Inti DharmaInti Dharma
← Kinh điển
Nguyên Thủy — Pāli Tạng · Luật Tạng

Bu Pc 5959. Dùng tài sản được phân phối mà chưa xả

Tên Pāli / Sanskrit:Vikappana

📖888 từ · ~4 phút đọc
2
Tóm tắt

Tỳ-kheo nào sử dụng y phục đã được chuyển nhượng cho một đồng phạm hạnh thì phạm tội phải sám hối.

Bản dịch đầy đủ (Tiếng Việt)

– TẠNG LUẬT

– PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU

– BỘ PĀCITTIYA

– 6. PHẨM UỐNG RƯỢU:

9. ĐIỀU HỌC VỀ CHÚ NGUYỆN ĐỂ DÙNG CHUNG:

Inda-bh 1Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, đại đức Upananda con trai dòng Sakya sau khi đích thân chú nguyện để dùng chung y đến vị tỳ khưu là đệ tử của người anh lại sử dụng khi chưa có sự xả lời nguyện (của vị ấy). Sau đó, vị tỳ khưu ấy đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu:—“Này các đại đức, đại đức Upananda con trai dòng Sakya này sau khi đích thân chú nguyện để dùng chung y đến tôi lại sử dụng khi chưa có sự xả lời nguyện.”

Các tỳ khưu ít ham muốn, … (như trên) … các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao đại đức Upananda con trai dòng Sakya sau khi đích thân chú nguyện để dùng chung y đến vị tỳ khưu lại sử dụng khi chưa có sự xả lời nguyện?” … (như trên) … “Này Upananda, nghe nói ngươi sau khi đích thân chú nguyện để dùng chung y đến vị tỳ khưu lại sử dụng khi chưa có sự xả lời nguyện, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: … (như trên) … Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi sau khi đích thân chú nguyện để dùng chung y đến vị tỳ khưu lại sử dụng khi chưa có sự xả lời nguyện vậy? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên) … Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:

“Vị tỳ khưu nào sau khi đích thân chú nguyện để dùng chung y đến vị tỳ khưu hoặc đến vị tỳ khưu ni hoặc đến vị ni tu tập sự hoặc đến vị sa di hoặc đến vị sa di ni lại sử dụng khi chưa có sự xả lời nguyện thì phạm tội pācittiya.”

Inda-bh 2Vị nào : là bất cứ vị nào … (như trên) …

Tỳ khưu : … nt … Vị này là ‘vị tỳ khưu’ được đề cập trong ý nghĩa này.

Đến vị tỳ khưu : là đến vị tỳ khưu khác.

Tỳ khưu ni nghĩa là người nữ đã được tu lên bậc trên ở cả hai hội chúng.

Cô ni tu tập sự nghĩa là người nữ thực hành sự học tập về sáu pháp trong hai năm.

Sa di nghĩa là người nam tu tập theo mười điều học.

Sa di ni nghĩa là người nữ tu tập theo mười điều học.

Đích thân : sau tự mình chú nguyện để dùng chung.

Y nghĩa là bất cứ loại y nào thuộc về sáu loại y (có kích thước) tối thiểu cần phải chú nguyện để dùng chung.

Sự chú nguyện để dùng chung nghĩa là có hai sự chú nguyện để dùng chung: sự chú nguyện để dùng chung có mặt và sự chú nguyện để dùng chung vắng mặt.

Sự chú nguyện để dùng chung có mặt nghĩa là (nói rằng): ‘Tôi chú nguyện để dùng chung y này đến ngươi hoặc đến vị tên (như vầy).’

Sự chú nguyện để dùng chung vắng mặt nghĩa là (nói rằng): ‘Tôi trao y này đến ngươi vì mục đích chú nguyện để dùng chung.’ Vị kia nên nói rằng: ‘Ai là bạn bè hoặc là người thân thiết của ngài?’ ‘Vị tên (như vầy) và tên (như vầy).’ Vị kia nên nói rằng: ‘Tôi sẽ trao cho những người ấy. Ngài hãy sử dụng vật sở hữu của những người ấy hoặc ngài hãy phân phát hoặc ngài hãy tiến hành như là có duyên cớ.’

Chưa có sự xả lời nguyện nghĩa là chưa được cho lại đến vị ấy hoặc là vị ấy sử dụng trong khi không có thân thiết với vị kia thì phạm tội pācittiya.

Chưa có sự xả lời nguyện, nhận biết là chưa có sự xả lời nguyện, vị sử dụng thì phạm tội pācittiya. Chưa có sự xả lời nguyện, có sự hoài nghi, vị sử dụng thì phạm tội pācittiya. Chưa có sự xả lời nguyện, (lầm) tưởng là đã có sự xả lời nguyện, vị sử dụng thì phạm tội pācittiya.

Vị chú nguyện để dùng riêng hoặc vị phân phát (y ấy) thì phạm tội dukkaṭa. Có sự xả lời nguyện, (lầm) tưởng là chưa có sự xả lời nguyện, phạm tội dukkaṭa. Có sự xả lời nguyện, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa. Có sự xả lời nguyện, nhận biết là đã có sự xả lời nguyện thì vô tội.

Hoặc là vị kia cho lại, hoặc là vị ấy (vị chủ nhân) sử dụng trong khi thân thiết với vị kia, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”

Điều học về chú nguyện để dùng chung là thứ chín.

Translated by Bhikkhu Indacanda . Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/ .

Used by kind permission of the translator.

📜Vì sao trong bài có dấu “…”?

Dấu “…” là lối viết tắt có từ chính bản gốc Pāli, gọi là peyyāla. Kinh tạng nguyên thuỷ vốn được tụng thuộc lòng, nên những đoạn lặp lại y nguyên ở bài trước thường được rút gọn lại bằng một dấu lược thay vì chép lại toàn văn. Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu giữ đúng lối ấy. Vì vậy có bài trông ngắn, nhưng đó là hình thức chuẩn mực của kinh điển chứ không phải app thiếu nội dung hay bản dịch bị cắt. Phần bị lược có thể đọc đầy đủ ở các bài liền trước trong cùng phẩm.

Nguồn bản dịch: Bhikkhu Indacanda (SuttaCentral)Giấy phép: VI © Bhikkhu Indacanda (qua SuttaCentral) · EN CC0-1.0 (Bhikkhu Brahmali)Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala .🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch bằng AI do Inti biên soạn: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến