Inti DharmaInti Dharma
← Kinh điển
Đại Thừa — Tạng Bắc Truyền · Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Việt dịch)

Di Sa Tắc Bộ Hoà Hề Ngũ Phần Luật quyển 12

Tên chữ Hán:彌沙塞部和醯五分律

📖8,569 từ · ~34 phút đọc
2

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản →
Bản dịch đầy đủ (Tiếng Việt)

LUẬT DI SA TẮC BỘ HÒA HÊ NGŨ PHẦN - QUYỂN 12

QUYỂN 12

Phần 2: GIỚI PHÁP CỦA TỲ KHEO NI

Đoạn 3: NÓI VE BA MƯƠI PHÁP XẢ ĐỌA
Đức Phật ở tại thành Xá- vệ. Khi ấy, Tôn giả ưu-ba-ly thưa hỏi:
Đức Thế Tôn đã vì các Tỳ-kheo kiết giới: Tỳ-kheo nào ba y đã may
xong, y Ca-hi-na đã xả, y dư được chứa đến mười ngày, nếu chứa quá,
phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề, cho đến câu: Tỳ-kheo nào tự tay cầm vàng
bạc và tiền, hoặc khiến người cầm, hoặc khởi tâm thọ nhận, phạm Ni-
tát-kỳ-ba-dật-đề. Chúng con nên thọ trì thế nào? Đức Phật dạy: cả hai
bộ Tăng nên thọ trì. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni
nào, ba y đã may xong, y Ca-hi-na đã xả, y dư được chứa cho đến mười
ngày, nếu chứa quá, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề ”.
“Tỳ-kheo-ni nào, y đã may xong, y Ca-hi-na đã xả, trong năm y
nếu lìa mỗi một y nào, ngủ quá một đêm, trừ Tăng Yết-ma, phạm Ni-
tát-kỳ-ba-dật-đề ”.
“Tỳ-kheo nào, y đã may xong, y Ca-hi-na đã xả, được y phi thời,
nếu cần thì nhận, phải mau chóng làm thành để thọ trì. Nếu đủ thì tốt,
không đủ, mong có chỗ để cho đủ, chờ một tháng, nếu chờ quá, phạm
Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề ”.
“Tỳ-kheo-ni nào, đến chỗ cư sĩ hay vợ cư sĩ không phải bà con xin
y, trừ có nhân duyên, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề”. Nhân duyên là: Y bị
đoạt, bị mất, bị cháy, bị trôi, bị hư hoại, như vậy gọi là nhân duyên.
“Tỳ-kheo-ni nào, y bị đoạt, bị mất, bị cháy, bị trôi, bị hư hoại,
đến nơi Cư sĩ hay vợ Cư sĩ không phải bà con xin y. Nếu Cư sĩ, vợ Cư sĩ
muốn cúng nhiều y, Tỳ-kheo-ni ấy nên nhận hai y, nếu nhận quá, phạm
Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề ”.
“Trường hợp Cư sĩ, vợ Cư sĩ không phải bà con cùng nhau bàn lu¬
ận: Nên dùng số tiền may y như thế, may y cho Tỳ-kheo-ni có tên... Tỳ-
kheo-ni ấy trước không được mời tùy ý nhận, bèn đến chỗ cư sĩ, vợ Cư
sĩ hỏi: Người vì tôi dùng số tiền may y như thế phải không? Người kia
công nhận là có. Tỳ-kheo-ni nói: Lành thay! Cư sĩ, vợ Cư sĩ có thể may
y như vậy, như vậy cho tôi. Vì muốn đẹp, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề”.
“Trường hợp Cư sĩ, vợ Cư sĩ không phải bà con cùng nhau nghị
bàn: Mỗi người chúng ta nên dùng số tiền như thế để may y cho Tỳ-
kheo-ni có tên... Tỳ-kheo-ni ấy trước không nhận lời mời theo ý muốn,
mà đến hỏi Cư sĩ, vợ Cư sĩ: Quý vị vì tôi dùng số tiền như thế để may
y cho tôi phải không? Vâng, đúng như vậy. Tỳ-kheo-ni bèn nói: Lành
thay! Cư sĩ, vợ Cư sĩ có thể hợp lại may một y cho tôi. Vì muôn đẹp nên
phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề”.
“Trường hợp Vua, Đại thần, Bà-la-môn, cư sĩ vì Tỳ-kheo-ni nên
sai sứ giả đem tiền may y đến. Sứ giả đến chỗ Tỳ-kheo-ni nói: Thưa
sư cô! Vua, Đại thần... sai tôi mang số tiền may y này đến, sư cô nhận
cho. Tỳ-kheo-ni ấy nói: Tôi không được phép nhận tiền để may y. Nếu
được tịnh y thì tôi sẽ nhận thọ trì. Sứ giả nói: Sư cô có người chấp sự nào
không? Tỳ-kheo-ni liền chỉ chỗ người chấp sự. Sứ giả đến chỗ người
chấp sự nói: Vua, Đại thần sai tôi đem số tiền may y này đến cho Tỳ-
kheo-ni tên... Người vì sư cô nhận số tiền này để may y cho sư cô! Sứ
giả giao tiền rồi, trở lại chỗ Tỳ-kheo-ni nói: Thưa sư cô! Người chấp sự
sư cô chỉ, tôi đã giao tiền rồi. Khi nào cần y, sư cô có thể đến lấy. Khi
cần y, Tỳ-kheo-ni ấy hai lần, Ba lần đến chỗ người chấp sự nói: Tôi cần
y! Tôi cần y! Nếu nhận được y thì tốt, bằng không thì đến lần thứ tư,
lần thứ năm, lần thứ sáu đứng im lặng trước người chấp sự. Nhận được
y thì tốt, nếu đến quá sáu lần để mong cầu được y thì phạm Ni-tát-kỳ-
ba-dật-đề. Trường hợp cuối cùng không nhận được y thì nên tự mình
đến chỗ người cúng y, hoặc sai người đến nói: Người vì Tỳ-kheo-ni... sai
người đem tiền cúng y đến, cuối cùng Tỳ-kheo-ni... không nhận được y,
người nên đến lấy lại chứ đừng để mất. Sự việc như vậy nên giải quyết
như vậy”.
“Tỳ-kheo-ni nào tự mình đi xin tơ tằm, thuê thợ dệt, dệt y, phạm
Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề ”.
“Trường hợp Cư sĩ, vợ Cư sĩ thuê thợ dệt dệt y, Tỳ-kheo-ni ấy
trước không nhận được lời, mới tùy ý mà đến thợ dệt nói: Người biết
chăng? Y này họ vì tôi may, người nên vì tôi dệt cho tốt, vừa rộng vừa
dài, bền chắc tôi sẽ trả ơn riêng cho ông. Sau đó trả ơn bằng một bữa
ăn hay trị giá bằng một bữa ăn. Khi nhận được y, phạm Ni-tát-kỳ-ba-
dật-đề”.
“Tỳ-kheo-ni nào cho y cho Tỳ-kheo-ni, sau vì giận không vui, tự
mình đoạt lại, hay sai người đoạt lại, nói: Trả y lại cho tôi, tôi không cho
cô, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề”.
“Tỳ-kheo-ni nào biết đàn-việt muốn cúng vật cho Tăng, mà xoay
về cho mình, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề”.
“Tỳ-kheo-ni bệnh nào được uống bốn thứ thuốc hàm tiêu như tô,
dầu, mật, thạch mật, một lần thọ được để đến bảy ngày, nếu để quá
phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề”.
“Tỳ-kheo-ni nào hoặc tiền hay hậu an cư, còn mười ngày nữa mới
đến lễ Tự tứ, nhận được y cấp thí, nếu cần thì nhận, cho đến thời của y,
nếu để quá, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề”.
“Tỳ-kheo-ni nào bình bát bị nứt chưa đủ năm đường, lại xin bát
mới, vì muôn đẹp, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề”.
“Tỳ-kheo-ni nào mua bán bằng mọi cách để cầu lợi, phạm Ni-tát-
kỳ-ba-dật-đề
“Tỳ-kheo-ni nào dùng vàng, bạc và tiền để trao đổi, mua bán các
loại, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề”.
“Tỳ-kheo-ni nào tự tay cầm vàng bạc và tiền, hoặc sai người cầm,
hay có tâm thọ nhận, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề
Bấy giờ, Tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà đến xin bát nơi người bán
quán. Người bán quán mua bát cho. Khi nhận được bát, cô ta lại nói: Tôi
không cần bát, có thể cho tôi tô. Người bán quán lại cho tô, rồi đem cái
bát vừa mua bán lại. Người bán quán kế bên thấy vậy nói: Bán các thứ
hiện có nơi quán không đủ sống hay sao nay lại vì người bán thêm bát?
Người bán quán nói: Cô ni Thâu-la-nan-đà đến tôi xin bát, tôi mua bát
cho. Cô ta lại nói không dùng, xin tôi tô, tôi cho tô, nên bán lại cái bát
này. Mọi người nghe đều nói: Phàm phép người đi xin thì lấy cái mình
xin, tại sao “Được voi lại đòi tiên” là thế nào?! Đám người này thường
nói ít ham muốn, biết vừa đủ, nay lại không hề biết nhàm chán, không
có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe,
bèn nghiêm khắc quở trách rồi bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập
hợp hai bộ Tăng, hỏi Thâu-la-nan-đà: Thật sự cô có như vậy không?
Đáp: Bạch Đức Thế Tôn! Sự thật con có như vậy. Bằng mọi cách Đức
Phật quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết
giới. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào vật gì đã xin
trước được rồi, lại không dùng, đòi xin thứ khác, phạm Ni-tát-kỳ-ba-
dật-đề ”. Tùy theo vật xin lại nhiều hay ít, mỗi thứ đều phạm Ni-tát-kỳ-
ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.
LÚC ấy, các Tỳ-kheo-ni dùng y phi thời làm y để thọ trì, nên các
Tỳ-kheo-ni khách không thể nhận được y. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão
thấy, bèn quở trách rồi bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp hai
bộ Tăng, hỏi các Tỳ-kheo-ni: Thật sự các cô có như vậy không? Đáp:
Bạch Đức Thế Tôn! Sự thật chúng con có như vậy. Bằng mọi cách Đức
Phật quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết
giới. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào dùng y phi thời
làm thời y, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề”. Y này nên xả cho Tăng, không
được xả cho một, hai hoặc ba Tỳ-kheo-ni. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni
phạm Đột-kiết-la.
Bấy giờ, có một Tỳ-kheo-ni cấp hạ tọa, ít người quen biết, nhận
được vải chưa may thành y, lại không biết may, mang đến chỗ các Tỳ-
kheo-ni nói: Con là hạnh tối hạ tọa, không quen biết ai, cầu mong các
cô may giùm y cho con. Các Tỳ-kheo-ni nói: Chúng tôi công việc đa
đoan, không thể may cho cô được. Cô có thể đến nơi Thâu-la-nan-đà
hỏi xem sao! Cô ấy có nhiều y may đã thành, có thể trao đổi mua bán,
hoặc là cô ta may giùm. Tỳ-kheo-ni ấy liền đem vải đến thưa hỏi Thâu-
la-nan-đà. Thâu-la-nan-đà lấy y đã may sẩn đổi lấy vải. Tỳ-kheo-ni
hạ tọa nhận được y rồi đem về trú xứ. Các Tỳ-kheo-ni hỏi: Cô được
y chưa? Cô ta đáp lời: Được rồi. Lại hỏi: Cô nhận được y từ vị nào?
Thưa: Thâu-la-nan-đà. Các Tỳ-kheo-ni nói: Đem y đến để cùng xem
với! Chiếc y được mang ra và các cô xem xét. Các Tỳ-kheo-ni nói:
Chiếc y này tốt hơn chỗ vải của cô gấp bội. Chưa cô nào được điều may
mắn như thế. Nay bỗng dưng cô được việc ấy là điều rất hy hữu. Khi đó,
Thâu-la-nan-đà ở cách vách nghe được, bèn nói với Tỳ-kheo-ni hạ tọa:
Cô trả chiếc y của tôi lại, tôi không đổi cho cô. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng
lão nghe, bèn quở trách cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết
giới (cũng như trước). Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni
nào, đổi y cho Tỳ-kheo-ni khác, sau hối tiếc đòi trở lại, nhận được y,
phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề”. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-
la. Nếu cả hai bên đều hối tiếc, nhận được y, không đúng như lời cam
kết, thì lấy lại, không phạm.
Khi đó, mẹ của Tỳ-xá-khư phát tâm cúng cho Tỳ-kheo-ni Tăng
đồ mặc khi có nguyệt thủy, sai người đến đo kích cỡ để may. Chư ni
đều để đo, chỉ có Thâu-la-nan-đà không cho đo lại nói với người thừa
lệnh: Tôi đã lìa dục, không còn nguyệt thủy, không cần đồ mặc ấy. Tỳ-
xá-khư-mẫu may y xong, sai người đến thưa với các Tỳ-kheo-ni: Y may
đã xong, mời các cô đến nhận. Các Tỳ-kheo-ni đều đến để nhận. Khi
ấy, nhằm lúc Thâu-la-nan-đà đang có nguyệt thủy, bèn nhận y trước.
Theo thứ tự các Tỳ-kheo-ni nhận y, y bị thiếu không đủ, vị ni hạ tọa
không nhận được y. Tỳ-xá-khư-mẫu hỏi: Chư ni nhận đủ hết y chứ? Có
vị đáp: Vị ni hạ tọa không nhận được. Hỏi: Tại sao vậy? Các cô nói: Vì
Thâu-la-nan-đà trước đây nói không cần, nên không cho đo cỡ, nay lại
lấy trước, nên thiếu y?! Tỳ-xá-khư-mẫu nói: Tại sao trước nói không
cần, nay lâm sự lại lấy trước, làm cho người khác phải thiếu! Các Tỳ-
kheo-ni Trưởng lão nghe, bèn quở trách, cho đến câu: Nay Ta vì các
Tỳ-kheo-ni kiết giới (cũng như trước). Từ nay giới này được nói như
sau: “Tỳ-kheo-ni nào, các Tỳ-kheo-ni nói: Cô lấy đồ mặc khi có nguyệt
thủy, tự mình nói: “Không dùng” đến khi đó lại lấy trước, phạm Ni-tát-
kỳ-ba-dật-đề”. Y này nên xả cho Tăng, không được xả cho một, hai,
ba vị Tỳ-kheo-ni. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la. Trường
hợp tuy trước nói không dùng, nhưng sau do y có dư mà nhận thì không
phạm.
Bấy giờ, Tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà thường ra vào trong vương
cung của Vua Ba-tư-nặc. Nhà Vua nói: Thưa cô, cô có cần gì cứ đến
chỗ tôi lấy. Cô ni nói: Tôi cần cái y nhiều lớp (áo ấm). Nhà Vua nói:
Cô đến hậu cung lấy. Cô ni lại nói: Tôi muôn chiếc y Khâm-bà-la Vua
đang mặc. Nhà Vua liền cúng. Các quan dị nghị, nói: Tỳ-kheo-ni này
xuất gia trong pháp vô vi, mặc áo hoại sắc cắt rọc, nay tại sao lại đòi xin
áo Vua đang mặc. Tuy nhà Vua không tiếc, nhưng người thọ nhận phải
tự lượng sức của mình chứ. Các người này thường nói ít ham muôn, biết
vừa đủ mà nay không nhàm chán, không có hạnh Sa-môn, phá pháp
Sa-môn.
Khi ấy, Tỳ-kheo-ni Hắc-ly-xa được các Ly-xa ở Tỳ-xá-ly cung
kính cúng dường, vì mọi người khi bị kiện thưa, nhờ cô ta giúp đỡ, họ
đều hoan hỷ nói: Chúng ta nhờ cô ni được khỏi tội, nay hỏi cô cần thứ
gì chúng ta cùng nhau phụng sự. Cô ni nói: Tôi cần y dày (áo ấm). Họ
hỏi: Cô cần y dày trị giá bao nhiêu? Tôi cần y dày trị giá một ngàn tiền.
Họ bèn dè bỉu: Chúng ta dùng phí tổn cho việc kiện thưa ấy, dù có gấp
năm, sáu lần hơn cũng không bằng với ngân khoản này. Các người này
thường nói ít muôn, biết đủ mà nay không nhàm chán! Các Tỳ-kheo-ni
Trưởng lão nghe bèn nghiêm khắc quở trách... cho đến câu: Nay Ta vì
các Tỳ-kheo-ni kiết giới, (cũng như trên). Từ nay giới này được nói như
sau: “Tỳ-kheo-ni nào xin y dày (áo ấm) thì nên nhận lấy loại kém giá
trị nhất, ngang với bốn đại tiền mà thôi, nếu nhận cái quý giá, phạm
Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề”. Y dày là y mặc trong khi lạnh. Thức-xoa-ma-na,
Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.
Lúc này, Tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà lại đến Vua Ba-tư-nặc xin
chiếc “Y mỏng” (áo mặc mùa nóng) nhà Vua đang mặc và Tỳ-kheo-ni
Hắc-ly-xa đến các người Ly-xa đòi “Y mỏng” trị giá năm trăm tiền.
Các quan và mọi người dị nghị... cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni
kiết giới (cũng như trước). Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-
ni nào xin “Y mỏng” chỉ nên nhận thứ kém giá trị, ngang với hai tiền
rưỡi mà thôi, nếu nhận y quý giá, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề”. Y mỏng
là loại y mặc lúc nóng. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.
Bấy giờ, Tỳ-kheo-ni Sai-ma đến thành Xá-vệ, Bcí-tát nơi đất
trống, bị gió mưa đất bụi mòng muỗi gây phiền toái. Tỳ-kheo-ni cựu
trú nói với một Cư sĩ: Nay Tỳ-kheo-ni Tăng Bô"-tát giữa trời, gặp phải
những phiền toái như vậy, như vậy, như lời Phật dạy: Nếu cúng dường
phòng nhà cho Tăng là điều tốt nhất. Lành thay Cư sĩ! Có thể vì Tăng
làm nhà Bô"-tát. Người Cư sĩ nói: Tôi bận nhiều việc không thể tự mình
làm được. Tôi có thể cung cấp vật liệu, nhờ cô coi ngó làm giùm, khi
nào xong nói với tôi, tôi sẽ đến dâng cúng cho Tăng. Các Tỳ-kheo-ni
sau khi nhận được phương tiện lại cùng nhau bàn: Y phục chúng ta
bị rách nát, sô" phương tiện này có thể chia cho nhau để may y phục,
chúng ta chịu khó Bố-tát ngoài trời. Bàn như vậy xong, họ chia nhau
may y, rồi nói với Cư sĩ: Người nên hoan hỷ, y phục của các Tỳ-kheo-
ni bị rách nát, nên phương tiện đó chư ni chia nhau để may y rồi. Cư sĩ
nghe rồi, trách cứ nói: Tôi không hoan hỷ được. Tại sao vậy? Trước đây
nói: Cúng dường nhà Bố-tát là điều tốt nhất, tại sao nay lại đem may y
phục?! Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe nghiêm khắc quở trách... cho
đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (cũng như trên). Từ nay
giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào, vì Tăng làm việc gì đó
đến chỗ cư sĩ xin phương tiện, rồi lại đem làm việc khác, phạm Ni-tát-
kỳ-ba-dật-đề”. Nếu khởi tâm muốn phân chia cho đến tạo phương tiện
để chia, phạm Đột-kiết-la. Vật ấy nên xả cho Tăng, không được xả cho
một, hai, ba Tỳ-kheo-ni. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.
Trường hợp tuy vì việc gì đó xin của đàn-việt, sau đó họ đồng ý làm
việc khác thì không phạm.
Khi ấy, Tỳ-kheo-ni Sai-ma Bố-tát giữa trời... cho đến câu: Bị mồng
muỗi gây phiền toái (như trước đã nói). Các Tỳ-kheo-ni cần làm nhà
Bố-tát đi khắp nơi xin phương tiện... cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-
kheo-ni kiết giới (như trước đã nói). Từ nay giới này được nói như sau:
“Tỳ-kheo-ni nào vì Tăng làm việc gì đó, đến các nhà Cư sĩ xin phương
tiện rồi đem làm việc khác, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề”. Ngoài ra, như
giới trước đã nói.
Lúc này, Tỳ-kheo-ni Sai-ma không có chỗ để nghỉ ngơi, đến một
Cư sĩ nói: Tôi không có chỗ để nghỉ ngơi, làm cho tôi một Tinh xá. Cư
sĩ nói: Không rảnh để làm, chỉ xin cúng vật liệu. Khi nhận được phương
tiện rồi, Sai-ma lại nghĩ: Y phục ta bị rách nát nên dùng phương tiện
để may y, còn nơi nghỉ thì không thiếu gì. Sau khi may y xong, Sai-ma
nói với Cư sĩ... cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (cũng
như trước). Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào tự mình
đến một Cư sĩ xin phương tiện để làm việc gì đó, rồi đem dùng làm việc
khác, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề”. Ngoài ra như trước đã nói.
Bấy giờ, Tỳ-kheo Sai-ma không có nơi để nghỉ ngơi, đến nhiều
nhà Cư sĩ xin phương tiện... cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo kiết giới
(cũng như trước). Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào,
cần làm việc gì cho mình, đến nhiều nhà Cư sĩ xin phương tiện, rồi đem
làm việc khác, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề”. Ngoài ra như trước đã nói.
Lúc này, các Tỳ-kheo-ni dồn chứa nhiều vật dụng. Trước chùa,
sau chùa, trong chùa chỗ nào cũng có. Chùa bị cháy, chư ni di chuyển
đồ vật ra nhiều vô số, các Cư sĩ chữa cháy thấy hỏi: Đồ của ai nhiều
thế? Được trả lời: Vật dụng này là của các Tỳ-kheo-ni. Họ dị nghị nói:
Hạng người này chẳng làm được việc lớn, xuất gia trong pháp vô vi,
mặc áo hoại sắc cắt rọc may thành, mà dồn chứa vật dụng nhiều như
quốc vương, Đại thần. Họ thường nói ít muốn, biết vừa đủ mà nay lại
dồn chứa không nhàm chán, không có hạnh của Sa-môn, phá pháp Sa-
môn. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bèn nghiêm khắc quở trách...
cho đến câu: Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (cũng như trước). Từ nay
giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào dồn chứa nhiều vật dụng,
phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề”. Vật dụng tức đồ dùng cho cuộc sống. Luật
chỉ cho phép chứa tô, dầu, mật, hương dược, mỗi thứ có một cái bình
để đựng. Cho phép chứa chõ, vạc, thìa, Bình-sành, mỗi thứ một cái
để đựng thức ăn, chứa quá mức định, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề. Thức-
xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.
Khi ấy, các Tỳ-kheo-ni dồn chứa nhiều bình bát... cho đến câu:
Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (cũng như trước). Từ nay giới này
được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào dồn chứa nhiều bình bát, phạm Ni-
tát-kỳ-ba-dật-đề”. Cho phép chứa bảy loại bát thô:
1. Đựng cơm.
2. Đựng hương.
3. Đựng thuốc.
4. Đựng thức ăn dư.
5. Đựng nước.
6. Đựng rác.
7. Đựng nước tiểu.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.
Các pháp Xả đọa đã nói xong.
Đoạn 4: NÓI VÊ HAI TRĂM LÉ BẢY PHÁP ĐỌA
Đức Phật ở thành Xá -vệ. Bấy giờ Tôn giả Ưu-ba-ly thưa hỏi: Đức
Thế Tôn đã vì các Tỳ-kheo kiết giới: “Tỳ-kheo nào cố ý nói dối phạm
Ba-dật-đề... cho đến giới: Tỳ-kheo nào biết đàn-việt muốn cúng vật cho
Tăng mà xoay về cho người khác, phạm Ba-dật-đề”. Chúng cho nên
thọ trì thế nào? Đức Phật dạy: cả hai bộ Tăng nên thọ trì. Từ nay giới
này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào cố ý nói dối, phạm Ba-dật-đề.
Tỳ-kheo-ni nào chê trách Tỳ-kheo-ni, phạm Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni nào
nói hai lưỡi gây đấu loạn cho Tỳ-kheo-ni, phạm Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni
nào vì người nam nói pháp quá năm, sáu lời, trừ khi có người hiểu biết
phân biệt lời nói tốt xấu, phạm Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni nào biết Tăng
như pháp phán đoán sự việc rồi, phát khởi trở lại, phạm Ba-dật-đề. Tỳ-
kheo-ni nào dạy người nữ chưa thọ giới Cụ túc học kinh và tụng, phạm
Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni nào cùng người nữ chưa thọ giới Cụ túc đồng
ngủ một nhà quá hai đêm, phạm Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni nào hướng đến
người nữ chưa thọ giới Cụ túc nói mình được pháp hơn người, như nói
tôi biết như vậy, tôi thấy như vậy, dù là sự thật, phạm Ba-dật-đề. Tỳ-
kheo-ni nào biết tội thô ác của Tỳ-kheo-ni đến nói với người nữ chưa
thọ đại giới, trừ Tăng Yết- ma, phạm Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni nào nói như
vầy: Phiền gì phải tụng những giới vụn vặt, khi tụng giới này khiến cho
người phiền não, chê bai giới như vậy, phạm Ba-dật-đề ”.
Đã nói xong mười pháp.
“Tỳ-kheo-ni nào tự mình chặt phá thôn xóm của quỷ thần, hoặc
sai người chặt hay nói: Chặt cây này, phạm Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni nào
cố ý không trả lời câu hỏi, phạm Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni nào nơi đất
trông tự mình trải tọa cụ của Tăng, hoặc sai người trải, hoặc người khác
trải mà mình nằm ngồi, khi đi không dọn, không bảo người dọn, không
dặn ai dọn, phạm Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni nào, trong phòng của Tăng,
hoặc sai người trải, tự mình trải tọa cụ của Tăng, hoặc người khác trải
mà mình nằm ngồi, khi đi không dọn, không bảo người dọn, không dặn
ai dọn, phạm Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni nào vì giận, không vui, ở trong
phòng của Tăng tự mình kéo Tỳ-kheo-ni ra, hoặc sai người kéo, nói
như vầy: Cô đi khỏi chỗ này, cho khuất mắt, đừng ở nơi đây nữa, phạm
Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni nào biết người khác đã trải tọa cụ trước, mình
đến sau cưỡng bức tự trải, hay bảo người trải, với ý niệm: Nếu họ không
vui sẽ tự bỏ đi chỗ khác, phạm Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni nào trên nhà gác
của Tăng, ngồi mạnh trên giường dây, giường cây có chân nhọn, phạm
Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni nào biết nước có trùng mà nhồi đất, tưới cây,
hay dùng trong việc ăn uống, phạm Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni nào ăn mãi
ăn hoài, trừ nhân duyên, phạm Ba-dật-đề Nhân duyên: Khi bệnh, khi
dâng y gọi là nhân duyên.
Đã nói xong hai mươi pháp.
“Tỳ-kheo-ni nào nhận ăn riêng chúng, trừ nhân duyên, phạm Ba-
dật-đề”. Nhân duyên là khi bệnh, khi thời của y, khi dâng y, khi may
y, khi đi đường, khi đi trên thuyền, khi đại hội, như vậy gọi là nhân
duyên. “Tỳ-kheo-ni nào không bệnh, nơi chỗ cúng một bữa ăn, mà
nhận quá một bữa, phạm Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni nào đến nhà bạch y,
họ cho nhiều thức ăn như bánh như bún, nếu không vào tại nhà đó ăn,
nhận hai, ba bát đem về, nên chia cho các Tỳ-kheo-ni khác cùng ăn.
Nếu không có bệnh mà nhận quá và không chia cho các Tỳ-kheo-ni
khác cùng ăn, phạm Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni nào ăn rồi, không làm pháp
tàn thực mà ăn, phạm Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni nào biết Tỳ-kheo-ni ăn
xong rồi, không làm pháp tàn thực, cố sức nài nỉ bảo ăn, muốn cho cô
kia phạm, phạm Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni nào không thọ thức ăn mà để
vào miệng, trừ nếm, cành dương và nước uống, phạm Ba-dật-đề. Tỳ-
kheo-ni nào trong nhà ăn, cùng nam tử ngồi chỗ vắng, phạm Ba-dật-đề.
Tỳ-kheo-ni nào xem coi quân trận khởi hành, phạm Ba-dật-đề”.
Đã nói xong ba mươi pháp.
“Tỳ-kheo-ni nào có nhân duyên đến trong quân đội, cho tới hai,
ba đêm, nếu ở quá, phạm Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni nào có nhân duyên
tới trong quân đội hai, ba đêm mà xem quân đội hợp đồng chiến đấu,
phạm Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni nào nói như vậy: Như chỗ tôi hiểu, những
gì Phật dạy là pháp chướng đạo thì không có gì là chướng đạo cả. Các
Tỳ-kheo-ni nói với Tỳ-kheo-ni ấy: Cô chớ nên nói như vậy, chớ hủy
báng Đức Thế Tôn, chớ vu không Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn nói pháp
chướng đạo, thật sự là chướng đạo. Cô nên bỏ tà kiến ác đó đi. Khi can
gián như vậy mà kiên trì không bỏ, nên can gián lần thứ hai, lần thứ
ba. Lần thứ hai, lần thứ ba can gián, bỏ thì tốt, không bỏ, phạm Ba-dật-
đề. Tỳ-kheo-ni nào biết Tỳ-kheo-ni như vậy không như pháp sám hối,
không bỏ tà kiến ác mà cùng chuyện vãn, cùng ngồi, cùng ngủ, cùng
làm việc, phạm Ba-dật-đề. Sa-di-ni nào nói như vậy: Như chỗ tôi hiểu
biết những lời đức dạy là thọ năm dục, không có gì trở ngại đối với đạo.
Các Tỳ-kheo-ni nói với Sa-di-ni ấy: Cô chớ nên nói như vậy, chớ hủy
báng Phật, chớ vu khống Phật. Đức Phật nói, năm dục là pháp chướng
đạo thì sự thật là chướng đạo. Này Sa-di-ni! Cô nên bỏ tà kiến ác đó đi.
Khi khuyên can như vậy mà cô ấy kiên trì không bỏ, nên khuyên can
lần thứ hai, lần thứ ba. Lần thứ hai, lần thứ ba, không bỏ, các Tỳ-kheo-
ni nên nói với Sa-di-ni ấy: Cô nên đi khỏi chỗ này, từ nay đừng nói:
“Đức Phật là thầy của tôi nữa”, cô đừng nên đi sau các Tỳ-kheo-ni như
các Sa-di-ni khác, được phép cùng phòng ngủ với các Tỳ-kheo-ni hai
đêm, cô cũng không được việc ấy. Cô là kẻ ngu si nên mau đi khỏi chỗ
này, chớ ở nơi đây nữa, Tỳ-kheo-ni nào biết Sa-di-ni đã bị tẫn xuất như
pháp như vậy mà đem về nuôi, cùng ở cùng nói chuyện, phạm Ba-dật-
đề. Tỳ-kheo-ni nào cô" ý làm cho Tỳ-kheo-ni khác sinh nghi hối với ý
niệm: Khiến Tỳ-kheo-ni kia nghi hối, cho đến, dù chỉ gây xúc não một
thời gian ngắn, phạm Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni nào, khi Tăng xử đoán sự,
không gởi dục mà đứng dậy bỏ đi, phạm Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni nào
thọc lét Tỳ-kheo-ni khác, phạm Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni nào giỡn trong
nước, phạm Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni nào cùng với đồng nam tử cùng ngủ
một nhà, phạm Ba-dật-đề”.
Đã nói xong bốn mươi pháp.
“Tỳ-kheo-ni nào uống rượu, phạm Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni nào
khinh thường thầy, phạm Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni nào tự mình đào đất,
hoặc sai người đào nói: Đào chỗ này, phạm Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni nào
cùng cãi lộn rồi lặng lẽ lén nghe với ý niệm: Các Tỳ-kheo-ni có nói
việc gì, ta sẽ ghi nhớ, phạm Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni nào nhận bốn tháng
mời như ý muôn, nhận quá, trừ mời lại, tự đưa thức ăn đến, mời thời
gian lâu, phạm Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni nào thường thường phạm tội, các
Tỳ-kheo-ni như pháp can gián, lại nói: Tôi không học giới này, sẽ hỏi
Tỳ-kheo-ni khác, trì pháp, trì luật, phạm Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni nào khi
thuyết giới, nói như vầy: Nay tôi mới biết pháp này, rút ra từ Giới kinh,
mỗi nửa tháng thuyết một lần. Các Tỳ-kheo-ni biết Tỳ-kheo-ni này có
đến hai, Ba lần ngồi Bố-tát. Tỳ-kheo-ni ấy không phải do không biết
mà thoát khỏi tội. Tùy theo chỗ phạm tội như pháp xử trị, lại cộng thêm
cái tội không để ý nghe nói: Điều cô làm bất lợi cho cô, khi thuyết giới,
không một lòng lắng nghe, không Ưu-tâm để nghe, phạm Ba-dật-đề.
Tỳ-kheo-ni nào hẹn cùng đi với đám giặc từ xóm làng này đến xóm
làng kia, phạm Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni nào hẹn với nam tử cùng đi một
đường, từ xóm làng này đến xóm làng kia, phạm Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni
nào không bệnh mà vì sưởi ấm, tự mình cố ý nhóm lửa hoặc sai người
nhóm, phạm Ba-dật-đề”.
Đã nói xong năm mươi pháp.
“Tỳ-kheo-ni nào tự mình cầm hay sai người cầm vật báu hay các
vật quý, trừ nơi Tăng phường hay trong chỗ nghỉ lại đêm, phạm Ba-dật-
đề ”. Trong Tăng phường hay chỗ nghỉ đêm lấy vật báu hay các vật quý
giá, sau có người chủ đến đòi thì trả lại. Việc như vậy nên giải quyết
như vậy. “Tỳ-kheo-ni mỗi nửa tháng tắm một lần, trừ nhân duyên,
phạm Ba-dật-đề ”. Nhân duyên là khi bệnh, khi làm việc, khi đi đường,
khi mưa gió, khi nóng bức, như vậy gọi là nhân duyên. “Tỳ-kheo-ni
nào giận dữ cố ý đánh Tỳ-kheo-ni, phạm Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni nào
giận dữ đưa tay toan đánh Tỳ-kheo-ni, phạm Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni
nào cố ý khủng bố Tỳ-kheo-ni, phạm Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni nào dùng
Tăng-già-bà-thi-sa không căn cứ vu báng Tỳ-kheo-ni, phạm Ba-dật-đề.
Tỳ-kheo-ni nào nói Tỳ-kheo-ni kia cùng đến các nhà sẽ cho các thức
ăn ngon, khi đến rồi không cho, lại nói: Cô đi chỗ khác, cùng cô ngồi
nói chuyện không vui, ngồi một mình nói chuyện một vui hơn, cố ý gây
phiền não cho cô kia, phạm Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni nào nhận được y
mới, nên dùng ba loại màu hoặc xanh hoặc đen hoặc lam để làm dấu,
không dùng phạm Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni nào vì đùa giỡn giấu y bát,
tọa cụ, ống đựng kim của Tỳ-kheo-ni khác, cho đến tất cả những tư cụ
dùng trong sinh hoạt hàng ngày, hoặc sai người giấu, phạm Ba-dật-đề.
Tỳ-kheo-ni nào khi Tăng đoán sự đúng pháp, trao dục rồi, sau lại trách
cứ, phạm Ba-dật-đề”.
Đã nói xong sáu mươi pháp.
“Tỳ-kheo-ni nào nói như vầy: Các Tỳ-kheo-ni tùy theo sự quen
biết của mình mà xoay vật của Tăng về cho người ấy, phạm Ba-dật-
đề. Tỳ-kheo-ni nào tịnh thí y cho Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Thức-xoa-ma-
na, Sa-di, Sa-di-ni, rồi cưỡng đoạt lấy lại, phạm Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni
nào nhận lời mời của người khác, trước bữa ăn sau bữa ăn đi đến các
nhà khác, không tiếp cận để báo cho Tỳ-kheo-ni khác, trừ nhân duyên,
phạm Ba-dật-đề. Nhân duyên là thời gian của y, gọi là nhân duyên.
Tỳ-kheo-ni nào dùng bông đâu-la để dồi tọa cụ, phạm Ba-dật-đề. Tỳ-
kheo-ni nào tự mình làm vật dụng nằm ngồi, giường dây, giường cây thì
chân của nó nên cao tám ngón tay của Đức Tu-già-đà, trừ phần vào lỗ
mộng, nếu cao quá, phạm Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni nào dùng xương, răng
sừng làm ống đựng kim, phạm Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni nào may y nên
may đúng lượng y của Đức Tu-già-đà, nếu quá, phạm Ba-dật-đề. Lượng
y của Tu-già-đà là dài chín gang tay, rộng sáu gang tay. Như vậy gọi
là lượng y của đức Tu-già-đà. Tỳ-kheo-ni nào biết đàn- việt muốn cúng
vật cho Tăng mà xoay về cho người khác, phạm Ba-dật-đề”.
Đã nói xong sáu mươi tám pháp.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni ăn tỏi sống, tỏi chín trước giờ ngọ, sau giờ
ngọ, hoặc ăn riêng tỏi, hoặc ăn với thức ăn, mùi tỏi làm hôi hám phòng
xá. Các Cư sĩ đến thăm nghe mùi tỏi chê trách nói: Giống hệt nhà bếp
của bạch y. Lại có Tỳ-kheo-ni đến nhà ông Trưởng giả, ông Trưởng giả
nghe mùi hôi của tỏi, nói: Các cô đi ra khỏi chỗ này vì miệng các cô
hôi tỏi quá. Các Tỳ-kheo-ni xấu hổ. Lại có một người buôn tỏi, cúng tỏi
cho các Tỳ-kheo-ni, do việc làm này, đưa đến sự sa sút liên tục về khẩu
phần ăn uống, người ăn kẻ ở trong gia đình nói: Nếu không thể cung cấp
sự sông cho chúng tôi thì để chúng tôi đi tìm sự sông nơi chỗ khác, ông
bà tự dài lưng ra mà làm đầy tớ cho đám Tỳ-kheo-ni kia. Người hàng
xóm nghe thế đều chê trách nói: Nhà ông bà đã không đủ ăn, tại sao
phải nuôi các Tỳ-kheo-ni?! Để trả lời, nhà buôn kia trình bày sự thật.
Có người không tin ưa Phật pháp nói: Do ông gần gũi Tỳ-kheo-ni nên
đưa đến tình trạng khổ như thế, nếu còn tiếp tục gần gũi sẽ còn khổ hơn
nữa. Những người này xuất gia chủ yếu là cầu giải thoát, mà nay tham
đắm của ngon vật lạ, không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn. Các
Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, cho đến câu:
Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (Cũng như trước). Từ nay giới này
được nói như sau: Tỳ-kheo-ni nào ăn tỏi phạm Ba-dật-đề. Nếu ăn tỏi
sống thì một lần nuốt phạm một Ba-dật-đề. Ăn tỏi chín phạm Đột-kiết-
la. Nếu khi bệnh ăn, hay cường lực bắt ăn thì không phạm.
Lúc này, có các Tỳ-kheo-ni dùng tay vỗ nữ căn, để phát sinh tâm
dục, khiến đã có người hoàn tục, hoặc làm ngoại đạo. Thâu-la-nan-đà
cũng dùng tay vỗ nữ căn, nữ căn sưng lớn không thể đi được. Đệ tử đến
những gia đình thường cúng dường nói: Thầy bệnh cần thức ăn. Những
gia đình ấy liền cung cấp cho. Giới phụ nữ trong gia đình ấy tìm đến
thăm hỏi: Sư cô bệnh gì? Thâu-la-nan-đà trả lời: Tôi bệnh. Lại hỏi:
Chứng bệnh ấy như thế nào? Chúng ta đồng là nữ giới tại sao không
tỏ bày? Thâu-la-nan-đà bèn nói sự thật. Thế là các Cư sĩ nữ đâm ra dị
nghị mỉa mai: Những người này thường chê trách về dục, về tưởng đến
dục, bị dục thiêu đốt, cảm giác về dục, mà nay lại làm việc như vậy, sao
không thôi tu để thọ hưởng năm dục lạc! Họ không có hạnh Sa-môn,
phá pháp Sa-môn. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách
quở trách, cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (cũng như
trước). Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào dùng tay vỗ
nữ căn, phạm Ba-dật-đề”. Dùng tay vỗ thì mỗi lần vỗ phạm một Ba-
dật-đề, xuất bất tịnh thì phạm Thâu-lan-giá. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni
phạm Đột-kiết-la.
Đã nói xong bảy mươi pháp.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni dùng hồ giao (keo) làm nam căn để vào
nữ căn nhằm sinh tâm dục, nên có vị hoàn tục, hoặc làm ngoại đạo. Lại
có Tỳ-kheo-ni cột “Hồ giao căn” vào gót chân rồi đặt vào nữ căn. Lúc
ấy, một Thức-xoa-ma-na khử dầu bị phát hỏa cháy phòng, Tỳ-kheo-ni
kia hoảng hồn quên mở cái “Bửu bối” đó, mang nó chạy ra ngoài. Mọi
người đến chữa lửa, thấy hỏi: Sư cô mang cái gì ở gót chân vậy? Sư cô
nói sự thật, liền bị người chê trách nói... cho đến câu: Nay Ta vì các
Tỳ-kheo-ni kiết giới (Cũng như trước). Từ nay giới này được nói như
sau: “Tỳ-kheo-ni nào làm nam căn để vào nữ căn, phạm Ba-dật-đề”.
Xuất bất tịnh thì phạm Thâu-lan-giá. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm
Đột-kiết-la.
Khi ấy, các Tỳ-kheo-ni hoặc dùng một ngón tay hoặc cả năm
ngón tay để rửa bên trong nữ căn, nên bị tổn thương, ra máu, đưa đến
bệnh hoạn. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão thấy, bằng mọi cách quở trách,
cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (Cũng như trước). Từ
nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào dùng nước rửa nữ căn,
phạm Ba-dật-đề ”. Đã bị chế cấm như thế, nên khi trời nóng, nữ căn bất
tịnh hôi hám sinh trùng. Tỳ-kheo-ni Ba-xà-ba-đề cùng năm trăm Tỳ-
kheo-ni đến chỗ Đức Phật, bạch Phật: Bạch Đức Thế Tôn! Người nữ
chúng con hình thể hôi hám, phải nhờ nước để rửa, xin Ngài chấp thuận
cho. Đức Phật bảo các Tỳ-kheo: Nay cho phép các Tỳ-kheo-ni dùng
nước tác tịnh, Đức Phật cho phép rồi, chư ni lại dùng phương pháp như
trước, các Tỳ-kheo-ni thấy, bằng mọi cách quở trách, cho đến câu: Bảo
các Tỳ-kheo... (như trước). Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-
ni nào dùng nước rửa nữ căn, chỉ nên dùng hai ngón tay, đưa vào ngang
bằng một đốt để rửa, nếu quá mức, phạm Ba-dật-đề ”. Thức-xoa-ma-na,
Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la. Nếu trong căn có ghẻ, hoặc có trùng, hoặc
cỏ hay cát bụi vào thì dùng quá một lóng tay không phạm.
Lúc đó, các Tỳ-kheo-ni cạo lông trên hai chỗ: Dưới nách và chỗ
kín để sinh tâm ái dục, nên có người hoàn tục, hoặc làm ngoại đạo. Lúc
ấy, Thâu-la-nan-đà cũng tự mình cạo lông chỗ kín. Nhà người thí chủ
có người con gái sắp lấy chồng, muốn gặp Thâu-lan-nan-đà, sai người
đến mời. Tỳ-kheo-ni liền tới. Khi ấy, gia đình kia đang vì người con gái
sửa soạn nước tắm. Người con gái nói: Mời Tỳ-kheo-ni tắm trước. Họ
liền mời Tỳ-kheo-ni tắm. Cô ni nói: Tôi không cần tắm. Các người nữ
bèn cưỡng bức cởi y bắt cô ni tắm. Nhân đó họ biết cô ni cạo lông chỗ
kín, bèn hỏi: Vì lý do gì sư cô cạo như vậy? Cô ni hỏi lại: Vậy vì lý do gì
các em lại cạo? Các người nữ nói: Chúng em vì nam tử nên cạo. Cô ni
nói: Tôi cũng vậy. Các người nữ bèn chê trách nói: Các cô thường chê
trách dục, mà nay làm việc như vậy, không tu phạm hạnh, tại sao không
hoàn tục để tha hồ thọ hưởng năm dục?! Thế là các cô không có hạnh
Sa-môn, phá pháp Sa-môn. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi
cách quở trách, cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (như
trên). Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào cạo lông nách
và chỗ kín, phạm Ba-dật-đề”. Nếu cạo thì mỗi lưỡi dao cạo là phạm
một Ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la. Nếu vì có
ghẻ mà phải cạo, hay bị cường lực bắt cạo thì đều không phạm.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni cùng Tỳ-kheo một mình đứng chỗ vắng
cùng nói chuyện, nên sinh tâm nhiễm đắm, có vị hoàn tục, hoặc làm
ngoại đạo. Các bạch y thấy nghi ngờ: Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni này một
mình chỗ vắng cùng đứng cùng nói chuyện, chắc chắn là nói việc dâm
dục, không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng
lão thấy, bằng mọi cách quở trách, cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-
kheo-ni kiết giới (như trước). Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-
kheo-ni nào cùng Tỳ-kheo một mình ở chỗ vắng cùng đứng, cùng nói
chuyện, phạm Ba-dật-đề”. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-
la. Nếu đông Tỳ-kheo-ni với một Tỳ-kheo, hoặc khi có tám nạn thì
không phạm.
Khi ấy, các Tỳ-kheo-ni cùng bạch y và ngoại đạo một mình cùng
đứng chỗ vắng cùng nói chuyện, đưa đến việc thân thể xúc chạm, nói
lời thô ác về dâm dục, hoặc cưỡng bức làm việc dâm dục. Các Tỳ-kheo-
ni Trưởng lão thấy, bằng mọi cách quở trách, cho đến câu: Nay Ta vì
các Tỳ-kheo-ni kiết giới (Như trước). Từ nay giới này được nói như sau:
“Tỳ-kheo-ni nào cùng bạch y và ngoại đạo một mình cùng đứng chỗ
vắng nói chuyện, phạm Ba-dật-đề ”. (Ngoài ra như giới trước đã nói).
Lúc đó, các Tỳ-kheo-ni cùng Tỳ -kheo một mình cùng đứng nơi
chỗ trống cùng nói chuyện, sinh tâm nhiễm đắm, cho đến câu: Nay Ta
vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (Như trước). Từ nay giới này được nói như
sau: “Tỳ-kheo-ni nào cùng Tỳ-kheo một mình đứng nơi chỗ trông cùng
nói chuyện, phạm Ba-dật-đề ”. (Ngoài ra như giới trước đã nói).
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni cùng bạch y và ngoại đạo một mình cùng
đứng chỗ trống cùng nói chuyện, đưa đến vấn đề thân thể xúc chạm,
cho tới câu: Nay Ta vì cácTỳ-kheo-ni kiết giới (Như trên). Từ nay giới
này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào cùng bạch y và ngoại đạo một
mình đứng chỗ trống cùng nói chuyện, phạm Ba-dật-đề”. (Ngoài ra như
giới trước đã nói).
Lúc này, các Tỳ-kheo-ni cùng Tỳ-kheo một mình cùng đứng nơi
ngả tư, đường hẻm, nói vừa đủ nghe, bảo Tỳ-kheo-ni bạn đi tránh xa.
Các Cư sĩ chê trách. Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở
trách, cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (Như trước).
Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào cùng Tỳ-kheo một
mình cùng đứng nơi ngả tư, đường hẻm, nói vừa đủ nghe, bảo Tỳ-kheo-
ni bạn đi tránh xa, phạm Ba-dật-đề”. (Ngoài ra như giới trước đã nói).
Bấy giờ, Tỳ-kheo-ni cùng bạch y và ngoại đạo một mình cùng
đứng nơi ngả tư, đường hẻm, nói vừa đủ nghe, khiến Tỳ-kheo-ni bạn đi
tránh xa. Cư sĩ thấy chê trách, cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni
kiết giới (Như trước). Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni
nào cùng bạch y, ngoại đạo một mình cùng đứng nơi ngả tư, đường hẻm,
nói vừa đủ nghe, khiến Tỳ-kheo-ni bạn đi tránh xa, phạm Ba-dật-đề”.
(Ngoài ra như giới trước đã nói).
Khi đó, các Tỳ-kheo-ni lõa hình tắm rửa, các bạch y thấy, vây
quanh trêu chọc cười giỡn. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi
cách quở trách, cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (như
trước). Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào lõa hình tắm
rửa, phạm Ba-dật-đề”. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.
Nếu ngăn không cho người đến, hoặc tắm chỗ vắng, hoặc có cây hoặc
CÓ vật gì để ngăn che đều không phạm.
Đã nói xong tám mươi pháp.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni đi không mang áo tắm theo, không biết
mặc cái gì để tắm. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão thấy, bằng mọi cách quở
trách, cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (Như trước). Từ
nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào đi không mang theo
áo tắm, phạm Ba-dật-đề Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.
Nếu áo tắm đang nhuộm, giặt, đập hoặc bị cháy, hay nước trôi, hoặc hư
hoại thì không phạm.
Khi ấy, đệ tử của Tỳ-kheo-ni Chiên-đồ-tu-ma-na, một lần nhận
được cả năm chiếc y mới, bạch với thầy Hòa thượng: Thỉnh thầy mặc
trước để con được phước. Thầy Hòa thượng mặc rồi không trả lại. Cô
đệ tử phải mặc y thô tệ mà đi. Các Tỳ-kheo-ni thấy hỏi: Cô nhận được
năm chiếc y mới, tại sao không mặc? Cô ni nói: Trước khi sử dụng, tôi
cúng dường để Hòa thượng tôi dùng trước. Hòa thượng tôi không trả
lại. Các Tỳ-kheo-ni chê trách Chiên-đồ-tu-ma-na: Tại sao đệ tử nhận
được y mới, cúng dường cho mình mặc trước, rồi không trả lại? Các
Tỳ-kheo-ni Trưởng lão đem việc này bạch Phật, cho đến câu: Nay Ta
vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (Như trước). Từ nay giới này được nói như
sau: “Tỳ-kheo-ni nào nhận được y mới, Hòa thượng được cúng dường
để mặc trước y mới này xong, thầy Hòa thượng mặc rồi không trả lại
cho đệ tử, phạm Ba-dật-đề”. Nếu Tỳ-kheo-ni nhận được y mới cúng
dường cho Tỳ-kheo-ni nào đó. Tỳ-kheo-ni ấy nên mặc một ngày, nếu
người cúng dường yên cầu mặc thêm thì nên mặc, mặc lâu mau theo ý
người chủ, nếu mặc quá hạn, phạm Ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-
ni phạm Đột-kiết-la.
Bấy giờ, có Tỳ-kheo-ni ngăn cản Tăng chia y, Tỳ-kheo-ni khác
đợi chia nên trở ngại việc tọa thiền, hành đạo. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng
lão quở trách: Tại sao Tỳ-kheo-ni lại ngăn Tăng chia y, bằng mọi cách
quở trách, cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (Như trước).
Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào ngăn Tăng chia
y, phạm Ba-dật-đề”. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la. Nếu
bệnh không đến được hay không nghe thì không phạm.
Lúc này, có một Tỳ-kheo-ni bậc hạ tọa, nhận được vải chưa may
thành y, tự mình không biết may mà cũng không quen biết với ai, mang
vải đến chỗ Tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà nhờ may. Thâu-la-nan-đà viện
lẽ bận việc không may được. Cô ta mang đến các Tỳ-kheo-ni khác, các
Tỳ-kheo-ni khác may giùm thành y. Thâu-la-nan-đà hỏi: Ai may y cho
cô, đem tôi xem coi có đúng pháp không! Cô ni đem y cho Thâu-la-nan-
đà xem. Thâu-la-nan-đà nói: Y này may không đúng pháp, phải tháo
hết ra, tôi sẽ may lại giùm cho cô. Cô ni liền tháo ra mang đến. Thâu-
la-nan-đà lại không may. Cô ni kia không có y nên phải mặc y thô tệ
đi. Chiếc y bị tháo kia đem phơi trên mái nhà. Bấy giờ, nhà (Chùa) bị
phát hỏa, gió thổi, những mảnh vải bị cháy, bay đến rớt trên nhà bạch
y nên các nhà này bị cháy lây. Các bạch y thấy lửa từ trú xứ của các
Tỳ-kheo-ni bay đến cháy nhà mình, bèn nổi giận nói: Chúng ta cúng
dường cho các Tỳ-kheo-ni này nay trở lại thành oan gia. Các Tỳ-kheo-
ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, cho đến câu: Nay Ta vì
các Tỳ-kheo-ni kiết giới (Như trước). Từ nay giới này được nói như sau:
“Tỳ-kheo-ni nào tự tháo y của Tỳ-kheo-ni khác hoặc sai người tháo,
không may lại thành y, phạm Ba-dật-đề”.
Lại có một Tỳ-kheo-ni tháo y của Tỳ-kheo-ni khác, một ngày
không may lại thành y, phải đến bốn, năm ngày mới xong, nên đem
việc ấy bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp hai bộ Tăng, bảo
các Tỳ-kheo: Nay cho phép Tỳ-kheo-ni tháo y ra bốn, năm ngày phải
may cho thành. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào tháo
y của Tỳ-kheo-ni khác, hoặc sai người tháo, quá bốn, năm ngày, không
may thành, phạm Ba-dật-đề”.
Lại có Tỳ-kheo-ni tháo y của Tỳ-kheo-ni khác, rồi bị bệnh không
thể may thành, bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp hai bộ
Tăng, bảo các Tỳ-kheo: Nay cho phép các Tỳ-kheo-ni tháo y của người
khác rồi, vì bệnh được phép may không thành. Từ nay giới này được nói
như sau: “Tỳ-kheo-ni nào tháo y của Tỳ-kheo-ni khác rồi, không bệnh,
quá bốn, năm ngày mà may không thành, phạm Ba-dật-đề”. Thức-xoa-
ma-na, Sa-di phạm Đột-kiết-la.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni không mặc năm y mà mặc y thô tệ đến
các tư gia. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão thấy, bằng mọi cách quở trách,
cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (Như trước). Từ nay
giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào không mặc năm y mà đi
ra đường, phạm Ba-dật-đề”. Không mặc năm y: Từ một nhà đến một
nhà, cho đến ra khỏi cửa của trú xứ, phạm Ba dạt đề. Thức-xoa-ma-na,
Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la. Nếu khi giặt, nhuộm, đập hay vá thì không
phạm.
Lúc đó, các Tỳ-kheo-ni lấy y của Tỳ-kheo-ni cho bạch y và ngoại
đạo nữ. Họ mặc đi đường, bạch y khác thấy hướng đến làm lễ, họ nói:
Tôi là bạch y, tôi là ngoại đạo. Các bạch y bèn chê trách, nói: Tại sao
Tỳ-kheo-ni lấy y của Tỳ-kheo-ni cho bạch y và ngoại đạo nữ. Các Tỳ-
kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, cho đến câu: Nay
Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (Như trước). Từ nay giới này được nói
như sau: “Tỳ-kheo-ni nào dùng y của Tỳ-kheo-ni cho bạch y và ngoại
đạo nữ, phạm Ba-dật-đề”. Y của Tỳ-kheo-ni: Là có điều có viền có
điểm tịnh. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la. Người kia có y
Tỳ-kheo-ni dùng để trao đổi hay trừ trả nợ thì không phạm.
Khi ấy, Tỳ-kheo-ni Sai-ma muôn đi đến thành Xá-vệ, Tỳ-kheo-ni
Chiên-đồ-tu-ma-na nghe tin ấy, bèn đến người thí chủ của Sai-ma nói:
Tỳ-kheo-ni Sai-ma sắp đến đây, có thứ gì ít nhiều cúng dường không?
Người thí chủ nói: Tôi cũng nghe tin ấy, đang chuẩn bị thức ăn mỹ vị và
y để dâng cúng. Tỳ-kheo-ni Chiên-đồ nói: Sao không dùng y để cúng
cho Tăng, trong Tăng có vị chính hướng và chánh hạnh, khó ai bì kịp,
sao không cúng, lại cúng cho một Tỳ-kheo-ni? Người thí chủ nghe như
vậy nên chuyển cúng cho Tăng. Tỳ-kheo-ni Sai-ma đến, nhiều thức ăn
mỹ vị được dâng cúng, tự tay người thí chủ hiến dâng. Ăn xong người
thí chủ nói khẽ: Giờ này, chính là lúc dâng y, mà Tỳ-kheo-ni Chiên-
đồ-tu-ma-Na-làm trở ngại việc ấy. Các Tỳ-kheo-ni hỏi: Các vị nói gì?
Các thí chủ trình bày sự việc. Tỳ-kheo-ni Trưởng lão biết, bằng mọi
cách quở trách: Tại sao ngăn chặn vật cúng cho cá nhân để chuyển cho
Tăng. Các vị Trưởng lão lập lại sự quở trách, cho đến câu: Nay Ta vì
các Tỳ-kheo-ni kiết giới (như trước). Từ nay giới này được nói như sau:
“Tỳ-kheo-ni nào, gây trở ngại vật thí cho cá nhân chuyển về cho Tăng,
phạm Ba-dật-đề ”. Vật thí cho cá nhân: Cúng riêng cho người nào trong
Tăng, gọi là thí cho cá nhân. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-
la.
Bấy giờ, Tỳ-kheo-ni Sai-ma đến thành Xá-vệ, Tỳ-kheo-ni Chiên-
đồ-tu-ma-na nói: Tôi sẽ giới thiệu thí chủ để họ chăm sóc cô. Sai-ma
nói: Khỏi phiền cô làm điều đó. Chiên-đồ-tu-ma-Na-lại nói: Cô nhận
sự giới thiệu của tôi, cô được lợi lại được phước độ người. Nghe thế, Sai-
ma im lặng chấp thuận. Chiên-đồ-tu-ma-na bèn giới thiệu với các thí
chủ. Tỳ-kheo-ni Sai-ma, do đó có nhiều quyến thuộc, hành Tam-muội
tâm từ, không ai là không cung kính. Tỳ-kheo-ni Chiên-đồ-tu-ma-na
không được ai cúng dường, bèn sinh tâm ganh ghét, nói: Tôi giới thiệu
thí chủ khiến cho cô nhận được nhiều sự cúng dường, mà cô lại nói xấu
đối với tôi, khiến tôi không nhận được thức ăn. Các Tỳ-kheo-ni bằng
mọi cách quở trách: Tại sao Tỳ-kheo-ni vừa bảo hộ lại vừa tiếc lẫn về
gia chủ. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, cho
đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kiết giới (Như trước). Từ nay giới
này được nói như sau: “Tỳ-kheo-ni nào bảo hộ mà tiếc lẫn về thí chủ,
phạm Ba-dật-đề ”. Bảo hộ mà tiếc lẫn về thí chủ: Nghĩa là muốn cho thí
chủ chỉ cúng cho mình không cúng cho người khác. Thức-xoa-ma-na,
Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.
LUẬT DI SA TẮC BỘ HÒA HÊ NGŨ PHAN

Nguồn bản dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Internet Archive OCR)Giấy phép: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Việt dịch) · OCR Internet Archive · nguồn: archive.org · EN quarantined on 2026-07-06: previous bodyEn was short INTI-AI quote-widget noise, not a source English body. · EN: AI translation from Vietnamese source, awaiting source English🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch bằng AI do Inti biên soạn: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến