AN 1.188–197Chương Một
Tên Pāli / Sanskrit:Paṭhamavagga
– Aṅguttara Nikāya
– XIV . Phẩm Người Tối Thắng
1.188–197. Các Vị Tỷ Kheo
TTC 1—Trong các đệ tử Tỷ-kheo đã lâu ngày của Ta, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Anna Kondanno (A-nhã Kiều-trần-như).
TTC 2Trong các vị đệ tử… đại trí tuệ, tối thắng là Sàriputta.
TTC 3Trong các vị đệ tử… có thần thông, tối thắng là Mahàmoggalàna.
TTC 4Trong các vị đệ tử… thuyết về hạnh đầu đà, tối thắng là Mahàkassapa.
TTC 5Trong các vị đệ tử… thiên nhãn, tối thắng là Anuruddha.
TTC 6Trong các vị đệ tử… thuộc gia đình quý tộc, tối thắng là Bhaddiya Kàligodhàputta.
TTC 7Trong các vị đệ tử… có âm thanh vi diệu, tối thắng là Lakuntaka (người lùn) Bhaddiya.
TTC 8Trong các vị đệ tử… rống tiếng rống con sư tử, tối thắng là Pindola Bhàradvàja.
TTC 9Trong các vị đệ tử… thuyết pháp, tối thắng là Punna Mantàniputta.
TTC 10Trong các đệ tử Tỷ-kheo của Ta, thuyết giảng rộng rãi những điều được nói lên một cách vắn tắt, tối thắng là Mahàkaccàna.
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981 . Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Đại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24.
Dấu “…” là lối viết tắt có từ chính bản gốc Pāli, gọi là peyyāla. Kinh tạng nguyên thuỷ vốn được tụng thuộc lòng, nên những đoạn lặp lại y nguyên ở bài trước thường được rút gọn lại bằng một dấu lược thay vì chép lại toàn văn. Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu giữ đúng lối ấy. Vì vậy có bài trông ngắn, nhưng đó là hình thức chuẩn mực của kinh điển chứ không phải app thiếu nội dung hay bản dịch bị cắt. Phần bị lược có thể đọc đầy đủ ở các bài liền trước trong cùng phẩm.
Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch bằng AI do Inti biên soạn: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.