Inti DharmaInti Dharma
← Kinh điển
Đại Thừa — Tạng Bắc Truyền · Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Việt dịch)

Cảnh Đức Truyền Đăng Lục quyển 13

Tên chữ Hán:景德傳燈錄

📖11,323 từ · ~45 phút đọc
2

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản →
Bản dịch đầy đủ (Tiếng Việt)

CẢNH ĐỨC TRUYỀN ĐĂNG LỤC - QUYỂN 13

QUYỂN 13

Hoài Nhượng Thiền sư và Tào Khê truyền tách ra gồm có 77 vị.
(Hoài Nhượng từ đời thứ 7 đến thứ 9 - Tào Khê từ đời thứ 2 đến
thứ 6).

  • Thiền sư Hoài Nhượng đời thứ 7 có 11 vị.
  • Đệ tử nối pháp của Thiền sư Tuệ Thanh ở núi Ba Tiêu, Dĩnh Sơn

có 4 vị:
1. Thiền sư Thanh Nhượng ở núi Hưng Dương Sính Châu.
2. Thiền sư Pháp Nhãn ở núi u Cốc Sơn Hồng Chu (2 vị trên đây
thấy có ghi lục)
3. Thiền sư Nghĩa Thâm ở núi Hưng Vương Sính Châu.
4. Thiền sư Trụ Ngộ ở núi Ba Tiêu (2 vị trên đây không có cơ
duyên-ngữ cú không ghi lục).
Đệ tử nối pháp của Thiền sư Như Bảo ở Tư Phước-Cát Châu có
4 vị:
1. Thiền sư Trinh Thúy ở Tư Phước Cát Châu
2. Hòa thượng Phước Thọ ở Cát Châu
3. Hòa Thượng Lộc Uyển ở Cát Châu. (3 vị trên có thấy ghi lục)
4. Đại Sư Đức Thiều ở Báo Từ-Đàm Châu (1 vị không có cơ
duyên-ngữ cú không ghi lục)

– Đệ tử nối pháp của Nhữ Châu Bảo ứng Hòa thượng, có 1 vị:

1. Thiền sư Diên Chiểu ở Nhữ Châu Phong Huyệt.

– Đệ tử nối pháp của Thiền sư Tư Minh ở Tây Viện Nhữ Châu, có

1 vị.
1. Thiền sư Qui Tịch ở Hưng Dương Tĩnh châu.

– Đệ tử nối pháp của Thiền sư Hồng Cứu ở Tuệ Lâm Thiều Châu

có 1 vị.1. Hòa thượng Linh Thụy ở Thiều Châu.Thiền sư Hoài Nhượng đời thứ 8 có 6 người.

– Đệ tử nối pháp của Thiền sư Diên Thiều ở Phong Huyệt Nhữ

Châu, có 4 vị:1. Thiền sư ở Quảng Tuệ Nhữ Châu.2. Thiền sư Tỉnh Niệm ở Thủ Sơn Nhữ Châu (2 vị trên đây thấycó ghi lục)3. Hòa thượng Trường Hưng ở Phượng Tường.4. Hòa thượng Linh Tuyền ở Đàm Châu ( 2 vị trên đây không cócơ duyên-ngữ cú không ghi lục)

– Đệ tử nối pháp của Đại sư Đức Thiều Qui Chân Báo Từ Đàm

Châu, có 2 vị:1. Thiền sư Chí Khiêm ở núi Tam Giác Sơn Kỳ Châu (1 vị thấycó ghi lục)2. Thiền sư Từ Đạt ở Hưng Dương Sính Châu.Thiền sư Nhượng đời thứ 9 có 1 vị.

– Đệ tử nối pháp của Thiền sư Tỉnh Niệm ở Thủ Sơn Nhữ Châu,

có 1 vị:1. Thiền sư Thiện Chiếu ở Phần Châu (1 vị thấy có ghi lục)Tào Khê tách riêng đời thứ 2, có 30 vị.

– Đệ tử nối pháp của La Phù Sơn, Định Chân Hòa thượng có 1 vị:

1. Thiền sư Linh Vận ở núi La Phù (không có cơ duyên-ngữ cú)

– Đệ tử nối pháp của Hòa thượng Đạo Tiến ở núi Chế Không, có

1 vị:1. Thiền sư Huyền Giác ở Kinh Châu (không có cơ duyên-ngữcú)

– Đệ tử nối pháp của Hòa thượng Thiện Khoái ở Hạ Hồi Điền

Thiều Châu có 1 vị:
1. Thiền sư Thiện Ngộ (không có cơ duyên-ngữ cú)

– Đệ tử nối pháp của Hòa thượng Bổn Tịnh ở núi Không Sơn, có

1 vị:
1. Trung sứ Dương Quang Đình (không có cơ duyên-ngữ cú)

– Đệ tử nối pháp của Hòa thượng Duyên Tố, có 2 vị:

1. Thiền sư Đạo Tiến Tiểu ở Thiều Châu.
2. Thiền sư Du Tịch ở Thiều Châu.

– Đệ tử nối pháp của Hòa thượng Kỳ Đà có 1 vị:

1. Thiền sư Đạo Thiến ở Hoành Châu, ( không có cơ duyên-ngữ
cú)

– Đệ tử nối pháp của Tuệ Trung ở Nam Dương Quốc sư, có 5 vị:

1. Thiền sư Chân ứng ở núi Dam Nguyên Cát Châu, ( thấy có ghilục)2. Hoàng đế Đường Túc Tông.3. Hoàng đế Đường Đại Tông.4. Tôn Tri cổ ở Khai Phong.5. Thiền sư Duy Giới ở Hương Nghiêm Đặng Châu ( 4 vị trên đâykhông có cơ duyên-ngữ cú).

– Đệ tử nối pháp của Đại sư Thần Hội ở Hà Trạch Lạc Dương, có

18 vị:I., Thiền sư Phước Lâm ở Đại Thạch Sơn Huỳnh Châu.2. Thiền sư Quang Bảo ở Mông Sơn nghi Thủy ( 2 vị này thấy cóghi lục)3. Thiền sư Pháp Như ở Từ Châu,4. Thiền sư Tấn Bình, ở núi Tây Ân Quận Hoài An.5. Thiền sư Tuệ Diễn ở Lễ Dương.6. Thiền sư Hoài Không ở Hà Dương7. Thiền sư Viên Chấn ở Nam Dương.8. Thiền sư Quảng Phu ở Nghi xuân9. Thiền sư Hạnh Giác ở Giang Lăng.10. Thiền sư Thần Anh núi Ngũ ĐàiII. Thiền sư Vô Danh núi Ngũ Đài.12. Thiền sư Hạo Ngọc ở Nam Nhạc13. Thiền sư Chí Mãn ở Tuyên Châu.14. Thiền sư Lãng ở Bồi Châu,15. Thiền sư Linh Thản ở Quảng Lăng16. Thiền sư Thông Ẩn ở Ninh Châu17. Thiền sư Nam A"n ở ích Châu.18. Lý Thường Doãn ở Hà Nam. (16 vị trên đây không có cơduyên-ngữ cú)Tào khê tách riêng đời thứ 3 có 9 người.

– Đệ tử nối pháp của Thiền sư Thiện Ngộ ở Hạ Hồi Điền, có 1

vị:
1. Thiền sư Vô Học ở Đàm Châu ( không có cơ duyên-ngữ cú)

– Đệ tử nối pháp của Hòa thượng Đạo Tiến ở Hoành Châu, có 1

vị:
1. Thiền sư Như Bảo ở Hồ Nam ( không có cơ duyên-ngữ cú)

– Đệ tử nối pháp của Hòa thượng Chân ứng núi Dam Nguyên có

1 vị:
1. Thiền sư Trinh Toại ở Cát Châu ( không có cơ duyên-ngữ cú)

– Đệ tử nối pháp của Hòa Thượng Pháp Như ở Từ Châu có 1 vị:

1. Thiền sư Duy Trung ở Kinh Nam (không có cơ duyên-ngữ cú)

– Đệ tử nối pháp của Hòa thượng Hoài Không ở Hà Dương, có 1

vị:
1. Thiền sư Đạo Minh ở Thái Châu ( không có cơ duyên-ngữ cú)

– Đệ tử nối pháp của Thiền sư Viên Chấn ở núi Ô Nha có 2 vị:

1. Ngô Đầu Đà.2. Thiền sư Pháp Trí ở núi Tứ Diện ( 2 vị này không có cơ duyên-ngữ cú)

– Đệ tử nối pháp của Thiền sư Vô danh ở núi Ngũ Đài có 1 vị:

1. Đại sư Trừng Quán ở Hoa Nghiêm Ngũ Đài (không có cơduyên-
ngữ cú)

– Đệ tử nối pháp của Hòa thượng Nam Ân ở ích Châu, có 1 vị:

1. Thiền sư Nghĩa Phủ ( không có cơ duyên-ngữ cú.
Tào Khê tách riêng đời thứ 4, có 5 vị.

– Đệ tử nối pháp của Thiền sư Duy trung ở Kinh Nam, có 4 vị:

1. Thiền sư Đạo Viên.2. Thiền sư Như Nhất ở ích Châu,3. Thiền sư Thần Chiếu ở Phụng Quốc.4. Thiền sư Nhã ở Đông Lâm Lô Sơn, (4 vị trên đây không có cơduyên-ngữ cú)

– Đệ tử nối pháp của Ngô Đầu Đà, có 1 vị:

1. Thiền sư Huyền cố ( không có cơ duyên-ngữ cú)
Ngài Tào Khê truyền tách đời thứ 5 có 4 vị.

– Đệ tử nối pháp của Thiền sư Đạo Viên ở Toại Châu, có 1 vị:

1. Thiền sư Tông Mật ở Khuê Phong núi Chung Nam, (thấy có ghi
lục).

– Đệ tử nối pháp của Thiền sư Thần Chiếu ở Phụng Quốc, có 3

vị:1. Thiền sư Thường Nhất ở Trấn Châu.2. Thiền sư Trí Viễn ở Hoạt Châu.3. Thiền sư Huyền Thúy ở Lộc Đài, (3 vị trên không không có cơduyên-ngữ cú).Ngài Tào Khê tách riêng đời thứ 6 có 1 1 vị:

– Đệ tử nối pháp của Thiền sư Mật Tông ở Khuê Phong, có 6 vị:

1. Thiền sư Ôn Khuê Phong2. Thiền sư Thái Cung ở chùa Từ Ân3. Thiền sư Thái Tích ở chùa Hưng Thiện.4. Thiền sư Tông ở chùa Vạn Thừa5. Thiền sư Giác ở chùa Thụy Thánh6. Thiền sư Nhân Du ở chùa Hóa độ (6 vị trên đây không có cơduyên-ngữ cú).

– Đệ tử nối pháp của Thiền sư Huyền Thúy ở Lộc Đài, có 1 vị:

1. Thiền sư Niệm ở Long Hưng.

– Đệ tử nối pháp của Thiền sư Trí Viễn ở Hoạt Châu, có 4 vị:

1. Thiền sư Thẩm Dụng ở Bành Môn.2. Thiền sư ở Viên Thiệu.3. Thiền sư Chân ở Thượng Phương.4. Thiền sư Pháp Chí ở Đông Kinh.Thiền SƯ Hoài Nhượng - đời thứ 7

– Đệ tử nốì pháp của Thiền sư Thanh Hương ở núi Ba Tiêu,

Sính Châu trước đây
1. Thiền sư Thanh Nhượng, ở núi Hưng Dương Sính Châu.
Có vị Tăng hỏi: Đại Thông Trí Thắng Phật 10 kiếp ngồi Đạo
Tràng, Phật pháp chẳng hiện tiền, chẳng được thành Phật Đạo, lúc ấy
thế nào? Sư nói: Lúc đó rất Đế đương. Tăng nói đã là ngồi Đạo Tràng,
vì sao chẳng được thành Phật Đạo? Sư nói: Vì ông ấy không thành
Phật.
2. Thiền sư Pháp Nhãn ở u Cốc Sơn, Hồng Châu.
Có vị Tăng hỏi: Như thế nào là Đạo. Sư lặng yên hồi lâu, nói hiểu
không? Vị Tăng nói học nhân không hiểu. Sư nói: Nói lời Đạo không
tiếng, mà nêu bày ý chỉ sâu rõ ràng nhiều lần. Thiền yếu như ngày hiểu
lấy không cần riêng sau yên ổn

– Đệ tử nối pháp của Thiền sư Như Bảo ở Tư Phước, Cát Châu

trước đây.
1. Thiền sư Trình Thúy ở Tư Phước, Cát Châu.
Tăng hỏi: Hòa thượng thấy người xưa được ý chỉ gì liền nghỉ? Sư
vẽ vòng tròn mà chỉ. Hỏi: Như thế nào là cổ Nhân Ca? Sư vẽ vòng tròn
mà chỉ. Hỏi: Như thế nào là một câu đầu tiên? Sư nói: Lúc thế giới chưa
đầy đủ thì Xà Lê cũng ở tại đó. Hỏi: Ngài Bách Trượng cuốn chiếu là ý
thế nào? Sư lặng lẽ hồi lâu. Hỏi: Người xưa nói trước 33 sau 33 là ý thế
nào? Sư hỏi: Ông tên gì? Đáp: Con tên A, B... Sư nói: uống trà đi. Sư
gọi chúng bảo rằng: Cách sông thấy gậy đánh Tư Phước liền trở về gót
chân cũng nên cho 30 gậy, huống là khi qua sông mà đến. Có vị Tăng
vừa bước ra, Sư bảo không thể cùng nói. Hỏi: Như thế nào là tâm Phật
xưa? Sư nói: Núi sông đất liền.
2. Hòa thượng Phước Thọ ở Cát Châu.
Tăng hỏi: Ý Tổ và ý giáo đồng hay khác? Sưbèn vung tay ra. Hỏi:
Văn Thù cỡi sư tử. Phổ Hiền cỡi voi không biết Thích Ca cỡi gì? Sư đưa
2 tay lên nói tà, tà!
3. Hòa thượng Lộc Uyển ở đàm Châu.
Vị Tăng hỏi: Nước khác làm Phật lại có tên khác hay chăng? Sư
vẽ vòng tròn mà chỉ. Hỏi: Như thế nào là 1 đường Lộc Uyển? Sư nói:
Lưỡi lảnh lót hỏi việc tương lai. Hỏi: Như thế nào là đóng cửa tạo xe Sư
nói: Nam Nhạc thạch kiều cầu đá ở Nam Nhạc. Vị Tăng hỏi: Như thế
nào là ra cửa theo vết bánh xe? Sư nói: Dép treo trên đầu gậy Sư lên
Pháp Đường vung 2 tay ra nói: mạng căn của Hòa thượng Lão Thiên
hạ cùng các Thượng tọa đều ở trong này. Có vị Tăng bước ra nói: Thâu
vào được hay không? Sư nói: Thiên Thai bên thạch kiều (cầu đá). Tăng
nói con chẳng như thế. Sư nói: Cúi đầu suy nghĩ hãy còn đãi khách. Hỏi:
Như thế nào là Thế Tôn điều nói không nói? Sư nói: Núi Tu Di nghiêng
đổ. Hỏi: Như thế nào là Ca-diếp nghe điều chẳng nghe? Sư nói: Biển
lớn khô cạn.

– Đệ tử nối pháp của Hòa thượng Bảo ứng ở Nhữ Châu trước

đây.
1. Thiền sư Diên Chiểu ở Phong Huyệt Nhữ Châu.
Sư người Dư Hàng. Sư phát tâm với lại sư Thuận Đức ở Kính Thanh
Việt Châu. Khi chưa được ý chỉ Sư tìm đến Châu Viện Hoa Nghiêm ở
Tương gặp Thủ Lang Thượng tọa, liền làm thị giả của Nam Viện ở Nhữ
Châu, thế là ngầm tìm hiểu Tông chỉ của Nam Viện. Khi đến Nam Viện
mới thấy không lễ bái. Liền hỏi vào cửa cần Viện chủ, thỉnh Sư nói:. Nam
Viện bèn lấy tay tả vỗ vào gối Sư liền hét. Nam Viện lấy tay hữu vỗ vào
gối. Sư lại hét. Nam Viện dơ tay tả lên nói: Cái đó từ Xà Lê. Lại đưa tay
hữu lên nói. Cái đó lại làm gì? Sư nói: Mù! Nam Viện định cầm gậy. Sư
hỏi: làm gì. Bèn giựt gậy mà đánh lão Hòa thượng bảo chớ nói chẳng nói.
Nam Viện nói 30 năm trụ trì, hôm nay bị Huỳnh diện triết tử thượng môn
la chức? Sư nói: Hòa thượng giống người trì bát không được lừa nói không
đói. Nam Viện nói Xà Lê khi nào đến Nam Viện. Sư nói: Đó là lời nào?
Đáp: Lão Tăng vừa hỏi ông. Sư nói: Cũng chẳng được tha lỗi. Nam
Viện xin ngồi uốngtrà. Sưbèn đảnh lễ tỏ tình thầy trò. Từ đó về sau ứng
với huyền ký của Quy ngưỡng mà xuất thế nhóm họp đồ chúng. Pháp
đạo của Nam Viện do đó mà chấn động các phương. Sư lên Pháp Đường
bảo chúng rằng: Tai mắt của người tìm hiểu học hỏi, khi gặp cơ thì dứt
khoát cần phải đại dụng hiện tiền, chớ nên từ câu chấp vào tiểu tiết.
Nếu trước lời nói mà nói (tiến?) được thì cũng là trệ xác mê phong. Nếu
sau câu nói mà tinh thông thì cũng chưa khỏi xúc đồ cuồng kiến (gặp
việc thấy điên?) Xem các ông nên ứng đó mà đến, y đó mà hiểu, thì
sáng tối 2 nẻo cùng lúc quét sạch. Dạy thẳng mỗi người như sư tử con
nhe nanh mùa vuốt quào đất hét vang 1 tiếng, vạch đứng ngàn nhận
(trượng) ai dám chánh nhãn mà nhìn trộm. Nhìn trộm tức mắt mù, mắt
cừ khôi. Sư lại đến Sính Châu vào Nha, lên Pháp tòa dạy chúng rằng:
Tâm ấn của Tổ Sư giông như cỏ (máy?) Trâu sắt đi tức ấn đứng, đứng
tức ấn hư, chỉ như chẳng đi chẳng đứng (dừng?) Thì ấn là đó mà chẳng
ấn cũng là đó. Lại có người nói được chăng? Lúc đó có Lô Pha Trưởng
lão bước ra hỏi: Học nhân có cơ trâu sắt thỉnh sư không đáp ấn. Sư nói:
Quen câu kình nghê lắng chằm lớn, ếch kêu.... đầy bùn cát. Pha đứng
nghĩ lâu. Sư hét rằng: Trưởng lão sao không nói. Pha định bàn cãi thì Sư
đánh cho 1 phất trần bảo rằng: Lại nhớ được thoại đầu chăng, thử nêu
ra xem. Pha định mở miệng thì Sư đánh cho 1 phất trần nữa. Mục Chủ
nói: Tin biết Phật pháp cùng Vương pháp 1 loại. Sư hỏi: Thấy đạo lý gì?
Mục Chủ nói: Đáng dứt (đoán?) mà không dứt lại chiêu lấy loạn. Sư
liền xuống Pháp tòa Tăng lên tòa hỏi: Sư ca khúc nhà ai, Tông phong
nối ai? Sư nói: Vượt hẳn thoát ra ngoài Oai Âm, nhón chân uổng công
khen đáy cát. Hỏi khúc hát xưa không có âm vận như thế nào mà họa
được? Sư nói: Gà gỗ kêu con đêm, chó chạy sủa ngày sáng. Hỏi: Như
thế nào là 1 tiếng niệm Nam mô Phật? Sư nói: Đèn liền cánh phượng
rực rỡ chiếu, bóng trăng mày ngài nghiêng mặt soi. Hỏi: Như thế nào là
Phật? Sư hỏi như gì chẳng phải là Phật. Đáp: Chưa hiểu Huyền nói thỉnh
Sư chỉ thẳng. Sư nói: Nhà ở châu cửa biển, sáng chiếu trước ngọn dâu.
Hỏi mặt trăng sáng ở trên không lúc ấy như thế nào? Sư nói: Chẳng từ
trên trời (?) mặc tình chôn trong đất. Hỏi: Như thế nào là Phật? Sư nói:
Gió thét ngựa gỗ không dây cột, trâu dắt đội sừng đánh roi đau. Hỏi:
Như thế nào là kiếm Tuệ lớn. Sư nói: Không chém chết ai. Hỏi: Gương
xưa chưa mài lúc ấy như thế nào? Sư nói: Thiên ma mật bị xe rách. Vị
Tăng hỏi: Mài rồi như thế nào? Sư đáp Hiên Viên không nói (vô Đạo).
Vị Tăng hỏi: Trăng sáng ở trên không lúc đó thế nào? Sư nói: Không ở
trong trời tròn, mà ở khương lý. Hỏi: Mâu thuẫn vốn là chữa 2 bịnh còn
việc Đế Võng minh châu thì như thế nào? Sư đáp Qui Sơn lên 9 nhận xe
(se) đất nặng ngàn cân. Vị Tăng hỏi: Là sao? Sư đáp là sao. Hỏi: Gây
gỗ dâng Văn Hầu, biết tâm có mấy người. Sư nói: Tuổi trẻ từng quyết
Long xà trận, vất vả còn nghe Trĩ Tử Ca. Hỏi như thế nào là chủ trong
núi Thanh Lương? Sư nói: Một câu chẳng nhàn vô trước hỏi, hết nay
còn làm Dã bàn Tăng. Hỏi câu chẳng họp đương cơ như thế nào hiển
Đạo? Sư nói: Đại Mão dẫu đồng trời, mặt trời chẳng đúng ngọ. Hỏi:
Như thế nào là gia phong của Hòa thượng? Sư nói: Hạc có 9 cao khó vỗ
cánh bay lên, ngựa không ngàn dặm mãi truy phong. Hỏi: Như thế nào
là Phật? Sư nói: Chớ khiến người khác nghe. Hỏi: Chưa có lời hỏi thỉnh
Sư thử nói. Sư nói: Vào chợ hú dài, về nhà mặc áo ngắn. Hỏi: Ngày nay
hết Hạ ý Sư thế nào? Sư nói: Không thương ngỗng giữ Tuyết, lại mừng
băng người săn. Hỏi: về quê không nẻo lúc ấy như thế nào? Sư nói:
Ngó ngang chỗ chín đỏ. Thích giết con bình sinh. Sư đến châu quan Nha
thỉnh lên Pháp Đường. Có vị Tăng hỏi vua đời và vua pháp thấy nhau
lúc ấy thế nào? Sư nói: Múa lớn quanh rừng suối, người hỏi không lo
mừng. Vị Tăng hỏi: Cùng nói việc gì? Sư nói: Cọp beo trước hang từng
ngồi yên, chuẩn theo cờ sáng xét chân Tông. Hỏi: Bức lá tìm cánh thì
không hỏi, như thế nào là dứt ngang hết cội rễ? Sư nói: Đến cúng lăng
thần, vào khai Đường mang mưa về. Hỏi: Phàm có chỗ hỏi đều là đeo
mang, thỉnh sư dứt ngang hết cội rễ. Sư nói: Hiếm gặp khách xuyên tai,
nhiều gặp người khắc thuyền. Hỏi: Chính lúc ấy là như thế nào? Sư đáp:
Rùa đui gặp cây tuy ưu ẩn, cây khô trổ hoa vật ngoài xuân (xuân ngoài
vật). Hỏi: Như thế nào là việc trong nhà kín? Sư nói: Rũ tay áo nói
chuyện cổ kim, quay mặt riêng nhăn mày. Hỏi Ly Long châu dưới cằm
làm sao lấy được. Sư nói: Từng ở bên biển trúc khô đâm, thẳng đến như
nay mới tố cầm. Hỏi thuyền to lắc lư trông rỗng làm sao cất mái chèo?
Sư nói: Tự ại chẳng để bụng. Hồn gia chẳng mừng thấy hỏi truy phong
khó cầm chắc tương lai, việc ấy như thế nào. Sư nói: Ba Tư cởi áo xấu?
Hỏi: Ngày sinh Vương tử lại nhờ thi đậu chăng? Sư nói: 1 câu định
quang Thiền tử, Hỏi: 3 sợ phụ cơ người xưa. Hỏi: tùy duyên bất biến
bỗng gặp người tri âm, lúc ấy như thế nào? Sư đáp vạch cát nghiêng nón
trong ngàn núi, dẫn nước chảy quanh trước 5 lão. Hỏi: khắc thuyền mà
cầu chẳng được đương thể, việc ấy như thế nào? Sư nói: Công lớn chẳng
lập thưởng, quạt củi cỏ tự sâu. Hỏi: Từ người thượng cổ các ấn khế nhau
như thế nào là ấn đáy mắt? Sư nói: Khinh hiu Đạo giả biết cơ biến, nắm
cùng triêm hồn khăn lau lệ. Hỏi: 9 Hạ thưởng công lao thỉnh Sư nói:. Sư
nói: Ra núi mở mang mưa động rồng, sóng tràn tăng nhảy hoa đầy bát.
Hỏi: Đầu tiên mặc tình tự đáp người nào? Sư nói: 1 nắm hương sô nắm
chưa buông, 6 vòng vàng thiếc tiếng động không. Hỏi: Tổ Tây Trúc
truyền đến thỉnh Sư nói: Sư nói: 1 con chó sủa khống ngàn thu hú thật.
Hỏi Vương Đạo cùng Phật Đạo cách nhau bao xa? Sư nói: Chó rơm sủa
lúc trời đất họp, gà gỗ kêu rồi đèn Tổ sáng. Hỏi: Tâm ấn của Tổ sư
thỉnh Sư lau chùi. Sư nói: Trăng tổ trên không tròn trí Thánh, núi nào
tòng cối chẳng xanh xanh. Đại chúng vân tập thỉnh Sư nói: Pháp. Sư nói:
Người chân đỏ đuổi thỏ, kẻ mang ưng ăn thịt. Hỏi: Chẳng cần rộng xem
không Vương giáo, lược mượn Huyền cơ thử nói xem. Sư nói: Ngọc
trắng không tỳ vết lại chặt chân. Hỏi: Như thế nào là câu vô vi. Sư nói:
Đuốc báu trước xe sáng, sáng vàng chiếu thái hư. Hỏi: Như thế nào là 1
câu tùy cơ? Sư nói: Nhân gió thổi dùng sức không nhiều. Hỏi: Mặt trắng
trình nhau lúc ấy như thế nào. Sư nói: Nắm khăn liền che mặt. Hỏi: Như
thế nào là hơi thở của Tăng. Sư nói: Gối chỏ chạy đại chúng thấy liền.
Hỏi: Cóc tía mới nở thu đã đến, trăng tròn ở cửa ý thế nào? Sư nói:
Trăng sinh gặp chim người đều nhìn, đêm qua gặp sương ông chẳng
biết. Hỏi: Như thế nào là cắt ngang 1 đường. Sư nói: cắt ngang vòng vo.
Hỏi: Thế nào là sư tử rống. Sư nói: Ai cần ông kêu tiếng dã can. Hỏi:
Như thế nào là lời chắc thật. Sư đáp: Tâm treo trên vách. Hỏi: Tâm
chẳng hay duyên mà miệng hay nói lúc đó thế nào? Sư nói: Gặp người
chỉ thế nào nêu xem. Hỏi: Rồng thấu (ngâm mình) đầm trong lúc đó thế
nào? Sư nói: Ân đè đuôi. Hỏi: Mặc tánh chìm nổi lúc đó thế nào? Sư
nói: Kéo trâu không cho vào rào. Hỏi: Có không đều không chỗ đến lúc
đó thế nào? Sư nói: Ba tháng lười dạo đường dưới hoa, 1 nhà buồn đóng
cửa trong mưa. Hỏi: Nói im cùng lìa vi như thế nào chung chẳng phạm?
Sư nói: Thường nhớ Giang Nam trong 3 tháng, chỗ giá cô hót ngát hương
thơm. Hỏi: Trăm liễu ngàn đương lúc đó như thế nào? Sư nói: Không
cho đi đêm, ngày sáng phải tới. Hỏi không đất dung thân lúc đó như thế
nào? Sư nói: Tháp Hùng Nhĩ mở không khách gõ. Vị Tăng hỏi: Như thế
nào là đó? Sư nói: Hãy mau cắt đứt. Hỏi: Người cả đại địa cùng lúc đến
hỏi làm sao chỉ đối đáp. Sư nói: Đờn Bá Nha ít kẻ tri âm. Hỏi Ương Quật
ép bức Phật lúc đó thế nào? Sư nói: cả nhà giữ gìn vạn người ngu si hỏi.
Tâm ấn chưa sáng làm sao được vào? Sư nói: Tuy nghe dậu soái thực
qui phục, chưa thấy kéo dê đến vách nạp. Hỏi: Như thế nào là việc sau
của ngài Lâm Tế? Sư nói: Chó kiệt sủa vua Nghiêu. Hỏi: Thế nào là
việc cắn tên? Sư nói: Mạnh Lãng mượn lời luận sừng ngựa. Hỏi: Chẳng
tu định Tuệ làm sao thành Phật không nghi? Sư đáp: Gà vàng chuyên
báo sáng thùng sơn ánh sáng đen sinh. Hỏi: Một niệm vạn năm lúc đó
thế nào? Sư nói: Quét đá áo tiên rách. Hỏi: Hồng nhung chưa gõ lúc đó
thế nào? Sư nói: Đầy khắp đại thiên đều hòa vận, vừa diệu lại u há
phân đôi. Vị Tăng hỏi: Đánh chuông rồi như thế nào? Sư đáp: Vách đá
núi sông không chướng ngại, màng tiêu sau nghe lại khắp nghe. Hỏi:
Như thế nào nào là ý Tây Trúc đến? Sư nói: Tìm sơn thủy hết núi không
hết. Hỏi vì sao tướng Đại nhân không đầy đủ? Sư nói: Nửa đêm cú mèo
chê chim ưng. Hỏi: cổ kim vừa phân xin mật yếu của Sư. Sư nói: cắt
ngang lưỡi nặng. Hỏi như thế nào tướng Đại nhân? Sư nói: Đỏ rực cùng.
Vị Tăng hỏi: Chưa biết 2 thời Hòa thượng như thế nào? Sư nói: Xách rá
mang gậy. Hỏi: Như thế nào là chủ trong khách? Sư nói: Vào chợ 2 mắt
mù. Hỏi như thế nào khách trong chủ? Sư nói: Nhíu mày ngồi mây
trắng. Hỏi: Như thế nào là chủ trong chủ? Sư đáp: cối mòn nói: Hồi
loan trời trăng mới. Hỏi: Thế nào là khách trong khách Sư 3 thước nhọn,
đợi chém người bất bình. Hỏi: Như thế nào là việc bên đầu cuốc? Sư
nói: Trước núi 1 mảnh xanh. Hỏi: Như thế nào là Phật? Sư nói: Rừng
mai dưới núi trúc giương roi. Niên hiệu Đại Tống Khai Bảo năm thứ 6
ngày 01 tháng 08, Sưlên tòa nói kệ: Đêm ngày rằm thì ngồi kiết già mà
hóa. 1 ngày trước đó Sư viết thư từ biệt Đàn Việt, thọ 87 tuổi lạp được
59.

– Đệ tử nổì pháp của Thiền sư Tư Minh ở Tây Viện Nhữ Châu

trước đây
1. Thiền sư Qui Tịnh ở Hưng Dương Sính Châu.
Trước Sư tham ngài Tây Viện bèn hỏi: Định hỏi mà chẳng hỏi lúc
ấy thế nào? Tây Viện liền đánh. Sư im lặng hồi lâu. Tây Viện nói: Nếu
gọi mà đánh mày râu rụng hết. Sau lời nói Sư liền đại ngộ. Vị Tăng hỏi:
Sư hát khúc ca nhà ai, Tông Phong nối ai? Sư nói: Nhà thơ trước núi
không đường khác.

– Đệ tử nốì pháp của Thiền sư Hồng Cứu ở Tuệ Lâm Thiều

Châu.
1. Hòa thượng Linh Thụy ở Thiều Châu.
Có người hỏi: Như thế nào là Phật. Sư hét bảo rằng: Ông là người
trong thôn. Hỏi: Như thế nào nào là ý Tây Trúc đến? Sư nói: 10 vạn
8000 dặm. Hỏi: Như thế nào là tâm xưa nay. Sư nói: Ngồi trên đỉnh Tỳ
Lô ra mất trong Thái hư.

– Đệ tử nôi pháp của Thiền sư Diên Thiều ở Phong Huyệt

trước đây.
1. Thiền sư Tuệ Chân ở Quảng Châu.
Tăng hỏi: Như thế nào là cảnh Quảng Huệ. Sư nói: Chùa nhỏ
trước đầu Tư khánh (giúp mừng) sau. Hỏi: Như thế nào là gia phong của
Hòa thượng? Sư nói: Cái xẻng leo trên cái cuốc.
2. Thiền sư Tỉnh Niệm ở Thủ Sơn Nhữ Châu.
Sư người ở Lai châu, họ Địch, thọ nghiệp tại Viện Nam Thiền ở
bổn bộ, đắc pháp với ngài Phong huyệt. Lúc đầu ở Thủ sơn là đời thứ
nhất. Ngày mở pháp tòa có vị Tăng hỏi: Sưhát khúc nhà ai, Tông Phong
nối ai? Sư đáp: Nhà nhỏ trước hang chống tay nhìn Tăng nói: Lại thỉnh
Hồng âm (tiếng lớn) hòa 1 tiếng. Sư nói: Như nay cần biết Đại gia. Sư
bảo chúng rằng Phật pháp giao cho Quốc vương đại thần là các Đàn
Việt có sức khiến đèn đèn tiếp nối không dứt mất cho đến ngày nay.
Đại chúng lại nói: Tiếp nối cái gì? Sư im lặng hồi lâu lại nói: Ngày nay
phải là huynh đệ với Ca-diếp mới được. Vị Tăng hỏi: Như thế nào là
gia phong của Hòa thượng? Sư nói: 1 lời cắt ngang miệng ngàn sông,
núi cao ngàn nhận mới được huyền. Hỏi: Như thế nào là cảnh của Thủ
Sơn? Sư nói: Mặc tình mọi người xem. Hỏi: Như thế nào là người trong
cảnh? Sư nói: Ăn gậy được cũng (hay?) chưa. Tăng lễ bái. Sư nói: Lại
đợi lúc khác. Hỏi: Như thế nào nào là ý Tổ sư Tây Trúc đến? Sư nói:
Gió thổi mặt trời nướng. Hỏi: Từ trên các Thánh hướng vào đâu mà đi?
Sư nói: Kéo cày kéo bừa. Hỏi: Người xưa nắm chày dựng phất trần là ý
chỉ thế nào? Sư nói: Đỉnh núi cao trơ trọi không có khách nghỉ đêm. Vị
Tăng hỏi: Không biết ý chỉ nó như thế nào? Sư nói: Chẳng phải người
ôm cây đợi thỏ. Hỏi: Như thế nào là đường Bồ đề? Sư nói: Đây cách
Tương Huyện 5 dặm. Vị Tăng hỏi: Việc hướng thượng như thế nào? Sư
nói: qua lại không đổi. Hỏi các Thánh nói chẳng hết chỗ thỉnh Sư ca
hát. Sư nói: Vạn dặm thần quang đều 1 chiếu, hỏi ai dám sánh với mặt
trời. Hỏi: 1 cây còn nở hoa cũng không. Sư nói: Nở đã lâu rồi. Vị Tăng
hỏi: Chưa biết có kết trái hay không? Sư đáp: Đêm qua gặp sương rồi
hỏi Lâm Tế thì kệ, Đức Sơn thì gậy chưa biết sáng (nói) việc gì/ sư bảo:
Ông thử nói xem. Tăng hét. Sư nói: Mù! Tăng lại hét. Sư nói: Gã mù ấy
vì sao hét loạn làm gì? Tang lễ bái. Sư liền đánh. Hỏi: Bốn chúng vây
quanh Sư nói: Pháp gì? Sư nói: Đập cỏ rắn sợ. Vị Tăng hỏi: Chưa biết
ra tay thế nào? Sư nói: Vừa rồi họp bao nhiêu với tan thân mất mạng.
Hỏi: 2 rồng tranh châu ai được? Sư nói: Được là mất (lỗi?). Tăng không
được thì như thế nào? Sư nói: Châu ở chỗ nào. Hỏi: Duy Ma yên lặng,
Văn Thù khen thiện, không biết ý này thế nào? Sư nói: Đương lúc này
thính chúng ắt không như thế. Tăng nói không biết Duy Na yên lặng ý
như thế nào? Sư nói: Biết ân thì ít phụ ân thì nhiều. Hỏi: Tất cả chư Phật
đều từ kinh này mà ra, thế nào là kinh này. Sư nói: Nói nhỏ, nói nhỏ
lại. Vị Tăng hỏi: Như thế nào là thọ trì? Sư nói: Thiết yếu không được ô
nhiễm. Hỏi: Thế Tôn mất rồi pháp giao cho ai? Sư đáp: Hay cho vấn đề
ấy không ai đáp được. Hỏi thấy sắc liền thấy tâm các pháp không hình
lấy chỗ nào mà thấy? Sư nói: Một nhà có việc trăm nhà lo (?). Vị Tăng
nói: Học nhân không hiểu xin sư chỉ lại. Sư nói: Ba ngày xem lấy. Hỏi
như người vào kinh chầu vua, chỉ đến cổng thành rồi trở về, lúc ấy thế
nào? Sư nói: Cũng là gã ngu độn. Hỏi: Giữa đường gặp người đạt Đạo
chẳng đem nói im đối đáp chưa biết lấy gì mà đáp. Sư nói: Mới cho ông
3 ngàn còi. Hỏi: Một câu rõ ràng vượt trăm ức, như thế nào là 1 câu. Sư
nói: Đến chỗ nêu giống người khác. Vị Tăng hỏi: Việc rốt ráo như thế
nào? Sư nói: Chỉ biết đạo ấy. Hỏi như thế nào là tâm Phật? Sư nói: của
cải ở Trấn Châu nặng 3 cân. Hỏi: Hư không lấy gì làm thể? Sư nói: Lão
tăng ở dưới chân ông. Vị Tăng hỏi: Vì sao Hòa thượng ở dưới chân con?
Sư nói: Biết ông là gã mù. Hỏi: Như thế nào là trong Huyền? Sư nói: Có
nói thì cần nói. Vị Tăng hỏi: Ý này như thế nào? Sư nói: Không nói thì
quỉ giận. Hỏi: Như thế nào là mắt của nạp tăng? Sư đáp lời hỏi này cũng
không đúng (đương: Làm được?). Vị Tăng hỏi: Đúng rồi thì sao? Sư nói:
Khám làm gì. Hỏi: Như thế nào là được lìa các duyên. Sư nói: Ngàn
năm 1 gặp. Vị Tăng hỏi: Khi không lìa thì như thế nào. Sư nói: Đứng ở
trước mọi người. Hỏi: Như thế nào là người đại an lạc. Sư nói: Không
thấy có 1 pháp. Vị Tăng hỏi: Lấy cái gì để vì người? Sư nói: Tạ ân Xà
Lê hiểu lời thaọi. Hỏi như thế nào là thường ở người nào? Sư nói: Chạy
loạn làm gì. Hỏi: Khi 1 hào chưa phát thì như thế nào? Sư nói: Giữa
đường gặp khách xuyên tai (xuyên tai là nghe hiểu, còn thủng tai là
nghe không hiểu). Vị Tăng hỏi: Phát rồi thì như thế nào? Sư nói: Không
cần phải chậm nghi. Hỏi không có đàn sáo thỉnh sư hòa vận. Sư im lặng
hồi lâu rồi nói: Có nghe chăng? Vị Tăng nói không nghe. Sư nói: Sao
không lớn tiếng mà nghe. Hỏi: Học nhân từ lâu đã chìm đắm trong mê
thỉnh sư tiếp dẫn. Sư nói: Lão tăng không sao rảnh công phu. Vị Tăng
hỏi: Hòa thượng vì sao như thế? Sư nói: Muôn đi thì đi muốn ngồi thì
ngồi. Hỏi: Như thế nào là câu lìa phàm Thánh? Sư nói: Hòa thượng An
Tung Sơn. Vị Tăng hỏi: Là chỗ rốt (cực tắc) của Hòa thượng chăng?
Sư nói: Thiền sư Nhượng ở Nam Nhạc. Hỏi: Học nhân bỗng vào Tòng
Lâm xin Sư chỉ bày. Sư hỏi: Xà Lê đến đây bao lâu rồi? Tang nói đã
trải Đông Hạ (6 tháng). Sư nói: Chớ lầm nêu giống người khác. Hỏi có 1
người thênh thang tất cả khi đến Sư tiếp chăng? Sư nói: Thênh thang tất
cả tức chẳng không, đó là ai? Vị Tăng nói ngày nay gió cao trăng lạnh.
Sư nói: Trong tăng đường có mấy người ngồi nằm? Vị Tăng không đáp
được. Sư nói: Hiềm giết Lão tăng. Hỏi: Như thế nào là tướng Phạm âm?
Sư nói: Lừa hý chó sủa. Hỏi như thế nào là cắt ngang 1 đường? Sư nói:
Hoặc ở trên núi hoặc ở dưới cây. Hỏi: Tào Khê 1 câu thiên hạ đều nghe,
không biết Hòa thượng 1 câu thì người nào được nghe? Sư nói: Không
ra ngoài Tam môn. Vị Tăng hỏi: Vì sao không ra ngoài Tam môn. Sư
nói: Nêu giống người thiên hạ. Vị Tăng hỏi: Như thế nào là Hòa thượng
chẳng dối mắt người. Sư nói: xem xem Đông đến kìa Tăng hỏi: Rốt ráo
như thế nào? Sư nói: Tức gió xuân liền đến. Hỏi ở xa nghe Hòa thượng
tấc tơ chẳng đeo, khi đến thì vì sao lại ôm giữ cả núi? Sư nói: Nói cái
gì? Vị Tăng bèn hét. Sư cũng hét. Tăng lễ bái. Sư nói: Tha ông 20 gậy.
Sau Sư đến ở núi Bảo An tại viện quảng giáo cũng là đời thứ nhất. Sau
tuần chúng thỉnh Sư vào thành ở viện Bảo ứng 3 chỗ pháp tịch mọi
người đến rất đông. Năm Thuần Hóa 3, ngày 04 tháng 12, giờ Ngọ, Sư
lên Pháp Đường nói kệ dạy chúng rằng:
Năm nay sáu mươi bảy,
Già bịnh tùy duyên lại qua ngày
Năm nay nhớ việc năm tới
Năm tới nhớ sáng hôm nay.
Đến năm thứ 4, ngày tháng và giờ không khác lời ký trước. Sư lên
Pháp Đường từ biệt chúng và nói kệ rằng:
Thế giới bạch ngân thân sắc vàng
Tĩnh và phỉ tình cùng 1 chân
Sáng tôi hết thời đều chẳng chiếu
Mặt trời ngọ xế thấy toàn thân
Nói xong Sư ngồi yên, mặt trời xế bóng thì mất, thọ 68 tuổi. Trà
tỳ thâu nhặt nhiều xá lợi.

– Đệ tử nối pháp của Đại sư Đức Thiều Qui Chân, ở Báo Từ,

Đàm Châu trước đây
1. Thiền sư Chí Khiêm ở núi Tam Giác, Trác Châu.
Tăng hỏi như thế nào là Phật? Sư nói: Mau lạy 3 lạy!
2. Từ Đạt Thiền sư ở Hưng Dương, Sính Châu (đời thứ 3)
Tăng hỏi: Cõi Phật giới là chúng sinh giới cách nhau nhiều ít? Sư
bảo: Nói chẳng được. Vị Tăng hỏi: Thật là cái nào? Sư nói: Có ông kia.
Hỏi tàng lọng bỗng vào tòa báu, Sư nay nào khác khi ở tổ chim thước
(chim thước trong tổ?) Sư nói: Nói không được. Vị Tăng hỏi: Tức nay
sao? Sư nói: Thâu ông 1 Phật pháp.

– Đệ tử nôi pháp của Thiền sư Tỉnh Niệm ở Thủ Sơn, Nhữ

Châu.
1. Thiện Chiêu Thiền sư ở Phần Châu.
Sư lên Pháp Đường bảo chúng rằng: Phàm 1 câu nói phải đủ 3
Huyền, mỗi 1 Huyền môn phải đủ 3 yếu, có Chiếu và Dụng. Hoặc trước
Chiếu sau Dụng, hoặc trước Dụng sau Chiếu, hoặc Chiếu Dụng cùng
lúc, hoặc Chiếu Dụng khác lúc. Trước Chiếu sau Dụng lại cùng ông
thương lượng. Trước Dụng sau Chiếu ông cũng phải là người ấy mới
được. Dụng Chiếu cùng lúc ông làm gì sao đến đương để (phạm vào?),
Chiếu Dụng không cùng lúc ông lại làm sao tấu bạc. Vị Tăng hỏi: Như
thế nào là nguồn của Đại Đạo? Sư nói: Đào đất mà tìm trời xanh. Hỏi:
Sao được như thế? Sư nói: Biết lấy u Huyền. Hỏi: Như thế nào là khách
trong khách? Sư nói: Chắp tay đứng im hỏi Thế Tôn (im tiếng hỏi Thế
Tôn?) Hỏi: Như thế nào là chủ trong khách? Sư nói: Đối mặt không bè
bạn. Hỏi: Nhưthế nào là khách trong chủ? Sư đáp: Trận mây ngang trên
biển nhổ (bạt) kiếm khuấy long môn. Hỏi như thế nào là chủ trong chủ?
Sư đáp: 3 đầu 6 tay kinh thiên địa, giận ghét Na Tra đánh chuông vua.
Tào Khê truyền tách ra đời thứ 2.

– Đệ tử nối pháp của Quốc sư Tuệ Trung ở Nam Dương trước

đây.
1. Chân ứng Thiền sư ở núi Đam Nguyên, Cát châu.
Khi còn làm thị giả cho Quốc sư. Một hôm Quốc sư ở trong Pháp
Đường. Sư vào Quốc sư bèn đạp 1 cái. Sư thấy liền lui ra. Hồi lâu lại
vào. Quốc sư hỏi: Vừa rồi ý thế nào? Sư nói: Hướng ai nói liền được.
Quốc Sư nói: Tôi hỏi ông. Sư nói: Chỗ nào thấy con. Sư lại hỏi: Trăm
năm sau có người hỏi việc cục tắc (chỗ rốt?) như thế nào? Quốc Sư nói:
May mắn tự đáng thương, cầu tìm cái bùa hộ thân làm gì. Hôm khác
tự xách giỏ vào phương trượng. Quốc sư hỏi: Vật gì trong giỏ? Sư nói:
Thanh mai mơ xanh? Quốc sư hỏi đem đến đây làm gì? Sư nói: Cúng
dường. Quốc sư hỏi còn xanh sao được cúng dường? Sư nói: Dùng đây
biểu hiện dâng hiến. Quốc Sưnói: Phật chẳng nhận cúng dường. Sư nói:
Con chỉ cái ấy Hòa thượng thế nào. Quốc Sư nói: Ta không cúng dường.
Sư hỏi: Vì sao không cúng dường? Quốc Sư nói: Ta không có trái cây.
Hòa thượng Hải Bách Trượng khi ở Trở Châu Sơn kéo xe. Sư hỏi: xe
ở đó trâu ở đâu. Hải vỗ trán Sư bèn lau mắt. Ma Cốc hỏi 12 mặt Quan
Âm há chẳng phải là Thánh? Sư nói: Phải. Ma Cốc tát Sư 1 cái. Sư nói:
Tưởng ông chưa đến cảnh này. Ngày giỗ Quốc sư có thiết trai. Có vị
Tăng hỏi Quốc sư có đến chăng? Sư đáp: Chưa đủ tha tâm thông. Hỏi:
Vậy thiết trai làm gì? Sư nói: Không bỏ (đoạn mất) Thế Đế.

– Đệ tử nối pháp của Đại sư Thần Hội ở Lạc Dương.

1. Phước Lâm Thiền sư ở núi Đại Thạch, Huỳnh Châu.
Sư người Kinh Châu, họ Nguyên. Sư vốn con nhà Nho, thuở nhỏ
theo Phật. Đến chùa Huyền Tịnh với Khiêm Trứ Thiền sư mà thế độ
thọ giới Cụ túc. Đi du phương gặp ngài Hà Trạch chỉ bày vô niệm linh
tri không từ duyên mà có, liền sáng rỡ thấy Đế. Sau đến núi Đại Thạch
Hoàng Châu cất am mà ở. Bạn thiền 4 phương đến rất đông. Năm Đường
Hưng Nguyên thứ 2, Sư nhập diệt thọ 82 tuổi.
2. Quang Bảo Thiền sư ở Mông Sơn Nghi Thủy.
Sư người Tinh Châu, họ Chu. Trước gặp Hòa Thượng Hà Trạch
liền theo hầu hạ. Hà Trạch 1 hôm gọi bảo: Ông tên là Quang Bảo,
tên để định thể. Bảo tức là ông có ánh sáng không phải cầu từ bên
ngoài, mặc tình ý ông dùng mà không thiếu hụt, suốt đêm chiếu sáng
mà không gián đoạn khô kiệt, ông có tin không? Sư nói: Tin thì tin mà
không biết Quang và Bảo đồng hay khác? Hà Trạch nói: Quang tức
Bảo, Bảo tức Quang sao gọi đồng hay khác. Sư hỏi: Khi nhãn nhĩ duyên
với thanh sắc là chống nhau hay bổ túc cho nhau. Hà Trạch nói chống
và Bổ túc bỏ đi ông chỉ pháp nào là thể của thanh sắc. Sư nói: Như chỗ
thầy nói thì không có thanh sắc có thể được. Hà Trạch nói nếu ông hiểu
thanh sắc là thể không thì cũng tin nhãn nhĩ các căn cùng phàm Thánh
bình đẳng như huyễn, chống nhau hay bổ túc nhau thì lý nó rõ ràng. Sư
do đó mà lãnh ngộ bèn lễ tạ ra đi. Lúc đầu Sư ở Mông Sơn, Cận Thủy.
Năm Đường Nguyên Hòa thứ 2 thì Sư viên tịch thọ 90 tuổi.

  • Tào Khê tách riêng đơi thứ 5.
  • Đệ tử nối pháp của Thiền sư Đạo Viên ở Toại Châu.

1. Thiền sư Tông Mật Khuê Phong ở núi Chung Nam.
Sư người Tây Sung, Giả Châu, họ Hà. Con nhà giàu tuổi nhỏ đã
thông sách Nho, lớn lên thì khảo cứu sách Phật. Niên hiệu Đường
Nguyên Hòa năm thứ 2, Sư sắp đi thi cử nhân, gặp lúc đến pháp hội của
Hòa Thượng Đạo Viên, vui mừng khế hội liền cầu xuất gia, vào năm ấy
thọ giới cụ túc. một hôm Sư theo chúng Tăng thọ trai ở phủ quan nhỏ
của nhà Nhậm Quán, Sư ngồi ở hàng sau theo thứ tự nhân kinh, được 12
chương Viên Giác. Xem chưa xong thì được cảm ngộ mà rơi lệ. Bèn
đem chỗ ngộ mà trình với ngài Đạo Viên. Viên vỗ về rằng ông sẽ
hoằng hóa lớn giáo viên đốn. Đây là chư Phật trao cho ông. Làm không
tự ngăn trệ ở 1 góc. Sư khóc lóc vâng lời lễ tạ ra đi. Nhân yết kiến ngài
Tinh Nam Trương Thiền sư. Trương nói: Người truyền giáo phải truyền
Đạo ở Đế đô. Sưlại gặp Thiền sư chiếu ở Lạc Dương. Chiếu nói: Người
Bồ tát ai biết được. Sư tìm đến Tương Hán, nhân bịnh Tăng giao cho Sư
sớ kinh Hoa Nghiêm, chính là do đại sư trừng Quán ở Thượng Đô soạn
thuật. Sư chưa từng nghe quen chỉ một lần xem mà giảng được, tự mừng
chỗ gặp, rồi hướng về các Sư mà thuật làm ý chỉ cùng tột hiếm có ấy.
Chưa có sớ nào mà từ nguyên lưu loát sâu kín sáng tỏ như thế. Thiền ta
gặp Nam Tông, giáo gặp Viên giác sau lời mà tâm địa khai thông, nghĩa
trong sách rất sáng rỡ, nay lại gặp thiên tuyệt bút này mà hết cả mong
ước. Khi giảng xong thì nghĩ gặp người viết lời sớ (sớ chủ). Lúc đó
thuộc môn nhân là Thái Cung chặt tay đáp ân. Sư trước mang sách
(thư?) lên Sớ chủ. Xa kể tình thầy trò đến gặp càng mừng rỡ. Vừa lúc
Thái cung bịnh lành mới theo hầu đến Thượng Đô với lễ thầy trò. Trừng
Quán nói: Tỳ Lô Hoa tạng người hay dạo theo ta là ông đó. Sư dự vào
Thất của quán, tuy mỗi ngày càng làm mới đức mình, mà bịnh giữ nôm
cầm tượng thì mất hẳn. Sư dạo phương bắc đến núi Thanh Lương rồi trở
về Ngạc Huyện ở chùa Thảo Đường không bao lâu thì vào Lan Nhã
Khuê Phong ở phía Nam chùa. Trong Đại (Thái?) Hòa, được mời vào
cung vua ban tử y. Vua nhiều lần hỏi pháp yếu, Triều Sĩ mến mộ, chỉ có
Tướng Quốc Bùi Hưu thâm nhập chỗ sâu kín nguyện làm ngoại hộ. Sư
cho rằng người học Thiền giáo giúp nhau mà không hủy báng, bèn viết
nên Thiền Nguyên các bài, chép lại các sáng tác của các nhà. Bài viết
biểu thị về Căn Nguyên Đạo lý của Thiền Môn gồm chữ nghĩa câu kệ
làm thành 1 Tạng trăm quyển để tặng lại cho đời sau, đều có lời tựa
lược nói rằng: Thiền là tiếng Thiên Trúc, nói đủ là Thiền Na dịch là Tư
Duy Tu cũng gọi là Tĩnh Lự, đều là tiếng gọi chung Định Tuệ Nguyên
là tất cả chúng sinh có chân tánh Bổn giác cũng gọi là Phật tánh, cũng
gọi là Tâm Địa. Ngộ thì gọi là Huệ, tu gọi là Định. Định Tuệ gọi chung
là Thiền nguồn cội của Tánh này là Thiền nên gọi là Thiền Nguyên
(nguồn Thiền) cũng gọi là Thiền Na. về Lý Hạnh, cội nguồn này là
Thiền Lý, quên tình khế họp là Thiền Hạnh cho nên gọi là Lý Hạnh.
Song nay tập họp các sáng tác của các nhà, phần nhiều nói về Thiền lý
mà ít nói về Thiền Hạnh, cho nên đặt tên là Thiền Nguyên. Thời nay
chỉ gọi chân tánh là thiền không phải là ý chỉ không đặt lý mà làm, lại
do chẳng phân rõ tiếng Tây Trúc và tiếng Hoa. Song không phải lìa
chân tánh mà riêng có Thiền Thể. Chỉ chúng sinh mê chân họp trần thì
gọi là tán loạn, trái Trần họp chân thì gọi là thiền định. Nếu luận thẳng
bổn tánh tức là chẳng chân chẳng vọng, không trái không họp, không
định không loạn, ai (cái gì) nói là thiền. Huống chân tánh này chẳng
phải chỉ là gốc của Thiền Môn mà cũng là gốc của muôn pháp, cho nên
gọi là pháp tánh, cũng là nguồn (gốc) mê ngộ của chúng sinh, cho nên
gọi là Như Lai Tàng Tạng Thức, cũng là gốc vạn đức của chư Phật, cho
nên gọi là Phật tánh. Cũng là nguồn (gốc) vạn hạnh của Bồ tát, cho nên
gọi là Tâm địa. Vạn hạnh chẳng ngoài 6 Ba la mật. Thiền môn chỉ là 1
trong 6 ấy, đứng hàng thứ 5, há có thể chỉ chân tánh là 1 Thiền hạnh ư?
Song 1 hạnh Thiền định rất là thần diệu, hay phát khởi tánh trên trí tuệ
vô lậu, tất cả đều diệu dụng của vạn hạnh vạn đức, cho đến thần thông
ánh sáng đều từ định mà phát ra. Người học 3 thừa muôn cầu Thánh
Đạo ắt phải tu thiền. Lìa đây thì không có cửa nẻo nào khác. Đến như
niệm Phật cầu sinh Tịnh độ, cũng tu 16 quán thiền và niệm Phật Tam-
muội, Ban châu Tam-muội. Lại chân tánh thì chẳng sạch chẳng nhơ,
phàm Thánh không khác. Thiền thì có cạn có sâu, có thềm bậc khác
nhau. Nói có kế lạ là ham trên chán dưới mà tu là Thiền phàm phu. Ngộ
lý Ngã không thiên chân mà tu là thiền Tiểu thừa. Ngộ pháp ngã 2
không hiểu rõ chân lý mà ta là Thiền Đại thừa. Nếu đốn ngộ tự tâm xưa
nay thanh tịnh vốn không phiền não, vô lậu trí tánh vốn tự đầy đủ. Tâm
này tức là Phật rốt ráo không khác. Y đây mà tu thì là Thiền tối thượng
thừa, cũng gọi là Như Lai Thanh Tịnh thiền, cũng gọi là Nhất Hạnh
Tam-muội, cũng gọi là Chân nhưTam-muội. Đây là cội gốc của tất cả
Tam-muội. Nếu hay niệm niệm tu tập, tự nhiên dần được trăm ngàn
Tam-muội khác. Dưới cửa Đạt Ma lần lượt truyền nhau chính à thuyền
này. Khi Đạt Ma chưa đến chỗ hiểu biết của các nhà xưa nay đều là 4
Thiền 8 Định, các cao Tăng tu đếu được công dụng. Các ngài Nam
Nhạc, Thiên Thai khiến y 3 Đế lý mà tu 3 chỉ 3 quán, giáo nghĩa tuy rất
viên diệu nhưng thứ tự chỗ vào cửa cũng chỉ là hành tướng của các
Thiền trước. Chỉ cái truyền của Đạt Ma thì đốn đồng Phật thể khác với
các môn. Cho nên người Tông Tập thì khó được ý chỉ này, nếu được thì
nhanh chóng thành Thánh mau chứng Bồ đề, mất thì thành tà mau vào
địa ngục. Các Tổ trước đều phải đổi vị phòng lỗi mất. Lại người truyền
1 người đời sau dựa vào đó mà mặc tình ngàn đèn ngàn chiếu, lâu ngày
mà pháp thành tệ, lầm lẫn rất nhiều. Người học Thiền luận nghi chê
cũng đông. Nguyên vì Phật nói có Đốn giáo Tiệm giáo, thiền mở ra có
Đốn môn, Tiệm môn 2 giáo 2 môn đều cùng phù khế nhau. Nay người
giảng riêng bày nghĩa tiệm, còn người thiền riêng truyền Đốn tông.
Thiền giảng gặp nhau thì Hồ Việt (Ân Hoa) cách nhau. Ngài Tông Mật
chẳng biết đời trước làm sao huân được tâm này, tự mình chưa giải tho¬
át mà muốn giải thoát trói buộc cho người. Vì pháp quên mình, thương
người hơn cả thần tình. Thường than thở người cùng pháp mà sai, pháp
vì người mà bịnh, cho nên riêng chọn kinh luật luận mà sớ. Mở lớn cửa
giới định huệ, hiển bày đốn ngộ giúp tiệm tu, chứng minh lời Sư nói:
Phù họp với ý Phật. Ý đã ngọn ngành chỉ rõ, văn lại rộng rãi khó tìm.
Phiếm học thì nhiều mà nối chí thì ít. Huống Tích Thiệp Danh Tướng ai
biên được vàng thau, uổng công cực nhọc mà chưa thấy cơ cảm. Tuy
Phật nói bi nhiều là hạnh nhưng tự mình thì tự ái khó lòng nên Sư bèn
lìa chúng vào núi Tập Định và Huệ, trước sau dứt lo nghĩ liên tục 10
năm (Sao nói trước sau, vì khoảng giữa vua gọi về cung 2 năm, sau dâng
biểu xin về núi). Tập tình nhỏ nhặt khởi diệt bày ở Tịnh Huệ, pháp ng¬
hĩa sai khác la liệt bày ở không tâm. Xuyên ánh mặt trời bụi bặm quấy
nhiễu, đầm trong đáy nước bóng dáng đành rành, há lại trông không im
lặng của Si thiền cùng hạng Cuồng thiền là chỉ tìm kiếm ở văn nói song
nhân rõ tự tâm mà biện ra các giáo, nên tình khẩn thiết ở Tâm Tông.
Lại nhân biện các giáo mà hiểu rõ tu tâm nên rất chí thành ở giáo nghĩa.
Giáo thì chư Phật Bồ tát đã lưu ở kinh luận, thiền thì các Thiện tri thức
đã nói câu, kệ. Chỉ có kinh Phật mở ra thì bao trùm cả Đại thiên 8 bộ
chúng, còn thiền kệ thì tóm tắt đối với 1 loại cơ ở phương này. Chúng
bao trùm thì mênh mông khó nương, ở cơ thì dễ dùng. Nay toàn kết tập
ý ở đây. Bùi Hưu làm tựa nói rằng: Môn hạ các Tông đều có người Đạt.
Song các chỗ an tập thông thì ít mà cục thì nhiều. Trong 10 năm Sư pháp
càng hoại. Lấy thừa bẩm làm cửa nẻo đều tự rộng mở, lấy kinh luận
làm can qua mà công kích lẫn nhau. Tình tuy Hàm thỉ mà dời đổi, pháp
theo nhân ngã mà cao thấp, phải quấy lăng xăng khó thể biện chiết thì
người hướng về các phương giáo tông Thế Tôn Bồ tát vừa đủ để tranh
giành, người sau Tăng thêm bịnh phiền não, nào có lợi ích gì. Khuê Sơn
Đại sư lâu mà khen rằng: Ta vào lúc này không thể im lặng. Do đó dùng
3 thứ giáo nghĩa của Như Lai mà ấn 3 thứ pháp môn Thiền tông, cho
rằng bình mâm thoa xuyến là 1 kim loại (vàng?), nắm chắc tô lạc đề hồ
là một vị. Nắm cương lãnh mà nâng lên đều thuận cả, căn cứ hội yếu
mà lại thì cùng đến (chỗ?) còn sợ kẻ học khó sáng. Lại còn chỉ thẳng
ngọn ngành của Tông nguyên, hòa họp của chân vọng, ẩn hiển của tánh
không, sai khác của pháp nghĩa, dị đồng của đốn tiệm, hồi hổ của giá
biểu, cạn sâu của quyền thật, phải quấy của thông đồng. Nếu là thầy ta
thì ôm Phật nhật mà tỉ mỉ hồi chiếu nghi đều trừ sạch thuận theo tâm
Phật mà phô bày Đại bi cùng kiếp làm lợi ích. Thời Thế Tôn là chủ mở
giáo. Thầy ta là người hiểu giáo, gốc ngọn họp nhau Đạo gần chiếu
nhau. Có thể nói là việc làm của hết cả 1 đời thời giáo vậy. Có người
nói từ Như Lai chưa từng Đại Đô mà thông, nay 1 sớm trái tông thú mà
không giữ, bỏ phòng hộ mà chẳng cứ, không trái Bí tạng mà mật khế
với Đạo ư? Đáp rằng: Như Lai tuy trước riêng nói 3 thừa sau bèn thông
làm 1 Đạo. Cho nên trong kinh Niết-bàn, Ca-diếp Bồ tát nói: Phật có
mật ngữ mà không có mật tạng. Thế Tôn khen rằng: Lời Như Lai khai
phát hiển bày thanh tịnh không tối tăm, người ngu không hiểu gọi đó là
Bí tạng. Kẻ tri hiểu rõ thì không gọi là Tạng, đây là chứng. Thế nên
Vương Đạo hưng thạnh thì ngoài cửa không đóng mà giữ về nhung di.
Phật Đạo đầy đủ thì các pháp tổng trì mà phòng hộ ma ngoại, ở đó
không chấp tình mà nương tay. Năm Hội Xương 1, ngày 6 tháng giêng,
Sư ngồi tịch ở tháp viện Hưng Phước. Ngày 22 Đạo tục đem kim thân Sư
về Khuê Phong. Ngày 12 tháng 2 làm lễ Trà tỳ được nhiều xá lợi lớn
sáng nhuận. Sau môn nhân khóc mà cầu thì đều được tro nóng chứa
trong Thạch Thất. Sư thọ 62 tuổi, lạp được 34. Sư di chúc khiến để thấy
trần mà thí cho chim thú, đốt xương mãi rải, chớ nên mến tiếc thương
khóc mà loạn Thiền quán. Mỗi khi tiết thanh minh thì lên núi giảng đạo
7 ngày, ngoài ra nghi trụ trì đều theo luật, nếu trái lời thì không phải đệ
tử của ta. Cả 4 chúng có đến hàng trăm ngàn người khóc lóc ồn náo cả
thôn. Kịp khi vua Tuyên Tông mở lại chân giáo, truy ban thụy là Định
Tuệ Thiền sư, tháp đề Thanh Liên. Tiểu Dật tướng công trình chỗ thấy
của mình thỉnh Thiền sư chú thích rằng: Ngài Hà Trạch nói: Thấy thể
thanh tịnh ở các Tam-muội 8 vạn 4 ngàn các Ba la mật môn đều ở chỗ
thấy trên mà cùng lúc khởi dụng, gọi là Tuệ Nhãn. Nếu khi chân như
tương ưng vạn hóa tịch diệt, lúc đó lại không chỗ thấy. Tam-muội các
Ba la mật môn cũng cùng lúc trống vắng (không tịch) lại không chỗ
được. Không biết phải đây là trên chỗ thấy cùng lúc khởi dụng chăng?
Trông vào đây sau đó chỉ bày và cố gắng đáp sử Sơn Nhân 10 câu hỏi.
Câu hỏi 1: Thế nào là Đạo, lấy gì mà tu, cần phải tu thành hay không
nhờ công dụng? Đáp: Vô ngại là Đạo, biết vọng là tu. Đạo tuy chẳng
tròn nhưng vọng khởi là lụy. Vọng niệm đều hết tức là tu thành. Câu hỏi
2. Đạo nếu nhân tu mà thành thì tức là tạo tác, lại đồng với pháp thế
gian hư nguy chẳng thật, thành rồi lại hoại sao gọi là xuất thế. Đáp: Tạo
tác là kết nghiệp gọi là hư ngụy thế gian không làm là tu hành tức chân
thật xuất thế gian. Câu hỏi 3: Chỗ tu ấy là đốn hay tiệm, nếu tiệm thì
quên trước mất sau, lấy gì tập họp mà thành. Đốn thì vạn hạnh nhiều
phương há được 1 lúc mà viên mãn? Đáp: Chân lý tức ngộ mà đốn viên,
vọng tình dứt mà tiệm hết. Đốn viên như mới sinh hạt, 1 ngày mà chi
thể đã hoàn toàn. Tiệm tu như nuôi lớn để thành người phải trải nhiều
năm chí khí mới lập. Câu hỏi 4: Phàm pháp tu tâm địa là ở ngộ tâm liền
liễu hay phải riêng có hạnh môn. Nếu riêng có hạnh môn sao gọi là
Nam Tông Đốn chỉ. Nếu ngộ tức liền đồng chư Phật sao chẳng phát
thần thông và ánh sáng? Đáp: Biết ao băng mà toàn nước, nhờ khí nóng
mà tan dần ngộ phàm phu mà tức chân, nương pháp lực mà tu tập, băng
tiêu thì nước chảy thấm mới lộ ra công rửa sạch. Vọng hết thì tâm linh
thông mới phát ra thần thông và ánh sáng. Ngoài việc tu tâm không có
hạnh môn nào khác. Câu hỏi 5: Nếu chỉ tu tâm mà được Phật, sao các
kinh lại nói phải tu trang nghiêm Phật độ, giáo hóa chúng sinh thì mới
gọi thành Đạo? Đáp: Gương sáng mà hình ảnh có ngàn sai khác tâm tịnh
mà thần thông muôn ứng hiện, hình ảnh là trang nghiêm Phật quốc, thần
thông thì giáo hóa chúng sinh. Trang nghiêm mà tức không phải trang
nghiêm, hình ảnh mà cũng sắc không phải sắc. Câu hỏi 6: Các kinh đều
nói độ thoát chúng sinh, chúng sinh lại tức chẳng phải chúng sinh, vì sao
nhọc công độ thoát? Đáp: Chúng sinh nếu là thật độ thì có nhọc mệt. Đã
tự nói tức chẳng phải chúng sinh sao chẳng lệ theo độ mà chẳng độ. Câu
hỏi 7: Các kinh nói Phật thường trụ hoặc tức nói Phật đã diệt độ, thường
thì tức chẳng diệt, diệt thì tức chẳng thường, há chẳng trái nhau? Đáp:
Lìa tất cả tướng tức gọi chư Phật sao có thật là ra đời và nhập diệt ư?
Huống hiện ra và mất đi là tùy cơ duyên. Cơ duyên ứng thì dưới cây Bồ
đề mà xuất hiện, cô duyên hết thì ở rừng ta la mà nhập Niết-bàn. Như
trước trong suốt không tâm không hình, chẳng hiện hình chẳng có ngã.
Bởi tướng tới lui của chất bên ngoài không phải là thân Phật, há Như
Lai có hiện ra và mất đi. Câu hỏi 8: Như thế nào là Phật hóa sinh ra ta
như Ngài sinh. Phật đã vô sinh thì sinh là nghĩa gì. Nếu nói tâm sinh thì
pháp sinh, tâm diệt thì pháp diệt, sao được vô sinh pháp nhẫn? Đáp: Đã
nói như hóa hóa tức là không, không tức là vô sinh, sao hỏi nghĩa sinh.
Sinh diệt mất rồi thì tịch diệt là chân. Nhẫn được pháp này thì vô sinh
nên gọi là vô sinh pháp nhẫn. Câu hỏi 9: Chư Phật thành Đạo nói pháp
chỉ vì để độ thoát chúng sinh. Chúng sinh đã có 6 đạo. Vì sao Phật chỉ ở
tại loài người mà hiện hóa? Lại khi Phật diệt độ rồi thì trao pháp lại cho
Ca-diếp lấy tâm truyền tâm, cho đến 7 Tổ phương này mối đời chỉ
truyền cho 1 người. Đã nói đối với tất cả chúng sinh đều xem như con
một, sao lại truyền trao không khắp? Đáp: Mặt trăng mặt trời ở trên
không, 6 (lục) họp đều chiếu, mà người mù thì chẳng thấy, ở dưới chậu
úp chẳng biết, không phải mặt trời mặt trăng không khắp mà do lỗi
chướng cách. Nghĩa độ cũng chẳng độ giống như đây, chứ chẳng phải
chỉ chọn trời người mà bỏ quỉ súc. Chỉ vì ở loài người, thì có thể kết tập
truyền trao không dứt mất, nên chẳng biết Phật hiện trong loài người.
Ngài diệt độ rồi giao cho Ca-diếp lần lượt truyền nhau cho 1 người. Đây
cũng bởi luận đường đời làm chủ tông giáo lúc đó, như nước không có
2 vua không phải chỉ độ có số này. Câu hỏi 10: Hòa thượng nhân đâu
mà phát tâm, mến mộ pháp nào mà xuất gia, nay tu hành như thế nào,
được pháp vị nào, chỗ làm được đến địa vị nào, khiến trụ tâm hay tu
tâm. Nếu trụ tâm thì ngại tu tâm. Nếu tu tâm thì động niệm chẳng yên.
Nếu yên tâm, nhất định thì có khác nào nhóm định tánh. Rất mong Đại
Đức vận đại từ bi đúng lý như như thứ lớp nói ra. Đáp rằng: Biết 4 đại
như ngói huyễn, biết 6 trần như hoa đốm, ngộ tâm mình là tâm Phật,
thấy bổn tánh là pháp giới là phát tâm. Biết tâm không trụ tức là tu
hành, không trụ mà biết tức là pháp vị. Trụ dính vào pháp đây là động
niệm. Cho nên như người vào chỗ tối thì không thấy. Nay không chỗ
trụ, chẳng nhiễm chẳng dính. Cho nên như người có (sáng) mắt và có
ánh sáng mặt trời thì thấy đủ các pháp, há là nhóm Định tánh đã không
có chỗ trụ dính sao luận gì đến nơi chỗ. Lại có Thượng thư Ôn Tạo ở
Sơn Nam hỏi rằng: Người ngộ lý dứt vọng thì chẳng kết nghiệp, 1 đời
này chết rồi thì linh tánh y vào đâu? Đáp: Tất cả chúng sinh đều có đủ
giác tánh, sáng linh không tịch (trống vắng) cùng Phật không khác, chỉ
vì từ vô thủy kiếp đến nay chưa từng liễu ngộ, mà vọng chấp thân làm
ngã tướng (tướng của ngã) cho nên sinh ra yêu ghét các tình, rồi theo
tình mà tạo nghiệp, theo nghiệp mà bị báo sinh già bịnh chết nhiều kiếp
luân hồi. Song giác tánh trong thân chưa từng chết. Như mộng thấy bị
đuổi xô làm việc cực nhọc mà thân vẫn nằm yên. Như nước làm băng
mà tánh ẩm ướt không đổi. Nếu hay ngộ tánh này tức là pháp thân, vốn
tự vô sinh sao có nương gá, linh linh bát muội liễu liễu thường tri (sáng
suốt không tối tăm luôn biết rõ ràng), không có chỗ đi cũng không có
chỗ đến. Song nhiều đời vọng chấp quen thành tánh, mừng giận buồn
vui hoạt động tỉ mỉ (vi tế lưu chú). Chân tánh tuy chóng hiển đạt, tình
này cũng khó diệt trừ, cần phải mãi mãi xét biết khiến bớt dầu bớt dần,
như gió ngừng thì sóng lặn, há có thể 1 đời tu hành liền đồng lực dụng
chư Phật. Chỉ có thể lấy không tịch làm tự thể, chớ nhận sắc thân lấy
linh tri làm tự tâm, chớ nhận vọng niệm. Vọng niệm nếu khởi đều không
theo, thì khi lâm chung nghiệp tự nhiên sẽ không thể trói buộc. Chỗ đi
của Trung Ân sẽ tự do, trên trời cõi người tùy ý mà thác sinh. Nếu niệm
yêu ghét đã mất thì không nhận thân phần đoạn, tự có thể đổi ngắn
thành dài, đổi thô thành diệu. Nếu vi tế lưu chú tất cả tịch diệt (lặng
mất). Chỉ viên giác đại trí thì sáng rỡ riêng còn. Tức tùy cơ ứng hiện
trăm ngàn ức thân, độ chúng sinh có duyên, gọi đó là Phật, cẩn Đối giải
thích rằng: Mã Minh Bồ tát toát yếu Tông chỉ kinh Bách Bổn Đại Thừa
tạo ra Đại Thừa Khởi Tín luận. Trong luận lập Tông nói tất cả chúng
sinh tâm có nghĩa giác và không giác. Trong giác thì có nghĩa Bản giác
và Thủy giác. Chỗ nói trên tuy chỉ ước về chỗ chiếu lý quán tâm mà nói
nhưng pháp nghĩa cũng đồng với luận ấy nghĩa là từ xưa đến nay cùng
Phật không khác, đó là Bản giác, nhưng từ vô thủy trở đi là chẳng giác.
Nếu từ ngộ này trở đi thì gọi là Thủy giác. Trong Thủy giác lại có đôn
ngộ tiệm tu. Từ đây trở đi cũng không có chỗ đi, đó là đốn ngộ. Song từ
nhiều đời vọng chấp trở đi là tiệm tu. Trong tiệm tu từ mới phát tâm cho
đến thành Phật có 3 vị tự tại. Từ đây đến tùy ý thác sinh là thọ sinh tự
tại. Từ theo niệm yêu ghét trở đi là biến dịch tự tại. Từ vi tế lưu chú trở
đi đến hết là rốt ráo tự tại. Lại từ nhưng có thể lấy không tịch làm tự thể
cho đến tự nhiên nghiệp sẽ không thể trói buộc, chính là chỗ sớm chiều
hành tâm của người ngộ lý cốt yếu tu tập chỉ quán. Ngài Tu Mật trước
đây có kệ 8 câu nói rõ ý này, từng đọc tụng ở chỗ Thượng thư, vâng
lệnh giải thích, nay cẩn thận chú thích, như kệ sau nói rằng:
Làm việc có nghĩa là tâm tỉnh ngộ
Làm việc vô nghĩa là tâm cuồng loạn.
Cuồng loạn theo tình niệm thì khi lâm chung bị nghiệp lôi kéo
Tỉnh ngộ chẳng theo tình thì khi lâm chung chuyển được nghiệp.
PHỤ LỤC:
Sư lên Pháp Đường nói rằng: Hôm nay toàn nêu Tâm Ân của Tổ
sư. Đi thì ấn dừng, mà dừng tức ấn hư chỉ như không đi không dừng thì
ấn tức là chẳng ấn trong chúng lại có ai nói được chăng? Lúc đó có Lô
Pha trưởng lão hỏi: Học nhân có cơ trâu sắt, thỉnh Sư không đáp ấn. Sư
nói: quen câu kình nghê lắng trong đầm lớn, tức than bước ếch lún sình
lầy. Lô Pha định nói thì Sư liền dùng phất trần đánh vào miệng bảo:
Nhớ được lời trước chàng? Lô Pha nói nhớ được. Sư bảo thử nêu xem.
Lô Pha muốn mở miệng thì Sư lại đánh 1 phất trần nữa. Sư lên Pháp
Đường bảo chúng rằng: Phàm mắt tai tham học khi gặp cơ thì thẳng ở
Đại dụng hiện tiền chớ nên câu chấp ở tiểu tiết. Giả sử lời trước được
nêu thì cũng là trệ xác mê phong, dẫu sau câu nói mà tình thông thì
chưa khỏi là xúc đồ cuồng kiến. Ta xem các ông từ trước y theo người
khác học hiểu mê muội 2 lối, mà nay cùng các ông nhất tề quét sạch,
mọi người làm con cháu của Đại sư, nhe nanh cào đất rống lên 1 tiếng
vách dựng đứng ngàn trượng (nhân), ai dám thẳng mắt nhìn ngắm (nhìn
trộm), nếu nhìn ngắm thì sẽ mù lòa cự nhãn. Hỏi: Sư hát khúc ca nhà ai,
tông phong nối ai? Sư nói: Vượt lên trên hướng ra ngoài Oai Âm khểnh
chân uổng nhọc khen ngợi Đề Sa.

Nguồn bản dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Internet Archive OCR)Giấy phép: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Việt dịch) · OCR Internet Archive · nguồn: archive.org · EN quarantined on 2026-07-06: previous bodyEn was short INTI-AI quote-widget noise, not a source English body. · EN: AI translation from Vietnamese source, awaiting source English🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch bằng AI do Inti biên soạn: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến