Inti DharmaInti Dharma
← Kinh điển
Nguyên Thủy — Pāli Tạng · Luận Tạng

Vb 2Phân Tích Xứ (Āyatanavibhaṅga) — Phân Tích số 2, Sách Phân Tích (Vibhaṅga)

Tên Pāli / Sanskrit:Āyatanavibhaṅga

📖8,195 từ · ~33 phút đọc
2
Diễn giải bởi Inti AI (Tiếng Việt)
🪷 AI diễn giải

– Sách Phân Tích

2. Phân Tích Xứ (Āyatana)

1. Phân Tích Theo Kinh Tạng

PTS cs 154BA 89 PTS vp 70 Mười hai xứ là: Nhãn xứ, sắc xứ, nhĩ xứ, thanh xứ, tỷ xứ, hương xứ, thiệt xứ, vị xứ, thân xứ, xúc xứ, ý xứ, pháp xứ.

Mắt là vô thường, khổ, vô ngã, là pháp biến hoại; các (đối tượng) thấy được là vô thường, khổ, vô ngã, là các pháp biến hoại. Tai là vô thường, khổ, vô ngã, là pháp biến hoại; các (đối tượng) nghe được là vô thường, khổ, vô ngã, là các pháp biến hoại. Mũi là vô thường, khổ, vô ngã, là pháp biến hoại; các (đối tượng) ngửi được là vô thường, khổ, vô ngã, là các pháp biến hoại. Lưỡi là vô thường, khổ, vô ngã, là pháp biến hoại; các (đối tượng) nếm được là vô thường, khổ, vô ngã, là các pháp biến hoại. Thân là vô thường, khổ, vô ngã, là pháp biến hoại; các (đối tượng) xúc chạm được là vô thường, khổ, vô ngã, là các pháp biến hoại. Ý là vô thường, khổ, vô ngã, là pháp biến hoại; các (đối tượng) của ý là vô thường, khổ, vô ngã, là các pháp biến hoại.

(Đây là phần kết thúc) Phân Tích Theo Kinh Tạng

2. Phân Tích Theo Vi Diệu Pháp (Abhidhamma)

PTS cs 155Mười hai xứ là: Nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, ý xứ, sắc xứ, thanh xứ, hương xứ, vị xứ, xúc xứ, pháp xứ.

PTS cs 156Trong đó, nhãn xứ là gì? Con mắt ấy, được phát sinh từ tứ đại (cattāro mahābhūtā), là mặt nhạy cảm thụ, bao gồm trong thân, không thấy được, hữu đối; PTS vp 71 do con mắt không thấy được hữu đối ấy mà BA 90 | (người ta) đã thấy, đang thấy, sẽ thấy hay có thể thấy đối tượng thấy được hữu đối, vô kiến; đây là mắt; đây là nhãn xứ; đây là nhãn giới; đây là nhãn căn (indriya); đây là một thế giới; đây là một môn; đây là một hải; đây là quang minh; đây là một ruộng (khetta); đây là nền tảng; đây là người dẫn đường; đây là sự dẫn đường; đây là bờ bên này; đây là làng trống. Đây gọi là nhãn xứ. (1)

PTS cs 157Trong đó, nhĩ xứ là gì? Cái tai ấy, được phát sinh từ tứ đại (cattāro mahābhūtā), là mặt nhạy cảm thụ, bao gồm trong thân, không thấy được, hữu đối; do cái tai không thấy được hữu đối ấy mà (người ta) đã nghe, đang nghe, sẽ nghe hay có thể nghe đối tượng thanh xứ không thấy được hữu đối; đây là tai; đây là nhĩ xứ; đây là nhĩ giới; đây là nhĩ căn (indriya); đây là một thế giới; đây là một môn; đây là một hải; đây là quang minh; đây là một ruộng (khetta); đây là nền tảng; đây là bờ bên này; đây là làng trống. Đây gọi là nhĩ xứ. (2)

PTS cs 158Trong đó, tỷ xứ là gì? Cái mũi ấy, được phát sinh từ tứ đại (cattāro mahābhūtā), là mặt nhạy cảm thụ, bao gồm trong thân, không thấy được, hữu đối; do cái mũi không thấy được hữu đối ấy mà (người ta) đã ngửi, đang ngửi, sẽ ngửi hay có thể ngửi đối tượng hương xứ không thấy được hữu đối; đây là mũi; đây là tỷ xứ; đây là tỷ giới; đây là tỷ căn (indriya); đây là một thế giới; đây là một môn; đây là một hải; đây là quang minh; đây là một ruộng (khetta); đây là nền tảng; đây là bờ bên này; đây là làng trống. Đây gọi là tỷ xứ. (3)

PTS cs 159Trong đó, thiệt xứ là gì? Cái lưỡi ấy, được phát sinh từ tứ đại (cattāro mahābhūtā), là mặt nhạy cảm thụ, bao gồm trong thân, không thấy được, hữu đối; do cái lưỡi không thấy được hữu đối ấy mà (người ta) đã nếm, đang nếm, sẽ nếm hay có thể nếm đối tượng vị xứ không thấy được hữu đối; đây là lưỡi; đây là thiệt xứ; đây là thiệt giới; đây là thiệt căn (indriya); đây là một thế giới; đây là một môn; đây là một hải; đây là quang minh; đây là một ruộng (khetta); đây là nền tảng; đây là bờ bên này; đây là làng trống. Đây gọi là thiệt xứ. (4)

PTS cs 160Trong đó, thân xứ là gì? Cái thân ấy, được phát sinh từ tứ đại (cattāro mahābhūtā), là mặt nhạy cảm thụ, bao gồm trong thân, không thấy được, hữu đối; do cái thân không thấy được hữu đối ấy mà (người ta) đã xúc chạm, đang xúc chạm, sẽ xúc chạm hay có thể xúc chạm đối tượng xúc xứ không thấy được hữu đối; đây là thân; đây là thân xứ; đây là thân BA 91 | giới; đây là thân căn (indriya); đây là một thế giới; đây là một môn; đây là một hải; đây là quang minh; đây là một ruộng (khetta); đây là nền tảng; đây là bờ bên này; đây là làng trống. Đây gọi là thân xứ. (5)

PTS cs 161Trong đó, ý xứ là gì? Ý xứ theo phân chia một phần: Tương ưng với xúc (phassa).

Ý xứ theo phân chia hai phần: Có căn (mūla) đi kèm; không có căn đi kèm.

Ý xứ theo phân chia ba phần: Là thiện; là bất thiện; là vô ký (abyākata).

Ý xứ theo phân chia bốn phần: Thuộc tính của dục giới; thuộc tính của sắc giới; thuộc tính của vô sắc giới; không được bao gồm (tức là siêu thế).

Ý xứ theo phân chia năm phần: Tương ưng với lạc căn (thể xác); tương ưng với khổ căn (thể xác); tương ưng với hỷ căn (tâm lý); tương ưng với ưu căn (tâm lý); tương ưng với xả căn.

Ý xứ theo phân chia sáu phần: Nhãn thức; nhĩ thức; tỷ thức; thiệt thức; thân thức; ý thức. Đây là ý xứ theo phân chia sáu phần.

Ý xứ theo phân chia bảy phần: Nhãn thức; nhĩ thức; tỷ thức; thiệt thức; thân thức; ý giới; ý thức giới. Đây là ý xứ theo phân chia bảy phần.

Ý xứ theo phân chia tám phần: Nhãn thức; nhĩ thức; tỷ thức; thiệt thức; thân thức đi kèm với lạc, đi kèm với khổ; ý giới; ý thức giới. Đây là ý xứ theo phân chia tám phần.

Ý xứ theo phân chia chín phần: Nhãn thức; nhĩ thức; tỷ thức; thiệt thức; thân thức; ý giới; ý thức giới là thiện, là bất thiện, là vô ký. Đây là ý xứ theo phân chia chín phần.

Ý xứ theo phân chia mười phần: Nhãn thức; nhĩ thức; tỷ thức; thiệt thức; thân BA 92 | thức đi kèm với lạc, đi kèm với khổ; ý giới; ý thức giới là thiện, là bất thiện, là vô ký. Đây là ý xứ theo phân chia mười phần. PTS vp 72

Ý xứ theo phân chia một phần: Tương ưng với xúc (phassa).

Ý xứ theo phân chia hai phần: Có căn đi kèm; không có căn đi kèm.

Ý xứ theo phân chia ba phần: Tương ưng với lạc thọ; tương ưng với khổ thọ; tương ưng với phi khổ phi lạc thọ.* Đây là ý xứ theo phân chia đa phần. Đây gọi là ý xứ. (6)

– Xem các đoạn 122 – 149 kể cả.

PTS cs 162Trong đó, sắc xứ là gì? Đối tượng thấy được ấy, được phát sinh từ tứ đại (cattāro mahābhūtā), có hình sắc hiển hiện, thấy được, hữu đối, xanh, vàng, đỏ, trắng, đen, tía, lục, màu vàng kim, màu của nụ xoài, dài, ngắn, nhỏ, lớn, hình tròn, hình cầu, hình vuông, hình lục giác, hình bát giác, mười sáu góc, thấp, cao, có bóng, rực rỡ, sáng, tối, mờ đục, mù sương, đầy khói, phủ bụi, có hình sắc hiển hiện của đĩa mặt trăng, có hình sắc hiển hiện của đĩa mặt trời, có hình sắc hiển hiện của các thiên thể, có hình sắc hiển hiện của đĩa gương, có hình sắc hiển hiện của đá quý, vỏ sò, ngọc trai, mắt mèo, có hình sắc hiển hiện của vàng và bạc; hay bất cứ đối tượng thấy được nào khác, được phát sinh từ tứ đại (cattāro mahābhūtā), có hình sắc hiển hiện, thấy được, hữu đối;

đối tượng thấy được hữu đối ấy mà (người ta) đã thấy, đang thấy, sẽ thấy hay có thể thấy bằng con mắt không thấy được hữu đối; đây là (đối tượng) thấy được; đây là sắc xứ; đây là sắc giới.

Đây gọi là sắc xứ. (7)

PTS cs 163Trong đó, thanh xứ là gì? Âm thanh ấy, được phát sinh từ tứ đại (cattāro mahābhūtā), không thấy được, hữu đối, tiếng trống, tiếng trống nhỏ, tiếng tù và, tiếng trống lớn, tiếng hát, tiếng nhạc, tiếng chũm chọe, tiếng vỗ tay, tiếng của các loài hữu tình, tiếng va chạm của các vật, tiếng gió, tiếng nước, tiếng người, tiếng phi nhân; hay bất cứ âm thanh nào khác, được phát sinh từ tứ đại (cattāro mahābhūtā), không thấy được, hữu đối; đối tượng thanh xứ không thấy được hữu đối ấy mà (người ta) đã nghe, đang nghe, sẽ nghe hay có thể nghe bằng cái tai không thấy được BA 93 | hữu đối; đây là (đối tượng) nghe được; đây là thanh xứ; đây là thanh giới. Đây gọi là thanh xứ. (8)

PTS cs 164Trong đó, hương xứ là gì? Mùi hương ấy, được phát sinh từ tứ đại (cattāro mahābhūtā), không thấy được, hữu đối, mùi hương của rễ cây, mùi hương của nhựa cây, mùi hương của vỏ cây, mùi hương của lá cây, mùi hương của hoa, mùi hương của quả, mùi của vật sống, mùi hôi thối, mùi thơm, mùi khó chịu; hay bất cứ mùi hương nào khác, được phát sinh từ tứ đại (cattāro mahābhūtā), không thấy được, hữu đối; đối tượng hương xứ không thấy được hữu đối ấy mà (người ta) đã ngửi, đang ngửi, sẽ ngửi hay có thể ngửi bằng cái mũi không thấy được hữu đối; đây là (đối tượng) ngửi được; đây là hương xứ; đây là hương giới. Đây gọi là hương xứ. (9)

PTS cs 165Trong đó, vị xứ là gì? Vị ấy, được phát sinh từ tứ đại (cattāro mahābhūtā), không thấy được, hữu đối, vị của rễ cây, vị của thân cây, vị của vỏ cây, vị của lá cây, vị của hoa, vị của quả, chua, ngọt, đắng, cay, mặn, chát, ngọt hăng, hăng, ngon, dở; hay bất cứ vị nào khác, được phát sinh từ tứ đại (cattāro mahābhūtā), không thấy được, hữu đối; đối tượng vị xứ không thấy được hữu đối ấy mà (người ta) đã nếm, đang nếm, sẽ nếm hay có thể nếm bằng cái lưỡi không thấy được hữu đối; đây là (đối tượng) nếm được; đây là vị xứ; đây là vị giới. Đây gọi là vị xứ. (10)

PTS cs 166Trong đó, xúc xứ là gì? Địa giới (dhātu), hỏa giới (dhātu), phong giới (dhātu), cứng, mềm, trơn, nhám, xúc lạc, xúc khổ, nặng, nhẹ; đối tượng xúc xứ không thấy được hữu đối ấy mà (người ta) đã xúc chạm, đang xúc chạm, sẽ xúc chạm hay có thể xúc chạm bằng thân không thấy được hữu đối; đây là (đối tượng) xúc chạm được; đây là xúc xứ; đây là xúc giới. Đây gọi là xúc xứ. (11)

PTS cs 167Trong đó, pháp xứ là gì? Thọ uẩn (khandha), tưởng uẩn (khandha), hành uẩn (khandha) và sắc pháp không thấy được, vô đối bao gồm trong pháp xứ; vô vi giới (asaṅkhata dhātu).

Trong đó, thọ uẩn là gì? Thọ uẩn theo phân chia một phần: Tương ưng với xúc (phassa). BA 94 | Thọ uẩn theo phân chia hai phần: Có căn đi kèm; không có căn đi kèm. Thọ uẩn theo phân chia ba phần: Là thiện; là bất thiện; là vô ký (abyākata).* Đây là thọ uẩn theo phân chia mười phần. Đây là thọ uẩn theo phân chia đa phần. Đây gọi là thọ uẩn. (1)

– Xem các đoạn 34 – 61 kể cả.

Trong đó, tưởng uẩn là gì? Tưởng uẩn theo phân chia một phần: Tương ưng với xúc (phassa). Tưởng uẩn theo phân chia hai phần: Có căn đi kèm; không có căn đi kèm. Tưởng uẩn theo phân chia ba phần: Là thiện; là bất thiện; là vô ký (abyākata). Đây là tưởng uẩn theo phân chia mười phần. 2 Đây là tưởng uẩn theo phân chia đa phần. Đây gọi là tưởng uẩn. (2)

– Xem đoạn 62.

– 2 Xem các đoạn 63 – 91 kể cả.

Trong đó, hành uẩn là gì? Hành uẩn theo phân chia một phần: Tương ưng với thức. Hành uẩn theo phân chia hai phần: Là căn (mūla); không là căn. Hành uẩn theo phân chia ba phần: Là thiện; là bất thiện; là vô ký (abyākata). Đây là hành uẩn theo phân chia mười phần. 2 Đây là hành uẩn theo phân chia đa phần. Đây gọi là hành uẩn. (3)

– Xem đoạn 92.

– 2 Xem các đoạn 93 – 120 kể cả.

Trong đó, sắc pháp không thấy được, vô đối bao gồm trong pháp xứ là gì? Nữ căn (indriya), nam căn (indriya);* đoàn thực (kabaliṅkārāhāra). Đây gọi là sắc pháp không thấy được, vô đối bao gồm trong pháp xứ. (4)

– Xem Dhammasaṅgaṇī đoạn 595.

Trong đó, vô vi giới (asaṅkhata dhātu) là gì? PTS vp 73 Đoạn diệt tham; đoạn diệt sân; đoạn diệt si. Đây gọi là vô vi giới (asaṅkhata dhātu). (5)

Đây gọi là pháp xứ.

(Đây là phần kết thúc) Phân Tích Theo Vi Diệu Pháp

3. Vấn Đáp

PTS cs 168BA 95 Mười hai xứ là: Nhãn xứ, sắc xứ, nhĩ xứ, thanh xứ, tỷ xứ, hương xứ, thiệt xứ, vị xứ, thân xứ, xúc xứ, ý xứ, pháp xứ.

PTS cs 169Trong mười hai xứ, bao nhiêu xứ là thiện; bao nhiêu xứ là bất thiện; bao nhiêu xứ là vô ký (abyākata).* Bao nhiêu xứ có nhân đáng lo ngại; bao nhiêu xứ không có nhân đáng lo ngại?

– Các bộ ba và bộ đôi thích hợp còn lại.

1. Các Bộ Ba

PTS cs 170Mười xứ là vô ký (abyākata). Hai xứ đôi khi là thiện; đôi khi là bất thiện; đôi khi là vô ký (abyākata). Mười xứ không thể nói là tương ưng với lạc thọ; tương ưng với khổ thọ hay tương ưng với phi khổ phi lạc thọ. Ý xứ đôi khi tương ưng với lạc thọ; đôi khi tương ưng với khổ thọ; đôi khi tương ưng với phi khổ phi lạc thọ. Pháp xứ đôi khi tương ưng với lạc thọ; đôi khi tương ưng với khổ thọ; đôi khi tương ưng với phi khổ phi lạc thọ; đôi khi không thể nói là tương ưng với lạc thọ; tương ưng với khổ thọ hay tương ưng với phi khổ phi lạc thọ. Mười xứ không phải là quả dị thục và không sinh quả. Hai xứ đôi khi là quả dị thục; đôi khi sinh quả; đôi khi không phải là quả dị thục và không sinh quả.

Năm xứ bị chấp thủ (bởi ái và tà kiến), là đối tượng của thủ. Thanh xứ không bị chấp thủ, là đối tượng của thủ. Bốn xứ đôi khi bị chấp thủ, là đối tượng của thủ; đôi khi không bị chấp thủ, là đối tượng của thủ.

Hai xứ đôi khi bị chấp thủ, là đối tượng của thủ; đôi khi không bị chấp thủ, là đối tượng của thủ; đôi khi không bị chấp thủ, không là đối tượng của thủ. Mười xứ không ô nhiễm, là đối tượng của các ô nhiễm. Hai xứ đôi khi ô nhiễm, là đối tượng của các ô nhiễm; đôi khi không ô nhiễm, là đối tượng của các ô nhiễm; đôi khi không ô nhiễm, không là đối tượng của các ô nhiễm.

Mười xứ BA 96 | không có tầm (vitakka), không có tứ (vicāra). Ý xứ đôi khi đi kèm tầm (vitakka), đi kèm tứ (vicāra); đôi khi không có tầm, chỉ có tứ; đôi khi không có tầm, không có tứ. Pháp xứ đôi khi đi kèm tầm (vitakka), đi kèm tứ (vicāra); đôi khi không có tầm, chỉ có tứ; đôi khi không có tầm, không có tứ; đôi khi không thể nói là đi kèm tầm, đi kèm tứ; không có tầm, chỉ có tứ hay không có tầm, không có tứ.

Mười xứ không thể nói là đi kèm hỷ; đi kèm lạc hay đi kèm xả. Hai xứ đôi khi đi kèm hỷ; PTS vp 74 đôi khi đi kèm lạc; đôi khi đi kèm xả; đôi khi không thể nói là đi kèm hỷ; đi kèm lạc hay đi kèm xả.

Mười xứ không bị đoạn trừ bởi Tu-đà-hoàn đạo hay bởi các đạo tiếp theo. Hai xứ đôi khi bị đoạn trừ bởi Tu-đà-hoàn đạo; đôi khi bị đoạn trừ bởi các đạo tiếp theo; đôi khi không bị đoạn trừ bởi Tu-đà-hoàn đạo hay bởi các đạo tiếp theo. Mười xứ không có căn (mūla) bị đoạn trừ bởi Tu-đà-hoàn đạo hay bởi các đạo tiếp theo.

Hai xứ đôi khi có căn bị đoạn trừ bởi Tu-đà-hoàn đạo; đôi khi có căn bị đoạn trừ bởi các đạo tiếp theo; đôi khi không có căn bị đoạn trừ bởi Tu-đà-hoàn đạo hay bởi các đạo tiếp theo. Mười xứ không tích lũy và không tiêu tan (sự tái sinh tử). Hai xứ đôi khi tích lũy; đôi khi tiêu tan; đôi khi không tích lũy và không tiêu tan.

Mười xứ không thuộc bảy thánh vị siêu thế và không thuộc thánh vị siêu thế cuối cùng (A-la-hán). Hai xứ đôi khi thuộc bảy thánh vị siêu thế; đôi khi thuộc thánh vị siêu thế cuối cùng (A-la-hán); đôi khi không thuộc bảy thánh vị siêu thế và không thuộc thánh vị siêu thế cuối cùng (A-la-hán). Mười xứ là thấp.

Hai xứ đôi khi thấp; đôi khi cao thượng; đôi khi vô lượng. Mười xứ không có đối tượng. Hai xứ đôi khi có đối tượng thấp; đôi khi có đối tượng cao thượng; đôi khi có đối tượng vô lượng; đôi khi không thể nói là có đối tượng thấp; đối tượng cao thượng hay đối tượng vô lượng.

Mười xứ BA 97 | là trung bình. Hai xứ đôi khi là hạ liệt; đôi khi là trung bình; đôi khi là thù thắng. Mười xứ không có thời gian quả định sẵn.

Hai xứ đôi khi là tà (các trạng thái) có thời gian quả định sẵn; đôi khi là chánh (các trạng thái) có thời gian quả định sẵn; đôi khi không có thời gian quả định sẵn.

Mười xứ không có đối tượng. Hai xứ đôi khi có đạo là đối tượng; đôi khi có đạo là nhân; đôi khi có đạo là tăng thượng; đôi khi không thể nói là có đạo là đối tượng; đạo là nhân hay đạo là tăng thượng. Năm xứ đôi khi đã sinh; đôi khi sẽ sinh; không thể nói là chưa sinh.

Thanh xứ đôi khi đã sinh; đôi khi chưa sinh; không thể nói là sẽ sinh. Năm xứ đôi khi đã sinh; đôi khi chưa sinh; đôi khi sẽ sinh. Pháp xứ đôi khi đã sinh; đôi khi chưa sinh; đôi khi sẽ sinh; đôi khi không thể nói là đã sinh; chưa sinh hay sẽ sinh.

Mười một xứ đôi khi là quá khứ; đôi khi là vị lai; đôi khi là hiện tại. Pháp xứ đôi khi là quá khứ; đôi khi là vị lai; đôi khi là hiện tại; đôi khi không thể nói là quá khứ; vị lai hay hiện tại. Mười xứ không có đối tượng.

Hai xứ đôi khi có đối tượng quá khứ; đôi khi có đối tượng vị lai; đôi khi có đối tượng hiện tại; đôi khi PTS vp 75 không thể nói là có đối tượng quá khứ; đối tượng vị lai hay đối tượng hiện tại. (Tất cả xứ) Đôi khi là nội phần; đôi khi là ngoại phần; đôi khi là cả nội phần lẫn ngoại phần. Mười xứ không có đối tượng. Hai xứ đôi khi có đối tượng nội phần; đôi khi có đối tượng ngoại phần; đôi khi có đối tượng cả nội phần lẫn ngoại phần; đôi khi không thể nói là có đối tượng nội phần; đối tượng ngoại phần hay đối tượng cả nội phần lẫn ngoại phần.

Sắc xứ thấy được, hữu đối. Chín xứ không thấy được, hữu đối. Hai xứ không thấy được, vô đối.

2. Các Bộ Đôi

PTS cs 171Mười một xứ không phải là căn (mūla). Pháp xứ đôi khi là căn; đôi khi không là căn. Mười xứ không đi kèm với căn.

Hai xứ đôi khi đi kèm với căn; đôi khi không đi kèm với căn. Mười xứ không tương ưng với căn. Hai xứ đôi khi tương ưng với căn; đôi khi không tương ưng với căn.

Mười xứ không thể nói là vừa là căn BA 98 | vừa đi kèm với căn, hay đi kèm với căn nhưng không là căn. Ý xứ không thể nói là vừa là căn vừa đi kèm với căn; (nó) đôi khi đi kèm với căn nhưng không là căn; đôi khi không thể nói là đi kèm với căn nhưng không là căn. Pháp xứ đôi khi vừa là căn vừa đi kèm với căn; đôi khi đi kèm với căn nhưng không là căn; đôi khi không thể nói là vừa là căn vừa đi kèm với căn, hay đi kèm với căn nhưng không là căn.

Mười xứ không thể nói là vừa là căn vừa tương ưng với căn, hay tương ưng với căn nhưng không là căn. Ý xứ không thể nói là vừa là căn vừa tương ưng với căn; (nó) đôi khi tương ưng với căn nhưng không là căn; đôi khi không thể nói là tương ưng với căn nhưng không là căn. Pháp xứ đôi khi vừa là căn vừa tương ưng với căn; đôi khi tương ưng với căn nhưng không là căn; đôi khi không thể nói là vừa là căn vừa tương ưng với căn, hay tương ưng với căn nhưng không là căn.

Mười xứ không là căn, không đi kèm với căn. Ý xứ đôi khi không là căn, đi kèm với căn; đôi khi không là căn, không đi kèm với căn. Pháp xứ đôi khi không là căn, đi kèm với căn; đôi khi không là căn, không đi kèm với căn; đôi khi không thể nói là không là căn, đi kèm với căn hay không là căn, không đi kèm với căn. (1)

Mười một xứ có nhân. Pháp xứ đôi khi có nhân; đôi khi không có nhân. Mười một xứ là hữu vi. Pháp xứ đôi khi là hữu vi; đôi khi là vô vi. Sắc xứ thấy được. PTS vp 76 Mười một xứ không thấy được. Mười xứ hữu đối. Hai xứ vô đối. Mười xứ là sắc pháp. Ý xứ không là sắc pháp. Pháp xứ đôi khi là sắc pháp; đôi khi không là sắc pháp. Mười xứ là thế gian. Hai xứ đôi khi là thế gian; đôi khi là siêu thế. (Tất cả xứ) Được nhận biết theo một cách; không được nhận biết theo cách khác. (2)

Mười một xứ không phải là ô nhiễm (phiền não). Pháp xứ đôi khi là ô nhiễm; đôi khi không là ô nhiễm. Mười xứ là đối tượng của các ô nhiễm.

Hai xứ đôi khi là đối tượng của các ô nhiễm; đôi khi không là đối tượng của các ô nhiễm. Mười xứ không tương ưng với các ô nhiễm. Hai xứ đôi khi tương ưng với các ô nhiễm; đôi khi không tương ưng với các ô nhiễm.

Mười xứ không thể nói là vừa là ô nhiễm vừa là đối tượng của các ô nhiễm; BA 99 | (chúng) là đối tượng của các ô nhiễm nhưng không là ô nhiễm. Ý xứ không thể nói là vừa là ô nhiễm vừa là đối tượng của các ô nhiễm; (nó) đôi khi là đối tượng của các ô nhiễm nhưng không là ô nhiễm; đôi khi không thể nói là đối tượng của các ô nhiễm nhưng không là ô nhiễm. Pháp xứ đôi khi vừa là ô nhiễm vừa là đối tượng của các ô nhiễm; đôi khi là đối tượng của các ô nhiễm nhưng không là ô nhiễm; đôi khi không thể nói là vừa là ô nhiễm vừa là đối tượng của các ô nhiễm hay là đối tượng của các ô nhiễm nhưng không là ô nhiễm.

Mười xứ không thể nói là vừa là ô nhiễm vừa tương ưng với các ô nhiễm, hay tương ưng với các ô nhiễm nhưng không là ô nhiễm. Ý xứ không thể nói là vừa là ô nhiễm vừa tương ưng với các ô nhiễm; (nó) đôi khi tương ưng với các ô nhiễm nhưng không là ô nhiễm; đôi khi không thể nói là tương ưng với các ô nhiễm nhưng không là ô nhiễm. Pháp xứ đôi khi vừa là ô nhiễm vừa tương ưng với các ô nhiễm; đôi khi tương ưng với các ô nhiễm nhưng không là ô nhiễm; đôi khi không thể nói là vừa là ô nhiễm vừa tương ưng với các ô nhiễm hay tương ưng với các ô nhiễm nhưng không là ô nhiễm.

Mười xứ không tương ưng với các ô nhiễm, là đối tượng của các ô nhiễm. Hai xứ đôi khi không tương ưng với các ô nhiễm, là đối tượng của các ô nhiễm; đôi khi không tương ưng với các ô nhiễm, không là đối tượng của các ô nhiễm; đôi khi không thể nói là không tương ưng với các ô nhiễm, là đối tượng của các ô nhiễm hay không tương ưng với các ô nhiễm, không là đối tượng của các ô nhiễm. (3)

Mười một xứ không phải là kiết sử (saṃyojana). Pháp xứ đôi khi là kiết sử; đôi khi không là kiết sử. Mười xứ là đối tượng của các kiết sử.

Hai xứ đôi khi là đối tượng của các kiết sử; đôi khi không là đối tượng của các kiết sử. Mười xứ không tương ưng với các kiết sử. Hai xứ đôi khi tương ưng với các kiết sử; đôi khi không tương ưng với các kiết sử.

Mười xứ không thể nói là vừa là kiết sử vừa là đối tượng của các kiết sử; (chúng) là đối tượng của các kiết sử nhưng không là kiết sử. Ý xứ không thể nói là vừa là kiết sử vừa là đối tượng của các kiết sử; (nó) đôi khi là đối tượng của các kiết sử nhưng không là kiết sử; đôi khi không thể nói là đối tượng của các kiết sử nhưng không là kiết sử. Pháp xứ đôi khi vừa là kiết sử vừa là đối tượng của các kiết sử; đôi khi là đối tượng của các kiết sử nhưng không là kiết sử; đôi khi không thể nói là vừa là kiết sử vừa là đối tượng của các kiết sử hay là đối tượng của các kiết sử nhưng không là kiết sử.

BA 100 | Mười xứ không thể nói là vừa là kiết sử vừa tương ưng với các kiết sử, hay tương ưng với các kiết sử nhưng không là kiết sử. PTS vp 77 Ý xứ không thể nói là vừa là kiết sử vừa tương ưng với các kiết sử; (nó) đôi khi tương ưng với các kiết sử nhưng không là kiết sử; đôi khi không thể nói là tương ưng với các kiết sử nhưng không là kiết sử. Pháp xứ đôi khi vừa là kiết sử vừa tương ưng với các kiết sử; đôi khi tương ưng với các kiết sử nhưng không là kiết sử; đôi khi không thể nói là vừa là kiết sử vừa tương ưng với các kiết sử hay tương ưng với các kiết sử nhưng không là kiết sử.

Mười xứ không tương ưng với các kiết sử, là đối tượng của các kiết sử. Hai xứ đôi khi không tương ưng với các kiết sử, là đối tượng của các kiết sử; đôi khi không tương ưng với các kiết sử, không là đối tượng của các kiết sử; đôi khi không thể nói là không tương ưng với các kiết sử, là đối tượng của các kiết sử hay không tương ưng với các kiết sử, không là đối tượng của các kiết sử. (4)

Mười một xứ không phải là phược (yoga). Pháp xứ đôi khi là phược; đôi khi không là phược. Mười xứ là đối tượng của các phược.

Hai xứ đôi khi là đối tượng của các phược; đôi khi không là đối tượng của các phược. Mười xứ không tương ưng với các phược. Hai xứ đôi khi tương ưng với các phược; đôi khi không tương ưng với các phược.

Mười xứ không thể nói là vừa là phược vừa là đối tượng của các phược; (chúng) là đối tượng của các phược nhưng không là phược. Ý xứ không thể nói là vừa là phược vừa là đối tượng của các phược; (nó) đôi khi là đối tượng của các phược nhưng không là phược; đôi khi không thể nói là đối tượng của các phược nhưng không là phược. Pháp xứ đôi khi vừa là phược vừa là đối tượng của các phược; đôi khi là đối tượng của các phược nhưng không là phược; đôi khi không thể nói là vừa là phược vừa là đối tượng của các phược hay là đối tượng của các phược nhưng không là phược.

Mười xứ không thể nói là vừa là phược vừa tương ưng với các phược, hay tương ưng với các phược nhưng không là phược. Ý xứ không thể nói là vừa là phược vừa tương ưng với các phược; (nó) đôi khi tương ưng với các phược nhưng không là phược; đôi khi không thể nói là tương ưng với các phược nhưng không là phược. Pháp xứ đôi khi vừa là phược vừa tương ưng với các phược; đôi khi tương ưng với các phược nhưng không là phược; đôi khi không thể nói là vừa là phược vừa tương ưng với các phược hay tương ưng với các phược nhưng không là phược.

Mười xứ không tương ưng với các phược, là đối tượng của các phược. Hai xứ đôi khi không tương ưng với các phược, là đối tượng của các phược; đôi khi không tương ưng với các phược, không là đối tượng của các phược; đôi khi không thể nói là không tương ưng với các phược, BA 101 | là đối tượng của các phược hay không tương ưng với các phược, không là đối tượng của các phược. (5)

Mười một xứ không phải là bộc lưu (ogha). Không phải là ách (gantha). Không phải là triền cái (nīvaraṇa). Pháp xứ đôi khi là triền cái; đôi khi không là triền cái. Mười xứ là đối tượng của các triền cái.

Hai xứ PTS vp 78 đôi khi là đối tượng của các triền cái; đôi khi không là đối tượng của các triền cái. Mười xứ không tương ưng với các triền cái. Hai xứ đôi khi tương ưng với các triền cái; đôi khi không tương ưng với các triền cái.

Mười xứ không thể nói là vừa là triền cái vừa là đối tượng của các triền cái; (chúng) là đối tượng của các triền cái nhưng không là triền cái. Ý xứ không thể nói là vừa là triền cái vừa là đối tượng của các triền cái; (nó) đôi khi là đối tượng của các triền cái nhưng không là triền cái; đôi khi không thể nói là đối tượng của các triền cái nhưng không là triền cái. Pháp xứ đôi khi vừa là triền cái vừa là đối tượng của các triền cái; đôi khi là đối tượng của các triền cái nhưng không là triền cái; đôi khi không thể nói là vừa là triền cái vừa là đối tượng của các triền cái hay là đối tượng của các triền cái nhưng không là triền cái.

Mười xứ không thể nói là vừa là triền cái vừa tương ưng với các triền cái, hay tương ưng với các triền cái nhưng không là triền cái. Ý xứ không thể nói là vừa là triền cái vừa tương ưng với các triền cái; (nó) đôi khi tương ưng với các triền cái nhưng không là triền cái; đôi khi không thể nói là tương ưng với các triền cái nhưng không là triền cái. Pháp xứ đôi khi vừa là triền cái vừa tương ưng với các triền cái; đôi khi tương ưng với các triền cái nhưng không là triền cái; đôi khi không thể nói là vừa là triền cái vừa tương ưng với các triền cái hay tương ưng với các triền cái nhưng không là triền cái.

Mười xứ không tương ưng với các triền cái, là đối tượng của các triền cái. Hai xứ đôi khi không tương ưng với các triền cái, là đối tượng của các triền cái; đôi khi không tương ưng với các triền cái, không là đối tượng của các triền cái; đôi khi không thể nói là không tương ưng với các triền cái, là đối tượng của các triền cái hay không tương ưng với các triền cái, không là đối tượng của các triền cái. (8)

– Hoàn chỉnh tương tự như đối với triền cái.

Mười một xứ không phải là điên đảo (vipallāsa). Pháp xứ đôi khi là điên đảo; đôi khi không là điên đảo. Mười xứ là đối tượng của các điên đảo.

Hai xứ đôi khi là đối tượng của các điên đảo; BA 102 | đôi khi không là đối tượng của các điên đảo. Mười xứ không tương ưng với các điên đảo. Ý xứ đôi khi tương ưng với các điên đảo; đôi khi không tương ưng với các điên đảo.

Pháp xứ đôi khi tương ưng với các điên đảo; đôi khi không tương ưng với các điên đảo; đôi khi không thể nói là tương ưng với các điên đảo hay không tương ưng với các điên đảo. Mười xứ không thể nói là vừa là điên đảo vừa là đối tượng của các điên đảo; (chúng) là đối tượng của các điên đảo nhưng không là điên đảo. Ý xứ không thể nói là vừa là điên đảo vừa là đối tượng của các điên đảo; (nó) đôi khi là đối tượng của các điên đảo nhưng không là điên đảo; đôi khi không thể nói là đối tượng của các điên đảo nhưng không là điên đảo.

Pháp xứ đôi khi vừa là điên đảo vừa là đối tượng của các điên đảo; đôi khi là đối tượng của các điên đảo nhưng không là điên đảo; đôi khi không thể nói là vừa là điên đảo vừa là đối tượng của các điên đảo hay là đối tượng của các điên đảo nhưng không là điên đảo. Mười xứ không tương ưng với các điên đảo, là đối tượng của các điên đảo. Hai xứ đôi khi không tương ưng với các điên đảo, là đối tượng của các điên đảo; đôi khi không tương ưng với các điên đảo, không là đối tượng của các điên đảo; đôi khi không thể nói là PTS vp 79 không tương ưng với các điên đảo, là đối tượng của các điên đảo hay không tương ưng với các điên đảo, không là đối tượng của các điên đảo. (9)

Mười xứ không có đối tượng. Ý xứ có đối tượng. Pháp xứ đôi khi có đối tượng; đôi khi không có đối tượng.

Ý xứ là thức. Mười một xứ không là thức. Mười một xứ không là tâm sở.

Pháp xứ đôi khi là tâm sở; đôi khi không là tâm sở. Mười xứ không tương ưng với thức. Pháp xứ đôi khi tương ưng với thức; đôi khi không tương ưng với thức.

Ý xứ không thể nói là tương ưng với thức hay không tương ưng với thức. Mười xứ không cùng sinh khởi với thức. Pháp xứ đôi khi cùng sinh khởi với thức; đôi khi không cùng sinh khởi với thức.

Ý xứ không thể nói là cùng sinh khởi với thức hay không cùng sinh khởi với thức. Sáu xứ không được tạo ra bởi thức. Sáu xứ đôi khi được tạo ra bởi thức; đôi khi không được tạo ra bởi thức.

Mười một xứ không đồng tồn tại với thức. Pháp xứ đôi khi đồng tồn tại với thức; đôi khi không đồng BA 103 | tồn tại với thức. Mười một xứ không đi cùng với thức.

Pháp xứ đôi khi đi cùng với thức; đôi khi không đi cùng với thức. Mười một xứ không cùng sinh khởi với, không được tạo ra bởi thức. Pháp xứ đôi khi cùng sinh khởi với, được tạo ra bởi thức; đôi khi không cùng sinh khởi với, không được tạo ra bởi thức.

Mười một xứ không cùng sinh khởi với, không được tạo ra bởi, không đồng tồn tại với thức. Pháp xứ đôi khi cùng sinh khởi với, được tạo ra bởi, đồng tồn tại với thức; đôi khi không cùng sinh khởi với, không được tạo ra bởi, không đồng tồn tại với thức. Mười một xứ không cùng sinh khởi với, không được tạo ra bởi, không đi cùng với thức.

Pháp xứ đôi khi cùng sinh khởi với, được tạo ra bởi, đi cùng với thức; đôi khi không cùng sinh khởi với, không được tạo ra bởi, không đi cùng với thức. (10)

Sáu xứ là nội phần. Sáu xứ là ngoại phần. Chín xứ là phái sinh.

Hai xứ không là phái sinh. Pháp xứ đôi khi là phái sinh; đôi khi không là phái sinh. Năm xứ bị chấp thủ (bởi ái và tà kiến).

Thanh xứ không bị chấp thủ. Sáu xứ đôi khi bị chấp thủ; đôi khi không bị chấp thủ. Mười một xứ không phải là thủ.

Pháp xứ đôi khi là thủ; đôi khi không là thủ. Mười xứ là đối tượng của các thủ. Hai xứ đôi khi là đối tượng của các thủ; đôi khi không là đối tượng của các thủ.

Mười xứ không tương ưng với các thủ. Hai xứ đôi khi tương ưng với các thủ; đôi khi không tương ưng với các thủ. Mười xứ không thể nói là vừa là thủ vừa là đối tượng của các thủ; (chúng) là đối tượng của các thủ nhưng không là thủ.

Ý xứ không thể nói là vừa là thủ vừa là đối tượng của các thủ; (nó) đôi khi là đối tượng của các thủ nhưng không là thủ; đôi khi không thể nói là đối tượng của các thủ nhưng không là thủ. Pháp xứ đôi khi vừa là thủ vừa là đối tượng của các thủ; đôi khi là đối tượng của các thủ nhưng không là thủ; đôi khi không thể nói là PTS vp 80 vừa là thủ vừa là đối tượng của các thủ hay là đối tượng của các thủ nhưng không là thủ. Mười xứ không thể nói là vừa là thủ vừa tương ưng với các thủ hay tương ưng với các thủ nhưng không là thủ.

Ý xứ không thể nói là vừa là thủ vừa tương ưng với các thủ; BA 104 | (nó) đôi khi tương ưng với các thủ nhưng không là thủ; đôi khi không thể nói là tương ưng với các thủ nhưng không là thủ. Pháp xứ đôi khi vừa là thủ vừa tương ưng với các thủ; đôi khi tương ưng với các thủ nhưng không là thủ; đôi khi không thể nói là vừa là thủ vừa tương ưng với các thủ hay tương ưng với các thủ nhưng không là thủ. Mười xứ không tương ưng với các thủ, là đối tượng của các thủ.

Hai xứ đôi khi không tương ưng với các thủ, là đối tượng của các thủ; đôi khi không tương ưng với các thủ, không là đối tượng của các thủ; đôi khi không thể nói là không tương ưng với các thủ, là đối tượng của các thủ hay không tương ưng với các thủ, không là đối tượng của các thủ. (11)

Mười một xứ không phải là tùy miên (anusaya). Pháp xứ đôi khi là tùy miên; đôi khi không là tùy miên. Mười xứ là đối tượng của các tùy miên.

Hai xứ đôi khi là đối tượng của các tùy miên; đôi khi không là đối tượng của các tùy miên. Mười xứ không ô nhiễm. Hai xứ đôi khi ô nhiễm; đôi khi không ô nhiễm.

Mười xứ không tương ưng với các tùy miên. Hai xứ đôi khi tương ưng với các tùy miên; đôi khi không tương ưng với các tùy miên. Mười xứ không thể nói là vừa là tùy miên vừa là đối tượng của các tùy miên; (chúng) là đối tượng của các tùy miên nhưng không là tùy miên.

Ý xứ không thể nói là vừa là tùy miên vừa là đối tượng của các tùy miên; (nó) đôi khi là đối tượng của các tùy miên nhưng không là tùy miên; đôi khi không thể nói là đối tượng của các tùy miên nhưng không là tùy miên. Pháp xứ đôi khi vừa là tùy miên vừa là đối tượng của các tùy miên; đôi khi là đối tượng của các tùy miên nhưng không là tùy miên; đôi khi không thể nói là vừa là tùy miên vừa là đối tượng của các tùy miên hay là đối tượng của các tùy miên nhưng không là tùy miên.

Mười xứ không thể nói là vừa là tùy miên vừa ô nhiễm hay ô nhiễm nhưng không là tùy miên. Ý xứ không thể nói là vừa là tùy miên vừa ô nhiễm; (nó) đôi khi ô nhiễm nhưng không là tùy miên; đôi khi không thể nói là ô nhiễm nhưng không là tùy miên. Pháp xứ đôi khi vừa là tùy miên vừa ô nhiễm; đôi khi ô nhiễm nhưng không là tùy miên; đôi khi không thể nói là vừa là tùy miên vừa ô nhiễm hay ô nhiễm nhưng không là tùy miên.

Mười xứ không thể nói là vừa là tùy miên vừa tương ưng BA 105 | với các tùy miên hay tương ưng với các tùy miên nhưng không là tùy miên. Ý xứ không thể nói là vừa là tùy miên vừa tương ưng với các tùy miên; (nó) đôi khi tương ưng với các tùy miên nhưng không là tùy miên; đôi khi không thể nói là tương ưng với các tùy miên nhưng không là tùy miên. Pháp xứ đôi khi vừa là tùy miên vừa tương ưng với các tùy miên; đôi khi tương ưng với các tùy miên nhưng không là tùy miên; đôi khi không thể nói là vừa là tùy miên vừa tương ưng với các tùy miên hay tương ưng với các tùy miên nhưng không là tùy miên.

Mười xứ không tương ưng với các tùy miên, là đối tượng của các tùy miên. Hai xứ đôi khi không tương ưng với các tùy miên, là đối tượng của các tùy miên; PTS vp 81 đôi khi không tương ưng với các tùy miên, không là đối tượng của các tùy miên; đôi khi không thể nói là không tương ưng với các tùy miên, là đối tượng của các tùy miên hay không tương ưng với các tùy miên, không là đối tượng của các tùy miên. (12)

Mười xứ không bị đoạn trừ bởi Tu-đà-hoàn đạo. Hai xứ đôi khi bị đoạn trừ bởi Tu-đà-hoàn đạo; đôi khi không bị đoạn trừ bởi Tu-đà-hoàn đạo. Mười xứ không bị đoạn trừ bởi các đạo tiếp theo.

Hai xứ đôi khi bị đoạn trừ bởi các đạo tiếp theo; đôi khi không bị đoạn trừ bởi các đạo tiếp theo. Mười xứ không có căn bị đoạn trừ bởi Tu-đà-hoàn đạo. Hai xứ đôi khi có căn bị đoạn trừ bởi Tu-đà-hoàn đạo; đôi khi không có căn bị đoạn trừ bởi Tu-đà-hoàn đạo.

Mười xứ không có căn bị đoạn trừ bởi các đạo tiếp theo. Hai xứ đôi khi có căn bị đoạn trừ bởi các đạo tiếp theo; đôi khi không có căn bị đoạn trừ bởi các đạo tiếp theo. Mười xứ không có tầm (vitakka).

Hai xứ đôi khi đi kèm tầm; đôi khi không có tầm. Mười xứ không có tứ (vicāra). Hai xứ đôi khi đi kèm tứ; đôi khi không có tứ.

Mười xứ không có hỷ. Hai xứ đôi khi có hỷ; đôi khi không có hỷ. Mười xứ không đi kèm hỷ.

Hai xứ đôi khi đi kèm hỷ; đôi khi không đi kèm hỷ. Mười xứ không đi kèm lạc. Hai xứ đôi khi đi kèm lạc; đôi khi không đi kèm lạc.

Mười xứ không đi kèm xả. Hai xứ đôi khi đi kèm xả; đôi khi không đi kèm xả.

Mười BA 106 xứ thuộc tính của dục giới. Hai xứ đôi khi thuộc tính của dục giới; đôi khi không thuộc tính của dục giới. Mười xứ không thuộc tính của sắc giới.

Hai xứ đôi khi thuộc tính của sắc giới; đôi khi không thuộc tính của sắc giới. Mười xứ không thuộc tính của vô sắc giới. Hai xứ đôi khi thuộc tính của vô sắc giới; đôi khi không thuộc tính của vô sắc giới.

Mười xứ được bao gồm (tức là thế gian). Hai xứ đôi khi được bao gồm (tức là thế gian); đôi khi không được bao gồm (tức là siêu thế). Mười xứ không hướng đến giải thoát.

Hai xứ đôi khi hướng đến giải thoát; đôi khi không hướng đến giải thoát. Mười xứ không có thời gian quả định sẵn. Hai xứ đôi khi có thời gian quả định sẵn; đôi khi không có thời gian quả định sẵn.

Mười xứ là hữu hạn. Hai xứ đôi khi là hữu hạn; đôi khi không là hữu hạn. Mười xứ không có nhân đáng lo ngại.

Hai xứ đôi khi có nhân đáng lo ngại; đôi khi không có nhân đáng lo ngại. (13)

(Đây là phần kết thúc) Vấn Đáp

Phân Tích Xứ Đã Kết Thúc

---

Sách Phân Tích (The Book of Analysis), bản dịch tiếng Anh từ Pāli Abhidhamma Vibhaṅga. Dịch giả Paṭhamkyaw Ashin Thiṭṭila (Seiṭṭhila). Xuất bản bởi Pali Text Society, 1969.

Bản điện tử SuttaCentral do Manfred Wierich và Tỳ-kheo Vimala chuẩn bị và được Ariya Baumann hiệu đính. Một số thay đổi đã được đưa vào:

– Các liên kết nội bộ và bên ngoài đã được thêm vào để người đọc có thể dễ dàng nhấp vào các tham chiếu phong phú.

– Một số từ viết tắt đã được khai triển đầy đủ.

– Các thiếu sót và lỗi hiển nhiên đã được sửa chữa, tất cả đều nhỏ.

Phân trang của ấn bản PTS gốc có thể tìm thấy ở lề trang. Trừ khi phần ngắt trang bắt đầu một đoạn mới, một dấu gạch đứng chỉ sự bắt đầu của trang mới.

Bản điện tử này được xuất bản theo các điều khoản của Giấy phép Creative Commons Attribution Non-Commercial 3.0 (CC BY-NC 3.0) tại đây: http://creativecommons.org/licenses/by-nc/3.0/

Mọi bản quyền thuộc về Pali Text Society. Xem thêm thông báo tại http://www.palitext.com/ → Publications → Copyright Announcement. Chỉ dành cho mục đích phi thương mại.

🌏Vì sao bài kinh này do Inti AI tóm lược?

Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.

🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →
Nguồn bản dịch: Diễn giải / dịch bởi AIGiấy phép: EN: U Thittila (qua SuttaCentral) · VI: bản dịch AI, chờ đối chiếu🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch bằng AI do Inti biên soạn: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến