy chúng sanh.

Nên tùy sức nhận lãnh,

Dùng vô số thí dụ,

Để thuyết giảng giáo pháp.

Tùy căn lành đời trước,

Của mỗi một chúng sanh,

Biết rõ sự thành thục,

Hoặc chưa được thành thục,

Suy lường đủ mọi mặt,

Để phân biệt rõ biết,

Nên với đạo Nhất thừa,

Tùy nghi thuyết thành ba.”

---

Diệu Pháp Liên Hoa Kinh quyển 3

5. Phẩm Thí dụ cỏ thuốc

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo ngài Ma-ha Ca-diếp và các vị đại đệ tử: “Lành thay, lành thay! Ca-diếp khéo nói ra công đức chân thật của Như Lai. Đúng như lời ông nói, Như Lai lại có vô lượng vô biên a-tăng-kỳ các công đức khác, cho dù các ông có diễn nói trong vô lượng ức kiếp cũng không thể cùng tận.

“Này Ca-diếp! Ông nên biết rằng, Như Lai là vua của các pháp, nếu có nói ra điều gì đều không hư dối. Đối với hết thảy các pháp, [Như Lai] dùng trí phương tiện diễn bày thuyết giảng, nhưng tất cả pháp mà Như Lai thuyết giảng [cuối cùng] đều dẫn đến địa vị Nhất thiết trí. Đức Như Lai quán xét rõ biết chỗ hướng về của tất cả các pháp, lại cũng rõ biết chỗ vận hành sâu thẳm trong tâm niệm chúng sanh, thông suốt không gì ngăn ngại, lại cũng cứu xét sáng rõ tận cùng các pháp, chỉ bày cho chúng sanh tất cả trí tuệ.

“Này Ca-diếp! Ví như trong cõi thế giới đại thiên, khắp những nơi núi sông khe suối, từ mặt đất mọc lên các loại cỏ cây, rừng rậm cùng những loài cỏ thuốc, bao nhiêu là chủng loại, tên gọi và màu sắc thảy đều khác nhau, nhưng khi mây đen dày phủ khắp thế giới rồi cùng lúc đổ mưa xuống đồng đều thì sự thấm nhuần cũng đều khắp mọi nơi. Cỏ cây, rừng rậm cùng các loài cỏ thuốc, có loại gốc nhỏ, thân nhỏ, cành lá nhỏ, hoặc gốc rễ trung bình, thân trung bình, cành lá trung bình, hoặc gốc rễ lớn, thân lớn, cành lá lớn, các loại cây lớn nhỏ đều tùy theo mức độ của mình mà hấp thụ nước mưa.

Tuy cùng một đám mây, cùng một cơn mưa, nhưng mỗi loại cỏ cây đều tùy theo tính chất của riêng mình [mà có sự hấp thụ thích hợp] để sinh trưởng rồi đơm hoa kết trái. Cho dù từ một mặt đất sinh ra, cùng được một cơn mưa thấm nhuần, nhưng mỗi loại cỏ cây đều có sự khác biệt.

“Này Ca-diếp! Ông nên biết rằng, đức Như Lai cũng giống như vậy, xuất hiện giữa cõi đời như đám mây lớn nổi lên. Ngài ở giữa đại chúng dùng âm thanh lớn khiến cho khắp các cõi trời, người, a-tu-la đều được nghe, như đám mây lớn kia che phủ khắp cõi thế giới đại thiên, mà tuyên cáo rằng: ‘Ta là bậc Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn, đối với những ai chưa được hóa độ, nay ta sẽ khiến cho được hóa độ, những ai chưa an ổn sẽ khiến cho được an ổn, những ai chưa đạt Niết-bàn sẽ khiến cho đạt được Niết-bàn.

Rõ biết đúng thật hết thảy mọi việc trong đời này và đời sau, Ta là Bậc thấu rõ tất cả, Bậc thấy biết tất cả, Bậc rõ biết đạo, Bậc khai mở đạo, Bậc thuyết dạy đạo. Hết thảy chúng sanh trong các cõi trời, người, a-tu-la… đều nên đến đây để nghe ta thuyết giảng chánh pháp.’

“Lúc bấy giờ, có vô số ngàn muôn ức loại chúng sanh đều đến chỗ Phật để nghe chánh pháp. Đức Như Lai vào lúc ấy quán xét mọi chúng sanh, biết rõ căn tánh nhanh nhạy hoặc trì độn, tinh tấn hoặc lười nhác, rồi tùy theo khả năng tiếp nhận của mỗi loài mà vì họ thuyết pháp, dùng vô số phương cách khiến cho tất cả đều được mừng vui hoan hỷ, nhanh chóng đạt được sự tốt lành lợi ích. Những chúng sanh được nghe pháp rồi thì đời sống hiện tại an ổn, đời sau sinh về cảnh giới tốt lành, lấy việc tu đạo làm niềm vui, rồi lại cũng được nghe pháp. Sau khi nghe pháp lìa xa mọi chướng ngại, ở nơi các pháp tùy theo khả năng của mình mà [tu tập] dần dần thể nhập đạo giác ngộ.

“Cũng như đám mây lớn kia đổ mưa xuống tưới mát hết thảy các loại cỏ cây, rừng rậm cùng những loài cỏ thuốc, mỗi loại tùy theo tính chất của mình mà đều được thấm ướt đầy đủ, đều sinh trưởng tốt tươi.

“Đức Như Lai thuyết pháp đồng một tướng trạng, đồng một pháp vị, đó là tướng trạng giải thoát, tướng trạng xa lìa, tướng trạng dứt trừ, cho đến rốt ráo đạt Nhất thiết chủng trí.

“Như có chúng sanh nào nghe pháp của Như Lai rồi vâng giữ, tụng đọc, y theo pháp ấy mà tu hành, [chúng sanh ấy cũng] không tự nhận biết công đức mình có được.

“Vì sao vậy? Vì chỉ có đức Như Lai mới rõ biết được tánh thể, chủng loại tướng trạng của chúng sanh, [rõ biết chúng sanh] niệm tưởng những gì, suy xét những gì, tu tập những gì; niệm tưởng như thế nào, suy xét như thế nào, tu tập như thế nào; dùng pháp gì để niệm tưởng, dùng pháp gì để suy xét, dùng pháp gì để tu tập; dùng pháp nào để đạt được pháp nào. Chúng sinh đang ở các giai vị [trên đường tu tập], chỉ có đức Như Lai mới rõ biết đúng thật, sáng suốt tỏ tường không ngăn ngại, cũng giống như các loại cỏ cây, rừng rậm cùng những loại cỏ thuốc kia, đều không tự biết mình thuộc loại lớn, nhỏ hay trung bình.

“Đức Như Lai rõ biết pháp đồng một tướng trạng, đồng một pháp vị này, đó là tướng trạng giải thoát, tướng trạng xa lìa, tướng trạng tịch diệt, cho đến tướng trạng rốt ráo Niết-bàn tịch diệt thường hằng, cuối cùng quy về không. Như Lai rõ biết như vậy rồi, lại quán xét tâm tánh và chỗ ham muốn của chúng sanh để cứu giúp, cho nên không vì chúng sanh mà thuyết giảng ngay [pháp rốt ráo để đạt] Nhất thiết chủng trí.

“Này Ca-diếp! Các ông [là những người] rất ít có, có thể biết được sự tùy nghi thu-yết pháp của đức Như Lai, có thể tin tưởng nhận lãnh. Vì sao vậy? Vì sự tùy nghi thuyết pháp của chư Phật Thế Tôn rất khó nhận hiểu, rất khó biết được.”

Khi ấy, đức Thế Tôn muốn lặp lại những ý nghĩa trên nên nói kệ rằng:

“Đấng Pháp vương Phá Hữu, [1]

Xuất hiện giữa thế gian,

Tùy lòng chúng sanh muốn,

Mà thuyết dạy mọi pháp.

Đấng Như Lai tôn quý,

Trí tuệ rất sâu xa,

Từ lâu vẫn im lặng,

Không vội thuyết pháp yếu.

Vì người trí được nghe,

Sẽ có thể tin hiểu;

Kẻ vô trí nghi ngờ,

Sẽ để mất vĩnh viễn.

Cho nên, này Ca-diếp!

Phật tùy sức chúng sanh,

Dùng đủ duyên thuyết dạy,

Khiến cho được chánh kiến.

Ca-diếp! Ông nên biết,

Giống như đám mây lớn,

Hiện ra trong cõi đời,

Che phủ khắp mọi nơi.

Mây trí tuệ thấm nhuần,

Có ánh chớp chói lòa,

Sấm nổ chấn động xa,

Người người đều vui mừng.

Mặt trời bị che khuất,

Khắp mặt đất mát lành,

Mây đen sà rất thấp,

Dường đưa tay sờ được.

Một trận mưa đều xuống,

Nước đổ khắp bốn phương,

Chảy tràn khôn kể xiết,

Mặt đất đều thấm đẫm.

Từ núi, sông, khe, suối,

Nơi ẩn khuất, sanh ra

Bao cây rừng, cỏ thuốc,

Những cây lớn, cây nhỏ,

Trăm giống lúa, mạ non,

Đến bãi mía, vườn nho,

Nước mưa đã ngấm đều,

Nơi nơi đều ướt đẫm.

Đất khô nay thấm mềm,

Cỏ cây đều xanh tốt.

Từ mây kia đổ xuống,

Cùng một loại nước mưa,

Bao cỏ cây, rừng rậm,

Tùy loại đều thấm đủ.

Hết thảy các loại cây,

Dù cao, thấp, khoảng giữa,

Tùy mức độ lớn, nhỏ,

Đều vươn mình phát triển,

Gốc rễ, thân, lá, cành,

Cùng hoa trái sáng đẹp.

Một trận mưa đều khắp,

Hết thảy đều tươi mát.

Hình thể mỗi loại cây,

Tính chất có lớn nhỏ,

Cùng thấm ướt một cách,

Mỗi loại thêm tốt tươi.

Đức Phật cũng như vậy,

Xuất hiện nơi cõi đời,

Ví như vầng mây lớn,

Che phủ khắp mọi nơi.

Một khi đã ra đời,

Liền vì mọi chúng sanh,

Phân biệt giảng nói rõ,

Tánh thật của các pháp.

Bậc Đại Thánh Thế Tôn,

Ở giữa hàng trời, người,

Cùng hết thảy đại chúng,

Tuyên thuyết như thế này:

‘Ta là Bậc Như Lai,

Là Đấng Lưỡng Túc Tôn,

Nay xuất hiện giữa đời,

Như một vầng mây lớn,

Tưới nhuần cho hết thảy,

Chúng sinh đang khô héo,

Giúp xa lìa khổ não,

Được niềm vui an ổn:

Là niềm vui thế gian,

Cùng an vui Niết-bàn.

Chúng sinh cõi trời, người,

Hãy một lòng lắng nghe.

Tất cả nên đến đây,

Kính ngưỡng Đấng Vô thượng.

Ta là Bậc Thế Tôn,

Không có ai sánh bằng.

Giúp chúng sanh an ổn,

Nên xuất hiện giữa đời.

Vì đại chúng thuyết dạy,

Pháp cam lộ thanh tịnh.

Pháp ấy chỉ một vị,

Là Niết-bàn giải thoát.

Ta dùng tiếng nhiệm mầu,

Giảng giải rõ nghĩa ấy.

Ta thường vì Đại thừa,

Tạo ra các nhân duyên.

Ta quán sát chúng sanh,

Hết thảy đều bình đẳng,

Không phân biệt yêu, ghét,

Giữa người này, kẻ khác.

Ta không còn tham chấp,

Không giới hạn, ngăn ngại.

Thường vì khắp chúng sanh,

Mà bình đẳng thuyết pháp;

Dù thuyết cho một người,

Hay đông người cũng vậy.

Xưa nay thường thuyết pháp,

Không một việc gì khác,

Dù đến, đi, đứng, ngồi,

Mãi cũng không mỏi mệt.

Làm sung túc thế gian,

Như mưa xuống đều khắp.

Dù sang, hèn, trên, dưới,

Người giữ giới, phá giới,

Bậc đầy đủ oai nghi,

Hay người không đầy đủ,

Dù chánh kiến, tà kiến,

Nhanh nhạy hay trì độn,

Cùng tưới đều mưa pháp,

Mà không hề mỏi mệt.’

Khắp các loài chúng sanh,

Được nghe pháp của Phật,

Đều tùy sức tiếp nhận,

Đạt giai vị khác nhau.

Hoặc ở giữa trời, người,

Làm Chuyển luân Thánh vương,

Hoặc Đế thích, Phạm vương,

Là hạng cỏ thuốc nhỏ.

Rõ biết pháp vô lậu,

Có thể đạt Niết-bàn,

Sinh khởi sáu thần thông, [2]

Đạt ba sự sáng suốt, [3]

Sống riêng giữa núi rừng,

Thường thực hành thiền định,

Chứng đắc quả Duyên giác,

Là cỏ thuốc trung bình.

Cầu thành bậc Thế Tôn,

Quyết tâm sẽ làm Phật,

Tinh tấn tu thiền định,

Là cỏ thuốc bậc cao.

Lại có những Phật tử,

Một lòng cầu đạo Phật,

Thường thực hành từ bi,

Tự biết sẽ thành Phật,

Tâm quyết định không nghi,

Gọi là hạng cây nhỏ.

Trụ yên trong thần thông,

Thuyết pháp không thối chuyển,

Hóa độ khắp chúng sanh,

Vô số ức, trăm, nghìn…

Hàng Bồ Tát như vậy,

Gọi là hạng cây lớn.

Phật thuyết pháp bình đẳng,

Như một cơn mưa xuống,

Chúng sinh tùy căn tánh,

Nên tiếp nhận khác nhau,

Như những cỏ cây kia,

Sức hút nước khác biệt.

Phật dùng thí dụ này,

Để phương tiện chỉ bày,

Dùng đủ mọi ngôn từ,

Để giảng giải một pháp,

So với trí tuệ Phật,

Như giọt nước trong biển.

Như Lai đổ mưa pháp,

Đầy đủ khắp thế gian.

Pháp ấy chỉ một vị,

Chúng sinh tùy sức tu.

Như trong khu rừng kia,

Cỏ thuốc và cây cối,

Đều tùy mức lớn, nhỏ,

Dần dần thêm tươi tốt.

Giáo pháp của chư Phật,

Thường chỉ dùng một vị,

Khiến cho khắp thế gian,

Đều nhận được đầy đủ.

Theo thứ lớp tu hành,

Đều đạt thành đạo quả.

Hàng Thanh văn, Duyên giác,

Sống giữa chốn núi rừng,

Trụ nơi thân sau cùng,

Được nghe pháp, chứng quả,

Gọi là hàng cỏ thuốc,

Gặp mưa đều tăng trưởng.

Nếu là hàng Bồ Tát,

Có trí tuệ vững chắc,

Thấu suốt trong ba cõi,

Cầu giáo pháp tối thượng,

Đó gọi là cây nhỏ,

Gặp mưa cũng tăng trưởng.

Bậc trụ trong thiền định,

Đạt được sức thần thông,

Được nghe các pháp Không,

Lòng hết sức vui mừng,

Phóng vô số hào quang,

Hóa độ khắp chúng sanh.

Đó gọi là cây lớn,

Gặp mưa được tăng trưởng.

Như vậy đó, Ca-diếp!

Giáo pháp Phật thuyết dạy,

Ví như vầng mây lớn,

Đổ xuống một cơn mưa,

Tưới mát hoa nhân loại,

Giúp cho đều kết quả.

Ca-diếp! Ông nên biết,

Việc dùng các nhân duyên,

Với đủ mọi thí dụ,

Để chỉ bày đạo Phật,

Là phương tiện của ta,

Chư Phật cũng như vậy.

Nay ta vì các ông,

Nói điều chân thật nhất:

‘Hết thảy hàng Thanh văn,

Đều chưa được Niết-bàn,

Những gì các ông làm,

Đều là đạo Bồ Tát,

Dần dần tu học tiếp,

Chắc chắn sẽ thành Phật.’

6. Phẩm Thụ ký

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn thuyết kệ như trên rồi liền bảo đại chúng: “Đệ tử Ma-ha Ca-diếp này của ta, trong đời tương lai sẽ được gần gũi phụng sự 300 muôn ức đức Phật Thế Tôn, cung kính cúng dường, tôn trọng ngợi khen xưng tán, rộng thuyết vô số giáo pháp Đại thừa của chư Phật, đến khi thọ thân sau cùng sẽ được thành Phật hiệu là Quang Minh Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn, cõi nước tên là Quang Đức, kiếp tên Đại Trang Nghiêm.

“Phật [Quang Minh] sống thọ 12 tiểu kiếp, chánh pháp trụ ở đời 20 tiểu kiếp, tượng pháp cũng trụ 20 tiểu kiếp. Cõi nước ấy trang nghiêm xinh đẹp, không có những sự xấu ác, ngói sỏi, gai góc, chất bài tiết dơ nhớp. Mặt đất bằng phẳng, không có sự cao thấp mấp mô, hầm hố, gò đồi. Mặt đất bằng lưu ly, có cây báu xếp thành hàng, có dây bằng vàng ròng giăng theo ven đường ngăn cách lộ giới, rải lên đất các loại hoa báu, khắp nơi đều sạch đẹp. Cõi Phật ấy có vô số ngàn ức Bồ Tát, chúng Thanh văn cũng nhiều vô số, không có những việc của ma, tuy có ma và dân ma nhưng họ đều ủng hộ bảo vệ Phật pháp.”

Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa trên nên thuyết kệ rằng:

“Nghe đây, các tỳ-kheo!

Ta nay dùng Phật nhãn,

Thấy rõ Ca-diếp này,

Trong một đời tương lai,

Trải qua vô số kiếp,

Sẽ chứng quả thành Phật.

Trong tương lai Ca-diếp,

Sẽ gần gũi cúng dường,

Đến ba trăm vạn ức,

Các đức Phật Thế Tôn.

Vì cầu trí tuệ Phật,

Nên tu hạnh thanh tịnh.

Cúng dường bậc tối thượng,

Là Đấng Nhị Túc Tôn.

Rồi tu tập hết thảy,

Môn trí tuệ Vô thượng.

Cho đến thân sau cùng,

Sẽ thành tựu quả Phật.

Cõi nước ấy thanh tịnh,

Mặt đất bằng lưu ly,

Có rất nhiều cây báu,

Mọc thành hàng ven đường,

Có dây vàng ngăn lối,

Người trông thấy đều vui.

Thường lan tỏa hương thơm,

Và rải nhiều hoa quý,

Đủ các loại diệu kỳ,

Để trang hoàng, làm đẹp.

Mặt đất thật bằng phẳng,

Không có những gò, hố.

Chúng Bồ Tát ở đây,

Nhiều không thể tính đếm.

Tâm các vị nhu hòa,

Dùng sức thần thông lớn,

Cung kính giữ Kinh điển

Đại thừa của chư Phật.

Chúng đệ tử Thanh văn,

Thân sau cùng, vô lậu,

Là con Đấng Pháp Vương,

Cũng nhiều không thể đếm,

Dù dùng đến thiên nhãn,

Cũng không biết số lượng.

Đức Phật ấy sống thọ,

Đến mười hai tiểu kiếp.

Chánh pháp trụ ở đời,

Được hai mươi tiểu kiếp.

Tượng pháp lại cũng trụ,

Được hai mươi tiểu kiếp.

Đó là những sự việc,

Về đức Phật Quang Minh.”

Bấy giờ, các vị như Đại Mục-kiền-liên, Tu-bồ-đề, Ma-ha Ca-chiên-diên v.v.. thảy đều rúng động cả thân tâm, liền một lòng chắp tay, chăm chú không rời mắt chiêm ngưỡng tôn nhan Phật, rồi tất cả đồng thanh nói kệ rằng:

Đức Đại Hùng Thế Tôn,

Pháp vương dòng họ Thích.

Xin thương xót chúng con,

Ban cho âm thanh Phật.

Nếu biết tâm chúng con,

Thấy việc được thụ ký,

Như rưới nước cam lộ,

Trừ nóng nảy, mát lành.

Như từ vùng nạn đói,

Đến gặp tiệc của vua,

Lòng vẫn còn nghi sợ,

Chưa dám ngồi vào ăn.

Nếu như được vua bảo,

Sau đó mới dám ăn.

Chúng con nay cũng vậy,

Thường nhớ lỗi Tiểu thừa,

Chẳng biết vì lẽ nào,

Có thể được trí Phật.

Nên tuy nghe Phật dạy:

Chúng con đều thành Phật.

Vẫn ôm lòng lo nghĩ,

Như chưa dám ngồi ăn.

Mong được Phật thụ ký,

Mới yên lòng khoan khoái.

Đức Đại Hùng Thế Tôn,

Thường giúp đời an vui,

Nguyện ban lời thụ ký,

Như bảo người đói ăn.

Bấy giờ, đức Thế Tôn biết rõ những suy nghĩ trong tâm của các đại đệ tử, liền bảo các vị tỳ-kheo rằng:

“Ông Tu-bồ-đề này, trong đời tương lai sẽ gần gũi phụng sự 300 muôn ức na-do-tha đức Phật, cung kính cúng dường, tôn trọng ngợi khen xưng tán, thường tu hạnh thanh tịnh, thực hành đầy đủ đạo Bồ Tát, đến khi thọ thân sau cùng sẽ được thành Phật hiệu là Danh Tướng Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn.

“Kiếp ấy tên là Hữu Bảo, cõi nước tên là Bảo Sanh, đất đai bằng phẳng, mặt đất bằng pha lê, có cây báu trang nghiêm, không có những gò hố, cát sỏi, gai góc, chất bài tiết dơ nhớp, có hoa báu che phủ mặt đất, khắp nơi đều sạch đẹp. Nhân dân ở cõi ấy đều sống trong các đài báu và lầu gác quý báu xinh đẹp. Hàng đệ tử Thanh văn nhiều vô số, dùng đến các phép tính toán, thí dụ cũng không thể biết được. Chúng Bồ Tát đông đảo đến vô số ngàn muôn ức na-do-tha. Đức Phật [Danh Tướng] sống thọ 12 tiểu kiếp, chánh pháp trụ ở đời 20 tiểu kiếp, tượng pháp cũng trụ 20 tiểu kiếp. Đức Phật ấy thường ở giữa hư không vì đại chúng thuyết pháp, độ thoát vô số Bồ Tát và chúng Thanh văn.”

Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa trên nên thuyết kệ rằng:

Này đại chúng tỳ-kheo!

Nay cho các ông biết,

Tất cả hãy một lòng,

Lắng nghe lời ta nói.

Đại đệ tử của ta,

Là ông Tu-bồ-đề,

Tương lai sẽ thành Phật,

Hiệu là Phật Danh Tướng.

Sẽ cúng dường vô số,

Muôn ức các đức Phật,

Noi theo công hạnh Phật,

Dần dần đạt đạo lớn.

Cho đến thân sau cùng,

Đủ ba mươi hai tướng,

Thân đoan nghiêm tốt đẹp,

Như một tòa núi báu.

Cõi nước của Phật ấy,

Trang nghiêm thanh tịnh nhất,

Chúng sanh được nhìn thấy,

Không ai không ưa thích.

Phật trụ nơi cõi ấy,

Hóa độ vô số chúng.

Trong giáo pháp của Phật,

Có rất nhiều Bồ Tát,

Căn tánh đều nhanh nhạy,

Chuyển giáo pháp bất thối.

Nên cõi ấy thường dùng,

Bồ Tát để trang nghiêm.

Lại có chúng Thanh văn,

Nhiều không thể nêu số,

Thảy đều đạt ba minh,

Và đủ sáu thần thông,

Trụ nơi tám giải thoát,

Có đủ oai đức lớn.

Đức Phật ấy thuyết pháp,

Thường hiện ra vô số,

Pháp thần thông biến hóa,

Thật không thể nghĩ bàn.

Chư thiên và nhân dân,

Nhiều như cát sông Hằng,

Đều cung kính chắp tay,

Nghe nhận lời Phật dạy.

Đức Phật ấy sống thọ,

Đến mười hai tiểu kiếp.

Chánh pháp trụ ở đời,

Được hai mươi tiểu kiếp.

Tượng pháp lại cũng trụ,

Được hai mươi tiểu kiếp.”

Bấy giờ, đức Thế Tôn lại bảo các vị tỳ-kheo: “Nay ta nói với các ông rằng, Đại Ca-chiên-diên đây trong tương lai sẽ dùng đủ các món cúng dường để cúng dường phụng sự 8.000 ức vị Phật với lòng cung kính tôn trọng; sau khi chư Phật diệt độ, sẽ xây dựng tháp miếu thờ phụng mỗi vị, cao đến ngàn do-tuần, ngang dọc vuông vức 500 do tuần, đều dùng bảy món báu là vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, chân châu, ngọc mai khôi [4] để xây dựng thành, lại dùng đủ các loại hoa đẹp, chuỗi ngọc, hương thoa, hương bột, hương đốt, lọng lụa, tràng phan để cúng dường tháp miếu.

Trải qua những việc ấy rồi, về sau ông lại cúng dường 20.000 ức vị Phật nữa, cũng giống như trước. Sau khi cúng dường chư Phật như vậy, lại tu tập trọn đủ đạo Bồ Tát rồi sẽ thành Phật hiệu là Diêm-phù-na-đề Kim Quang Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Cõi nước ấy đất đai bằng phẳng, mặt đất bằng pha lê, có cây báu trang nghiêm, có dây bằng vàng ròng giăng theo ven đường ngăn cách lộ giới, có hoa đẹp che phủ mặt đất, khắp nơi đều sạch đẹp, ai thấy cũng hoan hỷ.

Cõi ấy không có bốn đường ác là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh và a-tu-la, có nhiều chư thiên và loài người. Có vô số vạn ức chúng Thanh văn và Bồ Tát trang nghiêm cho cõi nước. Đức Phật ấy sống thọ 12 tiểu kiếp, chánh pháp trụ ở đời 20 tiểu kiếp, tượng pháp cũng trụ 20 tiểu kiếp.”

Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa trên nên thuyết kệ rằng:

“Này đại chúng tỳ-kheo!

Hãy một lòng lắng nghe.

Những lời ta nói ra,

Đúng thật không sai khác.

Ông Ca-chiên-diên đây,

Rồi sẽ dùng đủ loại,

Thức cúng dường hảo hạng,

Để cúng dường chư Phật.

Chư Phật diệt độ rồi,

Liền xây tháp bảy báu,

Lại dùng đủ hương, hoa,

Cúng dường xá-lợi Phật.

Cho đến thân sau cùng,

Sẽ đạt trí tuệ Phật,

Thành bậc Chánh Đẳng Giác.

Cõi nước ấy thanh tịnh,

Phật độ thoát vô số,

Ngàn muôn ức chúng sanh,

Và được khắp mười phương,

Đều cung kính cúng dường.

Hào quang của Phật ấy,

Không gì vượt hơn được.

Cho nên có hiệu là:

Phật Diêm-phù Kim Quang.

Chúng Bồ Tát, Thanh văn,

Đều không còn tái sanh, [5]

Nhiều không thể tính đếm,

Trang nghiêm cõi Phật ấy.

Bấy giờ, đức Thế Tôn lại bảo đại chúng: “Nay ta nói với các ông rằng, Đại Mục-kiền-liên đây trong tương lai sẽ dùng đủ các món tốt đẹp để cúng dường phụng sự 8.000 vị Phật với lòng cung kính tôn trọng; sau khi chư Phật diệt độ, sẽ xây dựng tháp miếu thờ phụng mỗi vị, cao đến ngàn do-tuần, ngang dọc vuông vức 500 do-tuần, đều dùng bảy món báu là vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, chân châu, ngọc mai khôi để xây dựng thành, lại dùng đủ các loại hoa đẹp, chuỗi ngọc, hương thoa, hương bột, hương đốt, lọng lụa, tràng phan để dâng lên cúng dường.

Trải qua những việc ấy rồi, về sau lại cúng dường 200 muôn ức vị Phật nữa, cũng giống như trước. Sau khi cúng dường chư Phật như vậy, lại tu tập trọn đủ đạo Bồ Tát, rồi sẽ thành Phật hiệu là Đa-ma-la-bạt Chiên Đàn Hương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Kiếp ấy tên là Hỷ Mãn, cõi nước tên là Ý Lạc.

Đất đai nơi ấy bằng phẳng, mặt đất bằng pha lê, có cây báu trang nghiêm, có hoa bằng chân châu rải trên mặt đất, khắp nơi đều sạch đẹp, ai thấy cũng hoan hỷ. Cõi ấy có nhiều chư thiên và loài người, chúng Bồ Tát, Thanh văn nhiều vô số. Đức Phật ấy sống thọ 24 tiểu kiếp, chánh pháp trụ ở đời 40 tiểu kiếp, tượng pháp cũng trụ 40 tiểu kiếp.”

Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa trên nên thuyết kệ rằng:

“Đệ tử này của ta,

Là Đại Mục-kiền-liên,

Sau khi bỏ thân này,

Sẽ được gặp tám ngàn

Hai trăm muôn ức vị

Chánh Giác Phật Thế Tôn.

Tâm mong cầu đạo Phật,

Nên cung kính cúng dường.

Nơi đạo tràng chư Phật,

Thường tu hạnh thanh tịnh.

Trải qua vô số kiếp,

Vâng giữ theo pháp Phật.

Chư Phật diệt độ rồi,

Dùng bảy báu xây tháp,

Từ xa hiện đỉnh vàng.

Lại dùng hương, hoa, nhạc…

Để dâng lên cúng dường,

Tháp thờ xá-lợi Phật.

Dần dần tu tập đủ,

Các pháp môn Bồ Tát,

Rồi ở cõi Ý Lạc,

Thành bậc Chánh Đẳng Giác,

Hiệu là Đa-ma-la

Chiên Đàn Hương Như Lai.

Đức Phật ấy sống thọ

Hai mươi bốn tiểu kiếp,

Thường vì hàng trời người,

Giảng thuyết đạo Vô thượng.

Chúng Thanh văn vô số,

Nhiều như cát sông Hằng,

Ba minh, sáu thần thông,

Đều có oai đức lớn.

Bồ Tát cũng vô số,

Chí kiên cố, tinh tấn,

Quyết cầu trí tuệ Phật,

Tâm không hề thối chuyển.

Sau khi Phật diệt độ,

Chánh pháp trụ ở đời,

Được bốn mươi tiểu kiếp,

Tượng pháp cũng như vậy.

Chúng đệ tử của ta,

Có đầy đủ oai đức,

Số lượng năm trăm người,

Nay ta đều thụ ký:

‘Trong tương lai các ông,

Đều sẽ được thành Phật.’

Ta cùng với các ông,

Đời trước kết nhân duyên,

Nay ta sắp nói rõ,

Các ông khéo lắng nghe.”

7. Phẩm Thí dụ hóa thành

Đức Phật bảo các vị tỳ-kheo: “Trong quá khứ vô số a-tăng-kỳ kiếp không thể nghĩ bàn trước đây, vào lúc đó có đức Phật danh hiệu là Đại Thông Trí Thắng Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Cõi Phật ấy tên là Hảo Thành, kiếp tên là Đại Tướng.

“Này các tỳ-kheo! Từ khi đức Phật ấy nhập Niết-bàn đến nay đã quá lâu xa. Ví như có người đem hết thảy đất đai trong cõi thế giới đại thiên này mài ra làm mực, rồi đi về hướng đông, cứ qua một ngàn cõi nước thì dùng mực chấm một điểm chỉ như hạt bụi cực nhỏ, lại đi tiếp qua một ngàn cõi nước mới chấm một điểm nữa… Như vậy cho đến khi hết số mực đã mài được nói trên. Các ông nghĩ sao? Nếu đếm hết những cõi nước đã đi qua như vậy thì liệu có bậc thầy toán học nào, hoặc các học trò của vị ấy, có thể thấu đạt giới hạn, biết được con số đó hay không?”

“Bạch Thế Tôn! Không thể.”

“Này các tỳ-kheo! Nếu như những cõi nước mà người ấy đã đi qua, dù có hay không có chấm mực như trên, tất cả đều đem nghiền nát thành bụi cực nhỏ, rồi mỗi hạt bụi cực nhỏ đó được tính là một kiếp, thì từ khi đức Phật Đại Thông Trí Thắng nhập Niết-bàn đến nay, thời gian số kiếp còn nhiều hơn số hạt bụi đó đến vô lượng vô biên trăm ngàn muôn ức a-tăng-kỳ kiếp.

“Ta dùng sức thấy biết của Như Lai nên quán sát được lâu xa như vậy vẫn thấy rõ giống như việc ngày nay.”

Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa trên nên thuyết kệ rằng:

“Ta nhớ đời quá khứ,

Vô lượng vô số kiếp,

Có Đấng Lưỡng Túc Tôn,

Hiệu Đại Thông Trí Thắng.

Ví như người dùng sức,

Mài nát cõi đại thiên,

Hết thảy bao đất đai,

Đều nhuyễn ra thành mực.

Đi qua ngàn cõi nước,

Chấm một điểm mực nhỏ,

Cứ vậy mà tiếp tục,

Cho đến khi hết mực.

Bao nhiêu cõi nước ấy,

Có điểm mực hay không,

Đều đem nghiền thành bụi,

Mỗi hạt bụi: một kiếp.

Số hạt bụi như vậy,

Số kiếp còn nhiều hơn.

Phật Đại Thông nhập diệt,

Lâu xa đến như thế.

Trí Như Lai vô ngại,

Thấy Phật ấy diệt độ,

Cùng Thanh văn, Bồ Tát…

Như đang thấy hôm nay.

Các tỳ-kheo, nên biết,

Trí tuệ Phật nhiệm mầu,

Không lậu hoặc, ngăn ngại,

Thông suốt vô số kiếp.”

Đức Phật bảo các vị tỳ-kheo: “Đức Phật Đại Thông Trí Thắng sống thọ đến 540 muôn ức na-do-tha kiếp. [6] Khi đức Phật ấy ngồi nơi đạo trường phá trừ hết quân ma, đã sắp đạt được quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, mà pháp của chư Phật vẫn chưa hiện ra trước. Cứ như vậy trải qua một tiểu kiếp, thậm chí cho đến mười tiểu kiếp ngồi kết già, thân tâm không hề dao động, mà pháp của chư Phật cũng vẫn chưa hiện ra trước.

“Bấy giờ, chư thiên ở cõi trời Đao-lợi trước đó đã vì đức Phật ấy mà trải tòa sư tử dưới gốc cây bồ-đề, cao đến một do-tuần. Đức Phật ngồi nơi tòa sư tử này sẽ chứng đắc quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Trong lúc Phật ngồi nơi tòa này, các vị Phạm thiên vương làm mưa xuống các loại hoa trời, phủ khắp quanh tòa ngồi đến trăm do-tuần, có gió thơm thường thổi qua, cuốn đi những hoa đã héo, lại mưa xuống hoa tươi. Cứ như vậy không dứt, trải qua đủ mười tiểu kiếp cúng dường lên Phật, rồi đến khi Phật diệt độ cũng thường mưa hoa như vậy. Bốn vị thiên vương [7] thường đánh trống trời để cúng dường lên Phật, chư thiên khác thì trỗi lên các loại nhạc trời, trải qua đủ mười tiểu kiếp, rồi đến khi Phật diệt độ cũng cúng dường như vậy.

“Này chư tỳ-kheo! Đức Phật Đại Thông Trí Thắng trải qua mười tiểu kiếp như vậy rồi, pháp của chư Phật mới hiện ra trước, thành tựu quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

“Đức Phật ấy khi chưa xuất gia có 16 người con trai. Người con lớn nhất tên là Trí Tích. Mỗi người con này đều có đủ các món đồ chơi trân quý hiếm lạ, khi nghe cha mình đã thành tựu quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì đều vất bỏ hết mọi thứ quý giá, tìm đến chỗ Phật. Những người mẹ khóc lóc đi theo đưa tiễn, ông nội là Chuyển luân Thánh vương, cùng với 100 vị quan đại thần và hơn trăm ngàn muôn ức người dân vây quanh, cũng cùng đi đến đạo trường nơi Phật thành đạo. Tất cả đều mong muốn được gần gũi đức Như Lai Đại Thông Trí Thắng, cung kính cúng dường, tôn trọng ngợi khen xưng tán.

“Khi đến chỗ Phật rồi, tất cả đều cúi đầu chạm mặt lễ dưới chân Phật, đi nhiễu quanh Phật rồi chắp tay một lòng chiêm ngưỡng đức Thế Tôn. Các vương tử cùng đọc kệ rằng:

Thế Tôn đại oai đức,

Vì muốn độ chúng sanh,

Trải vô lượng ức kiếp,

Nay mới thành quả Phật.

Các nguyện đã đầy đủ,

Lành thay, tối thượng hiền.

Thế Tôn rất ít có,

Ngồi xuống mười tiểu kiếp,

Thân thể cùng tay chân,

Đều an nhiên không động.

Trong tâm thường an tĩnh,

Chưa từng có tán loạn,

Rốt ráo thường tịch diệt,

Trụ yên pháp vô lậu.

Nay được thấy Thế Tôn,

An ổn thành Phật đạo,

Chúng con được lợi lành,

Rất hoan hỷ, xưng tán.

Chúng sanh thường khổ não,

Mù, không thầy dẫn đường,

Không rõ đạo dứt khổ,

Không biết cầu giải thoát.

Đêm dài thêm đường ác,

Càng ít sanh cõi trời.

Từ tối đi vào tối,

Không nghe danh hiệu Phật.

Nay Phật đạt tối thượng,

Đạo an ổn, vô lậu,

Chúng con hàng trời, người,

Được lợi ích lớn nhất,

Nên cùng nhau cúi đầu,

Nương theo Đấng Vô Thượng.

“Bấy giờ, 16 vị vương tử đọc kệ xưng tán Phật rồi liền thưa thỉnh đức Thế Tôn chuyển pháp luân, cùng nói rằng: ‘Đức Thế Tôn thuyết pháp mang lại nhiều sự an ổn, thương xót làm lợi ích cho chư thiên và loài người.’

“Các vị đọc kệ lặp lại ý này như sau:

Bậc Thế Hùng tối thượng,

Trăm phúc tự trang nghiêm.

Được trí tuệ Vô thượng,

Xin vì đời nói ra.

Để độ thoát chúng con,

Cùng muôn loài chúng sanh.

Xin phân biệt chỉ bày,

Khiến được trí tuệ ấy.

Nếu chúng con thành Phật,

Thì chúng sanh cũng vậy.

Thế Tôn rõ tâm niệm,

Của hết thảy chúng sanh,

Biết pháp họ thực hành,

Cũng như sức trí tuệ,

Chỗ ưa muốn, tu phúc,

Nghiệp đã tạo đời trước,

Thế Tôn đã biết hết,

Nguyện thuyết pháp Vô thượng.”

Đức Phật bảo các vị tỳ-kheo: “Khi đức Phật Đại Thông Trí Thắng chứng quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, 500 muôn ức cõi nước của chư Phật ở mỗi phương trong khắp mười phương đều chấn động theo sáu cách. Trong các cõi nước ấy, những nơi tối tăm ánh sáng mặt trời mặt trăng không soi chiếu đến thì nay đều sáng rực. Những chúng sanh nơi ấy đều nhìn thấy nhau, liền nói rằng: ‘Ở nơi đây sao bỗng dưng lại sanh ra chúng sanh!’

“Lại cũng trong những cõi nước ấy, cung điện của chư thiên, cho đến cung điện của Phạm thiên vương, đều chấn động sáu cách, có hào quang chói sáng soi chiếu mọi nơi, tỏa khắp thế giới, chói sáng hơn hào quang của chư thiên.

“Lúc bấy giờ, ở trong 500 muôn ức cõi nước phương đông, những cung điện của Phạm thiên vương đều được soi chiếu rực rỡ, sáng hơn nhiều lần so với bình thường. Các vị Phạm thiên vương trong những cõi nước ấy đều nghĩ rằng: ‘Nay cung điện của ta rực sáng là điều trước đây chưa từng có, không biết do nhân duyên gì mà hiện ra tướng trạng này?’

“Bấy giờ, các vị Phạm thiên vương liền đến gặp nhau để cùng bàn luận việc này. Trong số đó có một vị Phạm thiên vương tên là Cứu Nhất Thiết, vì các Phạm thiên vương khác mà nói kệ rằng:

Cung điện của chúng ta,

Sáng rực chưa từng có,

Là do nhân duyên gì,

Chúng ta nên tìm hiểu.

Thiên tử đại đức sanh, [8]

Hay đức Phật ra đời,

Nên có hào quang lớn,

Soi chiếu khắp mười phương?

“Bấy giờ, các vị Phạm thiên vương ở 500 muôn ức cõi nước phương đông, cùng mang theo cung điện của mình, mỗi vị đều dùng đãy lớn đựng các loại hoa trời, cùng nhau đi về hướng tây để tìm nguyên nhân của sự chiếu sáng. Các vị liền nhìn thấy đức Như Lai Đại Thông Trí Thắng nơi đạo tràng dưới gốc cây bồ-đề. Đức Phật ngồi trên tòa sư tử, có chư thiên, long vương, càn-thát-bà, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, loài người và các loài phi nhân… đều cung kính vây quanh, lại cũng thấy 16 vị vương tử đang thỉnh Phật chuyển pháp luân.

“Các vị Phạm thiên vương liền cúi đầu chạm mặt lễ kính dưới chân Phật, đi nhiễu quanh Phật trăm ngàn vòng, dùng hoa trời tung rải phía trên thân Phật. Hoa được tung rải như núi Tu-di, [9] cũng dùng để cúng dường cây bồ-đề của Phật. Cây bồ-đề ấy cao đến 10 do-tuần.3 Sau khi cúng dường hoa trời xong, các vị Phạm thiên vương đều dâng cung điện4 của mình lên đức Phật, thưa rằng: ‘Nguyện đức Thế Tôn thương xót làm lợi ích cho chúng con. Nay chúng con dâng cúng những cung điện này, nguyện Phật rủ lòng thương mà thọ nhận.’ Các vị Phạm thiên vương liền đối trước Phật, đồng thanh một lòng đọc kệ xưng tán rằng:

Thế Tôn thật ít có!

Rất khó được gặp Phật.

Đủ vô lượng công đức,

Thường cứu độ tất cả,

Bậc thầy của trời, người,

Thương xót khắp thế gian.

Chúng sanh trong mười phương,

Đều được nhờ lợi ích.

Chúng con đến đây từ

Năm trăm muôn ức nước,

Từ bỏ vui thiền định,

Vì muốn cúng dường Phật.

Nhờ phúc đức đời trước,

Được cung điện trang nghiêm,

Nay xin dâng cúng Phật,

Nguyện xót thương thọ nhận.

“Bấy giờ, các vị Phạm thiên vương đọc kệ xưng tán Phật rồi, mỗi vị đều nói: ‘Nguyện đức Thế Tôn chuyển bánh xe pháp độ thoát chúng sanh, mở đường đến Niết-bàn.’

“Rồi các vị Phạm thiên vương đồng thanh một lòng đọc kệ rằng:

Thế Hùng Lưỡng Túc Tôn,

Cúi xin diễn thuyết pháp,

Dùng sức đại từ bi,

Cứu chúng sanh khổ não.

“Bấy giờ, đức Như Lai Đại Thông Trí Thắng im lặng nhận lời.

“Lại nữa, này các tỳ-kheo! Các vị Phạm thiên vương ở 500 muôn ức cõi nước về phương đông nam, mỗi vị cũng đều tự thấy cung điện của mình được soi chiếu sáng rực, trước đây chưa từng có. Các vị đều vui mừng phấn khích, khởi tâm cho là việc hy hữu, liền đi đến gặp nhau để cùng bàn luận việc này. Bấy giờ trong số đó có một vị Phạm thiên vương tên là Đại Bi, vì các vị Phạm thiên vương khác mà nói kệ rằng:

Là do nhân duyên gì,

Hiện ra tướng trạng này?

Cung điện của chúng ta,

Sáng rực chưa từng có.

Thiên tử đại đức sanh,

Hay đức Phật ra đời?

Chưa từng thấy tướng này,

Hãy cùng nhau tìm kiếm.

Qua ngàn muôn ức cõi,

Theo ánh sáng mà suy,

Chắc hẳn Phật ra đời,

Độ chúng sanh thoát khổ.

“Bấy giờ, 500 muôn ức vị Phạm thiên vương cùng với cung điện [10] của mình, mỗi vị đều dùng đãy lớn đựng các loại hoa trời, cùng đi về hướng tây bắc để tìm nguyên nhân của sự chiếu sáng. Các vị liền nhìn thấy đức Như Lai Đại Thông Trí Thắng nơi đạo tràng dưới gốc cây bồ-đề. Đức Phật ngồi trên tòa sư tử, có chư thiên, long vương, càn-thát-bà, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, người và các loài phi nhân… đều cung kính vây quanh, lại cũng thấy 16 vị vương tử đang thỉnh Phật chuyển pháp luân.

Các vị Phạm thiên vương liền cúi đầu chạm mặt lễ kính dưới chân Phật, đi nhiễu quanh Phật trăm ngàn vòng, dùng hoa trời tung rải phía trên thân Phật. Hoa được tung rải rơi xuống như núi Tu-di, cũng dùng để cúng dường cây bồ-đề của Phật. Sau khi cúng dường hoa trời xong, các vị Phạm thiên vương đều dâng cung điện của mình lên đức Phật, thưa rằng: ‘Nguyện đức Thế Tôn thương xót làm lợi ích cho chúng con.

Nay chúng con dâng cúng những cung điện này, nguyện Phật rủ lòng thương mà thọ nhận.’

“Bấy giờ, các vị Phạm thiên vương liền đối trước Phật, một lòng đồng thanh đọc kệ xưng tán rằng:

“Thánh chủ, vua chư thiên,

Tiếng như chim ca-lăng. [11]

Bậc thương xót chúng sanh,

Chúng con xin kính lễ.

Thế Tôn rất ít có,

Thật lâu mới ra đời.

Một trăm tám mươi kiếp, [12]

Trống không, không có Phật.

Ba đường ác đông đảo,

Sanh cõi trời hiếm hoi.

Nay Phật đã ra đời,

Giúp chúng sanh thấy rõ, [13]

Làm chỗ đời nương theo,

Cứu giúp cho hết thảy.

Là cha lành chúng sanh,

Thương xót làm lợi ích

Chúng con nhờ phúc xưa,

Nay được gặp Thế Tôn.”

“Bấy giờ các vị Phạm thiên vương đọc kệ tán Phật rồi, mỗi người đều nói rằng: ‘Nguyện đức Thế Tôn thương xót tất cả mà chuyển bánh xe pháp độ thoát chúng sanh.’

“Khi ấy, các vị Phạm thiên vương một lòng đồng thanh đọc kệ rằng:

Đại thánh chuyển pháp luân,

Chỉ bày các tướng pháp.

Độ chúng sanh khổ não,

Khiến cho rất vui mừng.

Chúng sanh nghe pháp này,

Đạt đạo sanh cõi trời,

Ít người vào đường ác,

Người nhẫn thiện nhiều hơn.

“Bấy giờ, đức Như Lai Đại Thông Trí Thắng im lặng nhận lời.

“Lại nữa, này các tỳ-kheo! Các vị Phạm thiên vương ở 500 muôn ức cõi nước về phương nam, mỗi vị cũng đều tự thấy cung điện của mình được soi chiếu sáng rực, trước đây chưa từng có. Các vị đều vui mừng phấn khích, khởi tâm cho là việc hy hữu, liền đi đến gặp nhau để cùng bàn luận: ‘Do nhân duyên gì mà cung điện của chúng ta có ánh sáng chói lọi này?’

“Bấy giờ trong số đó có một vị Phạm thiên vương tên là Diệu Pháp, vì các vị Phạm thiên vương khác mà nói kệ rằng:

Cung điện của chúng ta,

Có ánh sáng chói lòa,

Không thể không nhân duyên,

Nên phải tìm hiểu xem.

Trải qua trăm ngàn kiếp,

Chưa từng thấy tướng này.

Thiên tử đại đức sanh,

Hay đức Phật ra đời?

“Bấy giờ, 500 muôn ức vị Phạm thiên vương cùng với cung điện của mình, mỗi vị đều dùng đãy lớn đựng các loại hoa trời, cùng đi về hướng bắc để tìm nguyên nhân của sự chiếu sáng. Các vị liền nhìn thấy đức Như Lai Đại Thông Trí Thắng nơi đạo tràng dưới gốc cây bồ-đề. Đức Phật ngồi trên tòa sư tử, có chư thiên, long vương, càn-thát-bà, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, loài người và các loài phi nhân… đều cung kính vây quanh, lại cũng thấy 16 vị vương tử đang thỉnh Phật chuyển pháp luân.

“Các vị Phạm thiên vương liền cúi đầu chạm mặt lễ kính dưới chân Phật, đi nhiễu quanh Phật trăm ngàn vòng, dùng hoa trời tung rải phía trên thân Phật. Hoa được tung rải rơi xuống như núi Tu-di, cũng dùng để cúng dường cây bồ-đề của Phật. Sau khi cúng dường hoa trời xong, các vị Phạm thiên vương đều dâng cung điện của mình lên đức Phật, thưa rằng: ‘Nguyện đức Thế Tôn thương xót làm lợi ích cho chúng con. Nay chúng con dâng cúng những cung điện này, nguyện Phật rủ lòng thương mà thọ nhận.’

“Bấy giờ, các vị Phạm thiên vương liền đối trước Phật, đồng thanh một lòng đọc kệ xưng tán rằng:

Thế Tôn thật khó gặp,

Phá trừ các phiền não.

Hơn trăm ba mươi kiếp,

Nay mới gặp một lần.

Những chúng sanh đói khát,

Được mưa pháp đầy đủ.

Xưa nay chưa từng thấy,

Bậc trí tuệ vô lượng,

Như hoa ưu-đàm-bát,

Đến nay mới được gặp.

Cung điện của chúng con,

Hào quang chiếu trang nghiêm,

Thế Tôn đại từ bi,

Nguyện xót thương thọ nhận.

“Bấy giờ các vị Phạm thiên vương đọc kệ tán Phật rồi, mỗi người đều nói rằng: ‘Nguyện đức Thế Tôn chuyển bánh xe pháp, khiến cho hết thảy chư thiên, ma, phạm chí, sa-môn, bà-la-môn trong thế gian đều an ổn mà được độ thoát.’

Khi ấy, các vị Phạm thiên vương đồng thanh một lòng đọc kệ rằng:

Nguyện đức Thiên Nhân Tôn,

Chuyển pháp luân vô thượng,

Đánh tiếng trống pháp lớn,

Thổi vang kèn pháp lớn, [14]

Đổ trận mưa pháp lớn,

Độ vô số chúng sanh.

Chúng con đồng thỉnh nguyện,

Xin giảng pháp sâu xa.

“Bấy giờ, đức Như Lai Đại Thông Trí Thắng im lặng nhận lời.

“Từ phương tây nam cho đến phương dưới cũng đều [xảy ra những việc] như vậy.

“Bấy giờ các vị Phạm thiên vương ở 500 muôn ức cõi nước về phương trên, mỗi vị cũng đều tự thấy cung điện của mình được soi chiếu sáng rực, trước đây chưa từng có. Các vị đều vui mừng phấn khích, khởi tâm cho là việc hy hữu, liền đi đến gặp nhau để cùng bàn luận: ‘Do nhân duyên gì mà cung điện của chúng ta có ánh sáng chói lọi này?’

“Bấy giờ trong số đó có một vị Phạm thiên vương tên là Thi Khí, vì các vị Phạm thiên vương khác mà nói kệ rằng:

Nay do nhân duyên gì,

Cung điện của chúng ta,

Có ánh sáng rực rỡ,

Trang nghiêm chưa từng có!

Tướng nhiệm mầu thế này,

Chưa từng được thấy nghe.

Thiên tử đại đức sanh,

Hay đức Phật ra đời?

“Bấy giờ, 500 muôn ức vị Phạm thiên vương cùng với cung điện của mình, mỗi vị đều dùng đãy lớn đựng các loại hoa trời, cùng đi về hướng dưới để tìm nguyên nhân của sự chiếu sáng. Các vị liền nhìn thấy đức Như Lai Đại Thông Trí Thắng nơi đạo tràng dưới gốc cây bồ-đề. Đức Phật ngồi trên tòa sư tử, có chư thiên, long vương, càn-thát-bà, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, loài người và các loài phi nhân… đều cung kính vây quanh, lại cũng thấy 16 vị vương tử đang thỉnh Phật chuyển pháp luân.

“Các vị Phạm thiên vương liền cúi đầu chạm mặt lễ kính dưới chân Phật, đi nhiễu quanh Phật trăm ngàn vòng, dùng hoa trời tung rải phía trên thân Phật. Hoa được tung rải rơi xuống như núi Tu-di, cũng dùng để cúng dường cây bồ-đề của Phật. Sau khi cúng dường hoa trời xong, các vị Phạm thiên vương đều dâng cung điện của mình lên đức Phật, thưa rằng: ‘Nguyện đức Thế Tôn thương xót làm lợi ích cho chúng con. Nay chúng con dâng cúng những cung điện này, nguyện Phật rủ lòng thương mà thọ nhận.’

“Bấy giờ, các vị Phạm thiên vương liền đối trước Phật, đồng thanh một lòng đọc kệ xưng tán rằng:

“Lành thay gặp chư Phật!

Bậc tôn thánh cứu đời,

Ở trong ngục ba cõi,

Cứu thoát các chúng sanh.

Bậc trí tuệ bao trùm,

Thương xót chúng mê mờ,

Thường mở cửa cam lộ, [15]

Rộng cứu độ hết thảy.

Quá khứ vô số kiếp,

Trống không, không có Phật.

Thế Tôn chưa ra đời,

Mười phương thường tối tăm,

Ba đường ác tăng nhiều,

A-tu-la đông đảo,

Chư thiên ngày càng ít,

Chết sanh đường ác nhiều.

Không theo Phật nghe pháp,

Nên thường làm việc ác,

Hình sắc và trí tuệ,

Cả hai đều suy giảm.

Do nhân duyên tội nghiệp,

Không vui, không ý vui.

Đắm trong pháp tà kiến,

Không rõ phép tắc lành.

Không được Phật giáo hóa,

Thường sa đọa đường ác.

Phật là mắt thế gian,

Rất lâu mới ra đời,

Vì thương xót chúng sanh,

Xuất hiện giữa thế gian,

Siêu việt thành Chánh giác,

Chúng con rất vui mừng,

Cùng bao chúng sanh khác,

Mừng khen: Chưa từng có!

Cung điện của chúng con,

Hào quang chiếu trang nghiêm,

Nay dâng cúng Thế Tôn,

Nguyện xót thương thọ nhận.

Nguyện đem công đức này,

Hướng về khắp tất cả,

Chúng con và chúng sanh,

Đều trọn thành Phật đạo.”

“Lúc bấy giờ, 500 muôn ức vị Phạm thiên vương đọc kệ xưng tán Phật rồi, mỗi vị đều bạch Phật: “Nguyện đức Thế Tôn chuyển bánh xe pháp để nhiều chúng sanh được an ổn, nhiều chúng sanh được độ thoát.’

“Khi ấy, các vị Phạm thiên vương lại nói kệ rằng:

Thế Tôn chuyển pháp luân,

Đánh trống pháp cam lộ,

Độ chúng sanh khổ não,

Chỉ bày đường Niết-bàn.

Xin nhận lời con thỉnh,

Dùng âm thanh vi diệu,

Thương xót mà giảng giải,

Pháp tu vô số kiếp.

“Bấy giờ, đức Như Lai Đại Thông Trí Thắng nhận lời thỉnh cầu của các vị Phạm thiên vương trong mười phương cũng như của 16 vị vương tử, liền chuyển pháp luân 3 lần với 12 hành tướng. [16] Nếu là sa-môn, bà-la-môn, hoặc chư thiên, ma, phạm chí cũng như các hạng chúng sanh khác trong thế gian, đều không có khả năng chuyển pháp luân như vậy.

“Đức Phật dạy rằng: ‘Đây là khổ; đây là nguyên nhân của khổ; đây là sự chấm dứt khổ; đây là phương thức để chấm dứt khổ.’ Đức Phật cũng giảng rộng giáo pháp 12 nhân duyên: ‘Vô minh làm duyên sanh ra hành, hành làm duyên sanh ra thức, thức làm duyên sanh ra danh sắc, danh sắc làm duyên sanh ra sáu nhập, sáu nhập làm duyên sanh ra sự xúc chạm, sự xúc chạm làm duyên sanh ra cảm thụ, cảm thụ làm duyên sanh ra luyến ái, luyến ái làm duyên sanh ra chấp thủ, chấp thủ làm duyên sanh ra hiện hữu, hiện hữu làm duyên sanh ra sự sanh, sự sanh làm duyên sanh ra già chết cùng với buồn đau khổ não…

Do vậy, nếu vô minh diệt rồi thì hành diệt, hành diệt thì thức diệt, thức diệt thì danh sắc diệt, danh sắc diệt thì sáu nhập diệt, sáu nhập diệt thì sự xúc chạm diệt, sự xúc chạm diệt thì cảm thụ diệt, cảm thụ diệt thì luyến ái diệt, luyến ái diệt thì chấp thủ diệt, chấp thủ diệt thì hiện hữu diệt, hiện hữu diệt thì sự sanh diệt, sự sanh diệt thì già chết cùng với buồn đau khổ não diệt.’

“Khi đức Phật Đại Thông Trí Thắng thuyết giảng pháp này giữa đại chúng trời, người thì có 600 muôn ức na-do-tha người do không nạp thọ hết thảy các pháp nên tâm được giải thoát đối với các lậu hoặc, đều đạt thiền định thâm sâu mầu nhiệm, chứng được ba minh và sáu thần thông, đủ tám môn giải thoát.

“Khi Phật thuyết pháp lần thứ hai, thứ ba, thứ tư, số lượng chúng sanh do không nạp thọ hết thảy các pháp mà tâm được giải thoát đối với các lậu hoặc đã nhiều như số cát của ngàn muôn ức na-do-tha con sông Hằng. Từ đó về sau, chúng Thanh văn của Phật ấy nhiều đến vô lượng vô biên, không thể nêu lên số lượng.

“Bấy giờ, 16 vị vương tử đều xuất gia làm sa-di lúc còn nhỏ tuổi, căn tánh thông minh nhanh nhạy, trí tuệ sáng suốt thấu triệt, đã từng cúng dường trăm ngàn muôn ức các vị Phật, thanh tịnh tu tập Phạm hạnh, cầu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nên cùng bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Vô số ngàn muôn ức vị đại đức Thanh văn này đều đã tu tập thành tựu, đức Thế Tôn cũng nên vì chúng con mà thuyết pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, chúng con được nghe rồi sẽ cùng nhau tu học. Bạch Thế Tôn! Chí nguyện của chúng con đều muốn được sự thấy biết của Như Lai. Đó là tâm niệm sâu thẳm trong lòng chúng con, hẳn Phật đã tự rõ biết.”

“Khi ấy, trong số người đi theo Chuyển luân Thánh vương, có 8 muôn ức người thấy 16 vị vương tử xuất gia thì cũng xin được xuất gia. Chuyển luân Thánh vương liền cho phép.

“Bấy giờ, đức Phật Đại Thông Trí Thắng nhận sự thỉnh cầu của 16 vị sa-di rồi, trải qua đến 20.000 kiếp mới ở giữa 4 chúng mà thuyết kinh Đại thừa này, tên là Diệu Pháp Liên Hoa, Giáo Bồ Tát Pháp, Phật Sở Hộ Niệm. Phật thuyết giảng kinh này rồi, 16 vị sa-di vì cầu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác nên đều thọ nhận giữ gìn, tụng đọc thông suốt.

“Khi Phật thuyết giảng kinh này, 16 vị sa-di đều tin nhận. Trong đại chúng Thanh văn cũng có một số người tin hiểu được, còn lại ngàn muôn ức chúng sanh khác đều sanh tâm nghi hoặc. Đức Phật Đại Thông Trí Thắng đã thuyết giảng kinh này trong suốt 8.000 kiếp chưa từng ngưng dứt. Thuyết giảng kinh này xong, đức Phật vào một am thất yên tĩnh, trụ trong thiền định đến 84.000 kiếp.”

“Bấy giờ, 16 vị Bồ Tát sa-di biết Phật đã vào am thất tịch lặng, an nhiên thiền định, mỗi vị cũng đều vì 4 chúng mà lên pháp tòa phân biệt giảng rộng kinh Diệu Pháp Liên Hoa trong 84.000 kiếp, mỗi vị đều hóa độ chúng sanh nhiều như số cát của 600 muôn ức na-do-tha con sông Hằng, tuần tự chỉ bày, dạy dỗ, khuyến khích sự lợi ích, hoan hỷ thành tựu, khiến cho thảy đều phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

“Đức Phật Đại Thông Trí Thắng trải qua 84.000 kiếp rồi, ra khỏi thiền định, đi đến pháp tòa, ngồi xuống an nhiên điềm đạm nói với đại chúng: ‘Mười sáu sa-di này thật rất hiếm có, căn tánh đều thông minh nhanh nhạy, trí tuệ sáng suốt, đã từng cúng dường vô số ngàn muôn ức vị Phật, thường tu tập hạnh thanh tịnh ở nơi đạo tràng chư Phật, thọ nhận giữ gìn trí tuệ Phật, khai mở chỉ bày chúng sanh, khiến cho đều được thể nhập trí tuệ ấy, đại chúng nên thường luôn gần gũi cúng dường các vị này. Vì sao vậy? Nếu trong hàng Thanh văn, Duyên giác hoặc Bồ Tát, người nào có thể tin nhận giáo pháp kinh điển do 16 vị Bồ Tát sa-di này thuyết giảng, thọ nhận giữ gìn không để mất, thì những người ấy đều sẽ đạt Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, được trí tuệ của Như Lai.’”

Đức Phật Thích-ca bảo các tỳ-kheo: “Mười sáu vị Bồ Tát ấy thường vui thích thuyết giảng kinh Diệu Pháp Liên Hoa này, mỗi vị đều giáo hóa số chúng sanh nhiều như số cát của 600 muôn ức na-do-tha con sông Hằng, những chúng sanh ấy đời đời sẽ luôn được sanh ra cùng Bồ Tát, theo Bồ Tát nghe thuyết pháp rồi đều tin hiểu. Nhờ nhân duyên đó nên sẽ được gặp 400 muôn ức đức Phật Thế Tôn, đến nay việc ấy vẫn còn chưa dứt.

“Này các tỳ-kheo! Nay ta nói cùng các ông, 16 vị sa-di đệ tử của Phật Đại Thông Trí Thắng, đến nay đều đã thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, hiện tại đang thuyết pháp trong các cõi nước mười phương, có vô số trăm ngàn muôn ức Bồ Tát, Thanh văn làm quyến thuộc.

“Ở phương đông có 2 vị sa-di thành Phật, một vị hiệu A-súc, ở cõi nước Hoan Hỷ, vị thứ hai hiệu Tu-di Đỉnh.

“Ở phương đông nam có 2 vị thành Phật, vị thứ nhất hiệu Sư Tử Âm, vị thứ hai hiệu Sư Tử Tướng.

“Ở phương nam có 2 vị thành Phật, vị thứ nhất hiệu Hư Không Trụ, vị thứ hai hiệu Thường Diệt.

“Ở phương tây nam có 2 vị thành Phật, vị thứ nhất hiệu Đế Tướng, vị thứ hai hiệu Phạm Tướng.

“Ở phương tây có 2 vị thành Phật, vị thứ nhất hiệu A-di-đà, vị thứ hai hiệu Độ Nhất Thiết Thế Gian Khổ Não.

“Ở phương tây bắc có 2 vị thành Phật, vị thứ nhất hiệu Đa-ma-la-bạt Chiên Đàn Hương Thần Thông, vị thứ hai hiệu Tu-di tướng.

“Ở phương bắc có 2 vị thành Phật, vị thứ nhất hiệu Vân Tự Tại, vị thứ hai hiệu Vân Tự Tại Vương.

“Ở phương đông bắc có một vị thành Phật hiệu Hoại Nhất Thiết Thế Gian Bố Úy.

“Vị sa-di thứ mười sáu chính là ta, Phật Thích-ca Mâu-ni, ở thế giới Ta-bà này thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

“Này các tỳ-kheo! Khi 16 người chúng ta còn làm sa-di, mỗi người đều đã giáo hóa chúng sanh nhiều như số cát của vô số trăm ngàn muôn ức con sông Hằng. Những chúng sanh ấy đều theo chúng ta nghe thuyết pháp vì cầu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Đến nay có những người đang ở địa vị Thanh văn, vẫn thường được ta giáo hóa bằng pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Những người này nên dùng pháp như thế để dần dần từng bước thể nhập Phật đạo. Vì sao vậy? Vì trí tuệ của Như Lai thật khó tin, khó hiểu.

“Những chúng sanh nhiều như số cát của vô số con sông Hằng được ta giáo hóa từ thuở ấy, chính là chúng tỳ-kheo các ông ngày nay, cùng với các đệ tử Thanh văn trong đời vị lai sau khi ta nhập diệt.

“Sau khi ta nhập diệt, lại có những đệ tử không được nghe kinh này, không hay không biết gì đến những công hạnh của hàng Bồ Tát. Những người ấy do nơi công đức đã đạt được mà tự sanh khởi ý tưởng cho rằng mình đã được diệt độ, sẽ nhập Niết-bàn. Khi ấy, ta làm Phật ở cõi nước ngoài ba cõi, [17] lại có danh hiệu khác. Những người ấy tuy khởi sanh ý tưởng diệt độ, đã nhập Niết-bàn Tiểu thừa, nhưng lại ở cõi nước ngoài ba cõi ấy cầu trí tuệ Phật, được nghe kinh này, liền biết rằng chỉ duy nhất Phật thừa mới được diệt độ, ngoài ra không có thừa nào khác, trừ ra trong pháp phương tiện mà các đức Như Lai thuyết giảng.

“Này các tỳ-kheo! Nếu đức Như Lai tự biết đã đến lúc nhập Niết-bàn, đại chúng lại thanh tịnh, có sự tin hiểu vững chắc, rõ biết thấu triệt pháp không, thể nhập sâu vào thiền định, ngài liền triệu tập các vị Bồ Tát và chúng Thanh văn để thuyết giảng kinh này, nói rõ trong thế gian không có hai thừa được diệt độ, chỉ duy nhất một Phật thừa đạt được diệt độ mà thôi.

“Các tỳ-kheo nên biết! Đức Như Lai dùng phương tiện thể nhập sâu vào tâm tánh của chúng sanh, rõ biết tâm chí họ ưa thích pháp Tiểu thừa, bám chấp sâu nặng năm món dục, [18] nên vì những người này mà thuyết dạy Niết-bàn Tiểu thừa. Những người ấy nếu được nghe liền tin nhận.

“Ví như có con đường nhiều nguy hiểm, dài năm trăm do-tuần, hoang vắng không người, thật rất đáng sợ. Có rất nhiều người muốn vượt qua con đường ấy để đến nơi có nhiều châu báu quý giá. Có một vị thầy dẫn đường thông minh sáng suốt, biết rõ trên con đường nguy hiểm này có những chỗ nào thông suốt, những chỗ nào tắt nghẽn, hướng dẫn mọi người vượt qua con đường khó khăn này.

“Những người được dẫn đi ấy, đến giữa đường thì nản lòng, thưa với vị thầy: ‘Chúng tôi mệt mỏi quá rồi, lại thêm sợ hãi, không thể nào đi tiếp được nữa. Đường phía trước vẫn còn xa, nay chúng tôi muốn quay lại.’

“Vị thầy dẫn đường vốn có nhiều phương tiện, nghĩ rằng: ‘Những người này thật đáng thương, vì sao lại từ bỏ châu báu quý giá mà muốn quay trở lại?’ Nghĩ như vậy rồi liền dùng sức phương tiện biến hóa ra một tòa thành ở khoảng giữa con đường nguy hiểm đó, cách đầu đường 300 do-tuần, rồi nói với mọi người: ‘Các người đừng sợ hãi, đừng quay trở lại. Nay có tòa thành lớn kia, có thể nghỉ ngơi trong đó, tùy ý muốn làm gì cũng được. Nếu vào thành ấy sẽ được vui thích an ổn, rồi nếu muốn đi tiếp đến chỗ có châu báu thì cũng có thể rời đi.’

“Bấy giờ, những người mệt mỏi kia hết sức vui mừng, ngợi khen là chưa từng có: ‘Chúng ta nay đã thoát khỏi con đường nguy hiểm này, được vui thích an ổn.’

“Liền đó mọi người đi tới để vào tòa thành biến hóa, khởi sanh ý tưởng rằng mình đã qua hết con đường, rằng đã được an ổn.

“Khi ấy, vị thầy dẫn đường biết mọi người đều đã được nghỉ ngơi, không còn quá mệt mỏi nữa, liền làm cho tòa thành biến mất rồi nói với mọi người: ‘Các người nên đi tới nữa, chỗ có châu báu cũng gần đây. Tòa thành lúc nãy chỉ là do ta biến hóa ra để các người tạm nghỉ ngơi mà thôi.’

“Này các tỳ-kheo! Đức Như Lai cũng giống như vậy, nay vì các ông làm vị thầy lớn dẫn đường, biết rõ con đường sanh tử phiền não xấu ác đầy khó khăn nguy hiểm, dằng dặc xa xôi cần phải tiến bước vượt qua. Nếu như chúng sanh chỉ được nghe duy nhất về Phật thừa, ắt sẽ không muốn gặp Phật, không muốn gần gũi mà tự nghĩ rằng: ‘Con đường thành Phật xa xôi dằng dặc, phải chuyên cần chịu nhiều khó nhọc mới có thể thành tựu.’

“Đức Phật biết rõ tâm ý yếu ớt thấp hèn của chúng sanh như vậy, nên dùng sức phương tiện, vì muốn tạo một chỗ dừng nghỉ ở giữa đường mà thuyết dạy có Niết-bàn Nhị thừa. Nếu chúng sanh dừng trụ ở địa vị Nhị thừa, đức Như Lai liền vì họ mà dạy rằng: ‘Chỗ tu tập của các ông chưa trọn đủ, nhưng chỗ dừng trụ của các ông đã đến gần trí tuệ Phật rồi, nên phải quán sát suy lường rằng Niết-bàn mà các ông đạt được đó chẳng phải là chân thật. Đó chỉ là do sức phương tiện của Như Lai, từ nơi một Phật thừa mà phân biệt thuyết dạy thành ba thừa.’

“Cũng như vị thầy dẫn đường kia, vì muốn tạo chỗ tạm nghỉ mà biến hóa ra tòa thành lớn. Khi thấy mọi người đã được nghỉ ngơi rồi, liền bảo họ: ‘Chỗ có châu báu cũng gần đây, tòa thành này không hề có thật, chỉ do ta biến hóa tạo ra mà thôi.’”

Khi ấy, đức Thế Tôn muốn lặp lại những ý nghĩa trên nên nói kệ rằng:

“Phật Đại Thông Trí Thắng,

Mười kiếp ngồi đạo trường,

Pháp Phật chẳng hiện ra,

Chưa trọn thành Phật đạo.

Chư thiên, thần, long vương,

Với chúng a-tu-la,

Thường mưa xuống hoa trời,

Để cúng dường Phật ấy.

Chư thiên đánh trống trời,

Cùng diễn xướng âm nhạc,

Gió thơm cuốn hoa héo,

Lại thay bằng hoa tươi.

Trải qua mười tiểu kiếp,

Mới thành tựu quả Phật,

Chư thiên và loài người,

Đều vui mừng phấn khích.

Mười sáu người con Phật,

Cùng quyến thuộc vây quanh,

Số lượng ngàn muôn ức,

Cùng đi đến chỗ Phật.

Đầu mặt lễ sát chân,

Thỉnh Phật chuyển pháp luân.

‘Đại Thánh ban mưa pháp,

Thấm nhuần khắp chúng sanh.’

Thế Tôn rất khó gặp,

Lâu xa mới ra đời,

Vì giác ngộ chúng sanh,

Gây chấn động khắp thảy.

Các thế giới phương đông,

Năm trăm muôn ức nước,

Cung Phạm thiên rực sáng,

Xưa nay chưa từng có.

Các Phạm vương thấy vậy,

Tìm đến đạo tràng Phật,

Rải hoa trời cúng dường,

Rồi dâng cúng cung điện.

Thỉnh Phật chuyển pháp luân,

Và đọc kệ xưng tán.

Phật biết chưa phải lúc,

Nhận lời nhưng ngồi yên.

Ba phương chính, bốn phụ,

Phương trên, dưới cũng vậy, [19]

Rải hoa, dâng cung điện,

Thỉnh Phật chuyển pháp luân.

Thế Tôn rất khó gặp,

Nguyện dùng đại từ bi,

Rộng mở cửa cam lộ,

Chuyển Vô thượng pháp luân.

Thế Tôn Vô Lượng Tuệ,

Nhận bao lời thỉnh cầu,

Vì chúng sanh thuyết pháp:

‘Bốn đế, mười hai duyên,

Vô minh đến già chết…

Đều duyên nhau mà có,

Từ đó sanh khổ não,

Các người nên rõ biết.’

Khi Phật thuyết pháp này,

Có sáu trăm muôn ức

Na-do-tha chúng sanh,

Dứt khổ thành La-hán.

Thuyết pháp lần thứ hai,

Chúng sanh nhiều như cát

Của ngàn muôn sông Hằng,

Cũng thành A-la-hán.

Người đạt đạo về sau,

Nhiều không thể tính đếm,

Dù muôn kiếp tính toán,

Cũng không đếm hết được.

Mười sáu vị vương tử,

Xuất gia thành sa-di,

Cùng nhau thỉnh nguyện Phật,

Thuyết giảng pháp Đại thừa.

‘Chúng con và thị tùng,

Đều sẽ thành Phật đạo.

Nguyện được như Thế Tôn,

Mắt tuệ thanh tịnh nhất.’

Phật biết tâm con trẻ,

Cùng công hạnh đời trước,

Dùng vô số nhân duyên,

Và đủ mọi thí dụ,

Thuyết sáu ba-la-mật,

Cùng những việc thần thông.

Phân biệt pháp chân thật,

Công hạnh đạo Bồ Tát.

Thuyết kinh Pháp hoa này,

Hằng sa các bài kệ.

Phật ấy thuyết kinh rồi,

Vào tĩnh thất nhập định.

Nhất tâm ngồi an tịnh,

Tám mươi bốn ngàn kiếp.

Mười sáu vị sa-di,

Biết Phật chưa xuất định,

Liền vì vô số chúng,

Thuyết trí tuệ Vô thượng.

Mỗi vị đều lên tòa,

Thuyết kinh Đại thừa này.

Từ sau Phật nhập định,

Thuyết pháp giúp giáo hóa.

Mỗi một vị sa-di,

Hóa độ số chúng sanh,

Rất nhiều như số cát,

Sáu triệu ức sông Hằng. [20]

Sau khi Phật nhập diệt,

Những người đã nghe pháp,

Thường nơi các cõi Phật,

Được sanh ra cùng thầy.

Mười sáu sa-di này,

Tu hành trọn Phật đạo,

Nay ở trong mười phương,

Đều trọn thành Chánh giác.

Người nghe pháp thuở ấy,

Nay đều sanh chỗ Phật.

Có người trụ Thanh văn,

Dần dần học Phật đạo.

Ta là một trong số

Mười sáu vị thuyết pháp,

Cho nên dùng phương tiện,

Dẫn vào trí tuệ Phật.

Nhân duyên xưa như vậy,

Nay thuyết kinh Pháp hoa,

Khiến cho vào Phật đạo,

Đừng ôm lòng kinh sợ.

Như đường xa nguy hiểm,

Vắng vẻ, nhiều thú dữ,

Lại không cỏ, không nước,

Người người đều kinh sợ.

Vô số muôn ngàn người,

Muốn qua đường hiểm này,

Mà đường quá xa xôi,

Đến năm trăm do tuần.

Có vị thầy dẫn đường,

Biết nhiều, có trí tuệ,

Tâm sáng suốt, quả quyết,

Đưa cả đoàn vượt nguy.

Mọi người đều mệt mỏi,

Nên thưa với vị thầy:

‘Chúng tôi đều quá mệt,

Đến đây xin quay về.’

Thầy dẫn đường tự nghĩ:

‘Những người này đáng thương,

Vì sao lại muốn về,

Bỏ mất đi châu báu?’

Liền nghĩ cách phương tiện,

Phải dùng sức thần thông,

Hóa ra tòa thành lớn,

Nhiều nhà cửa rộng rãi,

Bao quanh có vườn cảnh,

Có kênh ngòi, ao tắm,

Cửa nhiều lớp, lầu cao,

Trai gái đều đông vui.

Hóa hiện như thế rồi,

Bảo mọi người: ‘Đừng sợ,

Các người vào thành này,

Đều tùy ý vui chơi.’

Mọi người vào thành rồi,

Trong lòng rất mừng vui,

Đều cho là an ổn,

Tự nghĩ: Đến nơi rồi!

Thầy biết nghỉ ngơi xong,

Gọi tất cả đến nói:

‘Mọi người nên đi tới,

Đây chỉ là hóa thành.

Thấy mọi người mệt mỏi,

Giữa đường muốn thối lui,

Nên ta dùng phương tiện,

Biến hóa ra thành này.

Hãy tinh tấn chuyên cần,

Cùng đến chỗ châu báu.’

Như Lai cũng như vậy,

Dẫn đường cho chúng sanh,

Thấy những người cầu đạo,

Giữa đường muốn thối lui,

Không thể vượt qua hết,

Đường sanh tử, phiền não.

Nên dùng sức phương tiện,

Thuyết Niết-bàn Nhị thừa,

Nói rằng: ‘Đã dứt khổ,

Việc cần làm đã xong.’

Được Niết-bàn ấy rồi,

Đều thành A-la-hán,

Phật liền họp đại chúng,

Thuyết dạy pháp chân thật.

Sức phương tiện chư Phật.

Phân biệt nói ba thừa,

Thật chỉ một Phật thừa,

Nói hai để tạm dừng.

Nay thuyết pháp chân thật:

‘Các ông chưa diệt độ.’

Muốn thành Phật toàn trí,

Phải hết sức tinh tấn.

Nếu được Nhất thiết trí,

Mười lực, các pháp Phật…

Đủ ba mươi hai tướng,

Mới chân thật diệt độ.

Phật là thầy dẫn đường,

Thuyết Niết-bàn giả tạm,

Để nghỉ ngơi xong rồi,

Dẫn vào trí tuệ Phật.

---

Diệu Pháp Liên Hoa Kinh quyển 4

8. Phẩm Năm trăm đệ tử được thụ ký

Lúc bấy giờ, ngài Phú-lâu-na được nghe Phật nói trí tuệ phương tiện thuyết pháp thích hợp, lại nghe Phật thụ ký cho các vị đại đệ tử sẽ thành tựu quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, cũng như nghe chuyện nhân duyên từ nhiều đời trước, lại nghe việc chư Phật có sức thần thông tự tại lớn lao nên tự thấy được việc chưa từng có, trong lòng thanh tịnh phấn chấn, liền từ chỗ ngồi đứng dậy bước đến trước Phật, cúi đầu chạm mặt lễ sát chân Phật rồi đứng sang một bên, chăm chú không rời mắt chiêm ngưỡng tôn nhan Phật, trong lòng khởi lên ý nghĩ rằng:

“Đức Thế Tôn hết sức lạ lùng đặc biệt, việc ngài làm thật vô cùng hy hữu. Ngài có thể tùy thuận biết bao nhiêu là căn tánh chủng loại khác biệt của chúng sanh thế gian, dùng sự thấy biết phương tiện mà thuyết pháp, cứu thoát chúng sanh ra khỏi mọi chỗ tham đắm bám chấp. Chúng con đối với công đức của Phật thật không thể nói ra, chỉ đức Thế Tôn mới có thể rõ biết bản nguyện sâu xa trong lòng chúng con.” [1]

Bấy giờ, đức Phật bảo các vị tỳ-kheo: “Các ông có thấy Phú-lâu-na đây chăng? Ta thường nói Phú-lâu-na là bậc nhất trong những người thuyết pháp, lại cũng thường khen ngợi đủ mọi công đức của Phú-lâu-na, tinh tấn chuyên cần bảo vệ giữ gìn và giúp sức truyền giảng giáo pháp của ta, có thể ở trong bốn chúng mà chỉ bày, dạy dỗ, khuyến khích sự lợi ích, làm cho thành tựu hoan hỷ, [2] giải thích chánh pháp một cách trọn vẹn đầy đủ mà làm lợi lạc lớn lao cho hết thảy các vị đồng tu phạm hạnh. Ngoài đức Như Lai, không ai có thể thấu suốt hết sự biện giải giảng nói của Phú-lâu-na. [3]

“Các ông đừng cho rằng Phú-lâu-na chỉ có thể bảo vệ giữ gìn và giúp sức truyền giảng giáo pháp của ta. Phú-lâu-na đã từng ở nơi đạo trường của 90 ức vị Phật [4] trong quá khứ mà bảo vệ giữ gìn và giúp sức truyền giảng chánh pháp của chư Phật. Ở những nơi ấy, Phú-lâu-na cũng đều là bậc nhất trong số những người thuyết pháp.

Phú-lâu-na lại thông đạt rõ ràng sáng tỏ đối với pháp không mà chư Phật thuyết dạy, đạt được bốn trí không ngăn ngại, thường có thể suy xét kỹ lưỡng để thuyết pháp thanh tịnh, không còn nghi hoặc, có đầy đủ sức thần thông của hàng Bồ Tát. [Trong những kiếp quá khứ ấy,] Phú-lâu-na thường luôn tu tập hạnh thanh tịnh suốt cả cuộc đời, nên người đời thuở ấy đều cho rằng Phú-lâu-na quả thật là Thanh văn, nhưng ông dùng phương tiện [hiện thân Thanh văn] đó để làm lợi ích cho vô số trăm ngàn chúng sanh, lại giáo hóa vô số a-tăng-kỳ chúng sanh khiến cho đều thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Vì để đạt được cõi Phật thanh tịnh, Phú-lan-na thường làm các Phật sự, giáo hóa chúng sanh. [5]

“Này các tỳ-kheo! Trong thời kỳ 7 vị Phật, Phú-lâu-na cũng là bậc nhất trong những người thuyết pháp, cho nên hiện nay ở chỗ của ta là bậc nhất trong những người thuyết pháp. [6] Đến thời chư Phật tương lai trong Hiền kiếp này, [7] Phú-lâu-na cũng sẽ là bậc nhất trong những người thuyết pháp, hơn nữa còn bảo vệ giữ gìn và giúp sức truyền giảng pháp Phật, cũng như trong tương lai sẽ bảo vệ giữ gìn và giúp sức truyền giảng giáo pháp của vô số chư Phật, giáo hóa làm lợi ích cho vô số chúng sanh, khiến cho phát khởi tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, lại vì cõi Phật thanh tịnh mà thường chuyên cần tinh tấn giáo hóa chúng sanh.

“Dần dần trọn đủ đạo của hàng Bồ Tát, trải qua vô số a-tăng-kỳ kiếp rồi Phú-lâu-na sẽ ở cõi này mà thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, hiệu là Pháp Minh Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Đức Phật Pháp Minh dùng số thế giới đại thiên nhiều như số cát sông Hằng làm một cõi Phật, [8] mặt đất bằng bảy món báu, bằng phẳng như lòng bàn tay, không có núi, gò, suối, khe, ngòi, rãnh…

Những lầu đài xây bằng bảy món báu đầy khắp trong cõi nước. Cung điện chư thiên ở giữa không trung nhưng rất gần mặt đất nên loài người và chư thiên có thể giao tiếp với nhau, nhìn thấy được nhau; không có các đường xấu ác, không có nữ giới, [9] hết thảy chúng sanh đều là hóa sanh, không có sự dâm dục, có thần thông lớn, thân tỏa hào quang, bay đi tự tại giữa không trung, có ý chí và niệm tưởng kiên cố, đủ các phẩm tính trí tuệ và tinh tấn; thân thể có màu vàng ròng, đầy đủ ba mươi hai tướng tốt [10] để tự thành dáng vẻ trang nghiêm.

Chúng sanh cõi ấy thường dùng hai loại thức ăn. Thứ nhất là thức ăn bằng niềm vui chánh pháp, thứ hai là thức ăn bằng niềm vui thiền định. Cõi Phật ấy có vô số a-tăng-kỳ ngàn muôn ức na-do-tha các vị Bồ Tát, đều đạt được thần thông lớn lao, đủ bốn trí không ngăn ngại, thường khéo giáo hóa các loài chúng sanh.

Số lượng Thanh văn ở cõi ấy nhiều đến mức tính toán đếm kể đều không thể biết được số lượng, tất cả đều đạt được đầy đủ sáu thần thông, ba sự sáng suốt cùng tám giải thoát. Cõi Phật ấy thành tựu vô số những công đức trang nghiêm như thế. Thời đại ấy tên là Bảo Minh, cõi nước tên Thiện Tịnh.

Đức Phật Pháp Minh có tuổi thọ vô số a-tăng-kỳ kiếp, chánh pháp trụ ở đời rất lâu. Sau khi đức Phật ấy diệt độ, chúng sanh dựng tháp bằng bảy báu khắp nước để thờ kính.”

Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn lặp lại những ý nghĩa trên liền nói kệ rằng:

“Các tỳ-kheo, lắng nghe!

Hàng con Phật hành đạo,

Do khéo học phương tiện,

Nên không thể nghĩ bàn.

Biết người ưa pháp nhỏ,

E sợ trí tuệ lớn,

Nên các vị Bồ Tát,

Hiện Thanh văn, Duyên giác,

Dùng vô số phương tiện,

Giáo hóa khắp muôn loài.

Tự nhận là Thanh văn,

Còn cách Phật rất xa,

Độ thoát vô số người,

Khiến cho đều thành tựu.

Tuy cầu Tiểu, biếng nhác,

Dần khiến cho thành Phật.

Trong giấu hạnh Bồ Tát,

Ngoài hiện tướng Thanh văn.

Ít muốn, chán sanh tử,

Tự thanh tịnh cõi Phật.

Thị hiện có ba độc,

Lại có tướng tà kiến.

Đệ tử Phật như thế,

Phương tiện độ chúng sanh.

Nếu như Phật thuyết đủ,

Mọi phương tiện hóa hiện,

Chúng sanh nghe như vậy,

Hẳn ôm lòng nghi hoặc.

Ông Phú-lâu-na này,

Xưa với ngàn ức Phật,

Đã chuyên cần tu tập,

Gìn giữ, thuyết pháp Phật.

Cầu trí tuệ Vô thượng,

Nên ở nơi chư Phật,

Đứng đầu hàng đệ tử,

Nghe nhiều, có trí tuệ,

Thuyết giảng không sợ sệt,

Khiến người nghe hoan hỷ.

Chưa bao giờ chán mệt,

Trợ giúp các Phật sự.

Đã được thần thông lớn,

Đủ bốn trí vô ngại,

Biết căn tánh nhanh, chậm,

Thường thuyết pháp thanh tịnh,

Giảng rõ nghĩa ‘như thị’,

Giáo hóa ngàn ức người,

Khiến trụ nơi Đại thừa,

Tự thanh tịnh cõi Phật.

Tương lai cũng cúng dường,

Vô số các đức Phật,

Trợ giúp truyền chánh pháp,

Tự thanh tịnh cõi Phật.

Thường dùng các phương tiện,

Thuyết pháp, không sợ sệt,

Độ vô số chúng sanh,

Thành tựu Nhất thiết trí.

Cúng dường các đức Phật,

Gìn giữ kho Pháp báu.

Về sau được thành Phật,

Danh hiệu là Pháp Minh,

Cõi nước tên Thiện Tịnh,

Do bảy báu hợp thành,

Thời đại tên Bảo Minh.

Chúng Bồ Tát rất đông,

Nhiều đến vô số ức,

Đều đạt thần thông lớn,

Đủ các lực, oai đức,

Đầy khắp cả cõi nước.

Thanh văn cũng vô số,

Ba minh, tám giải thoát,

Bốn trí không ngăn ngại,

Cùng hợp thành chúng tăng.

Chúng sanh cõi Phật ấy,

Đã dứt trừ dâm dục,

Đều do biến hóa sanh,

Đủ tướng tốt trang nghiêm,

Dùng pháp hỷ, thiền duyệt,

Không muốn ăn gì khác.

Cõi ấy không nữ giới,

Cũng không các đường ác.

Tỳ-kheo Phú-lâu-na,

Công đức đã trọn đủ,

Thành tựu cõi tịnh ấy,

Chúng hiền thánh rất đông.

Vô số việc như vậy,

Nay ta chỉ lược nói.

Bấy giờ, 1.200 vị A-la-hán tâm đạt tự tại liền khởi lên ý nghĩ rằng: “Chúng con đều hoan hỷ, được điều chưa từng có. Nếu như mỗi người chúng con đều được đức Thế Tôn thụ ký cho giống như các vị đại đệ tử kia, chẳng phải là vui thích lắm sao!”

Đức Phật rõ biết suy nghĩ trong tâm các vị ấy, liền bảo ngài Ma-ha Ca-diếp: “Nay ta sẽ lần lượt theo thứ tự mà thụ ký quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cho 1.200 A-la-hán này.

“Trong đại chúng này, đại đệ tử của ta là Tỳ-kheo Kiều-trần-như rồi sẽ cúng dường 62.000 ức vị Phật, sau đó thành Phật hiệu là Phổ Minh Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn.

“Ngoài ra, 500 A-la-hán trong số này, những vị như Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp, Già-da Ca-diếp, Na-đề Ca-diếp, Ca-lưu-đà-ni, Ưu-đà-di, A-nậu-lâu-đà, Ly-bà-đa, Kiếp-tân-na, Bạc-câu-la, Chu-đà, Sa-già-đà… cũng đều sẽ thành tựu quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, tất cả đều cùng một danh hiệu là Phổ Minh.”

Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn lặp lại những ý nghĩa này nên nói kệ rằng:

Tỳ-kheo Kiều-trần-như,

Sẽ gặp vô số Phật,

Qua a-tăng-kỳ kiếp,

Mới thành Chánh Đẳng Giác.

Thường phóng hào quang lớn,

Đầy đủ các thần thông,

Vang danh khắp mười phương,

Chúng sanh đều cung kính.

Thường thuyết đạo Vô thượng,

Nên hiệu là Phổ Minh.

Cõi Phật ấy thanh tịnh,

Bồ Tát đều dũng mãnh,

Ở trên lầu gác đẹp.

Dạo chơi khắp mười phương,

Dùng những món quý nhất,

Phụng hiến lên chư Phật.

Cúng dường như như vậy rồi,

Trong lòng rất hoan hỷ,

Thoáng chốc đã quay về,

Có thần lực như vậy.

Phật trụ sáu muôn kiếp,

Chánh pháp trụ lâu hơn,

Tượng pháp lâu hơn nữa, [11]

Pháp diệt, trời người buồn.

Năm trăm A-la-hán,

Theo thứ tự thành Phật,

Cùng một hiệu Phổ Minh,

Lần lượt thụ ký rằng:

‘Sau khi ta diệt độ,

Vị này sẽ thành Phật, [12]

Việc giáo hóa trong đời,

Cũng giống ta ngày nay.’

Về cõi Phật nghiêm tịnh,

Cùng những sức thần thông,

Chúng Thanh văn, Bồ Tát,

Chánh pháp, rồi tượng pháp,

Trụ thế bao nhiêu kiếp,

Đều như trên đã nói.

Ca-diếp, ông đã biết,

Năm trăm vị tự tại.

Các vị Thanh văn khác,

Cũng đều sẽ như vậy.

Ai vắng mặt hội này,

Ông nên vì họ nói.”

Khi ấy, 500 vị A-la-hán ở trước Phật được thụ ký rồi, trong lòng hoan hỷ phấn khích, liền từ chỗ ngồi đứng dậy đi đến trước Phật, cúi đầu chạm mặt lễ sát chân Phật, hối lỗi tự trách: “Bạch Thế Tôn! Chúng con thường tự suy nghĩ cho rằng mình đã đạt đến diệt độ rốt ráo, nay mới biết rằng như thế là không có trí tuệ. Vì sao vậy? Chúng con lẽ ra đều được trí tuệ Như Lai, nhưng lại tự cho trí nhỏ nhoi là đủ.

“Bạch Thế Tôn! Ví như có người đến chơi nhà bạn thân, uống rượu say nằm. Khi ấy, người bạn thân có việc quan cần phải đi, liền lấy một hạt châu quý báu vô giá tặng cho bạn bằng cách buộc giấu vào giữa hai lớp vải áo, xong rồi mới rời đi.

Người ấy say rượu nằm, hoàn toàn không hay biết. Đến khi tỉnh dậy ra đi, rồi sau đó lưu lạc đến nước khác, vì chuyện cơm áo phải chuyên cần nỗ lực làm lụng, hết sức gian nan vất vả, kiếm được chút ít liền cho là đủ. Sau đó, người bạn thân thuở trước gặp lại, thấy vậy kêu lên: ‘Ôi chao, anh bạn tôi!

Sao vì cơm áo mà đến nỗi này! Ngày xưa tôi vì muốn bạn được an vui, tùy ý thụ hưởng 5 món dục, nên vào ngày tháng năm đó đã lấy hạt châu quý báu vô giá buộc giấu vào giữa hai lớp vải áo của anh, nay vẫn còn nguyên đó, sao anh không biết, phải khó nhọc vất vả lo toan khổ sở chỉ cầu đủ sống, thật là ngu si quá! Nay anh có thể lấy hạt châu này bán đi để mua những thứ cần dùng, sẽ thường được như ý, không thiếu thốn gì nữa.’

“Đức Phật cũng như [người bạn thân kia], khi còn là Bồ Tát giáo hóa chúng con, khiến cho phát tâm cầu Nhất thiết trí, [giống như ban cho hạt châu quý báu,] nhưng chúng con lại quên mất đi, không hề hay biết, khi được quả A-la-hán rồi liền tự cho đó là diệt độ, [giống như người kia] mưu sinh vất vả gian nan, vừa được chút ít đã cho là đủ, trong khi tâm nguyện cầu Nhất thiết trí vẫn còn nguyên đó, không hề mất đi. Nay đức Thế Tôn vì thức tỉnh chúng con nên mới dạy rằng: ‘Này các tỳ-kheo! Chỗ mà các ông đạt được đó không phải là diệt độ rốt ráo. Từ lâu ta đã giúp các ông gieo trồng căn lành là hạt giống Phật, vì dùng phương tiện nên thị hiện tướng Niết-bàn [Nhị thừa], nhưng các ông thật ra chưa được diệt độ.’

“Bạch Thế Tôn! Chúng con hôm nay mới biết mình thật là Bồ Tát, được thụ ký quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Do nhân duyên đó nên hết sức hoan hỷ, được việc chưa từng có.”

Bấy giờ, nhóm các ngài A-nhã Kiều-trần-như… muốn lặp lại ý nghĩa trên nên cùng đọc kệ rằng:

Chúng con nghe Phật ban

Lời thụ ký an ổn,

Hoan hỷ chưa từng có,

Lễ trí Phật vô lượng.

Nay trước mặt Thế Tôn,

Xin tự hối lỗi lầm.

Kho báu Phật vô lượng,

Con chỉ được chút ít,

Lại như người ngu si,

Tự cho đó là đủ.

Ví như người nghèo khó,

Đến chơi nhà bạn thân.

Nhà bạn rất giàu có,

Thết đãi nhiều món ngon,

Rồi lấy hạt châu quý

Giấu trong hai lớp áo

Tặng cho trước khi đi,

Người say nằm, không biết.

Sau khi tỉnh dậy rồi,

Lưu lạc sang nước khác,

Cầu cơm áo qua ngày,

Mưu sinh thật khó khăn,

Được ít cho là đủ,

Chẳng mong cầu tốt hơn.

Không biết trong áo mình,

Có hạt châu vô giá.

Người bạn cho hạt châu,

Sau gặp lại người nghèo,

Thấy vậy liền quở trách,

Rồi chỉ rõ hạt châu.

Người nghèo thấy hạt châu,

Lòng vui mừng khôn xiết,

Được giàu có, sung túc,

Tùy ý hưởng năm dục.

Chúng con cũng như vậy,

Thế Tôn trong đêm dài, [13]

Thường thương xót giáo hóa,

Khiến phát tâm Vô thượng.

Chúng con vì ngu si,

Nên không hề hay biết,

Được phần nhỏ Niết-bàn,

Tưởng đủ, chẳng cầu thêm.

Phật đánh thức chúng con:

“Đó chưa phải diệt độ.

Được Trí tuệ Vô thượng,

Mới diệt độ chân thật.”

Chúng con được nghe Phật,

Thụ ký việc trang nghiêm,

Cùng thứ lớp thành Phật,

Thân tâm đều hoan hỷ.

9. Phẩm Thụ ký cho hàng hữu học và vô học

Lúc bấy giờ, các ngài A-nan và La-hầu-la có ý nghĩ rằng: “Chúng ta mỗi người đều tự nghĩ: ‘Giá như được Phật thụ ký, chẳng phải là vui thích lắm sao!’” Hai vị liền từ chỗ ngồi đứng dậy tiến đến trước Phật, cúi đầu chạm mặt lễ sát chân Phật, cùng bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Chúng con đối với việc thụ ký này cũng nên được dự phần, vì chỉ có đức Như Lai là nơi chúng con quy hướng. Chúng con lại được hết thảy trời, người, a-tu-la trong khắp cõi thế gian biết đến, rằng A-nan thường làm thị giả theo hầu Phật, giữ gìn bảo vệ kho tàng Chánh pháp, rằng La-hầu-la là con của Phật. Nếu được Phật thụ ký quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì chúng con thật mãn nguyện, mà sự ngưỡng vọng của đại chúng cũng được thỏa mãn.”

Khi ấy, 2.000 vị đệ tử Thanh văn hữu học và vô học đều từ chỗ ngồi đứng dậy, trần vai áo bên phải, tiến đến trước Phật, chắp tay một lòng chiêm ngưỡng đức Thế Tôn, đồng một tâm nguyện như các ngài A-nan và La-hầu-la, rồi đứng sang một bên.

Bấy giờ, đức Phật bảo ngài A-nan: “Trong tương lai ông sẽ thành Phật hiệu là Sơn Hải Tuệ Tự Tại Thông Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Ông sẽ cúng dường 62 ức chư Phật, bảo vệ giữ gìn kho tàng Chánh pháp, rồi sau đó mới thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, giáo hóa chư Bồ Tát nhiều như số cát của 20.000 muôn ức con sông Hằng, khiến cho đều thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Cõi nước ấy tên là Thường Lập Thắng Phan, toàn cõi nước thanh tịnh, mặt đất bằng lưu ly, thời đại ấy tên là Diệu Âm Biến Mãn. Đức Phật ấy có tuổi thọ vô lượng ngàn muôn ức a-tăng-kỳ kiếp, nếu như có người trong suốt ngàn muôn ức vô lượng a-tăng-kỳ kiếp tính toán đếm kể cũng không thể biết được số kiếp chính xác. Thời gian chánh pháp tồn tại ở đời còn lâu hơn gấp bội.

Thời gian tượng pháp tồn tại ở đời, so với chánh pháp lại lâu hơn gấp bội.

Này A-nan! Đức Phật Sơn Hải Tuệ Tự Tại Thông Vương Phật ấy được chư Phật Như Lai khắp mười phương nhiều như số cát của vô lượng ngàn muôn ức con sông Hằng cùng ngợi khen, xưng tán công đức.

Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn lặp lại ý nghĩa trên nên thuyết kệ rằng:

“Ta nay bảo chúng tăng,

A-nan, người giữ pháp,

Sẽ cúng dường chư Phật,

Sau đó thành Chánh giác,

Hiệu là ‘Sơn Hải Tuệ

Tự Tại Thông Vương Phật’.

Cõi Phật ấy thanh tịnh,

Tên ‘Thường Lập Thắng Phan’,

Giáo hóa chư Bồ Tát,

Nhiều như cát sông Hằng.

Phật có uy đức lớn,

Danh vang khắp mười phương,

Tuổi thọ không thể lường,

Vì thương xót chúng sanh,

Chánh pháp trụ lâu hơn,

Tượng pháp lâu hơn nữa.

Có vô số chúng sanh,

Nhiều như cát sông Hằng,

Đều ở trong Phật pháp,

Gieo nhân duyên Phật đạo.

Lúc bấy giờ, trong pháp hội có 8.000 vị Bồ Tát vừa mới phát tâm đều suy nghĩ rằng: “Chúng ta thậm chí còn chưa nghe các vị Đại Bồ Tát được thụ ký [lớn lao] như vậy, nay có nhân duyên gì mà các vị Thanh văn lại được thụ ký như vậy?”

Khi ấy, đức Thế Tôn rõ biết suy nghĩ trong tâm các vị Bồ Tát nên bảo họ rằng: “Này các thiện nam tử! Ta cùng với những người như ông A-nan đây từng ở nơi đức Phật Không Vương cùng lúc phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. A-nan thường ưa thích nghe nhiều, trong khi ta thường chuyên cần tinh tấn tu tập, cho nên nay ta đã thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, còn A-nan thì giữ gìn bảo vệ chánh pháp của ta, lại cũng bảo vệ kho tàng chánh pháp của chư Phật trong tương lai, thành tựu việc giáo hóa các vị Bồ Tát. Vì tâm nguyện thuở trước như vậy nên nay A-nan được thụ ký [lớn lao] như vậy.” [14]

Ngài A-nan ở trước Phật, tự mình nghe Phật thụ ký cùng nói rõ về cõi nước trang nghiêm, tâm nguyện được trọn đủ, trong lòng hết sức mừng vui hoan hỷ, được việc chưa từng có, liền tức thời nhớ lại được kho tàng Phật pháp trong quá khứ của vô lượng ngàn muôn ức chư Phật, thông suốt không ngăn ngại như vừa mới được nghe hôm nay, đồng thời cũng nhớ biết được tâm nguyện thuở trước.

Khi ấy, ngài A-nan liền đọc kệ rằng:

“Thế Tôn thật hy hữu,

Khiến con nhớ quá khứ,

Pháp của vô số Phật,

Như vừa nghe hôm nay.

Nay con không còn nghi,

Trụ yên trong Phật đạo,

Phương tiện làm thị giả,

Hộ trì pháp chư Phật.”

Lúc bấy giờ, đức Phật bảo ngài La-hầu-la: “Trong tương lai ông sẽ thành Phật, hiệu là Đạo Thất Bảo Hoa Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Ông sẽ cúng dường chư Phật Như Lai nhiều bằng số hạt bụi nhỏ trong 10 thế giới, thường làm con trưởng của chư Phật, cũng giống như ngày nay. Đức Phật Đạo Thất Bảo Hoa sẽ có cõi nước trang nghiêm, về tuổi thọ, số đệ tử giáo hóa được, cho đến thời gian tồn tại của chánh pháp, tượng pháp đều giống như đức Phật Sơn Hải Tuệ Tự Tại Thông Vương Như Lai không khác, lại cũng là con trưởng của đức Phật ấy. Trải qua thời gian đó rồi sẽ thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Khi ấy, đức Thế Tôn muốn lặp lại ý nghĩa trên nên thuyết kệ rằng:

“Khi ta là thái tử,

La-hầu làm con trưởng.

Nay ta đã thành Phật,

Ông trở thành pháp tử.

Trong những đời vị lai,

Gặp vô lượng ức Phật,

Đều làm con trưởng Phật,

Một lòng cầu Phật đạo.

Mật hạnh của La-hầu,

Chỉ Phật mới rõ biết.

Thị hiện con trưởng Phật,

Để chỉ bày chúng sanh.

Vô lượng muôn ngàn ức

Công đức không thể lường,

Trụ yên nơi Phật pháp,

Để cầu đạo Vô thượng.”

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn nhìn thấy 2.000 vị đệ tử hữu học và vô học tâm ý đều nhu thuận nhuần nhuyễn, thanh tịnh vắng lặng, đang một lòng chiêm ngưỡng Phật. Đức Phật bảo ngài A-nan: “Ông có thấy 2.000 vị đệ tử hữu học và vô học ở đây không?”

Ngài A-nan thưa: “Dạ, con có thấy.”

Phật dạy: “Này A-nan! Những vị này rồi sẽ cúng dường chư Phật Như Lai nhiều như số hạt bụi trong năm mươi thế giới, tôn trọng cung kính, bảo vệ giữ gìn kho tàng chánh pháp, cho đến sau cùng sẽ ở nơi các cõi nước trong mười phương mà cùng lúc thành Phật, đồng một danh hiệu là Bảo Tướng Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn, tuổi thọ là một kiếp, cõi nước đều trang nghiêm, chúng Bồ Tát, Thanh văn, cho đến thời gian tồn tại chánh pháp, tượng pháp của chư Phật ấy cũng đều như nhau.

Khi ấy, đức Thế Tôn muốn lặp lại ý nghĩa trên nên thuyết kệ rằng:

“Hai ngàn Thanh văn này,

Nay ở trước mặt ta,

Thụ ký cho tất cả,

Tương lai đều thành Phật.

Sẽ cúng dường chư Phật,

Nhiều như số hạt bụi,

Đều hộ trì pháp Phật,

Rồi sau sẽ thành Phật,

Trong cõi nước mười phương,

Đều cùng một danh hiệu,

Cùng lúc ngồi đạo tràng,

Đạt trí tuệ Vô thượng,

Đồng một hiệu Bảo Tướng.

Cõi nước và đệ tử,

Chánh pháp cùng tượng pháp,

Đều giống nhau, không khác.

Đều dùng sức thần thông,

Độ chúng sanh mười phương,

Khắp nơi đều nghe danh,

Rồi dần nhập Niết-bàn.”

Lúc bấy giờ, 2.000 vị đệ tử hữu học và vô học được nghe Phật thụ ký thì vui mừng phấn khích, cùng đọc kệ rằng:

“Thế Tôn soi đèn tuệ,

Chúng con nghe thụ ký,

Tâm ngập tràn hoan hỷ,

Như được rưới cam lộ.”

10. Phẩm Pháp sư

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn nhân nơi Bồ Tát Dược Vương để nói với 80.000 vị Bồ Tát: [15] “Này Dược Vương! Ông hãy nhìn xem tất cả đại chúng nơi đây, có vô số chư thiên, long vương, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, người và các loài phi nhân, các vị tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, những người cầu quả vị Thanh văn, cầu quả vị Phật Bích-chi, hoặc cầu Phật đạo, hết thảy những chúng sanh như thế đều đang ở trước Phật, được nghe một bài kệ hay một câu kinh Diệu Pháp Liên Hoa này, cho đến chỉ khởi lên một ý niệm hoan hỷ vui theo, ta đều thụ ký cho trong tương lai sẽ được thành tựu quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.”

Rồi Đức Phật bảo ngài Dược Vương: “Lại nữa, sau khi Như Lai diệt độ, nếu có ai được nghe kinh Diệu Pháp Liên Hoa, thậm chí chỉ một bài kệ, một câu kinh, hoặc khởi lên một ý niệm hoan hỷ vui theo, ta cũng đều thụ ký cho được thành tựu quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Nếu như lại có người thọ trì, tụng đọc, giảng thuyết, sao chép kinh Diệu Pháp Liên Hoa, dù chỉ một bài kệ, đối với quyển kinh này cung kính như Phật, dùng đủ mọi cách cúng dường như hương hoa, chuỗi ngọc, hương bột, hương thoa, hương đốt, lọng che bằng lụa, cờ phướn, y phục, âm nhạc… hoặc thậm chí chỉ chắp tay cung kính. Này Dược Vương! Ông nên biết rằng người như vậy đã từng cúng dường mười muôn ức Phật, ở nơi đạo trường chư Phật thành tựu tâm nguyện lớn, vì thương xót chúng sanh nên mới sanh vào cõi thế gian này.

“Này Dược Vương! Nếu như có người hỏi: ‘Những chúng sanh nào trong tương lai sẽ được thành Phật?’, ông nên chỉ cho biết rằng những người như vừa nói trên trong tương lai chắc chắn sẽ được thành Phật. Vì sao vậy? Nếu như có thiện nam hoặc thiện nữ, đối với kinh Diệu Pháp Liên Hoa này, dù chỉ một câu kinh, biết thọ trì, tụng đọc, giảng thuyết, sao chép, dùng mọi cách cúng dường như hương hoa, chuỗi ngọc, hương bột, hương thoa, hương đốt, lọng che bằng lụa, cờ phướn, y phục, âm nhạc… hoặc chắp tay cung kính, thì đối với người này hết thảy thế gian đều nên chiêm ngưỡng kính phụng, nên dùng cách thức cúng dường Như Lai mà cúng dường cho người này.

“Nên biết rằng người như vậy đã là Đại Bồ Tát, thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, vì thương xót chúng sanh nên phát nguyện sanh vào thế gian này để phân biệt giảng rộng kinh Diệu Pháp Liên Hoa, huống chi là có thể đem hết khả năng mà thọ trì, dùng đủ mọi cách cúng dường kinh này?

“Này Dược Vương! Nên biết rằng đó là người đã tự xả bỏ nghiệp báo thanh tịnh, nên sau khi ta đã diệt độ rồi, vì thương xót chúng sanh mà sanh vào cõi đời xấu ác để giảng rộng kinh này.

“Nếu như có thiện nam hoặc thiện nữ, sau khi ta diệt độ rồi có thể riêng vì một người mà giảng thuyết kinh Pháp Hoa, dù chỉ một câu, nên biết rằng người ấy đã là sứ giả của Như Lai, do đức Như Lai sai khiến đến, thi hành việc của Như Lai, huống chi là ở giữa đại chúng rộng vì người khác thuyết giảng?

“Này Dược Vương! Nếu có người xấu ác, dùng tâm bất thiện trong suốt một kiếp ở trước đức Phật, thường hủy báng nhục mạ đức Phật, tội lỗi đó vẫn xem là nhẹ nếu so với người dùng một câu xấu ác chế giễu chê bai người tại gia hay xuất gia tụng đọc kinh Pháp Hoa, vì tội lỗi này rất nặng.

“Này Dược Vương! Như có người tụng đọc kinh Pháp Hoa, nên biết rằng người ấy đang dùng sự trang nghiêm của Như Lai để tự trang nghiêm mình, được Như Lai gánh vác trên vai. Người ấy đi đến nơi nào, [mọi người] nên hướng theo mà lễ bái, một lòng chắp tay cung kính cúng dường, tôn trọng ngợi khen xưng tán, dùng các loại hoa, hương, chuỗi ngọc, hương bột, hương thoa, hương đốt, lọng che bằng lụa, cờ phướn, y phục, các món ăn ngon, các loại âm nhạc, các món cúng dường thượng hạng trong cõi người để cúng dường người ấy, nên dùng châu báu cõi trời rải quanh để tỏ lòng tôn kính, nên gom góp các báu vật trên cõi trời mà phụng hiến cho người ấy. Vì sao vậy? Vì người ấy hoan hỷ thuyết pháp, nên người được nghe chỉ trong thoáng chốc liền đạt được rốt ráo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn muốn lặp lại ý nghĩa trên nên thuyết kệ rằng:

“Nếu muốn trụ Phật đạo,

Thành tựu trí tự nhiên,

Nên siêng năng cúng dường,

Người thọ trì Pháp Hoa.

Nếu người muốn nhanh chóng,

Được Nhất thiết chủng trí,

Nên thọ trì kinh này,

Cúng dường người trì kinh.

Nếu ai thường thọ trì,

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa,

Đó là sứ giả Phật,

Thường thương xót chúng sanh.

Người thường xuyên thọ trì,

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa,

Từ bỏ cõi thanh tịnh,

Thương chúng sanh, đến đây.

Nên biết người như vậy,

Tự tại, tùy ý sanh.

Có thể nơi cõi ác,

Rộng thuyết pháp Vô thượng.

Nên dùng hương, hoa trời,

Cùng y phục, châu báu,

Kho bảo vật cõi trời,

Cúng dường người giảng kinh.

Sau Phật diệt, đời ác

Ai thường trì kinh này,

Nên chắp tay kính lễ,

Như cúng dường Thế Tôn.

Dùng món ngon thượng hạng,

Cùng đủ loại y phục,

Cúng dường Phật tử ấy,

Cầu nghe kinh chốc lát.

Người nào trong đời sau,

Có thể trì kinh này,

Là Phật sai khiến đến,

Thi hành việc Như Lai.

Nếu người trong suốt kiếp,

Thường ôm lòng bất thiện,

Hung hăng mắng chửi Phật, [16]

Tạo tội nặng vô lượng;

Nhưng với người tụng đọc,

Giữ gìn kinh Pháp Hoa,

Mà xúc phạm chốc lát,

Tạo tội còn nặng hơn.

Nếu người cầu Phật đạo,

Nên suốt trong một kiếp,

Chắp tay đứng trước Phật,

Đọc vô số kệ khen.

Người ấy xưng tán Phật,

Được công đức vô lượng;

Nhưng khen người trì kinh,

Công đức còn lớn hơn.

Trong tám mươi ức kiếp, [17]

Dùng thanh, sắc tốt đẹp,

Cùng hương, vị, xúc chạm,

Cúng dường người trì kinh.

Cúng dường như vậy rồi,

Được nghe kinh chốc lát,

Ắt sẽ tự mừng vui:

‘Ta được lợi ích lớn!’

Dược Vương! Nay nói rõ,

Ta đã thuyết nhiều kinh,

Nhưng trong những kinh ấy,

Pháp Hoa là bậc nhất.”

Khi ấy, đức Phật lại bảo Đại Bồ Tát Dược Vương rằng: “Trong vô số ngàn muôn ức kinh điển mà ta thuyết dạy, những kinh đã thuyết, hiện đang thuyết và sẽ thuyết, thì kinh Pháp Hoa này là khó tin khó hiểu nhất.

“Này Dược Vương! Kinh này là kho tàng tinh yếu bí mật của chư Phật, không thể đưa ra phân bố rộng rãi, truyền trao không đúng người. Kinh này được chư Phật Thế Tôn giữ gìn bảo vệ, từ xưa đến nay chưa từng thuyết giảng chung cho đại chúng không chọn lọc. [18] Kinh này trong lúc Như Lai tại thế mà còn có nhiều kẻ oán ghét, [19] huống chi là sau khi Phật diệt độ?

“Này Dược Vương! Nên biết rằng sau khi Như Lai diệt độ, những ai đối với kinh này có thể sao chép, giữ gìn, tụng đọc, vì người khác giảng thuyết, ắt sẽ được Như Lai dùng y che chở, lại cũng được chư Phật hiện tại ở các phương khác nhớ nghĩ che chở. Người ấy sẽ có sức tin tưởng lớn lao cùng sức mạnh chí nguyện và sức mạnh của các căn lành. Nên biết rằng người này cùng sống một nơi với Như Lai, được đức Như Lai dùng tay xoa đầu.

“Này Dược Vương! Ở bất cứ nơi nào có sự thuyết giảng, tụng đọc, sao chép hoặc cất giữ kinh Pháp Hoa này, đều nên xây tháp thật cao rộng bằng bảy báu, trang nghiêm đẹp đẽ, không cần an trí xá-lợi bên trong. Vì sao? Vì trong tháp như đã có toàn thân Như Lai. Đối với tháp ấy, nên dùng hết thảy các loại hoa, hương, chuỗi ngọc, lọng che bằng lụa, cờ phướn, âm nhạc, thơ ca mà cúng dường cung kính, tôn trọng, ngợi khen xưng tán. Nếu có người được nhìn thấy tháp ấy, lễ bái cúng dường, nên biết rằng những người như vậy đều đã đến gần quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

“Này Dược Vương! Có nhiều người tại gia cũng như xuất gia, tu hành đạo Bồ Tát, nếu như chưa được thấy nghe, tụng đọc, sao chép, thọ trì, cúng dường kinh Pháp Hoa này, nên biết là những người ấy chưa tu tập tốt theo đạo Bồ Tát. Nếu như được nghe kinh này rồi, mới có thể tu tập tốt theo đạo Bồ Tát.

“Nếu như có chúng sanh nào cầu Phật đạo, được thấy nghe kinh Pháp Hoa này, nghe rồi liền tin hiểu, thọ trì, nên biết rằng người ấy đã đến gần quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

“Này Dược Vương! Ví như có người đang khát cần nước, ở nơi gò cao đào xuống để tìm, vì đất còn khô nên biết rằng nước vẫn còn xa; tiếp tục đào xuống không ngừng, liền thấy đất ẩm, rồi đến đất bùn, trong lòng biết chắc đã gần có nước. Bồ Tát cũng giống như vậy, nếu như chưa nghe, chưa hiểu, chưa thể tu tập kinh Pháp Hoa này, nên biết rằng người ấy hãy còn cách xa quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác; nếu như được nghe, hiểu, suy ngẫm, tu tập theo kinh này, thì biết là đã đến gần quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Vì sao vậy? Hết thảy pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác của hàng Bồ Tát đều có đủ trong kinh này. Kinh này mở ra cửa phương tiện, chỉ bày tướng chân thật.

Kho tàng kinh Pháp Hoa này thâm sâu kiên cố, kín đáo sâu xa, không ai có thể thấu triệt, nay Phật vì giáo hóa chư Bồ Tát cho thành tựu nên mới khai mở chỉ bày.

“Này Dược Vương! Nếu có Bồ Tát nào nghe kinh Pháp Hoa này lại khởi tâm kinh hãi, nghi ngờ, nên biết đó là Bồ Tát mới phát tâm. Nếu có Thanh văn nào nghe kinh này lại khởi tâm kinh hãi, nghi ngờ, sợ sệt, nên biết đó là kẻ tăng thượng mạn.

“Này Dược Vương! Nếu có thiện nam hoặc thiện nữ, sau khi Như Lai diệt độ rồi, muốn vì bốn chúng thuyết giảng kinh Pháp Hoa này, nên thuyết như thế nào? Người ấy nên vào nhà Như Lai, đắp y Như Lai, ngồi tòa Như Lai, như vậy rồi mới nên vì bốn chúng mà thuyết rộng kinh này.

“Nhà Như Lai tức là tâm đại từ bi của hết thảy chúng sanh; y Như Lai tức là tâm nhẫn nhục nhu hòa; tòa Như Lai tức là hết thảy các pháp đều không. Trụ yên trong chỗ như thế rồi, mới dùng tâm không biếng nhác, vì chư Bồ Tát và bốn chúng mà thuyết rộng kinh này.

“Này Dược Vương! [Khi ấy] ta ở cõi khác [20] sai khiến người được biến hóa ra, vì người ấy mà tụ tập người đến nghe pháp, lại sai khiến các tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di được biến hóa ra đến nghe người ấy thuyết pháp. Những người được biến hóa ra đó, khi nghe pháp liền tin nhận, thuận theo không trái nghịch.

“Nếu như người thuyết pháp ở nơi vắng vẻ yên tĩnh, khi ấy ta sẽ mở rộng sai khiến chư thiên, loài rồng, quỷ thần, càn-thát-bà, a-tu-la… đến nghe người ấy thuyết pháp. Tuy ta đang ở cõi khác, vẫn thường khiến cho người thuyết pháp ấy được nhìn thấy thân Phật. Nếu như khi thuyết kinh này có quên sót câu nào, ta lại sẽ vì người ấy thuyết, khiến cho được trọn đủ.”

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa trên nên thuyết kệ rằng:

“Muốn trừ bỏ biếng nhác,

Nên lắng nghe kinh này.

Kinh này khó được nghe,

Lại cũng khó tin nhận.

Như người khát tìm nước,

Trên gò cao đào xuống,

Vẫn thấy đất khô ráo,

Nên biết nước còn xa.

Dần thấy ẩm, đất bùn,

Biết chắc đã gần nước.

Dược Vương! Ông nên biết,

Như đối với những người,

Không nghe kinh Pháp Hoa,

Trí tuệ Phật còn xa.

Nghe kinh thâm sâu này,

Dứt sạch pháp Thanh văn,

Là vua trong các kinh,

Nghe rồi suy ngẫm kỹ,

Nên biết người như vậy,

Đã gần trí tuệ Phật.

Người muốn thuyết kinh này,

Nên vào nhà Như Lai,

Và đắp y Như Lai,

Ngồi trên tòa Như Lai,

Giữa đại chúng, không sợ,

Rộng vì người giảng thuyết.

Đại từ bi là nhà,

Áo nhu hòa nhẫn nhục,

Tòa là các pháp không,

Trụ trong đó thuyết pháp.

Nếu khi thuyết kinh này,

Có người xấu mắng chửi,

Ném gạch, đá, dao, gậy,

Niệm Phật nên nhẫn nhục.

Ta ở muôn ức cõi,

Hiện thân tịnh, kiên cố,

Trong vô lượng ức kiếp,

Vì chúng sanh thuyết pháp.

Sau khi ta diệt độ,

Người thường thuyết kinh này,

Ta hóa hiện bốn chúng,

Tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni,

Cùng nam, nữ cư sĩ,

Cúng dường pháp sư ấy,

Lại dẫn dắt chúng sanh,

Tụ tập đến nghe pháp.

Nếu người muốn hãm hại,

Dùng dao, gậy, gạch, đá,

Phật sai người biến hóa,

Đến bảo vệ người ấy.

Nếu như người thuyết pháp,

Đang ở nơi vắng vẻ,

Yên tịnh, không tiếng người,

Khi tụng đọc kinh này,

Ta vì người ấy hiện

Thân sáng ngời thanh tịnh,

Nếu quên câu kinh nào,

Ta giúp thuyết thông suốt.

Người đủ các đức trên, [21]

Khi thuyết cho bốn chúng,

Hoặc tụng đọc một mình,

Đều được thấy thân Phật.

Nếu ở chỗ vắng vẻ,

Ta khiến chư thiên, rồng,

Cùng dạ-xoa, quỷ thần,

Đến đó cùng nghe pháp.

Người ấy vui thuyết pháp,

Phân biệt không ngăn ngại,

Nhờ chư Phật hộ niệm,

Khiến đại chúng hoan hỷ.

Nếu gần gũi pháp sư,

Nhanh đạt đạo Bồ Tát,

Theo học với pháp sư,

Được gặp vô số Phật.

11. Phẩm Hiện tháp báu

Nguồn bản dịch: Nguyễn Minh Tiến · Rộng Mở Tâm Hồn/Đại Chánh tạng (Diệu Pháp Liên Hoa Kinh q1-q7)Giấy phép: Rongmotamhon.net / Đại Chánh tạng display; Việt dịch: Nguyễn Minh Tiến; Diệu Pháp Liên Hoa Kinh q1-q7 assembled on 2026-07-06.🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch bằng AI do Inti biên soạn: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến