Inti DharmaInti Dharma
← Kinh điển
Kinh Điển Bộ Phái · Đối Chiếu · Luật Đối Chiếu — Hán ngữ

Lzh Dg Bi Vb Pc 156Đồ Trang Sức Hông

Tên Pāli / Sanskrit:Saṅghāṇi

📖401 từ · ~2 phút đọc
2
Bản dịch đầy đủ (Tiếng Việt)

– TỨ PHẦN LUẬT

– BA-DẬT-ĐỀ

ĐIỀU 156

A. DUYÊN KHỞI

Một thời, đức Bà-già-bà ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà có ý nghĩ, mặc váy lót cho mình phồng lên. Các cư sĩ thấy đều cơ hiềm: «Các tỳ-kheo-ni nầy không biết tàm quý, phạm bất tịnh hạnh. Bên ngoài tự xưng tôi biết chánh pháp. Nhưng như vậy có gì là chánh pháp? Mặc váy lót cho mình phồng lên, giống như bọn dâm nữ tặc nữ!»

Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, quở trách Thâu-la-nan-đà rằng: «Tại sao cô lại có ý nghĩ mặc y độn bông, khiến cho mình phồng lên?»

Tỳ-kheo-ni liền bạch với chư tỳ-kheo. Chư tỳ-kheo đến bạch lên đức Thế tôn. Đức Thế tôn dùng nhơn duyên nầy tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách Thâu-la-nan-đà:

«Các cô làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Tại sao tỳ-kheo-ni lại có ý nghĩ mặc váy lót, khiến cho mình phồng lên?»

Dùng vô số phương tiện quở trách rồi, đức Phật bảo các tỳ-kheo:

«Tỳ-kheo-ni nầy là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là người đầu tiên phạm giới nầy. Từ nay về sau, Ta vì tỳ-kheo-ni kiết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.»

Muốn nói giới nên nói như vầy:

Tỳ-kheo-ni nào, mặc váy lót, ba-dật-đề.

B. GIỚI TƯỚNG

Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trên.

Quần lót: dùng lông mịn, hoặc vải kiếp-bối, hoặc câu-giá-la, hoặc cỏ nhũ hiệp, hoặc sô-ma, hoặc bằng tơ tằm, tất cả đều ba-dật-đề

Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.

Sự không phạm: hoặc có bệnh thế nào đó, bên trong mặc y bệnh, ngoài mặc niết-bàn-tăng, kế đó mặc ca-sa; hoặc bị cường lực. Thảy đều không phạm.

Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống não, bức bách.

Việt dịch: Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh và Thích Đức Thắng . TỨ PHẦN LUẬT, PHẦN THỨ NHẤT

Hán dịch: Tam tạng Phật-đà Da-xá và Trúc-phật-niệm.

Hiệu chính và chú thích: Tỳ-kheo Thích Nguyên Chứng

(Hán dịch quyển 1–21, Việt dịch quyển 1, 2)

Ban tu thư Phật học 2002

Nguồn bản dịch: Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh, Thích Đức Thắng (SuttaCentral)Giấy phép: VI © Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh, Thích Đức Thắng (qua SuttaCentral) · EN: AI translation from Vietnamese source, awaiting source EnglishPrepared for SuttaCentral by Ayya Vimala .🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch bằng AI do Inti biên soạn: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến