Long Thư Tăng Quảng Tịnh Độ Văn quyển 11
Tên chữ Hán:龍舒增廣淨土文
Lưu tiến độ đọc kinh
Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.
LONG THƯ TĂNG QUẢNG TỊNH ĐỘ VĂN - QUYỂN 11
LONG THƯ TĂNG QUẢNG TỊNH ĐỘ VĂN
QUYỂN II
PHẦN PHỤ LỤC
THIỆN THAI TRÍ GIÁ
KHUYÊN HÀNH GIÁ CHUYÊN TU TỊNH ĐỘ
Nếu có người hỏi rằng: “Chư Phật và Bồ-tát lấy đại bi làm sự
nghiệp. Nếu người tu muốn độ sinh thì chỉ nên nguyện sinh vào ba cõi,
ở trong ngũ trược và tam đồ để cứu chúng sinh đau khổ. Tại sao chư vị
lại cầu sinh Tịnh độ, lại chỉ an ổn bản thân bỏ rơi chúng sinh vậy? Nếu
như thế hóa ra chư vị chỉ chuyên tâm vào việc tự lợi, đồng thời cũng làm
cẩn trở con đường Bồ-đề?”
Đại sư Trí Giả đáp:
– Có hai hạng Bồ-tát: Thứ nhất, là hạng đã tu tập con đường Bồ-
tát từ lâu và đã chứng đắc Vô sinh nhẫn. Nếu những vị này không sinh
vào ba cõi v.v... thì lời trách cứ đó quả là xứng đáng! Thứ hai, là hạng
chưa chứng đắc Vô sinh nhẫn trở lui, cho đến hạng phàm phu mới phát
tâm. Hạng phàm phu Bồ-tát cần phải thường xuyên gặp Phật. Một khi
họ thành tựu sức nhẫn thì mới có thể ở trong ba cõi, mới có thể cứu khổ
cho chúng sinh trong đời bẩn ác.
Vì vậy luận Đại Trí Độ nói: Không bao giờ có chuyện hàng cụ
phược phàm phu mà có tâm nguyện đại bi để sinh vào đời ác mà cứu
những chúng sinh khổ. Vì sao? Vì mức độ phiển não ở thế giới ác rất
dữ dội. Nếu là hạng tự mình chưa có nhẫn lực thì tâm sẽ bị chuyển theo
hoàn cảnh, bị sắc và thanh trói ngay. Tự mình bị đọa lạc trong tam đồ
thì làm sao có thể cứu vớt chúng sinh được? Ngay cả hạng cụ phược
phàm phu được sinh vào cõi người đi nữa thì cũng khó mà chứng đắc
con đường Thánh. Có thể do trì giới, tu phước nên họ được sinh trong cõi
người, được làm quốc vương, đại Thần rất giàu có và tự tại; nhưng nếu
gặp bậc Thiện tri thức thì họ sẽ không tin tưởng. Họ chỉ đắm vào vũng
tham lam, mê tối và phóng dật để rồi tạo nên bao nhiêu thứ tội nghiệp.
116 BỘ CHƯ TỒNG 12
Một khi rơi vào tam đồ, họ phải trải qua vô lượng kiếp. Lúc thoát khỏi
địa ngục, họ lại phải nhận cái thân bần tiện, và nếu không gặp được
Thiện tri thức thì họ vẫn bị sa vào địa ngục lại. Do vậy, họ bị luân hồi
cho đến ngày hôm nay. Sự luân hồi của tất cả mọi người là như sự luân
hồi ở trên. Vì vậy, tôi gọi con đường này là Nan, hành, đạo (con đường
khó tu tập).
Cũng vì lý do trên mà kinh Duy-ma nói: “Bệnh mình mình không
thể cứu được mà lại đòi cứu những người bệnh khác!”
Lại nữa, Trí Độ luận nói: “Ví như có hai người, mỗi người đều có
thân nhân bị nước nhận chìm. Một người hốt hoảng nhảy ngay vào nước
để cứu họ, nhưng vì thiếu sự hỗ trợ của phương tiện nên cả hai đều chìm
ngỉm. Một người tức tốc chạy đi tìm thuyền bè để tiếp cứu, và nhờ có
sự hỗ trợ của phương tiện, nên cả hai đều thoát nạn bị dòng nước nhận
chìm. Cũng vậy, hạng Bồ-tát mới phát tâm chưa có nhẫn lực thì không
thể cứu vớt chúng sinh được. Vì lý do đó nên họ cần phải gần Phật
thường xuyên. Sau khi chứng đắc Vô sinh nhẫn rồi, họ mới có năng lực
để cứu độ chúng sinh cũng như người có được thuyền bè vậy.”
Lại nữa, luận nói: Ví như trẻ thơ không được rời xa mẹ. Nếu rời xa
mẹ thì hoặc là nó sẽ chết vì bị rơi xuống hầm hố hoặc vì khát sữa. Lại
nữa, như chim non vì chưa đủ cánh lông nên nó chỉ được bám vào cành
nhánh chứ không được đi xa. Đến lúc lông cánh đã đủ đầy nó mới có thể
bay lượn giữa bầu Trời một cách tự tại và không bị gì ngăn ngại.
“Hạng phàm phu không có nhẫn lực thì chỉ được phép chuyên
niệm A-di-đà Phật để cho Tam-muội thành tựu. Nhờ thành tựu được
Tam-muội nên lúc sắp mất hành giả thâu niệm để vãng sinh. Đây là
điều không đáng để nghỉ ngờ. Sau khi thấy được Đức Phật A-di-đà,
được chứng Vô sinh pháp nhẫn rồi, hành giả sẽ sinh lại trong ba cõi,
ngồi thuyển Vô sinh nhẫn để cứu độ chúng sinh, để làm Phật sự theo
tâm nguyện của mình một cách tự do, tự tại.” Vì lý do đó luận nói rằng:
“Du hý nơi địa ngục.” Nghĩa là hành giả sinh về cõi Cực lạc, đắc vô
sinh nhẫn rồi, lập tức sinh vào lại cõi, miễn, sống, chết để giáo hóa
chúng sinh trong địa ngục và cứu vớt những chúng sinh khổ?
“Vì những lý do đó mà hành giả cầu sinh Tịnh độ. Ngưỡng nguyện
người tu hành nên chuyên tâm với TỊnh độ. Cho nên, luận Tỳ-bà-sa gọi
đó là Dị hành đạo (Con đường dễ tu tập).”
Thiển sư Trường Lô Trách, người Chân châu, khuyên người tham
Thiên tu Tịnh độ.
Kẻ chấp trước “Niệm là niệm; sinh là sinh” tức là phạm vào lỗi
thường kiến. Kẻ bám chặt vào “Vô niệm là vô niệm; vô sinh là vô sinh”
tức là bị mê hoặc bởi tà kiến. “Niệm mà vô niệm; sinh mà vô sinh”, đó
là Đệ nhất nghĩa đế. Do vậy, ở phạm vi thật tế lý địa không dung một
mẩy bụi, thì trên không có chư Phật để có thể niệm và dưới không có
Tịnh độ để có thể sinh; nhưng ở ngưỡng cửa Phật sự không bỏ một pháp
nào thì lại thâu nhiếp tất cả căn tánh.
Pháp niệm Phật Tam-muội là phương thuật cốt tủy để trở lại
nguồn và mở bày cửa ngõ vãng sinh, nên dẫu hành giả niệm Phật suốt
ngày nhưng chẳng trái với lý vô niệm; hăm hở vãng sinh nhưng chẳng
nghịch với lý vô sinh. Vì vậy mà có sự kiện “cảm ứng đạo giao”, dẫu
Thánh và phàm đều an trụ nơi vị trí của mình, Đông Tây không qua lại
với nhau nhưng Thần thức đã dời sinh Tịnh độ. Không một ai có thể suy
tư đến chỗ cùng tận của hiện tượng ấy được cả!
Bởi thế kinh nói rằng:
“Nếu ai nghe nói đến Phật Di-đà chấp trì danh hiệu”... cho đến...
“Lúc họ sắp mất tâm không điên đảo liền được vãng sinh cõi nước Cực
lạc của Phật Di-đà ”.
Tuy Thế Tôn phân ra hai cửa là chiết và nhiếp, hiện ở hai vùng
đất là tịnh và uế, nhưng không phải Thế Tôn cho rằng hầm hố, gò đồi,
năm nẻo chung lộn nhau, đất đá, núi non và đầy rẫy bẩn ác của cõi
Ta-bà là hoàn toàn đáng chán; cũng không phải Thế Tôn cho rằng đất
bằng vàng, hàng cây đụng Trời, lầu bằng bảy loại trân bảo, hoa phô
bốn màu của Cực lạc là hoàn toàn đáng hâm mộ. Nhưng vì nhẫn lực
của hàng Bồ-tát đang vào đạo chưa được thuần thục nên cần phải nương
vào Tịnh độ để làm Tăng thượng duyên. Vì sao? Vì ở cõi Ta-bà thì Đức
Phật Thích-ca đã nhập diệt mà Ngài Di-lặc lại chưa sinh; trong lúc đó ở
cõi Cực lạc thì Đức Phật A-di-đà đang thuyết pháp. Ở Ta-bà, hành giả
chỉ hân ngưỡng tên lành của Bồ-tát Quán Âm và Thế Chí, trong lúc đó
ở thế giới Cực lạc thì hai vị thượng nhân ấy lại trực tiếp làm bạn tốt của
hành giả. Ở cõi Ta-bà thì các loại ma tranh nhau làm hành giả bị não
loạn, trong lúc ở Cực lạc thì trong ánh sáng vĩ đại quyết không có ma
sự. Ở cõi Ta-bà thì những âm thanh tà ngụy làm tâm tưởng hành giả bị
tạp loạn, có nữ sắc và yêu dâm; trong lúc đó ở thế giới Cực lạc thì tất cả
chim, nước, cây, rừng đều tuyên giảng diệu pháp, chánh báo thì thanh
tịnh và thật sự không có nữ nhân.
Cho dẫu sự tu hành ở Ta-bà có hội đủ điều kiện chăng nữa cũng
không bằng ở Tây phương. Vậy mà những kẻ có niềm tin cạn mỏng lại
sinh tâm hoài nghi và phỉ báng một cách ngạo ngược.
118 BỘ CHƯ TỒNG 12
Tôi xin đem chuyện đời để luận bàn cùng quý vị. Ở cõi này, có
ai là không chán cảnh ồn náo của tục gia, và có ai lại không thích cảnh
vắng lặng của chùa chiền? Vì thế, lúc có kẻ bỏ nhà xuất gia thì aicũng
ân cần khen ngợi. Nhưng nỗi khổ của cõi Ta-bà đâu chỉ ở nơi cảnh ồn
náo của tục gia và cảnh thanh nhàn của Cực lạc nào chỉ dừng ở vẻ vắng
lặng của Lan nhã. Những kẻ nhận thức được việc xuất gia là tốt đẹp
nhưng lại không nguyện vãng sinh là kẻ mang trong lòng căn bệnh ngu
thứ nhất!
Những người vượt ngàn đặm đường, trải qua vô vàn nỗi lao khổ
để tìm cầu Thiện tri thức, mong được phát minh đại sự, để quyết trạch
chuyện sống chết. Trong lúc Báo thân của Đức Phật A-di-đà đều siêu
việt, nguyện lực của Ngài vô cùng rộng lớn; Ngài chỉ một lần khai diễn
viên âm thì mọi người đều được khai ngộ. Những kẻ nguyện tham vấn
Thiện tri thức nhưng lại không mong diện kiến Phật A-di-đà là những
kẻ mang trong lòng căn bệnh ngu thứ hai!
Nơi tùng lâm có chúng đông đảo nên ai cũng muốn nương nhờ
tấm thân, còn chỗ đạo tràng ít chúng thì ai cũng không thèm gửi bóng!
Thế mà số lượng những vị Nhất sinh bổ xứ ở cõi Cực lạc nhiều vô cùng
và chư thượng thiện nhân cùng hội tụ một chốn. Những kẻ muốn nương
thân ở chốn tùng lâm, nhưng lại chối từ hải chúng thanh tịnh là những
kẻ mang trong lòng căn bệnh ngu thứ ba!
Tuổi thọ của con người ở cõi này không quá một trăm, nhưng trẻ
nít thì ngu, người già thì lẫn, đủ thứ bệnh tật; nói chung là hôn trầm,
thụy miên hơn một nữa đời người. Ngay cả hàng Bồ-tát còn mịt mờ lúc
cách ấm; Thanh văn vẫn còn tăm tối lúc xuất thai, thì hạng “Xích bích
thốn âm” đã mười phần mất hết chín. Người chưa bước chân vào Bất
thoái địa không thấy là đáng sợ làm sao? Trái lại, thọ mạng của chúng
sinh ở Tây phương là vô cùng tận. Một khi đã thác sinh vào bào thai của
hoa sen là vĩnh viễn chấm dứt nỗi khổ vì sống chết. Thọ mạng của họ cứ
tiếp nối mãi cho đến lúc thành đạo; nhờ vậy mà được quả vị A-duy-việt
chí và nắm tay trong niềm hy vọng thành Phật. Những kẻ lưu chuyển
trong cảnh ngắn ngủi của Ta-bà mà không hay biết gì về sự kiện năm
đài tháng rộng ở Tịnh độ là những kẻ mang trong lòng căn bệnh ngu
thứ tư!
Nếu hành giả đã ở địa vị Bất thoái, đã chứng đắc Vô sinh; ở nơi
cõi dục mà không ham muốn, sống giữa đời mà không bị nhiễm bụi,
mới có thể khởi lòng từ không điều kiện, vận động lòng bi cùng thể
tánh mà quay vào nơi trần lao, hòa mình trong ánh sáng và bụi mù của
ngũ trược. Có những kẻ kiến văn thì cạn nông, trí tuệ đơn bạc, hoặc có
những kẻ gom góp được vài ba mớ công hạnh phù hợp với những điều
thiện nhỏ nhít mà vội cho là mình đã mãi mãi ra khỏi bốn giòng chảy,
đã vượt qua Thập địa. Đông thời, họ luôn trách mắng và chê bai Tịnh
độ, tham đắm Ta-bà, tự bịt mắt mà về không và trôi nỗi rập rễnh như
rác rớm, làm thân trâu ngựa và chịu bao khổ đau nơi địa ngục. Họ không
biết mình là loại người nào và tự nghĩ mình là ngang hàng với Bồ-tát
quyền thừa. Đó là những kẻ mang trong mình bệnh ngu thứ năm!
Vì vậy kinh nói:
“Hãy nên phát nguyện, nguyện sinh nước ấy.”
Bởi thế, những kẻ không tin lời thành thật của chư Phật, không
nguyện sinh Tịnh độ, không phải là những người mê tối hay sao?
Nếu người tin lời Phật mà sinh về Tịnh độ thì không bị cột bởi sợi
dây thế giới hệ, không bị hại bởi sóng kiếp số. Họ sẽ xa lìa tám loại
khổ của nhân gian và năm tướng suy tàn của cõi Trời: “Cái tên đường
ác còn không có. Huống øì thật có nẻo đường ấy?” Họ chỉ làm sáng rỡ
pháp nhất thừa, quyết không có ba thừa. Họ chỉ quy y nhất thể Tam bảo
và phụng sự Như Lai khắp mười phương. Ánh sáng của Phật chiếu vào
thân thể họ nên muôn ngàn mê hoặc âm thầm tiêu trừ. Mùi vị pháp bồi
bổ Thần thức nên họ có đủ sáu loại Thần thông, ba mươi bẩy phẩm trợ
đạo pháp ứng với ý niệm của họ mà viên thành. Tùy chủng loại chúng
sinh mà họ ứng hiện ba mươi hai thân đầy ắp không gian và thời gian.
Họ đi quanh năm nẻo để hóa độ tất cả các căn tánh. Họ du hý khắp các
loại Tam-muội mà không động nhất tâm. Họ rẩy nước thiền định vào
ba ngàn thế giới để đưa chúng sinh ra khỏi căn nhà lửa. Tự lợi và lợi tha
họ đều thực hành viên mãn.
Được như vậy mới gọi là “Tự tánh Di-đà, duy tâm Tịnh độ”. Bởi
lẽ nó là ngưỡng cửa quan yếu của giải thoát, là con đường tắt và nhanh
của việc tu hành. Vì vậy, tất cả các kinh liễu nghĩa Đại thừa đều quy
chiếu vào Tịnh độ; tiên Hiển hậu Thánh thuộc tự lực hoặc tha lực đều
cầu nguyện vãng sinh. Bởi vì... muốn độ người, trước tiên mình phải tự
độ đã...
Than ôi!
“Làm người mà không biết lo xa thì chắc chắn nỗi buồn khổ sẽ ở
cận kề.” Một phen đánh mất tấm thân này thì ta sẽ ân hận đến cả ngàn
kiếp. Vì vậy, Lô Trách tôi đốc suất mỗi vị trong đại hải chúng niệm một
trăm, một ngàn cho đến mười ngàn tiếng A-di-đà Phật, rồi đem công
đức ấy để hồi hướng cho những người cùng duyên để nguyện sinh về
120 BỘ CHƯ TỒNG 12
cõi Cực lạc. Một khi hành giả đã gửi thân nơi Liên trì thắng hội, thì pháp
kim địa được sáng tỏ. Nhờ thắng duyên hỗ trợ nên nguyện ước của hành
giả được viên mãn. Nói theo cách thi vị, thì hành giả đã chèo thuyển
thuận với con nước mà lại thêm công sức của mái chèo; như vậy, dẫu
đường xa vạn dặm hành giả vẫn tới đích dù không nhọc sức hao hơi!
Mùa đông năm thứ tư niên hiệu Nguyên Hựu, Tông Trách tôi
mộng thấy một người con trai tuổi chừng ba mươi, mặc áo trắng, quấn
khăn đen, phong mạo rạng rỡ và cử chỉ rất thanh nhã. Người ấy chào
tôi rỗi nói: “Tôi muốn gia nhập hội Di-đà của sư, nên báo để Sư ghi tên
cho”. Tôi liền lấy cuốn Liên Hoa thắng hội, cầm bút và hỏi: “Ông tên
gì?” Đáp: “Phổ Tuệ”. Tôi vừa viết xong thì người áo trắng lại nói: “Anh
tôi cũng báo tên.” Tôi hỏi: “Anh của ông tên gì?” Đáp: “Phổ Hiển”.
Nói xong, người ấy liền ẩn mất. Sau khi tỉnh giấc, tôi tham vấn với
các vị trưởng lão về tên của hai vị trong giấc mơ. Các trưởng lão nói:
“Trong phẩm Ly thế gian của kinh Hoa Nghiêm có tên của hai vị Bồ-tát
ấy.” Tông Trách tôi nghĩ rằng đó là những Phật tử đang thi hành Phật sự
để trợ giúp cho công cuộc hoằng hóa của Đức Phật. Như vậy, tất nhiên
là Tịnh độ đã có sự khen ngợi thầm kín của Hiền thánh và dĩ nhiên, cái
duyên của những người tham dự vào hội này không phải là nhỏ. Vì vậy
mà hôm nay tôi đặt tên của hai vị Bồ-tát ấy trước trong hội Di-đà này!
Tỉnh Hàng châu, Thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ ngăn cấm những
kẻ không chứng ngộ không được khinh rẻ Tịnh độ.
Nếu có người hỏi: “Chỉ cần hành giả thấy tánh, ngộ đạo là
đã thoát được sinh tử, cần gì phải niệm Phật và câu sinh về phương
khác?”
Đáp: Người tu chân thật thì nên tự quán sát thân tâm mình. Như
người uống nước thì tự biết nóng lạnh. Nay tôi xin trích dẫn những lời
dạy của Thánh hiển để phá kẻ có nhiều mê hoặc.
Chư vị nhân giả nên tự xét hạnh giải của mình xem! Nói đến sự
thấy tánh ngộ đạo, nhận lời thọ ký của Như Lai, và làm rạng rỡ vị trí của
Tổ sư, thì chư vị được như Ngài Mã Minh, Long Thọ chăng? Nói đến
việc chứng đắc vô ngại biện tài, chứng Pháp Hoa Tam-muội, thì chư vị
có thể sánh với Thiên Thai Trí Giả chăng? Nói đến việc thông suốt cả
Tông và giáo, kiêm tu cả hạnh và giải, thì chư vị có bằng Trung Quốc
sư chăng?
Vậy mà chư vị ấy đều để lại lời dạy là một mực khuyên người
tu cầu vãng sinh. Bởi lẽ, bậc đã thực thi công cuộc tự lợi và lợi tha thì
không bao giờ dối người và tự gạt mình cả. Huống øì pháp môn Tịnh độ
này được đấng Đại hùng khen ngợi, được kim khẩu dặn dò. Nếu những
người tu theo gót tiên hiển và tuân theo lời dạy của Đức Phật thì chắc
chắn không bị lầm mê. Những sự hiển trước của các bậc cao sĩ xưa nay
được ghi lại trong Vãng sinh truyện là rất nhiều, người tu nên đọc để tự
nhìn lại mình và cũng là để tự độ mình.
Các vị có thể làm chủ mình trong lúc lâm chung chăng? Các vị
có bảo đảm rằng những chướng sâu nghiệp nặng của mình không hiển
hiện chăng? Các vị có chắc là báo thân này của mình không bị luân hồi
chăng? Các vị có chắc rằng mình không bị khổ não, mình sẽ ra vào tự
do khi đi trong những loài khác nhau ở tam đồ ác đạo chăng? Liệu qúy
vị có thể thác sinh vào cõi Trời, cõi người và các thế giới khắp mười
phương theo ý nguyện của mình mà không bị trở ngại chăng?
Nếu quý vị tự tin rằng mình đã đạt đến trình độ ấy thì có gì bằng!
Còn nếu chưa được thì các vị không nên ôm giữ căn bệnh cống cao nhất
thời để đến nỗi phải trầm luân ngàn triệu kiếp. Một khi đã tự mình chôn
mất điều thiện thì còn mong cứu vớt được ai nữa?
Than ôi!
Buồn bã thay!
Lời thở than làm sao đến được!
(Lời của Trách thiển sư xin đọc ở tập “Thiên Sư Khuyến Hóa”.
Lời của Trí Giả đại sư và Thọ thiển sư xin đọc ở trong tập “Trực chỉ
Tịnh độ quyết nghi” của Thị Lang Vương Mẫn Trọng, người đời Tống).
Thị Lang tên là Cổ, khi đang làm quan các Thần tiên biết tiếng. Chung
Ly Chân nhân từng làm thơ tặng Ngài rằng:
Đèn bão, bọt sóng buôn lẫn nhau
Ôm mãi hư vinh ích gì đâu?
Dưới cằm chứa ngọc nên nắm lấy
Trong thân có đạo còn cầu ai?
Tài cao, tao nhã gọi tiên cốt
Trí soi linh như rùa báu lớn
Một nữa núi xanh không chỗ bán
Hẹn anh dắt tay nói hi-di.
Từ đây có thể thấy Thị Lang là người phi phàm thì càng biết rằng
Tịnh độ Tây phương là chốn rất nên hướng về.
122 BỘ CHƯ TỒNG 12
VĂN KHUYẾN TU TỊNH ĐỘ
CUA THỪA TƯỚNG TRỊNH THANH
Mọi người đều cho rằng tu Tịnh độ không bằng Thiên, Giáo và
Luật. Riêng tôi, tôi cho rằng pháp môn của Thiền và Giáo không bằng
Tịnh độ.
Tánh chân tịnh minh diệu, hư triệt linh thông này đều có đủ nơi
người ngu và kẻ trí. Vì huyễn cảnh căn trần cùng nhau chìm đắm, vì
sinh tử luân hồi không bao giờ dứt, nên Đức Phật Thích-ca đem Thiền,
Giáo, Luật mà giả thi thiết phương tiện, khiến chúng sinh từ cửa mà vào
và đều được giải thoát.
Chỉ riêng Đức Phật Vô Lượng Thọ đưa ra một cửa gọi là tu hành
Tịnh độ. Pháp môn này có tính chất giản yếu và cắt thẳng như một
phương thuốc mà trị được trăm bệnh. Nếu hành giả chuyên tâm, nhất
niệm thì liền được vãng sinh. Pháp môn này ai cũng tu tập được không
luận là tăng hay tục. Mọi người chỉ biết rằng giáo lý này để giáo hóa
hạng ngu phu thiển cận, nhưng thật ra đây là con đường tắt và nhanh để
thành Phật.
Những người tu học ngày nay không ngoài Thiển, Giáo và Lu-
ật. Xét ở sự rốt ráo và viên đốn thì không pháp nào được như Thiên.
Nhưng nếu không phải là bậc lợi căn thượng khí, Thần lãnh ý giải thì
chưa thoát khỏi lỗi rơi vào ngoan không! Xét ở sự nghiên cứu về Tam
thừa thì không pháp nào như Giáo. Nhưng nếu không phải là bậc đạt
đến trình độ “Được cá quên nơm; nhân ngón tay để thấy mặt trăng”
thì chưa thoát khỏi bệnh “Cạo giấy cũ”! Xét ở việc bảo vệ điều thiện,
ngăn ngừa điều ác, thì không pháp nào bằng Luật. Nhưng nếu không
phải là bậc thân tâm thanh tịnh, trong ngoài như một thì chưa thoát
được nỗi khổ do mình tự trói buộc mình!
Nhìn chung, luận vào chỗ của người tu thì là Thiền, Giáo và Luật;
tìm nơi quay về của hành giả thì là Giới, Định và Tuệ. Nếu hành giả
muốn có Giới, Định và Tuệ nhưng không do Thiền, Giáo và Luật thì chỉ
một ngưỡng cửa là Tịnh độ mà thôi!
Nghĩa là, lúc hành giả vừa niệm Phật; miệng niệm tụng, tâm suy
tư và không làm những điều ác, đó chính là Giới. Lúc hành giả buộc
niệm vào tịnh cảnh thì huyễn trần bị diệt; đó là Định. Bản chất của
niệm là vô niệm, tâm hoa trong suốt; đó là Tuệ. Nếu hành giả có thể trừ
bỏ cả vạn mối nghĩ suy để chuyên tâm vào Tây phương thì chẳng cần
bày trò múa gậy, la hét mà vẫn ngộ được viên đốn cơ; không đọc Đại
tạng kinh mà vẫn có được con mắt chánh pháp; Không giữ mình trong
bốn oai nghi mà vẫn được tự tại, được vẫn không bẩn dơ và không vẫn
trong sạch, không bị trói buộc cũng như không có sự giải thoát... Chính
lúc đó cái gì là Giới, Định và Tuệ; cái gì là Thiền, Giáo và Luật; tâm
ta và tâm Phật là một không có sự sai khác. Đây là điểm tột cùng của
pháp tu Tịnh độ. Đã vậy, tại sao hành giả lại hoài nghi chuyện “Nước
có tám công đức và đài sen bằng vàng?”
– Ghi lại giấc mộng của người họ Lý quận Lô lăng.
Năm Quý Ty, niên hiệu Càn Đạo, toàn gia đình Ngạn Bật tôi bị
nhiễm bệnh. Ngày mồng năm tháng tư bản thân tôi cũng bị bệnh đến nỗi
không uống thuốc hay ăn cháo gì được. Sáng ngày mười chín, tôi mộng
thấy một người mặc áo đỏ, Thần sắc rạng rỡ, ông ta lấy tay vỗ và xoa
thân thể tôi rồi gọi: “Ngạn Bật! Mau ngồi dậy!” Tôi sợ hãi hỏi: “Ông
là ai?” Ông ta đáp: “Tôi là Long Thư.” Nhân đó, tôi nói với ông về
tình trạng bệnh tật của mình, dẫu muốn vịn vào ông nhưng không được.
Phải làm thế nào để lành bệnh. Ông hỏi: “Ngươi có nhớ con đường tắt
và nhanh mà Tĩnh Khuyết Trọng đã dạy cho không?” Tôi đáp: “Thưa
có! Vì ngày nào tôi cũng tụng niệm danh hiệu A-di-đà Phật.” Ông nói:
“Người ngồi dạy rồi dùng cháo trắng thì bệnh sẽ lành ngay!” Lúc tỉnh
giấc tôi bảo người nhà mang cháo để ăn và quả thật bệnh được lành.
Sau này, tôi được thấy tranh vẽ về Cư sĩ Long Thư mà Thần thái hoàn
toàn giống người tôi đã thấy trong giấc mộng!
Ngạn Bật tôi nghe nói, Cư sĩ tỉnh thông lục nghệ từ lâu, rất giỏi
về kinh Dịch và dạy người không biết mệt mỏi. Chủ nhân của nơi mọi
người đến học đem Tĩnh Dật Đường để tạ công cho ông. Ngoài cửa
Tĩnh Dật Đường luôn đầy ắp giày dép. Ngày mười một tháng giêng, tôi
sai đứa cháu đến thọ giáo với ông. Không bao lâu nó quay về nói rằng:
“Lúc đêm xuống, sau khi Cư sĩ giảng bài xong, Ngài trì tụng và lạy Phật
như thường lệ. Vào canh ba, bỗng nhiên Ngài niệm rất lớn mấy tiếng
A-di-đà Phật và nói: “Đức Phật đã đến đón ta!” Dứt lời Ngài đứng mà
đi”.
Ngay đêm đó, có người trong nước nằm mộng thấy hai người mặc
áo xanh dẫn Cư sĩ đi về phía Tây. Câu chuyện này thành sự kiện kỳ
diệu nhất nên dẫu người biết hay không biết đến ông đều chiêm bái.
Tôi hận là mình không được thờ ông làm Thầy nên càng nói lòng càng
thêm đau xót.
Trước lúc thị tịch ba ngày, Cư sĩ đi viếng thăm và chúc mọi người
cố gắng tu tập rồi nói “Từ đây về sau, chúng ta không còn gặp nhau
124 BỘ CHƯ TỒNG 12
nữa!”
Ngày mồng mười, Cư sĩ đến thăm Triệu Công Tĩnh Hàn, mượn
tịnh thất của Triệu và nói: “Đạo nghiệp đã xong, giờ đi lại rất tốt.” Cư
sĩ lại viết số thời khóa tích lũy trong hàng ngày hơn chín trăm hai mươi
lăm ngàn năm trăm biến và dán ở bức tường. Ôi! Nếu là người không
có căn tánh thông minh, đạt đến chân lý của tử sinh thì chưa dễ gì thấu
đến trình độ đó!
Ngạn Bật tôi đau một trận đến nỗi sắp bổ mạng. Quan quách, áo
vải liệm đã bày biện trước mắt. May nhờ cư sĩ từ bi tiếp vớt mới được
lành lặn. Quả thật ông là bậc sinh tử cốt nhục.
Có kẻ nói: “Mộng do tưởng tượng mà có!” Nhưng hiệu của việc
ăn cháo trắng lẽ nào lại là chuyện hoang đường? Do đó ta biết rằng
do bi nguyện của Cư sĩ quá thẳm sâu nên công đức tế độ thấu đến con
người. Tuy ở Thường tịch quang nhưng Cư sĩ không quên nguyện lực
của mình. Lẽ nào chúng ta không cố gắng tinh tiến đối với sự khuyến tu
Tịnh độ để thành Phật của Cư sĩ hay sao?
Tôi kính cẩn tạc tượng của ông, đồng thời viết sự tích cảm ứng để
truyền bá được rộng rãi chứ không dám thêu vẽ chữ lời làm tai mắt mê
hoặc. Vì vậy, lời bạt này trực tiếp tường thuật và nói đủ những sự việc
ấy để hỗ trợ cho lòng kính tín của người thấy và người nghe. Mong sao
mọi người đều được thắm nhuần lợi ích.
Ngưỡng nguyện Thần thức của Vương cư sĩ chiếu soi để chứng
thực cho những lời ở trên của tôi.
Ông người họ Vương. Tên Nhật Hưu. Tự là Hư Trung. Hiệu là Cư
sĩ Long Thư.
Vào cuối năm này, Lô Lăng Lý Ngạn Bật kính cẩn ghi lại.
LỜI BẠT CỦA HU GIANG - NIẾP DUẪN ĐỊCH.
Ngày thường trước khi chưa vãng sinh, cư sĩ luôn đem giáo lý Tịnh
độ để khuyến hóa người khác một cách khẩn thiết và luôn đi khắp thôn
làng. Lúc bấy giờ, tôi mới hơn hai mươi tuổi, gặp lúc dự định cùng nhau
đi lên phía Đông. Vả lại, thuở ấy tôi chưa biết có Phật pháp, không biết
mặt ông. Đến năm ba mươi tuổi, gặp tai nạn liên tục, tôi mới hiểu rằng
con người trầm luân trong biển khổ, phiển não không bờ bến. Tôi liền
một lòng sưu tập tất cả lời nói của cư sĩ để làm kế siêu thoát. Được ba
năm thì cư sĩ vãng sinh ở Lô Lăng. Mọi người ở quận đều thêu tượng cư
sĩ để thờ phụng, ấy là tháng giêng năm Quý Ty, nhằm niên hiệu Càn
Đạo. Sau năm năm vào năm Định Dậu, anh tôi là tri phủ Binh bộ đến
nhậm chức ở Lô Lăng, được bản khắc mang về nhà. Tôi sợ văn bản này
bị mai một, không lưu truyễển đài lâu được nên liền khắc vào đá đặt ở
điện A-di-đà thuộc chùa Báo Ân ở phía Bắc thành. Nay tôi nguyện ấn
tống một vạn tập “Tịnh độ Văn” của Cư sĩ. Lại đem chân dung của Cư
sĩ và bài tán thuật của Thừa tướng Chu Ích Công trở xuống mà phụ kèm
ở đầu cuốn; tất cả đều tập trung vào bản khắc ở Lô Lăng. Mong sao
người thấy, người nghe đều tăng trưởng tín tâm, cố gắng tinh tiến. Được
vậy thì Tịnh độ Tây phương thật chẳng khó gì.
Niên hiệu Gia Thái năm Quý Hợi, Văn Lâm lang, Tâm giám Hồ
Quảng Tổng lãnh sở, Nhương Dương phủ, Hộ Bộ đại quân thương - Hu
Giang Niếp Duẫn Địch kính viết lời bạt.
Duẫn Địch thường thấy kẻ tham thiển sơ cơ chỉ biết quy kính
Thiển tông, cho Tịnh độ Tây phương là chấp tướng rồi ra sức chê bai
phản bác. Nào biết rằng Đức Thích-ca Như Lai vì một đại sự nhân
duyên mà xuất hiện ở đời là vì muốn làm cho chúng sinh liễu ngộ sinh
tử mà xa lìa đường khổ luân hồi. Pháp môn tham thiền vốn để liễu ngộ
sinh tử. Tham thiền có tỉnh thì hiện đời liễu ngộ sinh tử. Được sinh về
Tịnh độ thì được thấy Phật A-di-đà rồi sau sẽ liễu ngộ sinh tử, chứng Vô
sinh pháp nhẫn lên địa vị Bất thoái, thẳng đến thành Phật. Người tham
học sơ cơ sao lại khăng khăng chọn duy nhất một pháp môn Thiền vậy.
Nay lược chọn hai, ba thuyết kèm theo sau Tịnh độ văn của Long Thơ
để nói rõ.
– Lời bạt của người đoạn hạt giống Phật ở Tứ minh.
Cư sĩ Long Thơ viết Tịnh độ văn mười một quyển, trong đó phân
đầu là khởi niềm tin đối với Tịnh độ, phần cuối nói về cái “Ngã”, có
thể nói là sự phân bố có thứ tự. Cả sự và lý đều rõ ràng sáng tỏ, không
còn lời gì để nói hơn. Lời văn mười quyển này chính do Cư sĩ khi còn
126 BỘ CHƯ TỒNG 12
sống khắc bản, muốn nó lưu hành khắp thiên hạ để mọi người đều đồng
niệm Phật mà sinh về An lạc. Dụng tâm của Ngài quả thật khó với tới
được. Chỉ có quyển 12 thêm vào sau quyển thứ 11 là bị nghi rằng chẳng
phải chí hướng của Cư sĩ. Đây ắt là phần đầu của bản văn quyển bốn.
Ban đầu muốn bỏ bản thảo đi, nghĩ lại người đời sau tôn sùng Cư sĩ nên
không đành mà gọi quyển I1 là phần thêm vào. Huống chỉ ý thú của
pháp môn tu trì giống với quyển bốn, chỉ có điều văn ý nghiêm túc, văn
vẻ hơn. Tôi thưởng thức có bản viết tay của Cư sĩ, hợp với bản trên thì
vừa khớp, như vật đã mất nay có lại. Nay tuy khắc bản đã xong, cũng
chính là ý chí kiên quyết đã làm ra. Lại muốn đem bản phụ lục của các
bậc thầy trước đây, những lời khuyến phát theo thứ tự mà chấn chỉnh
đầy đủ để hoàn thành bộ sách không bị thiếu sót. Như người sau thấy có
điều sai sót xin hãy thêm vào.
Năm Quý Dậu, niên hiệu Hồng Vũ, trung hạ, kiết nhật.
Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch bằng AI do Inti biên soạn: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.