Bu Pc 7676. Vu cáo không có căn cứ
Tên Pāli / Sanskrit:Amūlaka
Một vị tỳ-kheo vu cáo một vị tỳ-kheo khác về tội phải chịu tăng-già-bà-thi-sa, phải sám hối tội đó.
– TẠNG LUẬT
– PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU
– BỘ PĀCITTIYA
– 8. PHẨM (NÓI) THEO PHÁP:
6. ĐIỀU HỌC VỀ KHÔNG CÓ NGUYÊN CỚ:
Inda-bh 1Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư bôi nhọ vị tỳ khưu về tội saṅghādisesa không có nguyên cớ.
Inda-bh 2Các tỳ khưu ít ham muốn, … (như trên) … các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại bôi nhọ vị tỳ khưu về tội saṅghādisesa không có nguyên cớ?” … (như trên) … “Này các tỳ khưu, nghe nói các ngươi bôi nhọ vị tỳ khưu về tội saṅghādisesa không có nguyên cớ, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: … (như trên) … Này những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi lại bôi nhọ vị tỳ khưu về tội saṅghādisesa không có nguyên cớ vậy? Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên) … Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:
“Vị tỳ khưu nào bôi nhọ vị tỳ khưu về tội saṅghādisesa không có nguyên cớ thì phạm tội pācittiya.”
Inda-bh 3Vị nào : là bất cứ vị nào … (như trên) …
Tỳ khưu : … nt … Vị này là ‘vị tỳ khưu’ được đề cập trong ý nghĩa này.
Vị tỳ khưu : vị tỳ khưu khác.
Không có nguyên cớ nghĩa là không được thấy, không được nghe, không bị nghi ngờ.
Về tội saṅghādisesa : về bất cứ tội nào thuộc nhóm mười ba tội.
Bôi nhọ : vị buộc tội hoặc bảo (người khác) buộc tội thì phạm tội pācittiya.
Vị đã tu lên bậc trên, nhận biết là đã tu lên bậc trên, vị bôi nhọ về tội saṅghādisesa không có nguyên cớ thì phạm tội pācittiya. Vị đã tu lên bậc trên, có sự hoài nghi, vị bôi nhọ về tội saṅghādisesa không có nguyên cớ thì phạm tội pācittiya. Vị đã tu lên bậc trên, (lầm) tưởng là chưa tu lên bậc trên, vị bôi nhọ về tội saṅghādisesa không có nguyên cớ thì phạm tội pācittiya.
Vị bôi nhọ với sự hư hỏng về hạnh kiểm hoặc với sự hư hỏng về tri kiến thì phạm tội dukkaṭa. Vị bôi nhọ người chưa tu lên bậc trên thì phạm tội dukkaṭa.
Người chưa tu lên bậc trên, (lầm) tưởng là đã tu lên bậc trên, phạm tội dukkaṭa. Người chưa tu lên bậc trên, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa. Người chưa tu lên bậc trên, nhận biết là chưa tu lên bậc trên, phạm tội dukkaṭa.
Vị buộc tội hoặc bảo (người khác) buộc tội theo sự nhận biết, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
Điều học về không có nguyên cớ là thứ sáu.
Translated by Bhikkhu Indacanda . Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/ .
Used by kind permission of the translator.
Dấu “…” là lối viết tắt có từ chính bản gốc Pāli, gọi là peyyāla. Kinh tạng nguyên thuỷ vốn được tụng thuộc lòng, nên những đoạn lặp lại y nguyên ở bài trước thường được rút gọn lại bằng một dấu lược thay vì chép lại toàn văn. Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu giữ đúng lối ấy. Vì vậy có bài trông ngắn, nhưng đó là hình thức chuẩn mực của kinh điển chứ không phải app thiếu nội dung hay bản dịch bị cắt. Phần bị lược có thể đọc đầy đủ ở các bài liền trước trong cùng phẩm.
Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch bằng AI do Inti biên soạn: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.