Inti DharmaInti Dharma
← Kinh điển
Nguyên Thủy — Pāli Tạng · Trung Bộ Kinh

MN 116Tại Isigili

Tên Pāli / Sanskrit:Isigilisutta

📖1,032 từ · ~4 phút đọc
2
Tóm tắt

Suy ngẫm về những thay đổi mà ngay cả các địa hình cũng phải trải qua, Đức Phật kể lại tên những bậc hiền trí trong quá khứ từng cư trú tại núi Isigili gần Rājagaha.

Bản dịch đầy đủ (Tiếng Việt)

– Trung Bộ Kinh

116. Kinh Thôn tiên

Như vầy tôi nghe.

SC 1Một thời Thế Tôn trú tại Rājagaha (Vương Xá), trên núi Isigili (Thôn tiên). Ở đấy Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”:: “Bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau

SC 2—Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy núi Vebhāra (Phụ Trọng) này không?

SC 3—Thưa có thấy, bạch Thế Tôn.

SC 4—Này các Tỷ-kheo, đây chỉ là một danh xưng khác cho núi Vebhāra này, một tên gọi khác. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy núi Paṇḍava (Bạch Thiện) này không?

SC 5—Thưa có thấy, bạch Thế Tôn.

SC 6—Này các Tỷ-kheo, đây chỉ là một danh xưng khác cho núi Paṇḍava này, một tên gọi khác. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy núi Vepulla (Quảng Phổ) này không?

SC 7—Thưa có thấy, bạch Thế Tôn.

SC 8—Này các Tỷ-kheo, đây chỉ là một danh xưng khác cho núi Vepulla này, một tên gọi khác. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy núi Gijjhakūta (Linh Thứu) này không?

SC 9—Thưa có thấy, bạch Thế Tôn.

SC 10—Này các Tỷ-kheo, đây chỉ là một danh xưng khác cho núi Gijjhakūta này, một tên gọi khác. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy núi Isigili (Thôn tiên) này không?

SC 11—Thưa có thấy, bạch Thế Tôn.

SC 12—Này các Tỷ-kheo, đây chỉ là một danh xưng của núi Isigili, một tên gọi khác.

SC 13Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có năm trăm vị Độc Giác Phật sống trong một thời gian khá dài, trong núi Isigili này. Những vị ấy được thấy đi vào trong ngọn núi này, nhưng khi đi vào rồi thời không được thấy nữa. Quần chúng thấy vậy nói như sau: “Ngọn núi này nuốt những ẩn sĩ ấy (Ime Isi gilatiti) nên được danh xưng là Isigili. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ kể tên các vị Độc Giác Phật; này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết giảng tên các vị Độc Giác Phật. Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói.

SC 14—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

SC 15—Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, Thế Tôn nói như sau

SC 16— Ariṭṭha (A-lợi-sá), này các Tỷ-kheo, là tên vị Độc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này. Upariṭṭha (Bà-lợi-sá), này các Tỷ-kheo, là tên vị Độc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này. Tagarasikhī , này các Tỷ-kheo, là tên vị Độc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này.

Yasassi, này các Tỷ-kheo, là tên vị Độc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này. Sudassana (Thiện Kiến), này các Tỷ-kheo, là tên vị Độc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này. Piyadassī , này các Tỷ-kheo, là tên vị Độc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này.

Gandhara, này các Tỷ-kheo, là tên vị Độc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này. Piṇḍola , này các Tỷ-kheo, là tên vị Độc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này. Upasabha, này các Tỷ-kheo, là tên vị Độc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này.

Nitha, này các Tỷ-kheo, là tên vị Độc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này. Tatha, này các Tỷ-kheo, là tên vị Độc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này. Sutava, này các Tỷ-kheo, là tên vị Độc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này.

Bhavitatta, này các Tỷ-kheo, là tên vị Độc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này.

SC 17Chư hữu tình tinh hoa,

Không khổ, không tham ái,

Riêng tự mình chứng đắc,

Chánh Đẳng Giác (vô thượng).

Chư vị thượng thắng nhân,

Vượt ngoài mũi tên bắn,

Hãy lóng tai nghe kỹ,

Ta sẽ xướng danh hiệu:

SC 18Ariṭṭha , Upariṭṭha , Tagarasikhī , Yasassi

Sudassan, Phật Piyadassī

Gandhara, Piṇḍola ,

Upasabha, Nitha, Tatha, Sutava, Bhavitatta.

SC 19Sumbha, Subha, Methula,

Atthama, Athassumegha,

Anigha, Sudatha

Chư vị Độc Giác Phật,

Đoạn trừ nguồn tái sanh.

SC 20Hingu và Hinga

Chư vị Đại Uy lực,

Hai ẩn sĩ Jali

Rồi đến Aṭṭhaka ,

Đức Phật Kosala ,

Tiếp đến Subahu.

SC 21Ngài Upanemi, cả Ngài Nemi này,

Ngài Santacitta, các Ngài bậc Chân thực,

Sống như chân, ly trần,

Cũng là bậc Hiền triết.

SC 22Kāla , Upakala, Vijita, Jita

Anga, Panga và Gutijjita

Passi bỏ chấp thủ

Căn rễ của khổ đau.

SC 23Aparajita, đánh bại ma quân lực,

Satthà, Pavatta, Sarabhanga, Lomahansa,

Uccangamaya, Asita, Anasava,

Manomaya đoạn trừ được nạn,

Và Bandhuma,

Tadadhimutta vô cấu uế,

Và Ketuma.

SC 24Ketumbaraga và Matanga Ariya,

Accuta, Accutagama, Byamaka,

Sumangala, Dabbila, Supatitthita

Asayha, Khemabhirata và Sorata,

Durannaya, Sangha, rồi đến Ujjaya,

Rồi đến ẩn sĩ Sayha,

Với can đảm phi thường

Ānanda , Nanda, Upananda,

Tất cả là mười hai.

SC 25Bhāradvāja thọ trì thân cuối cùng,

Bodhi, Mahānāma , kể cả Bhāradvāja

Thượng thắng, có chóp tóc và đẹp trai,

Tissa, Upatissa, Upasidari

Đã đoạn hữu kiết sữ,

Và Sidari, đã đoạn trừ tham ái.

SC 26Đức Phật tên Mangala,

Với tham được đoạn trừ,

Usabha đã cắt lưới khổ căn

Upanita, vị chứng an tịnh đạo.

SC 27Uposatha, Sundara, Saccanama,

Jeta, Jayanta, Paduma, Uppala và

Padumuttara,

Rakkhita và Pabbata,

Manatthaddha, Sobhita, Vitaraga,

Và Đức Phật Kaṇha

Với tâm được giải thoát.

SC 28Những vị này, vị khác

Là những bậc Độc Giác,

Những bậc Đại Uy Lực,

Đã đoạn nguồn tái sanh.

SC 29Hãy đảnh lễ chư vị,

Đại Ẩn sĩ vô lượng,

Đã thắng mọi chiến trận,

Đã đạt bát Niết-bàn.

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử.

(Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995).

14-07-2004

Nguồn bản dịch: HT. Thích Minh ChâuGiấy phép: CC0-1.0 (Sujato) · personal-use (Minh Châu)Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh .🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch bằng AI do Inti biên soạn: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến