Bi Pc 5151. Vào trú xứ của tỳ-kheo
Tên Pāli / Sanskrit:Ārāmapavisana
Tỳ-kheo-ni nào vào trú xứ của các tỳ-kheo mà không xin phép thì phải sám hối tội đó.
– TẠNG LUẬT
– PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU NI
– CHƯƠNG PĀCITTIYA:
– PHẨM TU VIỆN:
51. ĐIỀU HỌC THỨ NHẤT:
Inda-bh 1Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, nhiều vị tỳ khưu ở trú xứ là thôn làng chỉ mặc có một y đang làm công việc may y. Các tỳ khưu ni khi chưa hỏi ý đã đi vào tu viện rồi đi đến gặp các tỳ khưu ấy.
Các tỳ khưu phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các tỳ khưu ni khi chưa hỏi ý lại đi vào tu viện?” … (như trên) … “Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu ni khi chưa hỏi ý lại đi vào tu viện, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: … (như trên) … Này các tỳ khưu, vì sao các tỳ khưu ni khi chưa hỏi ý lại đi vào tu viện vậy?
Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên) … Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy:
“Vị tỳ khưu ni nào khi chưa hỏi ý mà đi vào tu viện thì phạm tội pācittiya.”
Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu ni như thế.
Inda-bh 2Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu ấy đã rời khỏi trú xứ ấy. Các tỳ khưu ni (nghĩ rằng): “Các ngài đại đức đã đi khỏi” nên đã không đi đến tu viện. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã quay trở lại trú xứ ấy lần nữa.
Các tỳ khưu ni (nghĩ rằng): “Các ngài đại đức đã đi đến” nên đã hỏi ý rồi đi vào tu viện và đã đi đến gặp các tỳ khưu ấy, sau khi đến đã đảnh lễ các tỳ khưu ấy rồi đứng ở một bên. Các vị tỳ khưu ấy đã nói với các tỳ khưu ni ấy đang đứng một bên điều này:—“Này các sư tỷ, tại sao các vị lại không quét tu viện cũng không đem lại nước uống nước rửa?”—“Thưa các ngài đại đức, điều học đã được đức Thế Tôn quy định rằng: ‘Khi chưa hỏi ý không được đi vào tu viện;’ vì thế chúng tôi đã không đến.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên) …
“Này các tỳ khưu, ta cho phép đi vào tu viện sau khi hỏi ý vị tỳ khưu hiện diện. Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy:
“Vị tỳ khưu ni nào khi chưa hỏi ý vị tỳ khưu hiện diện mà đi vào tu viện thì phạm tội pācittiya.”
Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu ni như thế.
Inda-bh 3Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu ấy sau khi đi khỏi trú xứ ấy đã quay trở lại trú xứ ấy lần nữa. Các tỳ khưu ni (nghĩ rằng): “Các ngài đại đức đã đi đến” nên đã đi vào tu viện khi chưa hỏi ý. Sự ngần ngại đã khởi lên cho các vị ni ấy: “Điều học đã được đức Thế Tôn quy định rằng: ‘Khi chưa hỏi ý vị tỳ khưu hiện diện không được đi vào tu viện;’ và chúng ta khi chưa hỏi ý vị tỳ khưu hiện diện mà đã đi vào tu viện, phải chăng chúng ta đã phạm tội pācittiya?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên) … Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy:
“Vị tỳ khưu ni nào trong khi biết tu viện có tỳ khưu, chưa hỏi ý lại đi vào thì phạm tội pācittiya.”
Inda-bh 4Vị ni nào : là bất cứ vị ni nào … (như trên) …
Tỳ khưu ni : … (như trên) … vị ni này là ‘vị tỳ khưu ni’ được đề cập trong ý nghĩa này.
Biết nghĩa là tự mình biết, hoặc các người khác thông báo cho vị ni ấy, hoặc các vị (tỳ khưu) ấy thông báo.
Tu viện có tỳ khưu nghĩa là nơi nào có các tỳ khưu cư ngụ cho dù ở gốc cây.
Chưa hỏi ý lại đi vào tu viện : khi chưa hỏi ý vị tỳ khưu hoặc vị sa di hoặc người phụ việc chùa, trong khi vượt qua hàng rào của tu viện được rào lại vị ni phạm tội pācittiya. Trong khi đi vào vùng phụ cận của tu viện không được rào lại vị ni phạm tội pācittiya.
Nơi có tỳ khưu, nhận biết là có tỳ khưu, vị ni đi vào tu viện khi chưa hỏi ý vị tỳ khưu hiện diện thì phạm tội pācittiya. Nơi có tỳ khưu, có sự hoài nghi, vị ni đi vào tu viện khi chưa hỏi ý vị tỳ khưu hiện diện thì phạm tội dukkaṭa. Nơi có tỳ khưu, (lầm) tưởng không có tỳ khưu, vị ni đi vào tu viện khi chưa hỏi ý vị tỳ khưu hiện diện thì vô tội.
Nơi không có tỳ khưu, (lầm) tưởng là có tỳ khưu, phạm tội dukkaṭa. Nơi không có tỳ khưu, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa. Nơi không có tỳ khưu, nhận biết là không có tỳ khưu thì vô tội.
Vị ni đi vào khi đã hỏi ý vị tỳ khưu hiện diện, khi không có vị tỳ khưu hiện diện vị ni đi vào không hỏi ý, vị ni đi nhìn theo đầu (các vị ni đi vào trước), vị ni đi vào nơi các tỳ khưu ni đang tụ hội, con đường băng ngang qua tu viện, vị ni bị bệnh, trong những lúc có sự cố, vị ni bị điên, … (như trên) … vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
Điều học thứ nhất.
Translated by Bhikkhu Indacanda . Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/ .
Used by kind permission of the translator.
Dấu “…” là lối viết tắt có từ chính bản gốc Pāli, gọi là peyyāla. Kinh tạng nguyên thuỷ vốn được tụng thuộc lòng, nên những đoạn lặp lại y nguyên ở bài trước thường được rút gọn lại bằng một dấu lược thay vì chép lại toàn văn. Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu giữ đúng lối ấy. Vì vậy có bài trông ngắn, nhưng đó là hình thức chuẩn mực của kinh điển chứ không phải app thiếu nội dung hay bản dịch bị cắt. Phần bị lược có thể đọc đầy đủ ở các bài liền trước trong cùng phẩm.
Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch bằng AI do Inti biên soạn: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.