Di Sa Tắc Bộ Hoà Hề Ngũ Phần Luật quyển 13
Tên chữ Hán:彌沙塞部和醯五分律
Lưu tiến độ đọc kinh
Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.
LUẬT DI SA TẮC BỘ HÒA HÊ NGŨ PHẦN - QUYỂN 13
QUYỂN 13
Phần 2: GIỚI PHÁP CỦA TỲ KHEO NI
Đoạn 4: NÓI VỀ HAI TRĂM LẺ BẢY PHÁP ĐỌA (Tiếp Theo)
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni không an cư, du hành trong nhân gian,
hoặc gặp đám giặc tháng tám, hoặc gặp các nạn nước, lửa. Các Tỳ-
kheo-ni Trưởng lão thấy, bằng mọi cách quở trách: Tại sao gọi là Tỳ-
kheo-ni mà không an cư kiết hạ, cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni
kiết giới (như trước). Từ nay giới này được nói như sau: “ Tỳ-kheo-ni
nào không hạ an cư, phạm Ba-dật-đề An cư: Có tiền an cư, hậu an
cư. Nếu không có duyên sự gì mà đợi đến hậu an cư, phạm Đột-kiết-la.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la. Nếu có tám nạn khởi thì
không phạm.
Đã nói xong chín mươi pháp.
Lúc này, các Tỳ-kheo-ni an cư chỗ không có chúng Tỳ-kheo, có
các điều nghi ngờ: Nên độ không nên độ, nên cho thọ giới không nên
cho thọ giới, may y như pháp không nhưpháp, đối với giới luật có những
điều nghi ngờ như vậy, không biết hỏi ai, lại bị ác nhân ngoại đạo khinh
miệt lấn áp. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão thấy, nghiêm khắc quở trách,
rồi bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp hai bộ Tăng, hỏi các
Tỳ-kheo-ni: Thật sự các cô có như vậy không? Đáp: Bạch Đức Thế
Tôn! Sự thật có như vậy. Bằng mọi cách Đức Phật quở trách: Trước đây,
Ta há không nói tám kính pháp, Tỳ-kheo-ni phải nương theo chúng Tỳ-
kheo để an cư hay sao! Sau khi quở trách, Phật bảo các Tỳ-kheo: Nay
Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-
kheo-ni nào không nương theo chúng Tỳ-kheo an cư, phạm Ba-dật-
đề”. Tuy nương tựa theo chúng Tỳ-kheo mà không người giáo thọ thì
phạmĐột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạmĐột-kiết-la. Nếu khi
an cư, chúng Tỳ-kheo dời đi, hoặc qua đời, hay thôi tu, hoặc bị cường
lực cưỡng chế, hoặc bệnh đều không phạm.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni an cư song vẫn du hành nên gặp các nạn
lửa, giặc... Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão thấy, bằng mọi cách quở trách,
cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (Cũng như trước). Từ
nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào đang ở trong an cư
mà du hành, phạm Ba-dật-đề Du hành: Từ xóm làng này đến xóm
làng khác, nếu không có xóm làng thì đi nửa do-tuần, phạm Ba-dật-đề.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la. Tám nạn khởi thì không
phạm.
Lúc đó, các Tỳ-kheo-ni an cư rồi, không đến trong Tỳ-kheo Tăng
thỉnh tội thấy, nghe, nghi, không có người giáo giới, nên không thể học
được giới luật, ngu tối không hiểu biết được gì. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng
lão biết, bèn nghiêm khắc quở trách, rồi bạch Phật. Nhân việc này,
Đức Phật tập hợp hai bộ Tăng, hỏi các Tỳ-kheo-ni: Thật sự các cô có
như vậy không? Đáp: Bạch Đức Thế Tôn! Sự thật có như vậy. Bằng
mọi cách Đức Phật quở trách, nói: Trước đây, Ta há không nói tám
kính pháp, Tỳ-kheo-ni an cư rồi nên đến trong chúng Tỳ-kheo thỉnh tội
thấy, nghe, nghi hay sao? Quở trách rồi, Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới. Từ nay giới này được nói như sau:
“Tỳ-kheo-ni nào an cư xong không đến trong Tỳ-kheo Tăng thỉnh tội
thấy, nghe, nghi, phạm Ba-dật-đề ”. Nếu Tăng không hòa hợp, không
tập hợp được hoặc khi có tám nạn, không phạm.
Lúc ấy, các Trưởng giả mời Tỳ-kheo-ni Sai-ma đến an cư nơi
thành Xá-vệ, với lời mời: Nếu nhận lời mời thì chúng con sẽ tùy thời
cung cấp. Sai-ma nhận lời mời rồi đến ở luôn không đi nơi khác. Các
Trưởng giả trách cứ: Chúng tôi cần làm bao nhiêu việc, các Tỳ-kheo-ni
không biết trù lượng lại cũng không biết cách ra đi. Những người này
thường nói ít ham muôn, biết vừa đủ, mà nay không nhàm chán. Các
Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bèn nghiêm khắc quở trách, cho đến câu:
Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (Như trước). Từ nay giới này được
nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào theo lời mời đến an cư rồi ở lại một đêm
không đi, phạm Ba-dật-đề”. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-
la. Nếu bị bệnh hoặc bị khủng bố, hay chưa mãn thời hạn mời, hoặc
chẳng phải chỗ nhận sự mời an cư, không đi, không phạm.
Khi đó, các Tỳ-kheo-ni ở trong nước, du hành những nơi có sự
khủng bố, không có kẻ cứu hộ, bị ác nhân cướp đoạt. Các Tỳ-kheo-ni
Trưởng lão nghe, bèn nghiêm khắc quở trách, cho đến câu: Nay Ta vì
các Tỳ-kheo-ni kiết giới (Như trước). Từ nay giới này được nói như sau:
“Tỳ-kheo-ni nào ở trong nước, chỗ có sự khủng bô, không có người để
nương nhờ, mà đi một mình, phạm Ba-dật-đề ”. Tuy có số đông Tỳ-
kheo-ni cùng đi mà không có bạch y làm bạn có sức mạnh thì gọi là đi
một mình. Từ một xóm làng đến một xóm làng, nếu không có xóm làng
thì đi nửa do-tuần là phạm Ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm
Đột-kiết-la. Nếu có cấp nạn phải thoát chạy thì không phạm.
Lúc này, các Tỳ-kheo-ni ra khỏi quốc nội, đi nơi có sự khủng bố,
cũng không có người cứu hộ, bị kẻ ác cướp đoạt, cho đến câu: Nay Ta vì
các Tỳ-kheo-ni kiết giới (Như trước). Từ nay giới này được nói như sau:
“Tỳ-kheo-ni nào ra ngoài nước, nơi có sự khủng bố, không có người để
nương tựa, đi một mình, phạm Ba-dật-đề (Ngoài ra như trên đã nói).
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni an cư tại Tinh xá do Tỳ-xá-khư-mẫu làm,
an cư xong, không gửi gắm cho ai, bỏ chùa không ra đi. Sau đó chùa bị
cháy, có người thấy, đến báo với Tỳ -xá -khư- mẫu: Tinh xá bà cất cho
Tỳ-kheo-ni bị cháy. Tỳ-xá-khư-mẫu cho người ở đến cứu chữa, nên
chưa cháy hết. Sau đó, các Tỳ-kheo-ni trở về lại, Tỳ-xá-khư-mẫu hỏi:
Các cô ni có bị cháy thứ gì không? Các ni đáp: Chúng tôi bị cháy những
thứ như vậy, như vậy. Những vật dư dùng bị cháy rất nhiều. Tỳ-xá-
khư-mẫu chê trách, nói: Tại sao an cư tại Tinh xá của tôi, lại không gửi
gắm ai, bỏ đi, đến nỗi bị cháy, cháy nhiều vật dư dùng nhiều thế! Các
Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bèn nghiêm khắc quở trách, cho đến câu:
Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (Như trước). Từ nay giới này được
nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào an cư rồi, không gửi gắm Tinh xá cho ai
mà bỏ đi, phạm Ba-dật-đề”. Nếu không gửi gắm mà bước một chân ra
ngoài cửa ngõ, phạm Đột-kiết-la, bước hai chân ra ngoài cửa ngõ, phạm
Ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la. Nếu không có
Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni đến ở, hoặc không có người có thể gửi gắm thì
không phạm.
Khi đó, các Tỳ-kheo-ni an cư tại Tinh xá của Tỳ-xá-khư-mẫu rồi,
không trao trả Tinh xá mà bỏ đi. Sau đó, Tinh xá bị cháy, có người thấy
nói với Tỳ-xá-khư-mẫu: Tinh xá của bà cất cho Tỳ-kheo-ni bị phát hỏa.
Tỳ-xá-khư-mẫu nói: Để mặc cho nó cháy hết. Trước đây các Tỳ-kheo-
ni đã không gửi gắm cho ai bỏ đi, bị cháy rồi, khi trở về nói đồ dư dùng
bị cháy quá nhiều, gây tiếng xấu ác cho tôi. Tỳ-kheo-ni kia sau đó trở
lại, Tỳ-xá-khư-mẫu hỏi: Khi các cô đi có để vật gì trong Tinh xá không?
Các ni đáp: Không. Thí chủ chê trách tại sao khi đi không trả Tinh xá lại
cho tôi để bị cháy hết như vậy! Nếu có nói với tôi thì tôi bảo vệ không
đến nỗi cháy như thế. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách
quở trách, cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (Như trước).
Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào an cư xong, không
trả Tinh xá lại cho thí chủ, bỏ đi, phạm Ba-dật-đề (Ngoài ra như trên
đã nói).
Lúc ấy, Tỳ-kheo-ni dạo xem cung điện của nhà Vua và xem
phòng triển lãm, rồi lại du ngoạn các nơi vui đùa, đến cả vườn hoa, bên
ao nước. Những nơi đây khá đông người tụ tập để xem cảnh. Tỳ-kheo-ni
nói với các nam tử: Các ông có thể tránh ra một tý, đừng đến gần chúng
tôi. Các nam tử nói: Hạng người xui xẻo trọc đầu này, đã mặc áo cắt
rọc, không nên đến nơi đây, mà đã đến đây tức là cầu nam tử tại sao lại
bảo chúng ta tránh xa? Các nam tử bèn nắm tay kéo lôi, nói lời thô ác,
dâm dục. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách,
cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (như trước). Từ nay
giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào đi dạo xem các thứ, phạm
Ba-dật-đề”. Khởi tâm muốn đi và tạo phương tiện, phạm Đột-kiết-la.
Nếu khởi sự đi thì mỗi bước phạm một Ba-dật-đề”. Thức-xoa-ma-na,
Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la. Nếu không vì sự mua vui mà đến xem thì
không phạm.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni cứ mỗi nửa tháng Bcí-tát, không đến
trong Tỳ-kheo Tăng cầu thỉnh thầy giáo giới, do không có người dạy
giới nên ngu ám không biết gì, không thể học giới. Các Tỳ-kheo-ni
Trưởng lão biết, bèn nghiêm khắc quở trách, rồi bạch Phật. Nhân việc
này, Đức Phật tập hợp hai bộ Tăng, hỏi các Tỳ-kheo-ni: Các cô thật sự
có như vậy không? Đáp: Bạch Đức Thế Tôn! Sự thật chúng con có như
vậy. Bằng mọi cách Đức Phật quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo-ni: Trước
đây, Ta há không nói tám kính pháp, dạy các cô mỗi nửa tháng phải cầu
thỉnh thầy giáo thọ hay sao? Quở trách rồi, Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới. Từ nay giới này được nói như sau:
“Tỳ-kheo-ni nào nửa tháng không đến trong Tăng cầu thỉnh thầy giáo
giới, phạm Ba-dật-đề”. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni không cầu thỉnh giáo
giới, hối quá Đột-kiết-la. Nếu thỉnh mà không được hay bệnh thì không
phạm.
Đã nói xong một trăm pháp.
Bấy giờ, Tỳ-kheo-ni Sai-ma qua đời, các Tỳ-kheo-ni xây tháp thờ
cốt trong Tăng phường của Tỳ-kheo. Mỗi ngày Ba lần, quyết thuộc của
Sai-ma đến đi quanh khóc kể: “Người cho tôi pháp, người cho tôi y thực,
sàng tọa, tọa cụ, y dược, sao mà mới đây vĩnh biệt chúng tôi!!!”. Các
Tỳ-kheo bực bội do việc ồn ào này làm trở ngại vấn đề tọa thiền, hành
đạo. Khi ấy, Tôn giả Ưu-ba-ly lại đến Tăng phường, hỏi nơi Tỳ-kheo
cựu trú: Tiếng gì ồn vậy? Người được hỏi trình bày sự việc. Tôn giả
Ưu-ba-ly liền sai người đập phá tháp. Các Tỳ-kheo-ni nghe, cùng nhau
luận bàn: Mỗi người chúng ta cầm gậy đến đánh Tỳ-kheo kia. Nếu cô
nào không đến sẽ bị khai trừ. Nghị bàn rồi, họ liền mang gậy đến Tăng
phường, thấy Tỳ-kheo bèn bao quanh muốn đánh, nhưng biết không
phải đối tượng nên thôi. Họ tiến đến nơi đường hẻm, gặp Tôn giả Ưu-
ba-ly, kẻ trước người sau, chặn đường đưa gậy lên muốn đánh. Tôn giả
Ưu-ba-ly liền dùng thần lực bay đến chỗ Đức Phật, bạch lên Phật đầy
đủ sự việc. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp hai bộ Tăng, hỏi các Tỳ-
kheo-ni: Thật sự các cô có như vậy không? Đáp: Bạch Đức Thế Tôn! Sự
thật có như vậy. Bằng mọi cách Đức Phật quở trách Tỳ-kheo-ni: Việc
làm của các cô là phi pháp. Tại sao Tỳ-kheo-ni lại đánh Tỳ-kheo? Quở
trách rồi, Phật bảo các Tỳ-kheo: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới. Từ
nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni vào trong trú xứ của Tỳ-
kheo, phạm Ba-dật-đề
Có các Tỳ-kheo-ni trên đường đi thấy Tăng phường bỏ trống,
muốn vào lễ bái mà không dám, bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật
tập hợp hai bộ Tăng, bảo các Tỳ-kheo: Nay cho phép các Tỳ-kheo-ni
vào trong Tăng phường bỏ trống. Từ nay giới này được nói như sau:
“Tỳ-kheo-ni nào vào trong trú xứ có Tỳ-kheo, phạm Ba-dật-đề
Có các Tỳ-kheo-ni có nhân duyên vào trong Tăng phường mà
không dám, bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp hai bộ Tăng,
bảo các Tỳ-kheo: Nay cho phép Tỳ-kheo-ni có nhân duyên cần vào
Tăng phường thì bạch với Tỳ-kheo. Tỳ-kheo cho phép, sau mới vào. Từ
nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào vào trú xứ có Tỳ-kheo
mà không bạch với Tỳ-kheo, phạm Ba-dật-đề
Có các Tỳ-kheo-ni có nhân duyên muốn vào Tăng phường mà
các Tỳ-kheo hoặc đang tọa thiền hoặc ngủ không bạch được, bạch Phật.
Nhân việc này, Đức Phật tập hợp hai bộ Tăng, bảo các Tỳ-kheo: Nay
cho phép các Tỳ-kheo-ni vào Tăng phường thấy Tỳ-kheo liền bạch. Từ
nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào vào trong trú xứ có Tỳ-
kheo, thấy Tỳ-kheo mà không bạch, phạm Ba-dật-đề
Có Tỳ-kheo-ni khi có cấp nạn muôn chạy vào Tăng phường tránh
nạn mà không dám, hoặc bị giặc cướp đoạt, hoặc bị thú dữ làm hại,
bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp hai bộ Tăng, bảo các Tỳ-
kheo: Nay cho phép các Tỳ-kheo-ni, nếu khi gặp nạn nguy cấp được tùy
tiện vào Tăng phường. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni
nào vào trú xứ có Tỳ-kheo, thây Tỳ-kheo mà không bạch, trừ khi gặp
nạn nguy cấp, phạm Ba-dật-đề Nếu không thấy Tỳ-kheo, không thưa
được mà vào, khi thấy Tỳ-kheo liền đến thưa. Tỳ-kheo kia nên tính
toán, nếu khi có thể cho vào thì cho, nếu thấy không nên cho vào thì
đừng cho. Thấy mà không bạch và không cho phép mà vào, phạm Ba-
dật-đề. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Khi ấy, các Tỳ-kheo-ni chưa đủ mười hai tuổi (Tuổi đạo) mà nuôi
đệ tử, không thể giáo giới, không thể quản lý, đệ tử ngu ám không biết
gì, không thể học giới. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão biết, bèn nghiêm
khắc quở trách, cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (Như
trước). Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào chưa đủ
mười hai tuổi (Hạ) mà nuôi đệ tử, phạm Ba-dật-đề ”. Không đủ mười
hai tuổi: Là thọ giới chưa đủ mười hai năm. Nuôi đệ tử là vì người làm
Hòa thượng. Nếu khởi tâm muôn nuôi chúng, cho đến Bạch-tứ-yết-ma
chưa xong, phạm Đột-kiết-la, Bạch-tứ-yết-ma xong, Hòa thượng phạm
Ba-dật-đề, các Ni Tăng khác phạm Đột-kiết-la.
Lúc đó, các Tỳ-kheo-ni tuy đủ mười hai tuổi mà câm ngọng, điếc
đui có nhiều chứng bệnh, không có sự hiểu biết mà nuôi đệ tử, không
thể giáo giới, không thể quản lý. Đệ tử ngu ám, vô tri, không thể học
giới. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão biết, bèn nghiêm khắc quở trách, rồi
bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp hai bộ Tăng, hỏi các Tỳ-
kheo-ni: Sự thật các cô có như vậy không? Đáp: Bạch Đức Thế Tôn!
Thật sự chúng con có như vậy. Bằng mọi cách Đức Phật quở trách rồi,
nói: Tại sao Tỳ-kheo-ni câm, ngọng, điếc, đui, đủ các thứ bệnh mà nuôi
đệ tử, không đủ khả năng giáo giới, không thể quản lý, khiến đệ tử ngu
si, không biết gì, không thể học giới. Quở trách rồi, Phật bảo các Tỳ-
kheo: Nay Ta cho phép các Tỳ-kheo bạch nhị Yết-ma cho nuôi chúng.
Tỳ-kheo-ni đó nên đến trong Tỳ-kheo-ni Tăng, cởi bỏ giày dép, mặc y
chừa vai bên phải, quỳ gối, chấp tay, bạch:
A-di Tăng xin lắng nghe! Tôi Tỳ-kheo-ni tên là... đã đủ mười hai
tuổi, muôn nuôi chúng, đến xin Tăng pháp Yết-ma nuôi chúng. Lành
thay Ni Tăng cho tôi pháp Yết-ma nuôi chúng. Xin như vậy Ba lần. Các
Tỳ-kheo-ni nên tìm hiểu, quan sÁt-tỳ-kheo-ni này có thể nuôi chúng
được hay không. Nếu không thể thì không nên cho pháp Yết-ma nuôi
chúng. Nếu có thể thì nên cho. Ni Tăng nên sai một Tỳ-kheo-ni bậc
Thượng tọa hay là ngang bằng bậc Thượng tọa biết pháp, biết luật,
xướng như sau:
A-di Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo-ni này tên... đủ mười hai tuổi
muốn nuôi cô... làm đệ tử, nên đến xin Tăng pháp Yết-ma nuôi chúng.
Nay Tăng cho pháp Yết-ma nuôi chúng. Nếu thời gian thích hợp đối với
Tăng, Tăng chấp thuận. Đây là lời tác bạch.
A-di Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo-ni này tên... đã đủ mười hai
tuổi, muốn nuôi cô... làm đệ tử, nên đến Tăng xin pháp Yết-ma nuôi
chúng. Nay Tăng cho pháp Yết-ma nuôi chúng, A-di nào chấp nhận thì
im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.
Tăng đã cho Tỳ-kheo-ni tên... pháp Yết-ma nuôi chúng rồi, Tăng
chấp thuận nên im lặng. Việc như vậy, thọ trì như vậy.
Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới. Từ nay giới này được nói như
sau: “Tỳ-kheo-ni nào đủ mười hai tuổi, Tăng không cho pháp Yêt-ma
nuôi chúng, mà nuôi, phạm Ba-dật-đề”. (Ngoài ra như trên đã nói).
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni cho người nữ đã có chồng chưa đủ mười
hai tuổi (tuổi đời) thọ giới Cụ túc, ngu ám không biết gì, không thể học
giới. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bèn nghiêm khắc quở trách, cho
đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (Như trước). Từ nay giới
này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào cho người nữ đã có chồng, chưa
đủ mười hai tuổi thọ Giới Cụ túc, phạm Ba-dật-đề ”. Chưa đủ mười hai
tuổi: Là tuy đã có chồng mà chưa đủ mười hai tuổi. Có chồng: Là đã trải
qua đối với nam tử. (Ngoài ra như giới nuôi chúng đã nói).
Lúc ấy, các Tỳ-kheo-ni cho người nữ đã có chồng tuy đủ mười hai
tuổi, nhưng câm ngọng, có nhiều chứng bệnh, thọ giới Cụ túc, ngu si vô
trí, không thể học giới. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bèn nghiêm
khắc quở trách, cho đến câu: Nay Ta cho phép các Tỳ-kheo-ni Bạch-
tứ-yết-ma, cho người nữ có chồng, đã đủ mười hai tuổi, thọ giới Cụ túc.
Người nữ muôn thọ giới Cụ túc kia nên đến trong Tỳ-kheo-ni Tăng,
bạch: A-di Tăng lắng nghe! Tôi tên là... đã có chồng, đủ mười hai tuổi,
cầu Hòa thượng hiệu... thọ giới Cụ túc. Nay đến Tăng xin thọ giới Cụ
túc. Lành thay Tăng, cho con thọ giới Cụ túc. Cúi mong Tăng rủ lòng
thương đối với con. cầu xin như vậy Ba lần rồi. Các Tỳ-kheo-ni nên
tìm hiểu nên cho hay không nên cho thọ. Nếu nên cho thì Ni Tăng nên
cử một Tỳ-kheo tác Yết- ma, y như giới trước đã nói. Đức Phật bảo các
Tỳ-kheo: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới. Từ nay giới này được nói
như sau: “Tỳ-kheo-ni nào cho người nữ đã có chồng, đủ mười hai tuổi,
thọ giới Cụ túc mà không được Tăng tác pháp Yết-ma cho phép, phạm
Ba-dật-đề”. (Ngoài ra như trong giới nuôi chúng đã nói).
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni cho đồng nữ chưa đủ mười tám tuổi thọ
học giới, ngu ám vô tri, không thể học giới. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão
biết, bằng mọi cách quở trách, cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni
kiết giới (Như trước). Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni
nào cho đồng nữ, chưa đủ mười tám tuổi thọ học giới, phạm Ba-dật-
đề”. Đồng nữ: Chưa từng trải qua với nam tử. Phát khởi ý muốn, tạo
phương tiện, cho đến bạch nhị Yết-ma chưa đầy đủ, phạm Đột-kiết-la,
bạch nhị Yết-ma rồi, Hòa thượng phạm Ba-dật-đề. Các ni sư khác đều
phạm Đột-kiết-la.
Lúc này, các Tỳ-kheo-ni cho người đồng nữ, tuy đủ mười tám tuổi
mà điếc ngọng, có nhiều chứng bệnh, thọ học giới, cho đến câu: Nay Ta
cho phép các Tỳ-kheo-ni bạch nhị Yết-ma cho người đồng nữ đủ mười
tám tuổi thọ hai năm học giới. Người muốn thọ học giới nên đến trong
Tỳ-kheo-ni Tăng, bạch:
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Con tên là... Hòa thượng của con
hiệu là... Nay đến Tăng xin hai năm học giới. Lành thay, A-di Tăng cho
con thọ hai năm học giới, rủ lòng thương đối với con. Xin như vậy Ba
lần. Các Tỳ-kheo-ni khéo tìm hiểu, nên cho thọ hay không nên cho thọ.
Nếu cho, nên sai một Tỳ-kheo-ni, y theo như giới trước Yết-ma. Đức
Phật bảo các Tỳ-kheo: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới. Từ nay giới
này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào, tuy đồng nữ đủ mười tám tuổi,
Tăng không Yết-ma mà cho thọ học giới, phạm Ba-dật-đề (Ngoài ra
như giới trước đã nói).
Lúc ấy, vợ người thí chủ của Tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà muốn
cầu xuất gia. Thâu-la-nan-đà nói: Trước hết bà cho tôi y, tôi mới độ
bà. Vợ thí chủ chê trách nói: Tôi là người thí chủ, tại sao đòi tôi cho y
trước rồi sau mới độ! Không muốn độ thoát sinh, lão, bệnh, tử nơi tôi
mà ngược lại đòi độ cái lợi về y áo nơi tôi! Những cô này không có
hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão biết, bèn
nghiêm khắc quở trách, cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết
giới (như trước). Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào nói
với phụ nữ bạch y: “Cho tôi y trước, tôi mới độ bà ”, phạm Ba-dật-đề
Tỳ-kheo nào nói với Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la. Nếu
người kia mắc nợ, đòi trả nợ rồi sau mới độ thì không phạm.
Khi đó, Tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà nói với các Tỳ-kheo-ni: Cho
tôi pháp Yết-ma nuôi chúng. Các Tỳ-kheo-ni nói: Như lời Phật dạy,
người đủ điều kiện mới cho pháp Yết-ma nuôi chúng. Thâu-la-nan-đà
bèn nói: Các Tỳ-kheo-ni làm việc theo thương, ghét, si, sợ. Sợ ai thì
cho, ai không sợ thì không cho. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng
mọi cách quở trách, cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới
(như trước). Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào, các
Tỳ-kheo-ni nói: Như lời Phật dạy, điều kiện để cho người pháp Yêt-ma
nuôi chúng thì cô không có, bèn chê trách các Tỳ-kheo-ni, phạm Ba-
dật-đề
Lúc ấy, các Tỳ-kheo-ni, khi giáo giới không đến nghe, khi Yêt-
ma cũng không đến nghe, nên ngu ám vô tri, không thể học giới. Các
Tỳ-kheo-ni Trưởng lão biết, bằng mọi cách quở trách, cho đến câu: Nay
Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (như trước). Từ nay giới này được nói
như sau: “Tỳ-kheo-ni nào khi giáo giới và Yểt-ma mà không đến nghe,
phạm Ba-dật-đề ”. Giáo giới: Là nói tám kính pháp... Yết-ma: Tức bạch
yết-ma, bạch nhị Yết-ma, Bạch-tứ-yết-ma.
Đã nói xong một trăm mười pháp.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni có học giới ni đủ hai năm mà không cho
thọ giới Cụ túc. Sau đó, học giới ni kia mắc phải trọng bệnh, câm ngọng
điếc đui và nhiều bệnh khác, bị trở ngại nơi vấn đề thọ giới pháp. Đệ tử
Tỳ-kheo-ni Sai-ma học giới đủ hai năm cũng không cho thọ giới Cụ túc.
Sai-ma lại nói: Cô nên học thêm giới này. Sau đó, cô đệ tử mắc bệnh
bạch lại, không biết giải quyết thế nào. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão
biết bèn nghiêm khắc quở trách, cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-
ni kiết giới (như trước). Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni
nào, Thức-xoa-ma-na, đủ hai năm hoc giới không có gì trở ngại, mà
không cho thọ giới Cụ túc, lại nói: Cô học thêm giới này đã, phạm Ba-
dật-đề
Lúc này, các Tỳ-kheo-ni độ dâm nữ, không thọ giáo giới, ví như
con trâu bị đau nơi vai không thể kéo xe được, khi mắc vào xe chỉ
muốn ra khỏi gọng xe. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão biết, bèn nghiêm
khắc quở trách, cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (Như
trước). Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào độ dâm nữ,
phạm Ba-dật-đề ”. Khởi tâm cho đến Bạch-tứ-yết-ma chưa xong, phạm
Đột-kiết-la, Bạch-tứ-yết-ma rồi, Hòa thượng phạm Ba-dật-đề, các ni sư
khác phạm Đột-kiết-la. Người nữ kia nhàm chán thân xấu ác của người
nữ mà độ thì không phạm.
Khi đó, các Tỳ-kheo-ni cho cô ni chưa đủ hai năm học giới thọ
giới Cụ túc. Cô ni ngu ám vô tri, không thể học giới. Các Tỳ-kheo-ni
Trưởng lão biết, bèn nghiêm khắc quở trách, cho đến câu: Nay Ta vì
các Tỳ-kheo-ni kiết giới (Như trước). Từ nay giới này được nói như sau:
“Tỳ-kheo-ni nào cho cô ni chưa đủ hai năm học giới, thọ giới Cụ túc,
phạm Ba-dật-đề (Ngoài ra như trong giới nuôi đệ tử đã nói).
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni cho cô ni tuy đủ hai năm học giới, mà bị
câm ngọng, điếc đui và các chứng bệnh khác, thọ giới Cụ túc. Các Tỳ-
kheo-ni Trưởng lão biết, bằng mọi cách quở trách, cho đến câu: Nay Ta
vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (như trong giới đối với người nữ có chồng đủ
mười hai tuổi đã nói). Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni
nào, cô ni học giới đủ hai năm, Tăng không tác Yết-ma, cho thọ giới Cụ
túc, phạm Ba-dật-đề (Ngoài ra như trong giới nuôi đệ tử đã nói).
Khi ấy, các Tỳ-kheo-ni cho học giới ni chưa đủ hai năm, không
học giới mà thọ giới Cụ túc, ngu ám, vô tri, không thể học giới. Các
Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, cho đến câu:
Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (Như trước). Từ nay giới này được
nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào cho học giới ni đủ hai năm, không học
giới mà cho thọ giới Cụ túc, phạm Ba-dật-đề (Ngoài ra như trong giới
nuôi đệ tử đã nói).
Lúc này, các Tỳ-kheo-ni cho người nữ có thai thọ giới Cụ túc, khi
vào thôn khất thực, các bạch y thấy chế giễu nói: Tỳ-kheo-ni này nặng
mang nặng gánh nên cho thức ăn mau. Có người nói: Nên xem cái bụng
của cô ta. Có người nói: Những cô này không tu phạm hạnh. Có người
nói: Việc này xảy ra khi chưa xuất gia tu phạm hạnh. Họ chê trách các
Tỳ-kheo-ni: Sao không đợi sinh rồi, sẽ độ họ xuất gia, đây là hủy nhục
phạm hạnh. Các Tỳ-kheo-ni không biết nên độ, không nên độ, không
có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe,
bằng mọi cách quở trách, cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết
giới (Như trước). Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào,
cho người nữ có thai thọ giới Cụ túc, phạm Ba-dật-đề”. Khởi tâm cho
đến Bạch-tứ-yết-ma xong (Đều như trước đã nói). Nếu muốn cho thọ
giới Cụ túc thì trước nên khám vú sữa, không có tướng có hài nhi thì
không phạm. Nếu thọ giới rồi mới biết có thai cũng không phạm.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni cho người đàn bà mới sinh thọ giới Cụ
túc, một tay bưng bát, một tay bồng con đi khất thực. Các bạch y thấy
chế giễu: Mau mau cho hai người ăn. Các bạch y dị nghị, chê trách.
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, cho đến
câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (Như trước). Từ nay giới này
được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào cho đàn bà mới sinh thọ giới Cụ túc,
phạm Ba-dật-đề (Ngoài ra như trong giới nuôi đệ tử đã nói).
Lúc này, các Tỳ-kheo-ni hằng năm đều độ đệ tử thọ giới Cụ túc.
Đệ tử nhiều không thể giáo giới chu đáo, nhiều người ngu ám vô tri,
không thể học giới. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão biết, bằng mọi cách quở
trách, cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (Như trước). Từ
nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào, năm nào cũng cho đệ
tử thọ giới Cụ túc, phạm Ba-dật-đề ”. Tỳ-kheo-ni cách một năm mới
được cho đệ tử thọ giới Cụ túc. (Ngoài ra như trong giới nuôi đệ tử đã
nói).
Khi ấy, các Tỳ-kheo-ni trao giới Cụ túc cho đệ tử trong Tỳ-kheo-
ni Tăng, để cách đêm rồi mới đến trong Tỳ-kheo Tăng thọ giới. Người
thọ giới ở trong một đêm mắc phải sự trở ngại về cách đêm thọ giới, nên
Tỳ-kheo Tăng không cho thọ giới. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe,
bằng mọi cách quở trách, cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết
giới (Như trước). Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào
để cách đêm, cho đệ tử thọ giới Cụ túc, phạm Ba-dật-đề ”. Từ khi khởi
tâm cho đến khi tướng mặt trời chưa xuất hiện, phạm Đột-kiết-la, tướng
mặt trời xuất hiện, Hòa thượng phạm Ba-dật-đề, các Ni sư khác phạm
Đột-kiết-la. Nếu Tăng không hòa hợp, không tập hợp được, và tám nạn
khởi thì không phạm.
Lúc đó, các Tỳ-kheo-ni mới thọ giới Cụ túc, không phục vụ Hòa
thượng, không có người giáo giới, ngu không biết gì, không thể học giới,
các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão biết, bằng mọi cách quở trách, cho đến câu:
Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (Như trước). Từ nay giới này được
nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào mới thọ giới Cụ túc, không phục vụ Hòa
thượng sáu năm, hoặc sai người phục vụ, phạm Ba-dật-đề Thức-xoa-
ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la. Nếu Hòa thượng không cần người
phục vụ thì không phạm.
Đã nói xong một trăm hai mươi pháp.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni cho đệ tử thọ giới Cụ túc rồi, không quản
lý, không giáo giới, không dạy tụng tập, ngu ám vô tri, không thể học
giới. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão biết, bằng mọi cách quở trách, cho đến
câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (Như trước). Từ nay giới này
được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào nuôi đệ tử trong sáu năm, không tự
quản lý, không dạy người quản lý, phạm Ba-dật-đề”. Nếu đệ tử không
chọn thọ giáo thì không phạm.
LÚC này, các Tỳ-kheo-ni cho đệ tử thọ giới Cụ túc rồi, không đưa
họ đến chỗ cách xa bổn xứ, nam tử quen biết trước đây trông thấy sinh
tâm nhiễm ô, trêu chọc, nói lời thô ác, dâm dục. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng
lão biết, bằng mọi cách quở trách, cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-
ni kiết giới (Như trước). Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni
nào nuôi đệ tử, tự mình không đem, hay không khiến người khác đem đi
cách bổn xứ năm, sáu do-tuần, phạm Ba-dật-đề Bổn xứ: Là chỗ sinh
hay chỗ lấy chồng. Nếu đệ tử không làm theo thì không phạm.
Lúc đó, các Tỳ-kheo-ni, người đồng học bệnh mà không chăm
sóc, hoặc không sai người chăm sóc đúng lúc, đưa đến người bệnh qua
đời. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão biết, bằng mọi cách quở trách... cho
đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (Như trước). Từ nay giới
này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào, người đồng học bệnh, không
tự mình chăm sóc, không sai người chăm sóc, phạm Ba-dật-đề Đồng
học: Đồng Hòa thượng, A-xà-lê và thường cùng làm bạn. Thức-xoa-
ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la. Nếu không cùng ở một chỗ thì không
phạm.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni độ đệ tử đang bị lệ thuộc nhà người,
các bạch y dị nghị nói: Các Tỳ-kheo-ni này không biết ai có thể độ, ai
không thể độ. Các Cư sĩ có người nói: Nên đoạt lấy y bát, dẫn đến nhà
quan. Có người nói: Vua Ba-tư-nặc có ra lệnh: Ai khinh suất Tỳ-kheo-ni
sẽ bị trọng tội, nên mau mau thả họ đi, đừng để có ai biết. Mọi người
đều nói: Các cô này không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn. Các
Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách... cho đến câu:
Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (Như trước). Từ nay giới này được
nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào độ phụ nữ đang thuộc về của người, phạm
Ba-dật-đề Thuộc về của người: Là thuộc về quan hay thuộc về người
khác. Khi khởi tâm cho đến Bạch-tứ-yết-ma rồi (Cũng như giới trước).
Nếu người chủ cho phép thì không phạm.
Khi ấy, các Tỳ-kheo-ni độ người nữ có bệnh trầm kha, không
thể gắng sức học giới, ngu ám vô tri. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão biết,
bằng mọi cách quở trách... cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết
giới (Như trước). Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào độ
người nữ có bệnh trầm kha, phạm Ba-dật-đề Bệnh trầm kha: Là mùa
nóng, mùa lạnh đều có bệnh. Từ khi khởi tâm độ cho đến Bạch-tứ-yết-
ma xong... (Cũng như giới trước đã nói). Nếu sau khi thọ giới rồi, mắc
bệnh ấy thì không phạm.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni độ người đàn bà bị ràng buộc do chồng,
bạch y chê trách, hoặc muôn đoạt y, hoặc muốn phóng thích... cho đến
câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (Đều như trong giới độ phụ nữ
thuộc quyền của người khac đã nói). Từ nay giới này được nói như sau:
“Tỳ-kheo-ni nào độ phụ nữ thuộc quyền chồng của họ, phạm Ba-dật-
đề”. Khi khởi tâm độ cho đến Bạch-tứ-yết-ma xong (Như giới trước đã
nói).
Khi ấy, các Tỳ-kheo-ni độ người nữ có mắc nợ... cho đến câu:
Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (đều như trong giới độ phụ nữ thuộc
quyền của người đã nói). Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-
ni nào độ người nữ có mắc nợ, phạm Ba-dật-đề ”. Khi khởi tâm độ, cho
đến Bạch-tứ-yết-ma xong (Cũng như giới trước). Nếu người ấy nói: Sau
khi xuất gia rồi sẽ trả, thì độ họ không phạm.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni cùng nam tử đứng nơi chỗ tối tăm chuyện
vãn với nhau, trái tim đắm say, nhiễm dục lớn nhanh, không còn vui
thú với đời tu phạm hạnh, đưa đến tình trạng có người hoàn tục, hoặc
làm ngoại đạo. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở
trách... cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (Như trước). Từ
nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào cùng nam tử đứng, nói
chuyện chỗ tôi tăm, phạm Ba-dật-đề ”. Nêu nói chuyện chỗ tối tăm thì
mỗi lời nói phạm một Ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-
kiết-la. Nếu nghi là chỗ có sự sợ sệt, hoặc đèn tắt bất ngờ thì không
phạm.
Lúc ấy, các Tỳ-kheo-ni tùy theo gia đình quen biết, khi đến, vội
ngồi nơi giường của họ. Các bạch y dị nghị nói: Ta không ưa thấy những
hạng người xui xẻo này, hạng người không biết chỗ nên ngồi, chỗ không
nên ngồi, không có tác phong. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng
mọi cách quở trách... cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới
(Như trước). Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào không
nói với người chủ mà vội ngồi trên giường của họ, phạm Ba-dật-đề ”.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la. Nếu người chủ bảo ngồi
thì không phạm.
Khi đó, các Tỳ-kheo-ni tự tay cho bạch y và ngoại đạo nam tử thức
ăn. Họ nghĩ: Chắc Tỳ-kheo-ni này có tâm nhiễm đắm nên cho ta thức
ăn, bèn trêu chọc nói lời thô ác, dâm dục. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão
nghe, bằng mọi cách quở trách... cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni
kiết giới (Như trước). Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni
nào tự tay cho ngoại đạo nam tử thức ăn, phạm Ba-dật-đề Thức-xoa-
ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la. Nếu không tự tay cho và tự tay cho
bà con, đều không phạm.
Đã nói xong một trăm ba mươi pháp.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni đến các bạch y nói tội lỗi của các Tỳ-
kheo: Tỳ-kheo kia phá giới, phá kiến, phá oai nghi. Các Tỳ-kheo nghe
nổi giận không giáo giới. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bèn nghiêm
khắc quở trách, rồi bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp hai bộ
Tăng, hỏi các Tỳ-kheo-ni: Thật sự các cô có như vậy không? Bạch Đức
Thế Tôn! Sự thật các con có như vậy. Đức Phật bằng mọi cách quở
trách: Trước đây Ta không vì các cô nói tám kính pháp hay sao? Bằng
mọi cách quở trách rồi, Phật bảo các Tỳ-kheo: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-
ni kiết giới. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào đến nhà
bạch y nói lỗi của các Tỳ-kheo, phạm Ba-dật-đề ”. Thức-xoa-ma-na,
Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la. Nếu bạch y trước đã có nghe mà hỏi, thì nên
hỏi lại: Ngươi nghe thế nào? Nếu nói: Tôi nghe như vậy, như vậy. Các
Tỳ-kheo-ni nghe cũng như vậy, sau đó đem sự thật mà trả lời thì không
phạm.
Khi ấy, Tỳ-kheo-ni Chiên-đồ-tu-ma-na cùng người tranh chấp rồi
tự đấm ngực, tự đánh trong người, la lớn, khóc than. Các Tỳ-kheo-ni
Trưởng lão nghe, bèn nghiêm khắc quở trách... cho đến câu: Nay Ta vì
các Tỳ-kheo-ni kiết giới (như trước). Từ nay giới này được nói như sau:
“Tỳ-kheo-ni nào cùng người tranh chấp rồi, tự đánh thân mình, kêu
khóc, phạm Ba-dật-đề ”. Tự mình đấm ngực, tự mình đánh thân mình,
mỗi cú đánh, đấm đều phạm một Ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni,
phạm Đột-kiết-la.
Lúc này, các Tỳ-kheo-ni từ xa cùng nhau chỉ về Chiên-đồ-tu-ma-
na nói đến việc cô ta tranh chấp. Chiên-đồ-tu-ma-na ngỡ rằng mình bị
mắng chửi, bèn la to: Các Tỳ-kheo-ni mắng tôi. Các Tỳ-kheo-ni liền
đến hỏi: Chúng tôi mắng cô như thế nào? Cô ta mù mờ không trả lời
được. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bèn nghiêm khắc quở trách:
Tại sao Tỳ-kheo-ni không lắng nghe rõ lời của người khác lại vọng nói
là mắng mình... cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (Như
trước). Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào không nghe
rõ lời nói của người mà nổi giận, nói sai sự thật đối với người khác,
phạm Ba-dật-đề Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni cùng nhau tranh cãi, mỗi người đều thốt
lên lời thề: Nếu tôi như vậy sẽ bị đọa vào địa ngục, thọ tội như Điều-
đạt, Cù Già Lê, tôi cũng thề như vậy. Còn nếu tôi không như vậy thì
CÔ sẽ thọ tội như vậy. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách
quở trách... cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (Nhưtrước).
Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào tự mình thề thốt, sự
thật nhằm nguyền rủa người kia, phạm Ba-dật-đề ”. Người lập lời thề,
lời nguyền này, mỗi lời phạm một Ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-
ni phạm Đột-kiết-la.
Khi ấy, các Tỳ-kheo-ni đổ nước tiểu, phân dơ ra ngoài tường rào
làm bôi nhớp người và phi nhân. Lúc này, có Đại thần Bà-la-môn vừa bị
cách chức, lại ra sức chay tịnh, thanh khiết thân tâm. Sáng sớm hôm đó,
ông ta tắm rửa sạch sẽ, thoa hương, mặc y phục cũng được thoa hương
thơm ngát, theo ý định đến Thiên miếu, để cầu được phục chức quan.
Ông ta trùm đầu đi vì sợ phải thấy hạng người xui xẻo là đám cạo tóc,
mặc y cắt rọc. Khi đến bên ngoài tường chùa, lại gặp ngay lúc các cô ni
đổ phân và nước tiểu. Ông ta lãnh đủ các thứ này lên đầu và chảy ướt cả
mình. Đầy sầu hận, ông ta nói: Ta sợ gặp hạng người không may mắn,
nay lại bị đổ phân và nước tiểu đầy cả người, chắc chắn là số mạng của
ta gặp phải chuyện không may. Dù vậy, ta cũng cần phải đến Vua Ba-
tư-nặc thưa kiện để trị đám nữ trọc đầu này. Nuốt giận, ông ta đành phải
quay trở về, gặp một thầy tướng Bà-la-môn. Tướng sư Bà-la-môn hỏi:
Tại sao phải nông nỗi này? Vị quan vừa bị cách chức kia trả lời đúng
sự thật đã xảy ra. Ông thầy tướng nói: Đây là điềm rất may mắn, hôm
nay ông sẽ được một ngàn quan và lại được phục chức cũ. Nào có được
nguôi giận, quan Bà-la-môn bị cách chức kia mang cả thân hình bị nhớp
nhúa ấy đến thẳng chỗ nhà Vua. Vua hỏi: Vì lý do nào như vậy? Vị
quan trình bày lại sự việc, nhà Vua vỗ tay cười lớn và liền ra lệnh ban
cho một ngàn quan tiền và cho phục chức cũ. Các quan tả hữu của nhà
Vua dị nghị nói: “Quăng phân làm nhớp người ta chứ đâu phải có ý cầu
đạo giúp người”. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở
trách... cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (Như trước). Từ
nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào quăng phân nước tiểu
ra ngoài rào tường, hay khiến người quăng, phạm Ba-dật-đề”. Thức-
xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni quăng rác bụi và thức ăn còn dư ra ngoài
rào tường, làm nhơ nhớp chung cho người và phi nhân. Các bạch y thấy
chê trách nói: Tại sao Tỳ-kheo-ni cách vạch tường mà quăng rác bụi
làm nhơ nhớp. Những người này không biết pháp lịch sự. Các Tỳ-kheo-
ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách... cho đến câu: Nay Ta vì
các Tỳ-kheo-ni kiết giới (Như trước). Từ nay giới này được nói như sau:
“Tỳ-kheo-ni nào quăng rác bụi và thức ăn dư ra ngoài tường vách hoặc
sai người quăng, phạm Ba-dật-đề ”. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm
Đột-kiết-la.
Khi đó, trước Tinh xá trong vườn của nhà Vua, đất rất bằng phẳng,
có loại cỏ rất mềm mại, mọi người thường đến vui chơi nơi đó, làm loạn
động sự tọa thiền, hành đạo của các Tỳ-kheo-ni, các Tỳ-kheo-ni bực
dọc chán nản, bèn rủ nhau đại tiểu tiện trong ấy, làm cho nhơ nhớp,
để mọi người khỏi tới. Sau đó mọi người đến vui chơi như thường lệ, bị
dính nhớp cả tay cả chân, y phục và đồ đạc. Họ nổi giận nói: Ai lại đại
tiểu tiện nơi đây thế này?! Có người nói là Tỳ-kheo-ni. Mọi người đều
chê bai, nói: Những người này xuất gia tu hành đạo thanh tịnh, tại sao
lại làm nhơ nhớp chỗ sạch sẽ, không để cho mọi người đến vui chơi như
thế?! Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách... cho
đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (Như trước). Từ nay giới
này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào đại tiểu tiện nơi cỏ sông, phạm
Ba-dật-đề ”. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la. Nếu bị bệnh
nguy cấp thì không phạm.
Lúc này, các Tỳ-kheo-ni lại quăng rác, bụi, thức ăn dư nơi vùng
đất trước Tinh xá trong vườn của nhà Vua, để đuổi khéo mọi người. Các
bạch y chê trách. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở
trách... cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (Như trước). Từ
nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào quăng rác, bụi, thức
ăn dư trên cỏ sống, phạm Ba-dật-đề ”. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm
Đột-kiết-la. Nếu quăng trong hầm, không phải chỗ sạch sẽ thì không
phạm.
Bấy giờ, cácTỳ-kheo-ningủ đêm nơi nhà “Có thức ăn”, nghe tiếng
khi vợ chồng họ giao hợp, sinh tâm ái dục nên không thích sống với đạo,
có người hoàn tục, hoặc làm ngoại đạo. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão
nghe, bằng mọi cách quở trách... cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni
kiết giới (Như trước). Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni
nào ngủ đêm nơi nhà có “Thức ăn”, phạm Ba-dật-đề”. Có thức ăn:
Nơi nam nữ có tình tứ giao hội. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-
kiết-la. Nếu có bệnh cần ở lại hay các nạn khởi thì không phạm.
Lúc này, các Tỳ-kheo hỏi các Tỳ-kheo-ni: Nhà bà... ở đâu? Con
đường này đi về đâu? Các Tỳ-kheo-ni khinh mạn không trả lời. Các Tỳ-
kheo giận trách cứ không giáo giới, nên ngu ám, vô tri, không thể học
giới. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách... cho
đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (Như trước). Từ nay giới
này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào, Tỳ-kheo hỏi mà không trả lời,
phạm Ba-dật-đề
Khi ấy, Lục quần Tỳ-kheo dùng lời thô ác hỏi Tỳ-kheo-ni. Tỳ-
kheo-ni tuy trả lời mà ôm lòng xấu hổ, nên bạch Phật. Nhân việc này,
Đức Phật tập hợp hai bộ Tăng, bảo các Tỳ-kheo: Nay cho phép các Tỳ-
kheo-ni nếu Tỳ-kheo như pháp hỏi thì nên trả lời. Từ nay giới này được
nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào, nếu Tỳ-kheo như pháp hỏi mà không
trả lời, phạm Ba-dật-đề”. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.
Nếu trước đó có sự xích mích với nhau, không cùng nói chuyện, không
trả lời thì không phạm.
Đã nói xong một trăm bôn mươi pháp.
Lúc này, các Tỳ-kheo-ni cỡi xe đến nhà bạch y. Các bạch y chê
trách nói: Các Tỳ-kheo-ni này như phu nhân của nhà Vua, như phụ
nữ của nhà hào quý cỡi xe đi, không có nghi pháp. Các Tỳ-kheo-ni
Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách... cho đến câu: Nay Ta vì
các Tỳ-kheo-ni kiết giới (như trước). Từ nay giới này được nói như sau:
“Tỳ-kheo-ni nào cỡi xe đi, phạm Ba-dật-đề”. Cỡi xe: Cỡi các loại xe
voi, ngựa, cho đến mang guốc đều gọi là đi xe. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-
ni phạm Đột-kiết-la. Nếu già bệnh hay bị cường lực ép buộc, hay trên
đường đi chân bị đau, đều không phạm.
Đã nói xong một trăm bốn mươi mốt pháp.
LUẬT DI SA TẮC BỘ HÒA HÊ NGŨ PHAN
Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch bằng AI do Inti biên soạn: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.