Di Sa Tắc Bộ Hoà Hề Ngũ Phần Luật quyển 14
Tên chữ Hán:彌沙塞部和醯五分律
Lưu tiến độ đọc kinh
Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.
LUẬT DI SA TẮC BỘ HÒA HÊ NGŨ PHẦN - QUYỂN 14
QUYỂN 14
Phần 2: GIỚI PHÁP CỦA TỲ KHEO NI
Đoạn 4: NÓI VỀ HAI-TRĂM-LẺ-BẢY PHÁP ĐỌA (Tiếp Theo)
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni mang dép da, cầm dù đến các nhà bạch
y. Các bạch y dè bỉu nói: Các Tỳ-kheo-ni này đi lại như dâm nữ. Các
Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách... cho đến câu:
Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (Như trước). Từ nay giới này được
nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào mang dép da, cầm dù đi, phạm Ba-dật-
đề”. Dù: Kể cả dù bằng cỏ. Dép da: Cho đến chỉ một lớp. Thức-xoa-
ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la (Không phạm như trên).
Khi ấy, có hai vợ chồng xuất gia cùng một lúc. Vị Tỳ-kheo chồng
kia khất thực rồi đem đến trú xứ vị Tỳ-kheo-ni vợ để ăn. Vị Tỳ-kheo-ni
vợ đem bình nước đến trước, rót nước mời và đứng bên quạt hầu, vấn
an sức khỏe. Vị Tỳ-kheo chồng kia cúi đầu ăn, không ngó, không nói
chuyện. Vị Tỳ-kheo này khi còn là bạch y có tư thông với một người
nữ. Người nữ ấy cũng đã xuất gia tại trú xứ này. Cô ta xuất hiện đến
gặp Tỳ-kheo (Người tình cũ). Tỳ-kheo kia bèn cười. Tỳ-kheo-ni vợ tâm
ghen liền phát khởi, lấy bình đựng nước đánh Tỳ-kheo chồng bể đầu.
Các Tỳ-kheo-ni quở trách: Tại sao Tỳ-kheo-ni lại đem bình nước và
quạt đứng trước Tỳ-kheo mời nước và quạt hầu rồi đánh Tỳ-kheo bể
đầu?! Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách... cho
đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (Như trước). Từ nay giới
này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào đem bình nước và quạt đứng
trước Tỳ-kheo, hoặc mời nước hoặc quạt hầu Tỳ-kheo, phạm Ba-dật-
đề”. Nếu cần mời nước thì mời xong liền đi về chứ không đứng đối
diện. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni tụng kinh về phương pháp trị bệnh, các
bạch y chê trách nói: Những người này chỉ học y thuật, không có ý
Cầu đạo, sao không dùng thì giờ ấy đọc kinh Phật? Các Tỳ-kheo-ni
Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách... cho đến câu: Nay Ta vì
các Tỳ-kheo-ni kiết giới (Như trước). Từ nay giới này được nói như sau:
“Tỳ-kheo-ni nào đọc kinh vì phương pháp trị bệnh, phạm Ba-dật-đề ”.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la. Nếu vì mình bệnh, hay vì
lòng từ bi, hoặc bị cường lực bắt đọc thì không phạm.
Khi đó, các Tỳ-kheo-ni dạy người khác đọc tụng kinh về phương
pháp trị bệnh, các bạch y chê trách. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe,
bằng mọi cách quở trách... cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết
giới (Như trước). Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào
dạy người khác đọc tụng kinh về phương pháp trị bệnh, phạm Ba-dật-
đề”. (Ngoài ra như giới trên đã nói).
Lúc ấy, Tỳ-kheo-ni hòa hợp nấu, giã các loại thuốc để trị bệnh
cho người, suốt đêm không nghỉ. Các bạch y thấy vậy chê trách nói:
Những người này như thầy thuốc hay học trò của thầy thuốc, tại sao
không cầu đạo để chữa bệnh sinh, tử, mà lại kinh doanh những việc của
thế tục làm gì? Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở
trách... cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (Như trước). Từ
nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào vì người trị bệnh, để
làm kê sinh nhai, phạm Ba-dật-đề ”. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm
Đột-kiết-la. Nếu vì lòng thương hay bị cường lực bắt buộc, không vì lợi
dưỡng thì không phạm.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni dạy người trị bệnh. Các bạch y đến yêu
cầu nói pháp thì lại nói: Bệnh nóng trị như thế này, bệnh lạnh trị như
thế này, bệnh phong trị như thế này, phương pháp trị các bệnh như thế
này. Các bạch y nói: Tôi vì pháp đến đây chứ không vì chữa bệnh, bạch
y chê trách nói: Những người này chỉ học y thuật, không biết chi đạo
pháp, nếu không như vậy tại sao không dùng pháp dạy chúng tôi?! Các
Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách... cho đến câu:
Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (Như trước). Từ nay giới này được
nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào vì kê sinh nhai dạy người trị bệnh, phạm
Ba-dật-đề” (Ngoài ra như giới trước đã nói).
Khi ấy, các Tỳ-kheo-ni vì các gia đình quen biết làm các công
việc. Các Cư sĩ trách cứ nói: Những người này bỏ việc của mình đi làm
việc nhà của người, không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn. Các Tỳ-
kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách... cho đến câu: Nay
Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (Như trước). Từ nay giới này được nói
như sau: “Tỳ-kheo-ni nào vì sự ăn uống mà làm việc cho nhà bạch y.
phạm Ba-dật-đề”. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la. Nếu vì
lòng thương hay bị cường lực áp bức thì không phạm.
Lúc này, các Tỳ-kheo-ni cùng với phụ nữ bạch y và ngoại đạo
đồng đắp chung một tấm y, thân hình xúc chạm nhau, sinh tâm ái dục,
không thích sống phạm hạnh, đến nỗi hoàn tục, hoặc làm ngoại đạo.
Sau đó, các phụ nữ tùy theo chỗ quen biết của mình nói: Tỳ-kheo-ni...
có thân hình đẹp như vậy, như vậy. Thời gian tiếp, các bạch y thấy
Tỳ-kheo-ni nọ bèn chỉ chỏ trêu lộng nói: Người có thân hình đẹp kia
kìa! Tỳ-kheo-ni này như vậy, Tỳ-kheo-ni kia như vậy. Các Tỳ-kheo-ni
do đó hổ thẹn. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở
trách... cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (Như trước). Từ
nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào cùng phụ nữ bạch y
và ngoại đạo đồng đắp chung một chiếc y, phạm Ba-dật-đề Nếu nằm
đồng một giường, chung một mền thì phải mặc nội y khiến cho cách
nhau. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni cùng với Tỳ-kheo-ni, Thức-xoa-ma-na,
Sa-di-ni đồng nằm đắp chung một chiếc y... cho đến câu: Nay Ta vì các
Tỳ-kheo-ni kiết giới (Như trước). Từ nay giới này được nói như sau:
“Tỳ-kheo-ni nào cùng Tỳ-kheo-ni, Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, cùng
nằm đắp chung một chiếc y, phạm Ba-dật-đề (Ngoài ra như giới trước
đã nói).
Khi ấy, các Tỳ-kheo-ni cùng với phụ nữ bạch y và ngoại đạo cùng
che phủ với nhau để ngủ, cùng thấy hình thể nhau, sinh tâm ái dục... cho
đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (Như trước). Từ nay giới
này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào cùng phụ nữ bạch y và ngoại
đạo che phủ lại với nhau để ngủ, phạm Ba-dật-đề ”. (Ngoài ra như giới
trên đã nói). Nếu trước đã có che riêng rồi sau che phủ thêm thì không
phạm.
Lúc này, các Tỳ-kheo-ni cùng Tỳ-kheo-ni, Thức-xoa-ma-na, Sa-
di-ni cùng che phủ lại với nhau để ngủ nên cùng thấy hình thể nhau...
cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (nhưtrước). Từnay giới
này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào cùng Tỳ-kheo-ni, Thức-xoa-
ma-na, Sa-di-ni, cùng che phủ lại với nhau để ngủ, phạm Ba-dật-đề”.
(Ngoài ra như giới trên đã nói).
Đã nói xong một trăm măm mươi pháp.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni dùng hương thoa vào thân, cũng khiến
người thoa vào thân, nên sinh tâm ái dục, không thích tu phạm hạnh,
đến nỗi hoàn tục, hoặc làm ngoại đạo. Các bạch y nghe mùi hương
thơm đó dè bỉu nói: Những người này dùng hương thoa vào thân, giống
như dâm nữ, không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn. Các Tỳ-kheo-
ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách... cho đến câu: Nay Ta vì
các Tỳ-kheo-ni kiết giới (như trước). Từ nay giới này được nói như sau:
“Tỳ-kheo-ni nào dùng hương thoa vào thân, phạm Ba-dật-đề Hương:
Hương bằng gốc cây, hương bằng nhánh cây, hương bằng lá cây, hương
bằng hoa, hương bằng loài trùng, hương bằng nhựa cây. Thức-xoa-ma-
na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la. Nếu vì trị bệnh hay bị cường lực bắt buộc
thoa thì không phạm.
Lúc này, các Tỳ-kheo-ni dùng cây khô ngâm nước mài xát vào
thân khiến cho da được sáng mịn. Các bạch y chê trách nói: Những
người này dùng cây khô ngâm nước mài xát vào thân khiến cho da được
sáng mịn như dâm nữ, không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn. Các
Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách... cho đến câu:
Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (Như trước). Từ nay giới này được
nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào dùng cây khô ngâm nước mài xát vài
thân, phạm Ba-dật-đề
Khi ấy, Tỳ-kheo-ni Bạt-đà-ca-tỳ-la thân thể bị khô, da bị nứt, hỏi
thầy thuốc, họ nói: Dùng cây khô ngâm nước mài xát vào thân. Cô ni
nói, Phật không cho phép tôi dùng cây khô ngâm nước mài xát vào
thân, thầy hướng dẫn cho cách trị liệu khác. Thầy thuốc nói: Không có
cách nào khác. Cô ni cảm thấy buồn nghĩ ngợi: Nếu Đức Thế Tôn cho
phép khi có bệnh được dùng cây khô ngâm nước mài xát vào thân thì
mình khỏi phải bệnh khổ này. Cô ni bạch Phật. Nhân việc này, Đức
Phật tập hợp hai bộ Tăng, bảo các Tỳ-kheo: Nay Ta cho phép Tỳ-kheo-
ni khi bệnh được dùng cây khô ngâm nước mài xát vào thân. Từ nay
giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào không bệnh mà dùng cây
khô ngâm nước mài xát vào thân, phạm Ba-dật-đề”. Thức-xoa-ma-na,
Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni cất giữ tràng hoa hoặc đeo tràng hoa,
sinh nhiễm đắm, không thích tu phạm hạnh, đưa đến việc hoàn tục,
hoặc làm ngoại đạo. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách
quở trách... cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (như trước).
Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào cất giữ tràng hoa
hoặc đeo tràng hoa, phạm Ba-dật-đề ”. Cho đến dùng cỏ lá xâu lại đội
trên đầu làm đẹp cũng đều gọi là đeo tràng hoa. Thức-xoa-ma-na, Sa-
di-ni phạm Đột-kiết-la. Nếu bị cường lực bắt buộc thì không phạm.
LÚC đó, các Tỳ-kheo-ni đeo anh lạc quý báu, sinh tâm ái nhiễm,
không thích tu phạm hạnh, đến nỗi hoàn tục, hoặc làm ngoại đạo. Các
Tỳ-kheo-ni Trưởng lão thấy, bằng mọi cách quở trách... cho đến câu:
Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (Như trước). Từ nay giới này được
nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào đeo anh lạc quý báu, phạm Ba-dật-đề”.
Cho đến dùng cây làm anh lạc cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-
ni, phạm Đột-kiết-la. (Không phạm cũng như giới trước).
Khi ấy, các Tỳ-kheo-ni mặc áo bó sát vào thân, khiến cho thân
hình như gói lại, sinh tâm ái dục... cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-
ni kiết giới (Như trước). Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni
nào mặc áo bó sát thân, phạm Ba-dật-đề Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni
phạm Đột-kiết-la. (Không phạm như giới trước).
Lúc này, các Tỳ-kheo-ni cất chứa các thứ trang điểm thân hình
nên sinh tâm ái dục... cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới
(như trước). Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào cất
chứa các thứ trang điểm thân hình, phạm Ba-dật-đề ”. Thức-xoa-ma-
na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni cất chứa đầu tóc... cho đến câu: Nay Ta
vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (Như trước). Từ nay giới này được nói như
sau: “Tỳ-kheo-ni nào cất chứa đầu tóc, phạm Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni để
tóc dài, phạm Ba-dật-đề Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni chứa đầu tóc và
để tóc dài không cạo, phạm Đột-kiết-la. Nửa tháng cạo một lần, quá
thời gian ấy gọi là tóc dài. Nếu không có người cạo hay bị cường lực bắt
buộc không cho cạo thì không phạm.
Khi đó, các Tỳ-kheo-ni trang sức bằng các đồ của người nữ bạch
y trang sức, sinh tâm ái nhiễm. Lúc ấy, người thí chủ của Tỳ-kheo-ni
Thâu-la-nan-đà mới cưới vợ. Người vợ đưa đồ trang sức của mình cho
cô ni trang sức chơi. Cô ni trang sức rồi trùm đầu nằm trên giường ngủ.
Người thí chủ đi bên ngoài muốn đến gần với vợ, vừa mới giở đầu
ra mới biết, bèn trách: Nếu tôi không giở đầu ra thì tôi đã hành dục,
như vậy đâu không mắc phải tội lớn?! Tại sao Tỳ-kheo-ni lại làm như
vậy? Thật là không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn. Các Tỳ-kheo-
ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách... cho đến câu: Nay Ta vì
các Tỳ-kheo-ni kiết giới (như trước). Từ nay giới này được nói như sau:
“Tỳ-khco-ni nào đeo trang sức bằng những đồ trang sức thân hình,
phạm Ba-dật-đề Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la. Trường
hợp không phạm như giới trước.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni vì người làm đồ trang sức thân hình. Các
bạch y dè bỉu nói: Những người này như dâm nữ làm đồ trang sức thân
hình. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách... cho
đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (như trước). Từ nay giới
này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào vì người làm đồ trang sức thân
hình, phạm Ba-dật-đề Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.
Lúc đó, các Tỳ-kheo-ni kéo tơ, các bạch y chê bai nói: Những
người này y thực đã nhờ người khác, sao không nghĩ đến việc hành đạo
để trả ơn tín thí, lại kéo tơ làm gì?! Thật là không có hạnh Sa-môn, phá
pháp Sa-môn. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở
trách... cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (như trước). Từ
nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào kéo tơ, phạm Ba-dật-
đề”. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-niphạmĐột-kiết-la. Nếu làm sợi dây ngồi
thiền hay cái dãy đựng y thì không phạm.
Đã nói xong một trăm sáu mươi pháp.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni tùy theo các nhà bạch y quen biết trải
tọa cụ nằm. Các bạch y chê trách: Tại sao bỏ nhà mình đến nhà người
ta nằm? Chúng tôi không muốn thấy hạng người xui xẻo này. Các Tỳ-
kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách... cho đến câu: Nay
Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (Như trước). Từ nay giới này được nói
như sau: “Tỳ-kheo-ni nào không hỏi bạch y mà tự tiện trải tọa cụ trong
nhà người ta nằm, phạm Ba-dật-đề ”. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm
Đột-kiết-la. Nếu nằm nơi nhà bà con thì không phạm.
Khi ấy, các Tỳ-kheo-ni ở trong nhà bạch y tự tiện trải ngọa cụ
của người chủ hoặc sai người trải để nằm ngồi, khi đi không dọn dẹp,
không bảo người dọn dẹp. Các bạch y chê trách: Tại sao Tỳ-kheo-ni
trải ngọa cụ, tọa cụ của người ta, khi ra đi không dọn dẹp, chúng ta luôn
luôn làm tôi tớ cho những người này. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe,
bằng mọi cách quở trách... cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết
giới (như trước). Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào đến
nhà bạch y tự tiện trải tọa cụ, ngọa cụ của người, hoặc sai người trải,
khi ra đi không dọn dẹp, không bảo người dọn dẹp, phạm Ba-dật-đề ”.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la. Nếu có nhờ người dọn thì
không phạm.
Lúc này, các Tỳ-kheo-ni tự nấu sinh vật làm thức ăn. Các bạch
y chê trách nói: Tại sao Tỳ-kheo-ni được tự nấu sinh vật! Mà đã đích
thân nấu để làm ra thức ăn thì cớ sao còn phải đến người để xin? Thật là
không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão
nghe, bằng mọi cách quở trách... cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-
ni kiết giới (như trước). Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni
nào tự nấu sinh vật làm thức ăn, phạm Ba-dật-đề”. Nếu vì bệnh thì
không phạm.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni Sai-ma đến thành Xá-vệ, Tỳ-kheo-ni
Chiên-đồ-tu-ma-na cho mượn Tinh xá để ở. Sai-ma đắc Tam-muội tâm
từ, có đại oai đức, thành tựu quyến thuộc, đệ tử của Chiên Đồ đều cùng
nhau tôn trọng, đều muốn đi theo Sai-ma. Chiên Đồ biết điều đó bèn
giận mắng: Tôi cho cô mượn Tinh xá để ở, tại sao lại dụ dẫn đệ tử của
tôi? Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách: Tại sao
cho người ta mượn Tinh xá rồi sau lại giận hờn hủy báng... cho đến câu:
Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (như trước). Từ nay giới này được
nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào trước cho người ở, rồi sau lại nổi giận hủy
báng, phạm Ba-dật-đề ”. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.
Nếu sự thật đúng như vậy mà sân hận thì không phạm.
Lúc này, Tỳ-kheo-ni Bạt-đà-già-tỳ-la trong bắp vế có mụt nhọt,
không bạch với Tăng mà vội khiến nam y sĩ mổ ra nặn mủ rồi đặt thuốc
vào. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão thấy, quở trách: Cô đã lìa dục cho nên
làm như vậy không sao, chứ nếu người chưa lìa dục không tránh khỏi
phạm đại sự... cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (như
trước). Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào không bạch
Tăng mà vội nhờ nam tử trị bệnh, phạm Ba-dật-đề ”. Nêu muốn nhờ
nam tử trị bệnh thì phải đánh kiền chùy tập Tăng đến chỗ người bệnh.
Sau đó dùng y trùm hết thân thể, chỉ chừa chỗ cần trị. Thức-xoa-ma-na,
Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la. Nếu nhờ người nữ trị thì không phạm.
Khi đó, các Tỳ-kheo-ni ban đêm mở cửa ra ngoài không dặn người
nào đóng. Đêm đó có kẻ trộm đến cướp đoạt y bát các Tỳ-kheo-ni. Các
Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách... cho đến câu:
Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (như trước). Từ nay giới này được
nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào ban đêm mở cửa ra ngoài không dặn
Tỳ-kheo-ni khác đóng lại, phạm Ba-dật-đề Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni
phạm Đột-kiết-la. Nơi không có sự sợ sệt thì không phạm.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni đến nhà bạch y phi thời. Có một gia đình
rất giàu, đám trộm cướp thường rình mò mà chưa có cơ hội. Chúng hỏi
thăm, ai thường tới lui nhà này. Có người cho biết, Tỳ-kheo-ni Thâu-la-
nan-đà cùng nhà này thân thiện thường tới lui. Đám cướp bèn tới nói với
Thâu-la-nan-đà: Thưa sư cô, gia đình... Mời sư cô... Theo lời mời, chiều
đó Thâu-la-nan-đà đến, người chủ mở cửa, lũ cướp đột nhập, đoạt hết
tài sản. Người chủ nổi giận chê trách nói: Nếu Tỳ-kheo-ni này không
đến phi thời, ta không mở cửa, thì đâu có bị nạn này! Cúng dường mong
cầu được phước trái lại gặp họa, giống như nuôi oan gia đâu có khác
gì? Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách... cho
đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (như trước). Từ nay giới
này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào vào nhà bạch y phi thời, phạm
Ba-dật-đề
Lại có các Tỳ-kheo-ni được bạch y mời, không dám đến, bạch
Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp hai bộ Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
Nay cho phép các Tỳ-kheo-ni, nếu bạch y mời thì được đến. Từ nay giới
này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào, bạch y không mời, phi thời đến
nhà họ, phạm Ba-dật-đề ”. Phi thời: Từ giữa ngày cho đến tướng mặt
trời chưa xuất hiện. Nếu bạch y mời nên xét kỹ vấn đề, người đưa tin
kia có đáng tin cậy không? Lại nên xét hỏi để biết việc hư thật. Nếu còn
có sự nghi thì khi đến cửa phải hỏi trước, gia đình đó có mời hay không,
vậy sau mới vào. Lại còn phải tính toán, có phải lúc đáng sợ hay không?
Nếu đến nhà bạch y phi thời thì bước ra cửa một chân phạm Đột-kiết-la,
bước ra cửa hai chân phạm Ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm
Đột-kiết-la.
Lúc này, có các Cư sĩ mời Tỳ-kheo-ni Tăng thọ trai. Trước bữa
ăn Tỳ-kheo-ni mặc y bưng bát đến nhà kia. Chư ni đến chỗ người làm
thức ăn, đòi thức uống, đòi xôi, đòi cơm. Người làm thức ăn nghĩ: Nay
sửa soạn thức ăn đây là vì những người này, cho trước cho sau cũng vậy
thôi. Nghĩ như vậy nên họ cho hết cả thức ăn. Đến giờ, người chủ đánh
kiền chùy hợp Tăng, ra lệnh người làm thức ăn dọn ra. Người làm thức
ăn trình bày đầy đủ sự việc, Cư sĩ bèn chê trách nói: Các Tỳ-kheo-ni
này giông như con nít, không thể chờ một chút, ham ăn như thế, làm gì
có đạo?! Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách...
cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (nhưtrước). Từnay giới
này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào nhận lời mời, người chủ chưa
xướng “tùy ý thực ” mà ăn, phạm Ba-dật-đề”. Nếu chưa xướng “tùy ý
thực” mà ăn, mỗi miếng ăn là phạm một Ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na,
Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.
Đã nói xong một trăm bảy mươi pháp.
Bấy giờ, bị các Tỳ-kheo-ni như pháp tác Yết-ma khu xuất (đuổi
đi) rồi, Tỳ-kheo-ni bị khu xuất không chịu đi. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng
lão nghe, bằng mọi cách quở trách nói: Người bị Yết-ma khu xuất với
người không bị Yết-ma khu xuất có cái gì khác đâu!... cho đến câu:
Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (như trước). Từ nay giới này được
nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào bị Yêt-ma khu xuất mà không đi, phạm
Ba-dật-đề Yết-ma khu xuất: Là Bạch-tứ-yết-ma. Thức-xoa-ma-na,
Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la. Nếu bị bệnh hoặc tám nạn khởi hay Yết-ma
phi pháp, đều không phạm.
Khi ấy, các Tỳ-kheo-ni tập Tăng như pháp, có các Tỳ-kheo-ni
không đến liền, các Tỳ-kheo-ni phải đợi, nên trở ngại việc hành đạo.
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách... cho đến
câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (như trước). Từ nay giới này
được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào Tăng như pháp tập hợp mà không
đến liền, phạm Ba-dật-đề Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-
la. Nếu bệnh, hoặc không nghe hay tám nạn khởi thì không phạm.
Lúc đó, các Tỳ-kheo-ni đến xem ca vũ kỹ nhạc, sinh tâm nhiễm
đắm, không vui sống với đạo, có vị hoàn tục, hoặc làm ngoại đạo. Các
bạch y thấy chê bai nói: Những người này xem múa hát kỹ nhạc như
dâm nữ, không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn. Các Tỳ-kheo-ni
Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách... cho đến câu: Nay Ta vì các
Tỳ-kheo-ni kiết giới (như trước). Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-
kheo-ni nào xem ca múa kỹ nhạc, phạm Ba-dật-đề ”. Thức-xoa-ma-na,
Sa-di-ni, Đột-kiết-la. (Không phạm như trong giới xem cung Vua và
xem triển lãm đã nói).
Lúc này, các Tỳ-kheo-ni đến chỗ biên địa, bị người biên địa bắt
làm nô tỳ, hoặc đoạt lấy y bát, hoặc phá phạm hạnh. Các Tỳ-kheo-ni
Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách... cho đến câu: Nay Ta vì
các Tỳ-kheo-ni kiết giới (như trước). Từ nay giới này được nói như sau:
“Tỳ-kheo-ni nào đến chỗ biên địa, phạm Ba-dật-đề Biên địa: Là chỗ
không có Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-
kiết-la. Nếu đi bằng cách bay thì không phạm.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni độ người hai căn, các bạch y chê trách
nói: Tại sao Tỳ-kheo-ni lại độ người hai căn, độ người không đáng độ,
không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão
nghe, bằng mọi cách quở trách... cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-
ni kiết giới (như trước). Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni
nào độ người hai căn, phạm Ba-dật-đề”. Nếu nghi thì nên khám trước.
Khi khởi tâm muốn độ cho đến Yết-ma Ba lần chưa xong phạm Đột-
kiết-la, Yết-ma xong, Hòa thượng phạm Ba-dật-đề, các Ni Tăng khác
phạm Đột-kiết-la.
Khi đó, các Tỳ-kheo-ni độ người nữ hai đường hiệp một, các Tỳ-
kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách... cho đến câu: Nay
Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (như trước). Từ nay giới này được nói như
sau: “Tỳ-kheo-ni nào độ người nữ hai đường hiệp một, phạm Ba-dật-
đề”. Nếu độ rồi mới có bệnh này thì không phạm. (Ngoài ra như giới
trên đã nói).
Lúc ấy, các Tỳ-kheo-ni độ người nữ thường có nguyệt thủy, đi
khất thực máu chảy nhớp chân. Các bạch y thấy gớm, dè bỉu nói: Các
Tỳ-kheo-ni độ người nữ không đáng độ, hạng người như vậy làm nhớp
cả chiếu giường người ta, không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách... cho đến
câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (như trước). Từ nay giới này
được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào độ người nữ có mãi nguyệt thủy,
phạm Ba-dật-đề (Ngoài ra như trên đã nói).
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni không kính lễ, không nghinh đón, không
tiễn đưa, cũng không mời Tỳ-kheo ngồi. Các Tỳ-kheo giận không giáo
giới. Các Tỳ-kheo-ni ngu ám vô tri, không thể học giới. Các Tỳ-kheo-ni
Trưởng lão biết, nghiêm khắc quở trách rồi bạch Phật. Nhân việc này,
Đức Phật tập hợp hai bộ Tăng, hỏi các Tỳ-kheo-ni: Sự thật các cô có
như vậy không? Đáp: Bạch Đức Thế Tôn! Chúng con sự thật có như
vậy. Đức Phật bằng mọi cách quở trách: Trước đây Ta há không nói tám
kính pháp, phải nên kính lễ Tỳ-kheo hay chăng?! Từ nay giới này được
nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào thấy Tỳ-kheo, không đứng dậy, không
kính lễ, không mời ngồi, phạm Ba-dật-đề ”. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni
phạm Đột-kiết-la. Nếu bệnh hay trước có sự hiềm khích không cùng nói
năng với nhau thì không phạm.
Lúc này, các Tỳ-kheo-ni khởi ý nghĩ: Đức Phật không cho phép
chúng ta cạo lông chỗ kín, nay nên dùng lửa đốt, liền ngay các ni mượn
lửa đốt lông chỗ kín. Khi ấy có người Bà-la-môn mất dê đi tìm, đến nơi
đường hẻm gần chỗ Tỳ-kheo-ni ở, nghe mùi lông khét, nghĩ là Tỳ-kheo-
ni ăn trộm dê đem thui, bèn đến kiện nơi nhà Vua. Nhà Vua liền kêu
Tỳ-kheo-ni đến hỏi: Các cô ni có giết con dê của Bà-la-môn không?
Các cô ni trả lời: Không giết. Nhà Vua nói: Không giết sao có mùi khét
của lông? Các cô ni dùng sự thật để trả lời. Nhà Vua cả cười rồi bảo các
cô ni về. Các quan nghe, chê trách nói: Tại sao Tỳ-kheo-ni không nghĩ
đến chuyện hành đạo, lại đốt lông chỗ kín?! Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão
nghe, bằng mọi cách quở trách... cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-
ni kiết giới (như trước). Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni
nào đốt lông chỗ kín, phạm Ba-dật-đề”. (Ngoài ra như trong giới cạo
lông chỗ kín đã nói).
Khi ấy, các Tỳ-kheo-ni không mặc Tăng-kỳ-chi mà đến nhà bạch
y, gió thổi y trên bị bay, thân hình bị lộ. Các bạch y thấy bèn cùng nhau
trêu đùa nói lời thô tục, do đó chư ni xấu hổ. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão
nghe, bằng mọi cách quở trách... cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-
ni kiết giới (như trước). Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni
nào không mặc Tăng-kỳ-chi mà vào nhà bạch y, phạm Ba-dật-đề ”.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la. Nếu đang giặt, nhuộm,
đập, vá hay không có thì không phạm.
Đã nói xong một trăm tám mươi pháp.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni cùng bạch y ngồi đối nhau, thân kề nhau
nói pháp, giống như nói việc riêng tư, trong sô" đó, có người sinh tâm
nhiễm đắm, đưa đến tình trạng hoàn tục, hoặc làm ngoại đạo. Các bạch
y chê trách. Quý vị Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở
trách... cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (như trước).
Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào cùng bạch y ngồi
đôi nhau nói pháp, phạm Ba-dật-đề Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm
Đột-kiết-la.
Khi ấy, các Tỳ-kheo-ni tự mình ca múa. Các Cư sĩ chê bai nói: Tỳ-
kheo-ni này tự mình ca múa như dâm nữ. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão
nghe, bằng mọi cách quở trách... cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-
ni kiết giới (như trước). Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-
ni nào tự mình ca múa, phạm Ba-dật-đề ”. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni
phạm Đột-kiết-la.
Lúc đó, các Tỳ-kheo-ni ngăn thọ y Ca-hi-na. Các Tỳ-kheo-ni đợi
lâu không đến, trở ngại việc hành đạo. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão
nghe, bằng mọi cách quở trách... cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-
ni kiết giới (như trước). Từ nay giới này được nói như sau: “ Tỳ-kheo-ni
nào ngăn thọ y Ca-hi-na, phạm Ba-dật-đề ”. Nếu vì bệnh hay không
nghe thì không phạm.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni ngăn xả y Ca-hi-na... cho đến câu: Nay
Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (như trước). Từ nay giới này được nói như
sau: “Tỳ-kheo-ni nào ngăn xả y Ca-hi-na, phạm Ba-dật-đề (Ngoài ra
như giới trước đã nói).
Lúc này, Tỳ-kheo-ni Sai-ma thông minh, giỏi biện luận, vân nạn
các Tỳ-kheo, các Tỳ-kheo không thể trả lời được, rất xấu hổ, cho nên
thấy các Tỳ-kheo-ni liền tránh đi đường khác, đưa đến tình trạng không
ai giáo giới Tỳ-kheo-ni, trở thành ngu ám, vô tri, không thể học giới.
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách... cho đến
câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (như trước). Từ nay giới này
được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào vân nạn Tỳ-kheo, phạm Ba-dật-
đề”. Trường hợp các Tỳ-kheo-ni có chỗ nghi, không dám hỏi, do đó lại
ngu ám, vô tri, không thể học giới, bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật
tập hợp hai bộ Tăng, bảo các Tỳ-kheo: Nay cho phép các Tỳ-kheo-ni
trước phải bạch Tỳ-kheo, Tỳ-kheo cho phép hỏi mới hỏi. Từ nay giới
này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào không bạch Tỳ-kheo mà vội hỏi
nghĩa kinh, phạm Ba-dật-đề ”. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-
kiết-la.
Bấy giờ, Bạt-nan-đà thường tới lui nơi chỗ ở của Tỳ-kheo-ni Thâu-
la-nan-đà. Một hôm, Bạt-nan-đà đắp y bưng bát đến, do đứng ngồi sơ ý
nên cùng thấy “Hình” nhau. Bạt-nan-đà bèn xuất bất tịnh. Thâu-la-nan-
đà lấy nội y đem giặt, tự đem bất tịnh bỏ vào trong “Hình” của mình,
nên dẫn đến có thai. Các Tỳ-kheo-ni thấy vậy hỏi: Sư cô không tu phạm
hạnh hay sao? Thâu-la-nan-đà trả lời: Không phải tôi không tu phạm
hạnh, mà do tôi tự lấy bất tịnh của nam tử để vào trong “Hình” của tôi,
nên đưa đến tình trạng có thai như vậy. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão
nghe, bằng mọi cách quở trách... cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-
ni kiết giới (như trước). Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni
nào lấy bất tịnh của nam tử tự để vào nữ căn của mình, phạm Ba-dật-
đề”. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.
Lúc ấy, các Tỳ-kheo-ni làm theo pháp thờ lửa của ngoại đạo, đốt
lửa và tụng chú ngữ của họ. Các Cư sĩ trách cứ nói: Những người này
không còn nhận thấy cái trong sạch của chính mình thì làm gì có đạo
được? Thật là không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn. Các Tỳ-kheo-
ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách... cho đến câu: Nay Ta vì
các Tỳ-kheo-ni kiết giới (như trước). Từ nay giới này được nói như sau:
“Tỳ-kheo-ni nào làm pháp thờ lửa của ngoại đạo, đốt lửa, phạm Ba-
dật-đề”. Nếu làm với tà kiến thì phạm Thâu-lan-giá. Nếu làm các pháp
phụng thờ của các ngoại đạo đều phạm Ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na,
Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.
Khi đó, các Tỳ-kheo-ni tắm chỗ có người, mọi người thấy dòm ngó
đùa bỡn. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão thấy, bằng mọi cách quở trách...
cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (như trước). Từ nay
giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào tắm chỗ có người, phạm
Ba-dật-đề ”. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni tụng chú thuật của ngoại đạo, các bạch y
chê bai: Những người này tụng chú thuật của ngoại đạo, không có tâm
cầu đạo... cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (Như trong
giới phương pháp tụng kinh trị bệnh đã nói). Từ nay giới này được nói
như sau: “Tỳ-kheo-ni nào tụng chú thuật của ngoại đạo, hoặc dạy người
tụng, phạm Ba-dật-đề ”. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.
Lúc này, các chúng Tỳ-kheo-ni tự mình trao giới Cụ túc. Đương
sự ngu ám, vô tri, không thể học giới. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe,
bằng mọi cách quở trách... cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết
giới (như trước). Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào
chỉ một chúng trao giới Cụ túc, phạm Ba-dật-đề Từ khi khởi tâm cho
đến khi Bạch-tứ-yết-ma chưa xong, phạm Đột-kiết-la, Bạch-tứ-yết-ma
xong, Hòa thượng phạm Ba-dật-đề, các sư Tăng khác phạm Đột-kiết-
la.
Đã nói xong một trăm chín mươi pháp.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni tự tác pháp Yết-ma nuôi chúng, tự tác
pháp Yết- ma hai năm học giới, tự trao hai năm học giới, mà không thể
giáo giới đệ tử, đệ tử ngu ám vô tri, không thể học giới. Các Tỳ-kheo-
ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách... cho đến câu: Nay Ta vì
các Tỳ-kheo-ni kiết giới (như trước). Từ nay giới này được nói như sau:
“Tỳ-kheo-ni nào tự tác pháp Yết-ma nuôi chúng, phạm Ba-dật-đề”.
Tỳ-kheo-ni nào tự tác pháp Yết-ma hai năm học giới, phạm Ba-dật-đề.
Tỳ-kheo-ni nào tự trao hai năm học giới, phạm Ba-dật-đề. (Ngoài ra
như giới trước đã nói).
Lúc đó, các Tỳ-kheo-ni tác pháp Yết-ma hai năm học giới rồi,
để cách đêm mới cho thọ giới Cụ túc, giữa thời gian đó có nạn xảy ra
không được thọ giới Cụ túc. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng
mọi cách quở trách... cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới
(như trước). Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào tác
pháp Yết-ma hai năm học giới rồi, để cách đêm mới cho thọ giới Cụ
túc, phạm Ba-dật-đề Khi khởi tâm cho đến tướng ánh sáng chưa xuất
hiện, phạm Đột-kiết-la, tướng ánh sáng xuất hiện rồi, Hòa thượng phạm
Ba-dật-đề, sư chúng khác phạm Đột-kiết-la. Nếu bệnh hoặc nạn khởi
hay Tăng không tập hợp thì không phạm.
Khi ấy, các Tỳ-kheo-ni tác pháp Yết-ma hai năm học giới rồi, để
cách đêm mới trao học giới cho đương sự, trong thời gian đó nạn khởi
nên không thọ được. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách
quở trách... cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (như trước).
Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào nào tác pháp Yêt-
ma hai năm học giới rồi, để cách đêm mới trao học giới cho đương sự,
phạm Ba-dật-đề Khi khởi tâm cho đến khi tướng ánh sáng chưa xuất
hiện phạm Đột-kiết-la, tướng ánh sáng xuất hiện rồi, Hòa thượng phạm
Ba-dật-đề, sư chúng khác phạm Đột-kiết-la. (Trường hợp không phạm
như giới trên).
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni tự dệt lấy y của mình, các bạch y dị nghị
nói: Tại sao Tỳ-kheo-ni không nghĩ đến chuyện hành đạo mà lại tự dệt
y cho mình như những người thợ dệt khác. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão
nghe, bằng mọi cách quở trách... cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-
ni kiết giới (như trước). Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni
nào tự dệt y cho mình, phạm Ba-dật-đề Nếu dệt bằng khung cưởi thì
một lần đưa cái thoi qua là phạm Ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-
ni phạm Đột-kiết-la. Nếu dệt dây lưng hay dây ngồi thiền thì không
phạm.
Lúc này, người hầu cận của Vua Ba-tư-nặc và các Tỳ-kheo-ni đi
du ngoạn nơi có sự khủng bố, bị đám giặc cướp đoạt, có vị bị phá phạm
hạnh, hoặc bị bắt dẫn đi. Các Tỳ-kheo-ni khác báo với nhà Vua. Nhà
Vua nói: Nay tôi không được quyền lực thì đâu giúp được gì cho Tỳ-
kheo-ni! Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách:
Tại sao lại đi du ngoạn nơi có các sự khủng bố... cho đến câu: Nay Ta
vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (như trước). Từ nay giới này được nói như
sau: “Tỳ-kheo-ni nào đi du hành trong nước, nơi có sự khủng bô, phạm
Ba-dật-đề ”. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la. Nếu trước đi
nơi đường lộ, sau đó có sự nạn khởi thì không phạm.
Khi đó, các Tỳ-kheo-ni tự tạo tượng cho mình, cũng sai người khác
tạo. Khi ấy, Thâu-la-nan-đà sai người tạo tượng, khi thấy tượng mình,
Thâu-la-nan-đà tự tâm sinh nhiễm đắm, lại có ý nghĩ: Nhan sắc của ta
như vậy, tại sao hủy hoại để tu phạm hạnh! Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão
biết, bằng mọi cách quở trách... cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni
kiết giới (như trước). Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni
nào tự tạo titợng cho mình, hoặc sai người làm, phạm Ba-dật-đề ”. Tạo
tượng cho mình: Hoặc vẽ, hoặc dùng cây, hoặc dùng chất dẻo để làm.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la. Nếu người khác tự ý làm
cho mình thì không phạm.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni trang điểm cho người nữ, bèn sinh tâm
không vui với đạo, đến nỗi hoàn tục, hoặc làm ngoại đạo. Các bạch
y chê trách nói: Tại sao Tỳ-kheo-ni lại trang điểm cho người nữ, như
thể trang điểm một kiểu mẫu, để tự trang điểm cho chính mình, nào có
khác xa gì mấy? Không nghĩ đến việc hành đạo, chỉ làm việc trang sức
bất chánh, không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn. Các Tỳ-kheo-ni
Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách... cho đến câu: Nay Ta vì các
Tỳ-kheo-ni kiết giới (như trước). Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-
kheo-ni nào trang điểm cho người nữ, phạm Ba-dật-đề Trang điểm:
Chải đầu cho đến gắn một đóa hoa, đeo chiếc xuyến, mỗi việc làm
phạm một Ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.
Lúc này, các Tỳ-kheo-ni tắm rửa trong nước, lội ngược dòng nước
tạo ra cảm xúc dục, sinh tâm ái dục, đến nỗi hoàn tục, hoặc làm ngoại
đạo. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách... cho
đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (như trước). Từ nay giới
này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào lội ngược dòng nước, phạm Ba-
dật-đề”. Nếu lội ngược dòng nước mỗi bước lội phạm một Ba-dật-đề.
Mất bất tịnh thì phạm Thâu-lan-giá. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm
Đột-kiết-la. Nếu không có tâm dục thì không phạm.
Khi đó, các Tỳ-kheo-ni nằm giữa ngay chỗ nhà bị dột, giọt nước
nhỏ xuống, vào trong “Hình”, sinh tâm ái dục, đưa đến tình trạng hoàn
tục, hoặc làm ngoại đạo. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi
cách quở trách... cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (như
trước). Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào nằm giữa
ngay chỗ nhà bị dột, nước nhỏ xuống chỗ kín, phạm Ba-dật-đề (Ngoài
ra như giới trước đã nói).
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni để eo được thon, nhỏ, đẹp, dùng dây
buộc ngang eo lưng khiến sinh tâm ái dục, các bạch y chê trách nói:
Các người này chăm sóc cho eo lưng nhỏ, yểu điệu như dâm nữ, không
có tâm đạo chỉ làm việc tà. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi
cách quở trách... cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (như
trước). Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào làm cho eo
lưng nhỏ, yểu điệu, phạm Ba-dật-đề”. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm
Đột-kiết-la.
Đã nói xong hai trăm pháp.
Lúc này, các Tỳ-kheo-ni bằng nhiều cách sửa soạn thân hình
khiến cho đẹp, sinh tâm ái dục... cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-
ni kiết giới (như trước). Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-
ni nào bằng nhiều cách sửa thân cho đẹp, phạm Ba-dật-đề ”. (Ngoài
ra như giới trước đã nói).
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni ăn mặc theo cách của kỹ nữ, sinh tâm
không vui sống với đạo, đến nỗi hoàn tục... cho đến câu: Nay Ta vì các
Tỳ-kheo-ni kiết giới (như trước). Từ nay giới này được nói như sau:
“Tỳ-kheo-ni nào mặc y như pháp của kỹ nữ, phạm Ba-dật-đề ”. Thức-
xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.
Khi đó, các Tỳ-kheo-ni mặc y như pháp của bạch y phụ nữ, sinh
tâm không vui sông với đạo... cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni
kiết giới (như trước). Từ nay giới này được nói như sau: “ Tỳ-kheo-ni
nào mặc y theo pháp của bạch y phụ nữ, phạm Ba-dật-đề ”. (Ngoài ra
như trên đã nói).
Lúc ấy các Tỳ-kheo-ni với tâm dục, tự trau chuốc thể hình của
mình, sinh tâm ái dục... cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới
(như trước). Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào dùng
tâm dục tự trau chuốc thân thể của mình, phạm Ba-dật-đề ”. Thức-xoa-
ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni soi gương, sinh tâm không vui sống với
đạo... cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (như trước). Từ
nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào soi gương, phạm Ba-
dật-đề”. Nếu soi gương trong nước phạm Đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-
na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la. Nếu mặt có mụt nhọt soi để thấy không
phạm.
Lúc này, các Tỳ-kheo-ni tự mình bói toán bằng nhiều cách, cũng
đến người khác bói toán. Các bạch y chê trách nói: Đám này không bỏ
tà kiến, làm sao đắc đạo? Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi
cách quở trách... cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (như
trước). Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào tự mình bói
toán, hoặc đến người bói toán, phạm Ba-dật-đề Thức-xoa-ma-na, Sa-
di-ni phạm Đột-kiết-la.
Khi ấy, các Tỳ-kheo-ni cùng nhau bàn luận việc riêng tư, như nói
chúng ta xuất gia sẽ đạt được cứu cánh để làm gì? Không đạt được cứu
cánh thì sao? Nên bỏ đạo hay không nên bỏ đạo? Nếu bỏ đạo được một
người chồng tốt chăng? Sinh được nhiều ít con, phước lộc, tướng mạo
thế nào? Do luận bàn những chuyện thế tục như vậy, nên không vui
sống với đạo, đến nỗi hoàn tục, hoặc làm ngoại đạo. Các Tỳ-kheo-ni
Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách: Tại sao Tỳ-kheo-ni luận
bàn việc thế tục, quên việc đạo... cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-
ni kiết giới (như trước). Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni
nào luận bàn theo thế tục, phạm Ba-dật-đề”. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni
phạm Đột-kiết-la.
Đã nói xong hai trăm lẽ bảy pháp.
Đoạn 5: NÓI yỀ TÁM PHÁP HÔI QUÁ
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni ưa ăn tô, thường đến nhà người xin, các
bạch y chê trách nói: Tô là chất làm cho người láng da mát thịt, thức
ăn của người đời, tại sao Tỳ-kheo-ni không cầu pháp vị, mà lại ham hố
thức ăn ngon, mong cầu nhan sắc cho đẹp, so với dâm nữ đâu có khác
gì? Thật là không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn. Các Tỳ-kheo-ni
Trưởng lão nghe, nghiêm khắc quở trách, rồi bạch Phật. Nhân việc này,
Đức Phật tập hợp hai bộ Tăng, hỏi các Tỳ-kheo-ni: Thật sự các cô có
như vậy không? Đáp: Bạch Đức Thế Tôn! Sự thật chúng con có như
vậy. Đức Phật bằng nhiều cách quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo: Nay Ta
vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới Ba-la-đề-đề-xá-ni. Từ nay giới này được nói
như sau: “Tỳ-kheo-ni nào ăn tô, nên đến bên các Tỳ-kheo-ni ăn năn:
Tôi rơi vào pháp đấng quở trách nay hướng đến các sư cô để ăn năn.
Như vậy gọi là pháp hối quá ”. Khi ấy, các Tỳ-kheo-ni ăn trong Tăng,
được người mời ăn, hay khất thực nhận được tô không dám ăn, bạch
Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp hai bộ Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
Nay cho phép Tỳ-kheo-ni không xin mà nhận được tô thì nên ăn. Từ nay
giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào xin tô để ăn, Tỳ-kheo-ni ây
nên đến bên các Tỳ-kheo-ni ăn năn: Tôi rơi vào pháp đáng quở trách,
nay hướng đến các sư cô để ăn năn. Như vậy gọi là pháp hối quá ”.
Có các Tỳ-kheo-ni bệnh cần tô mà không dám xin, bạch Phật.
Nhân việc này, Đức Phật tập hợp hai bộ Tăng, bảo các Tỳ-kheo: Nay
cho phép Tỳ-kheo-ni bệnh được xin tô để ăn. Từ nay giới này được nói
như sau: “Tỳ-kheo-ni nào không bệnh mà vì mình xin tô để ăn, Tỳ-
kheo-ni ây nên đến bên các Tỳ-kheo-ni ăn năn: Tôi rơi vào pháp đáng
quở trách, nay hướng đến các sư cô để ăn năn. Như vậy gọi là pháp hối
quá ”. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni xin dầu, xin mật, xin đường phèn, xin sữa, xin lạc
(váng sữa), xin cá thịt đều như trên đã nói.
Đoạn 6: NÓI VỀ MỘT TRĂM PHÁP CHÚNG HỌC
Bấy giờ, Tôn giả ưu-ba-ly thưa hỏi Đức Phật:
– Thế Tôn đã vì các Tỳ-kheo kiết pháp nên học, như không mặc y
hạ cao, cần phải học... cho đến câu: Cây cao quá đầu người không được
leo lên, trừ có nhân duyên lớn, cần phải học. Chúng con nên thọ trì thế
nào?
Đức Phật dạy:
– Nên thọ trì hai bộ Tăng.
Từ nay giới này được nói như sau: “Không mặc y hạ cao, cần phải
học. Không mặc y hạ thấp. Không mặc y hạ so le. Không mặc y hạ như
lá cây Đa-la. Không mặc y hạ như vòi con voi. Không mặc y hạ như quả
nại tròn. Không mặc y hạ xếp thành lằn nhỏ”.
“Không mặc y cao. Không mặc y thấp. Không mặc y so le”.
“Khéo che thân khi vào nhà bạch y. Khéo che thân khi vào trong
nhà bạch y. Không lật ngược y lên vai bên phải khi vào nhà bạch y.
Không lật ngược y lên vai bên phải khi ngồi trong nhà bạch y. Không
lật ngược y lên vai bên trái khi vào nhà bạch y. Không lật ngược y lên
vai bên trái khi ngồi trong nhà bạch y. Không lật ngược y lên cả hai vai
khi vào nhà bạch y. Không lật ngược y lên cả hai vai khi ngồi trong nhà
bạch y. Không lắc thân khi vào nhà bạch y. Không lắc thân khi ngồi
trong nhà bạch y. Không lắc đầu khi vào nhà bạch y. Không lắc đầu khi
ngồi trong nhà bạch y. Không nắm tay nhau khi vào nhà bạch y. Không
nắm tay nhau khi ngồi trong nhà bạch y. Không ẩn người khi vào nhà
bạch y. Không ẩn người khi ngồi trong nhà bạch y. Không được chống
nạnh khi vào nhà bạch y. Không được chống nạnh khi ngồi trong nhà
bạch y. Không được chống má khi vào nhà bạch y. Không được chống
má khi ngồi trong nhà bạch y. Không được đưa tay khi vào nhà bạch y.
Không được đưa tay khi ngồi trong nhà bạch y. Không được nhìn lên
cao khi vào nhà bạch y. Không được nhìn lên cao khi ngồi trong nhà
bạch y. Không được ngó hai bên khi vào nhà bạch y. Không được ngó
hai bên khi ngồi trong nhà bạch y. Không được đi xoạc chân khi vào
nhà bạch y. Không được ngồi xoạc chân trong nhà bạch y. Không được
đi ngóng mặt khi vào nhà bạch y. Không được ngồi ngóng mặt trong
nhà bạch y. Không được trùm đầu khi vào nhà bạch y. Không được
trùm đầu khi ngồi trong nhà bạch y. Không được giỡn cười khi vào nhà
bạch y. Không được giỡn cười khi ngồi trong nhà bạch y. Không được
cao tiếng khi vào nhà bạch y. Không được cao tiếng khi ngồi trong nhà
bạch y. Đường hoàng khi vào nhà bạch y. Đường hoàng khi ngồi trong
nhà bạch y”.
“Để ý khi có thức ăn. Không nhận thức ăn đầy tràn bát. Canh
cơm cùng ăn. Không nên moi khắp trong bát để lấy thức ăn. Không nên
khoét giữa bát để ăn. Không cong ngón tay để vét bát ăn. Không ngửi
thức ăn khi ăn. Nhìn kỹ bát khi ăn. Không vất bỏ thức ăn. Không dùng
tay đang bốc thức ăn cầm đồ sạch. Không húp thức ăn. Không nhai thức
ăn có tiếng. Không liếm thức ăn. Không bốc thức ăn đầy tay để ăn.
Không hả miệng lớn để ăn. Cơm chưa đến không nên mở miệng lớn để
chờ. Không nhéo mũi khi ăn. Không ngậm thức ăn mà nói. Không búng
má để ăn. Không nhai phân nửa rồi nuốt. Không duỗi cánh tay lấy thức
ăn. Không chông tay để ăn. Không le lưỡi ra để ăn. Không nuốt trọng
thức ăn. Không vò cơm từ xa ném vào miệng. Không dùng nước trong
bát có thức ăn rưới trong nhà bạch y. Không dùng cơm phủ canh mong
được thêm canh. Không chê khen thức ăn. Không vì mình đòi thêm thức
ăn. Không nhìn vào bát người ngồi gần với tâm nghi kỵ”.
“Không dùng đại tiểu tiện, trừ bệnh. Không đại tiểu tiện trong
nước sạch, trừ bệnh. Không đại tiểu tiện trong rau cỏ tươi, trừ bệnh.
Người mang guốc không nên vì họ nói pháp, trừ bệnh. Người mang dép
không nên nói pháp, trừ bệnh. Người để trông ngực không nên vì họ
nói pháp, trừ bệnh. Người ngồi, Tỳ-kheo-ni đứng không nên vì họ nói
pháp, trừ bệnh. Người ngồi chỗ cao, Tỳ-kheo-ni ngồi chỗ thấp không
nên vì họ nói pháp, trừ bệnh. Người nằm, Tỳ-kheo-ni ngồi không nên
vì họ nói pháp, trừ bệnh. Người ở trước, Tỳ-kheo-ni ở sau không nên
vì họ nói pháp, trừ bệnh. Người ở giữa đường, Tỳ-kheo-ni ở bên đường
không nên vì họ nói pháp, trừ bệnh. Không vì người trùm đầu nói pháp,
trừ bệnh. Không nên vì người lật ngược y nói pháp, trừ bệnh. Không vì
người lật ngược y lên hai vai nói pháp, trừ bệnh. Không vì người cầm
dù che thân nói pháp, trừ bệnh. Không vì người cưỡi ngựa nói pháp, trừ
bệnh. Không vì người cầm gậy nói pháp, trừ bệnh. Không vì người cầm
dao mà nói pháp. Không vì người cầm cung tên mà nói pháp. Cây cao
quá đầu người không được leo lên, trừ có trường hợp đặc biệt, cần nên
học. Trường hợp đặc biệt: Bị thú dữ hay các nạn, gọi là trường hợp đặc
biệt”.
LUẬT DI SA TẮC BỘ HÒA HÊ NGŨ PHAN
Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch bằng AI do Inti biên soạn: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.