Inti DharmaInti Dharma
← Kinh điển
Đại Thừa — Tạng Bắc Truyền · Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Việt dịch)

Long Thư Tăng Quảng Tịnh Độ Văn quyển 12

Tên chữ Hán:龍舒增廣淨土文

📖5,507 từ · ~22 phút đọc
2

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản →
Bản dịch đầy đủ (Tiếng Việt)

LONG THƯ TĂNG QUẢNG TỊNH ĐỘ VĂN - QUYỂN 12

LONG THƯ TĂNG QUẢNG TỊNH ĐỘ VĂN

QUYỂN 12

PHẦN PHỤ LỤC
VĂN KHUYÊN TU TỊNH NGHIỆP CỦA SƯ TỬ PHONG NHƯ

– NHƯ NHANG BÍNH

Thân là gốc khổ, giác ngộ sớm tu.
Sắc thân này có ai tin là gốc khổ, mãi đắm tham lạc thú thế. gian
mà chẳng biết nó là nguyên nhân của khổ. Kiếp phù sinh dễ trôi qua
đâu có dừng mãi. Chất thân mong manh giả tạm đều sẽ bị tiêu mòn.
Ngày chưa vào bào thai nào có hình nam nữ, chỉ do duyên với đất nước
gió lửa giả hợp mà thành thì không tránh khỏi nỗi khổ tàn tạ của sinh,
già, bệnh, chết. Trên không manh mối nắm níu, dưới không căn cội nẩy
sinh. Như bọt sóng chìm nổi còn mất trong khoảnh khắc, mong manh
như hạt sương đầu ngọn cỏ có đó liền không. Kẻ sống lâu chẳng qua
sáu, bẩy mươi rồi mất, kẻ yểu mạng phần nhiều chỉ sống hai, ba mươi
năm. Có kẻ biết ngày nay nào biết việc ngày sau, lại có kẻ lên giường
vội biệt, một hơi thở ra xa cách muôn trùng. Ngài Tuyết Phong có bài
tụng:
Một ngọn đèn côi trên bàn đêm
Lên giường để lại roi và giày
Ba hồn bảy phách ẩi theo mộng
Chưa rõ ngày mai đến hay không.
Nói rằng thân này không có việc đó thì sao mọi người đều bị nó
lừa gạt. Gân ràng rịt bẩy thước xương đầu, một túi da đựng thịt, chin lỗ
thường chảy nước bất tịnh, sáu căn buông thả theo vô minh, tóc lông
móng răng đầy cáu bẩn, nước mắt nước mũi nhơ nhớp như nhà xí, bên
trong chỉ toàn là loài trùng tụ hợp, bên ngoài bị muỗi mòng rận rệp cắn
rúc, bất cứ bệnh tật tai nạn nào đều có thể chết người, lại lạnh quá nóng
quá khiến người mau già, mắt bị sắc dẫn đến ngạ quỷ, tai đi theo tiếng
vào A-tỳ, miệng khi còn sống ăn đủ món, chết rồi chỉ thêm mấy giọt
128 BỘ CHƯ TỒNG 12
dầu. Thơ của Trưởng Khôi có nói:
Hồng hồng trắng trắng chớ lừa nhau
Vô vị chân nhân thịt đỏ au
Bại hoại chẳng bằng thân chó lợn
Nên nay tu pháp quán tử thi.
Thân này không có chỗ nào đáng ưa thích, tiếc nuối, mọi người
nên nguyện thoát khỏi nó, sao còn u mê đắm đuối phong lưu, điên đảo
lo đủ mọi sự, hoặc trên đầu lâu cài hoa, hoặc xông hương lên túi da hôi
thối này, mặc y phục để che đậy máu mủ, khoác gấm vóc để che khuất
thùng phân tiểu. Dùng trăm phương ngàn kế gian tà nói sống đời muôn
năm, chẳng biết đau đầu hoa mắt là vua Diêm-la đã sai người đến; tóc
bạc da mồi là quỷ vô thường đã gửi thư tìm. Mỗi mỗi tham tài mê sắc
đều là con đường tắt để mất thân người. Ngày ngày uống rượu ăn thịt
đều là trồng sâu nhân địa ngục, trước mắt mưu cầu vui sướng nhất thời,
thân sau chịu cay đắng muôn kiếp. Văn Tịnh độ viết:
Túi da máu thịt, gân cột xương,
Phàm phu điên đảo cho là thân
Đến chết mới hay chẳng phải ta
Vàng ngọc trước đây giao cho người.
Một khi mạng căn dứt tuyệt, bốn đại bị gió đao cắt, ngoài thì chân
tay co rút, trong thì gan ruột nát tan, dù cho vợ con tiếc nuối cũng không
cách nào giữ lại được. Giả như cốt nhục đứng đầy xung quanh cũng có
ai thay cho ngươi được. Bài tụng xưa nói:
Cha mẹ ơn sâu rồi cũng biệt
Vợ chồng nghĩa trọng cũng chia lìa
Tình người như chùm cùng chỗ trú
Hạn lớn đến thời mỗi bay đi.
Người sống chỉ dành đau đớn khóc than, kẻ chết không khỏi bị
Thần thức bôn tẩu. Đường phía trước mù mịt, ngước mắt không bóng
bạn bè, qua cầu Nại hà ngó lại không khỏi bị thương, vào quỷ môn quan
có ai không thê thẩm. Trần gian mới qua bảy ngày mà cõi âm đã bị áp
giải gặp mười vua. Quan tào xử án không chút tình người, lính ngục
cầm xoa không chút vui. Kẻ bình sinh làm thiện thì lên cõi Trời, làm
tiên, làm người. Kẻ khi còn sống tạo ác thì giải vào nơi nước sôi, lửa
cháy, dao cắt. Chảo nước sôi như núi lở, thế rừng kiếm như núi vọt lên.
Đổ nước đồng vào miệng thì khắp người thịt nát, nuốt hòn sắt nóng đầy
miệng bốc khói. Bị chém chặt thì máu thịt rơi lả tả, vào băng lạnh thì
da đều nứt toác. Thân nát gió nghiệp thổi qua liền sống lại, mạng chung
La-sát hét liền sống. Trải qua trăm ngàn trên cõi người, trong địa ngục
mới chỉ một ngày đêm. Điện Quang tập nói:
Vạc nước sôi, lò than hơi nóng tràn đầy chốn tối tăm
Rừng kiếm, núi dao cao vót tận Trời xanh
Chịu tội phải trải qua muôn kiếp
Ngục tốt đầu trâu mới cho ẩi.
Hồn phách tuy về nơi cõi quỷ mà thi thể còn nằm trong áo quan.
Hoặc cách ba ngày năm ngày, hoặc đương sáu, bảy tháng, thây rữa ra
thì sinh trùng, thành máu, hơi hôi xông khắp đất Trời, sình trương gớm
ghiếc chẳng dám nhìn, mau mau hối thúc thấy vào nơi đống lửa hoặc
chôn vùi nơi muôn dặm núi hoang. Thuở xưa hồng nhan im lìm đã trở
thành lò tro lạnh, ngày nay xương trắng nơi hoang vu đã biến thành gò
đất. Bài tụng của Ngài Hàn Sơn có nói:
Mặt hoa, da phấn đẹp như mơ
Uớp hoa, xông hương áo phất phơ
Ngày nay phong lưu đâu chẳng thấy
Liễu xanh, cỏ thơm, xương nằm trơ.
Ân ái đến đây là hết rồi, anh hùng thuở xưa nay còn đâu, nước
mắt như mưa chốn cô liêu, gió thẩm thổi lạnh vèo vèo, đêm tàn quỷ
còn gào khóc, lâu năm quạ mổ chim rỉa, bờ hoang, khắp chốn là bia đá,
trong đám liễu xanh treo xuông vàng mã, đến chỗ này có ai không tỉnh
ra. Ngài Hàn Sơn nói:
Chim mổ qua rỉa hết thịt da
Gió thổi, nắng soi, đầu lâu khô
Trước mắt thử hỏi kẻ bàng quan
Nhìn kỹ hình hài mình thử xem.
Kẻ có mắt thôi không còn đắm đuối, quay người chạy trốn khỏi
bến mê, chớp mắt xé toạc lưới ái, tạo kế sống nơi hang quỷ nghỉ ngơi.
Muốn biết trên cục thịt có chân nhân thì dù nam hay nữ cũng phải tu
tập. Kẻ trí người ngu đều có phần. Chỉ xin soi chiếu lại mình liền biết
bản thế vốn không.
Nếu chưa thể họ đạo tham thiển thì nên siêng năng trì trai niệm
Phật, bỏ ác làm thiện, bổ cũ tu mới, biến lục tặc thành sáu Thần thông,
ha tám thứ khổ được tám thứ tự tại, bèn có thể bảo Trời, hành hóa
không ngăn ngại, thay Phật độ người, được mọi người tuyên dương, giúp
gia tộc được giải thoát, giúp nơi nơi đều được giác ngộ, dạy mọi người
ra khỏi trầm luân, trên giúp chư Phật chuyển bánh xe pháp, dưới cứu
chúng sinh ra khỏi biển khổ, lời Phật nói không tin thì còn lời nào đáng
130 BỘ CHƯ TỒNG 12
tin. Ở cõi người không tu vậy ở cõi nào dễ tu? Chớ bảo một ngày thay
đổi cả, dù có ngàn Phật khó cứu ngươi, như lửa cháy đầu không thể đợi,
xin ngay đây nhận lấy, chớ để đời này luống qua. Ngài Hàn Sơn nói:
Trăm xương tắn mác lìa bùn đất
Một vật mãi mãi là của ai
Chỉ bằng ngay đây thông đường nẻo
Đầu lâu đây đất mấy ai hay.
VẤN ĐỀ BA ĐIỀU NGHỊ LÚC LÂM CHUNG
CỦA TÔNG CHỦ TỪ CHIẾU
Trong “Tịnh độ thập môn”, Từ Chiếu tông chủ đã răn dạy rằng:
Vì người niệm Phật có ba điều nghi lúc lâm chung nên không sinh Tịnh
độ:
1. Nghi rằng từ xưa đến nay mình đã tạo những nghiệp cực nặng
mà thời gian tu tập lại quá ít nên sợ rằng sẽ không được sinh.
2. Nghi rằng tuy mình niệm A-di-đà, nhưng do tâm nguyện chưa
thành hoặc tham, sân, si chưa hết nên sợ rằng không được vãng sinh,
3. Nghi rằng mình tuy niệm A-di-đà, nhưng sợ lúc lâm chung Đức
Phật không đến tiếp dẫn.
Vì nghi nên chướng ngại sinh khởi và đánh mất chánh niệm nên
không được vãng sinh. Vì vậy, hành giả niệm Phật cần phải hết sức tin
tưởng và ý chỉ thông sáng của kinh, không sinh tâm nghi ngờ. Kinh nói:
“Niệm một tiếng A-di-đà Phật thì diệt trừ được tội nặng trong suốt tám
mươi kiếp sinh tử.” Trên thì đạt đến nhất tâm, dưới thì thành tựu mười
niệm là hành giả được tiếp đón để sinh về chín phẩm sen và xả ly được
ngũ trược. Nếu hành giả đạt đến trình độ tâm tâm thông sáng, niệm
niệm nhất hư, thì đoạn hẳn nghi tình và quyết định vãng sinh.

– Văn nói về chánh niệm vãng sinh lúc lâm chung của Hòa thượng

Thiện Đạo.
Tri Quy Tử hỏi: “Bạch Ngài! Việc lớn ở đời là sống chết. Một hơi
thở không vào là thân tâm người ta đã thuộc đời sau rồi. Một niệm sai
lầm là người ta đã đọa vào luân hồi. Con đã từng được Ngài khai thị
pháp niệm Phật vãng sinh. Chân lý của Pháp này quả là vô cùng sáng
tỏ. Song, con lại sợ lúc bệnh và cái chết ập đến thì tâm thức sẽ tán loạn,
lại sợ bị người khác mê hoặc làm động loạn chánh niệm, khiến quên
mất cái nhân của Tịnh độ. Ngưỡng mong Ngài từ bi khai thị cho con
thêm một lần nữa về phương cách quay về lối tắt, khiến con được thoát
nỗi khổ của trầm luân?”
Sư nói: “Lành thay là câu hỏi ấy! Ngươi hãy lắng nghe!”
“Thế này: Tất cả mọi người muốn sinh Tịnh độ lúc lâm chung thì
cần phải không sợ cái chết. Tất cả nên luôn nghĩ rằng, thân này có lắm
nỗi khổ, không sạch, và có đủ các loại ác nghiệp trói buộc nhau. Nếu
chúng ta được từ bỏ cái thân dơ bẩn này để siêu sinh Tịnh độ, để thọ
nhận Vô lượng niềm an lạc, để giải thoát nẻo khổ sinh tử, thì đó là việc
phù hợp với ý nguyện của mình; cũng như người cổi bổ chiếc áo rách
và được khoát chiếc áo quý. Nghĩa là, chúng ta nên buông bỏ thân tâm
mà không nên sinh niềm luyến tiếc. Lúc bị bệnh, chúng ta nên lập tức
nghĩ đến luật Vô thường và một lòng chờ chết, đồng thời nên dặn dò
gia nhân, người khám bệnh, hoặc những người tới lui thăm viếng rằng:
“Nếu các vị đang đứng trước tôi thì xin vì tôi mà niệm Phật, không nên
nói những chuyện vô bổ, hay những việc tốt hoặc xấu trước mặt tôi.
Cũng không nên đem những lời thương cảm mà an ủi, vỗ về hoặc mong
cho tôi được an lạc; bởi lẽ, những điều đó là rỗng tuếch và vô ích!”
Nếu lúc bệnh chuyển nặng và sắp mất, thì thân quyến không được
khóc lóc hoặc phát ra những tiếng thở than áo não làm rối loạn tâm
Thần, làm mất chánh niệm của người tu. Tất cả chỉ nên đồng thanh
niệm Phật cho đến lúc người tu trút hơi thở cuối cùng mới có thể buồn
khóc. Bởi vì nếu người bệnh chỉ vừa khởi lên một niệm luyến tiếc thế
gian, thì niệm ấy liền trở thành chướng ngại và làm cho người tu không
được giải thoát. Nếu lúc lâm chung mà có được người hiểu rõ về Tịnh
độ đến sách tiến thì quả là một sự may mắn lớn lao.
Nói chung, nếu người tu căn cứ vào những điều trên để thực thi thì
chắc chắn được siêu sinh.”
Lại hỏi: Có thể tìm thầy để cầu thuốc chăng?
Đáp: Đầu tiên, việc tìm thầy để uống thuốc chẳng có gì trở ngại
cả. Nhưng nên nhớ rằng, thuốc chỉ trị được bệnh mà không trị được
mệnh. Nếu mạng sống đã hết thì thuốc có thể làm được gì? Nếu người
tu giết mạng sống của loài vật để cầu sự an ổn cho bản thân mình thì
không nên làm. Tôi thấy có nhiều người nhân bị bệnh mà trì trai; vừa
thuyên giảm đôi chút thì họ lại bị thầy thuốc dùng rượu và thịt để hỗ
trợ cho thuốc, nhân đó mà bệnh lại tái phát. Nếu người tu đã tin và biết
rằng Phật lực có thể cứu mình thì việc dùng rượu thịt ấy nào có ích lợi
gì đâu!
Lại hỏi: Cầu Thần cầu phước được chăng?
132 BỘ CHƯ TỒNG 12
Đáp: Mạng sống của con người dài hay ngắn đã được định lúc còn
sống, thì cần gì phải nhờ bàn tay của Thần kéo dài ra. Nếu do ngu sĩ mà
tin tưởng vào tà kiến rồi sát hại chúng sinh để cúng tế quỷ Thần, thì chỉ
tăng thêm tội nghiệp và làm cho mạng sống bị hao tổn mà thôi. Nếu
mạng sống đã hết thì phường tiểu quỷ sẽ làm được trò trống gì? Ngược
lại, chỉ làm cho tâm thức áo não, chẳng cứu vớt được gì. Mong người tu
nên cẩn thận với những tà niệm ấy. Chư vị nên dán bài văn này vào nơi
mà mắt mình thường nhìn đến, và luôn luôn đọc nó để tránh sự sai lầm
và quên mất lúc lâm chung.
Lại hỏi: Người ngày thường chưa từng niệm Phật có sử dụng pháp
ấy được không?
Đáp: Với pháp này thì dẫu tăng hay tục, hay người chưa từng niệm
Phật nếu áp dụng thì đều được vãng sinh. Tôi thấy có nhiều người ngày
thường luôn niệm Phật, lễ Phật, tán thán Phật và phát nguyện vãng sinh
hết sức ân cần. Nhưng đến phút lâm chung họ lại sợ chết nên không
nói gì đến việc vãng sinh hoặc giải thoát cả. Đến lúc hơi tàn, mạng dứt,
Thần thức đã vào nơi tăm tối, mới bắt đầu áp dụng phép mười niệm;
việc làm ấy chẳng khác gì giặc đã đến cửa mới chuẩn bị chiến đấu thì
còn cứu vãng được gì nữa!
Sinh tử là việc lớn nên tự bản thân của người tu phẩi nỗ lực mới
nên việc. Nếu sai lầm chỉ trong một niệm là sẽ chịu khổ muôn đời và
ai có thể thay thế cho mình! Ngưỡng mong người tu suy đi nghĩ lại cho
thấu đáo vấn đề. Lúc rảnh rỗi, quý vị nên tinh tiến tu trì pháp này, vì đó
là việc lớn lao dành cho lúc lâm chung.

– Phép mười niệm vào lúc sáng sớm của Từ Vân Sám chủ.

Mười niệm là: Mỗi ngày, vào sáng sớm, sau khi mặc áo tràng,
hành giả đứng quay mặt hướng Tây, chấp tay và niệm lớn danh hiệu
A-di-đà. Hết một hơi là một niệm. Đủ mười hơi như vậy là mười niệm.
Chỉ tùy hơi của hành giả dài hay ngắn chứ không giới hạn ở số lượng
danh hiệu Phật. Điều quan trọng là duy trì công phu ấy cho dài lâu và
lấy lúc hết hơi làm mốc. Tiếng niệm Phật của hành giả không cao thấp,
không nhanh chậm. Mục đích của mười niệm là khiến cho tâm hành giả
không tán loạn, lấy sự chuyên tinh làm công. Vì thế, gọi mười niệm tức
là nói rõ việc mượn hơi để gom tâm. Khởi niệm đó xong phát nguyện
hồi hướng rằng:
“Đệ tử tên là... một lòng quy y Đức Phật A-di-đà. Nguyện Ngài
dùng tịnh quang để chiếu soi con, dùng lời nguyện từ bi để nhiếp thọ
con. Con nay xưng tụng danh hiệu Như Lai trong mười niệm, và vì đạo
Bồ-để mà cầu sinh Tịnh độ. Thuở xưa, Đức Phật có nguyện rằng:
“Nếu có chúng sinh nào
Muốn sinh về nước tôi
Mội lòng yêu và thích
Dầu chỉ niệm mười niệm
Nếu họ không được sinh
Tôi không thành Chánh giác
Chỉ trừ kẻ ngũ nghịch
Kẻ bài báng Chánh pháp.”
Nay con tự nhớ từ xưa đến nay không tạo nên tội nghịch, không
bài báng Đại thừa. Con nguyện dùng mười niệm này để được vào trong
biển đại thệ nguyện của Như Lai. Nhờ nương vào nguyện lực của Phật
nên những tội lỗi của con được tiêu trừ, tịnh nhân được tăng trưởng. Lúc
sắp mất tự mình biết được ngày giờ, thân không có bệnh khổ, ý không
tham luyến và tâm không điên đảo như người nhập định. Đức Phật và
Thánh chúng cầm đài vàng đến đón tiếp con, chỉ trong một niệm mà
con đã sinh về Cực lạc. Lúc hoa nở thì con được thấy Phật, được nghe
giáo pháp của Phật thừa. Phật tuệ của con được hiển bày, độ tất cả
chúng sinh và hoàn thành lời nguyện Bồ-đề.
Bồ-đề nguyện.
(Lúc phát nguyện xong, hành giả lạy hoặc không lạy cũng được.
Điều quan trọng là hành giả không bỏ một buổi nào suốt cả cuộc đời.
Còn như không phát nguyện, thì tùy theo tâm mình mà được sinh về cõi
ấy).
Kệ khen ngợi Đức Phật.
(Cùng văn hồi hướng phát nguyện. Đến tận cùng của sự thì đạt lý.
Đây đều là những phương pháp được chư Tổ soạn. Những vị tu Tịnh độ
nên tùy ý để dùng chung).
“Thân Phật Di-đà màu vàng chói,
Tướng quý ánh sáng không ai bằng,
Bạch hào uyển chuyển năm Tu-di,
Mắt xanh trong suốt đường bốn biển.
Vô số Hóa Phật trong ánh sáng,
Hóa Bồ-tát cũng nhiều vô cùng,
Bốn tám nguyện cứu độ chúng sinh,
Chín phẩm đều làm cho giải thoát. ”
Ở đây niệm Phật một trăm, một ngàn cho đến mười ngàn tiếng,
các danh hiệu Bồổ-tát niệm mười tiếng hoặc một trăm tiếng; niệm xong,
134 BỘ CHƯ TÔNG 12
thì đọc bài hồi hướng phát nguyện:
“Con nay xưng niệm A-di-đà,
Công đức chân thật danh hiệu Phật,
Ngưỡng nguyện từ b¡ thương nhiếp thọ,
Chứng biết sám nguyện của lòng con.
Bao nghiệp ác con làm kiếp trước,
Đầu do vô thỉ tham sân sỉ,
Được sinh ra từ thân khẩu ý,
Nay con xin sám hối tất cả.
Nguyện con trong giây phút lâm chung,
Trừ sạch tất cả những chướng ngại,
Diện kiến Đức Phật A-di-đà,
Liền được vãng sinh cõi Cực lạc. ”
“Nguyện đem công đức này,
Để trang nghiêm Tịnh độ,
Trên báo bốn ân nặng,
Dưới cứu ba đường khổ.
Nguyện những người thấy nghe,
Đều phát Bồ-đề tâm,
Lúc hết báo thân này,
Cùng sinh nước Cực lạc. ”
Thập phương Tam thế nhất thiết chư Phật, chư Bồ-tát Ma-ha-
tấẾ,..
Lại nói: Tám mươi bốn ngàn tướng vi diệu đều là bản tánh Di-đà,
cách đây mười muôn ức cõi nước đều là duy tâm Tịnh độ. Tịnh uế tuy
khác xa nhưng không ngoài tự tâm. Chúng sinh và Phật tuy không đồng
vào ngoài tự tánh. Tâm thể trống rỗng bao la không trở ngại đến đi,
tánh vốn bao trùm nào cẩn trở lấy bỏ. Do vậy vừa khởi niệm liền lên cõi
báu, trở lại quê nhà xưa. Búng tay liền đứng trước từ dung, nối lại tình
cha con trong sáng. Bao đời trái đức chịu oan chìm nổi, ngày nay thành
tâm lễ lạy cầu mong cứu giúp, ba tâm trọn phát, một lòng về Tây, tận
đời vị lai vẫn nương về, trải vô lượng kiếp mà tán tụng.
(Niệm danh hiệu Phật và Bồ-tát như trên).
Con là Tỳ-kheo pháp danh là... vì cứu độ chúng sinh mà một lòng
quy mạng đầu thành đảnh lễ, tán dương Đức Phật A-di-đà và Thánh
chúng ba thừa. Nguyện ánh sáng trong sạch và thệ nguyện Từ bi nhiếp
thâu con. Con nay vì để thoát quả báo khổ cõi Ta-bà cầu sinh Tịnh độ,
viên mãn nguyện Bồ-để mà phát tâm chân thành tu hành theo Tịnh
nghiệp. Nguyện đem công đức lễ bái, nhớ nghĩ Thánh hiệu Như Lai và
tụng đọc kinh chú gieo vào biển thệ nguyện của Như Lai, nương sức từ
của Phật mà các tội tiêu diệt, nhân Tịnh độ tăng trưởng, chánh niệm
trước mắt, khi sắp qua đời biết trước thời khắc, thân không có bệnh
khổ, nghiệp khẩu trong sạch, tâm không tán loạn nghiêng ngã như vào
thiển định, Đức Phật và Thánh chúng tay bưng đài vàng, hương lạ, nhạc
Trời đến đón rước con, chỉ trong một niệm liền sinh về cõi Phật, hoa
nở thấy Phật, liền nghe Phật thừa, mau khai mở trí tuệ Phật, la chứng
Vô sinh, rộng độ hữu tình đều về Tịnh độ. Chỉ nguyện Như Lai đặc biệt
cứu gIúP.
(Niệm danh hiệu...)
Lại tụng:
Quy mạng cha lành nơi Lạc bang
A-di-đà dũng mãnh điều ngự
Một âm diễn nói kinh sâu xa
Bồ-tát Thanh văn, chúnh Thánh hiền
Ánh sáng lành chiếu khắp thâu nhiếp con
Thành tựu mười niệm, tam Bồ-đề
Xa hẳn năm trược sạch các duyên
Liền lên chin phẩm như Phật ở
Trăng Phật hiện nơi nước lòng con
Tâm con cũng hiện trong trăng Phật
Nguyện lực hễ còn thệ về nương
Nghe con khan câu liền đến rước
(Niệm danh hiệu...)
Công đức niệm Phật, lễ sám, trì chú, tụng kinh trên một lòng đều
quy mạng vì chúng sinh, hồi hướng thẳng đến biển nguyện của Phật
A-di-đà ở thế giới Cực lạc, ngưỡng xin Thế Tôn dùng bánh xe nguyện
lớn và thệ nguyện Từ bi nhiếp thọ cho ba nghiệp và thiện căn của con
tăng tiến, nơi cõi ác này mau hết báo duyên, tất cả nhân sinh tử rốt ráo
đoạn hết. Khi sắp mạng chung được chánh niệm vãng sinh, thấy Phật,
ngộ tâm, trở lại độ tất cả chúng sinh. Các tội lỗi và nghiệp chướng con
đều xin sám hối, nguyện được Phật tiếp dẫn, cùng về với Phật, giữ gìn
tỉnh Thần Phật pháp, khắp với chúng sinh đều được lợi lạc mà khai triển
oai linh, trong Tam-muội đồng được hộ về, nguyện Phật Từ bi thương
xót nhiếp thọ.
(Niệm danh hiệu...)
Lại tụng:
136 BỘ CHƯ TỒNG 12
Kính lạy A-di-đà
Đại Từ phụ cứu đời
Chân pháp tạng sâu xa
Hiền thánh tăng ba thừa
Con với tâm thành thực
Câu xin cõi tịnh Phật
Nguyện giữ thệ rộng xưa
Vô duyên từ dùng khắp Ứng
niệm theo cơ duyên Giống
như trăng trong nước
(Niệm danh hiệu như trước...)
Với công đức tụng kinh niệm Phật trên, xin chúc Tăng chư Thiên
hộ pháp, báo đáp bốn ơn ba cõi, lợi lạc chúng sinh trong pháp giới.
Chúng con xin sám hối gốc tội, trang nghiêm cõi Tịnh. Nguyện khi thân
báo này sắp hết nhờ thiện căn chắc chắn được sinh về thế giới Cực lạc,
thấy Phật nghe pháp, mau chứng Bồ-đề, rộng độ chúng sinh, rộng làm
Phật sự.
(Niệm danh hiệu...)
KHUYÊN TẤT CẢ MỌI NGƯỜI TU TRÌ
Nam-mô A-di-đà Phật.
“Nguyện cùng người niệm Phật,
Sinh hết về Cực lạc,
Thấy Phật thoát sống chết,
Độ tận theo gương Ngài. ”
Đại Tạng kinh nói: “Người niệm Phật A-di-đà thì hiện đời tai nạn
được tiêu trừ, tuổi thọ được trọn vẹn”. Đức Phật A-di-đà có lời nguyện
rằng: “Lúc tôi thành Phật, nếu có chúng sinh khắp mười phương tin
tưởng, yêu thích và muốn sinh về nước tôi, dầu họ chỉ niệm lớn danh
hiệu tôi có mười tiếng, nhưng nếu không được sinh thì tôi thể không
thành Phật”.
Mỗi buổi sáng, hành giả chắp tay, mặt hướng về Tây chí thành
niệm Phật mười tiếng cùng niệm bốn câu kệ trên một biến. Nếu ngày
nào hành giả cũng tu trì như vậy thì tự nhiên trong ao thất bảo ở Tây
phương sẽ sinh một đóa hoa sen và ngày khác hành giả sẽ thác sinh vào
đó. Quần áo, thức ăn của hành giả được hóa hiện ra theo ý nguyện của
mình và được sống lâu không già.
Trong Long Thư Tịnh độ văn nói về sự cảm ứng rất nhiều, Vương
Nhật Hưu khuyên tôi nên vẽ hai bức tranh Tây phương. Nguyện kẻ phát
tâm Đại Bồ-tát viết, in thành khá nhiều bản. Bản nhỏ in mười bản, bản
lớn in một bản, bản nhỏ cho người bất kỳ, bẩn lớn chọn người mà cho,
bản nhỏ để khuyên kẻ tỳ thiếp, bản lớn để khuyên người làm quan. Nếu
có thể in ấn toàn bộ và lưu hành rộng là phước đức không dễ lường.
Nhân sự tụng đọc lại kèm việc ¡in cho, nên biết đó là sự khuyên răn tốt
lành nhất.
Khuyên răn khẩu nghiệp: Miệng tụng danh hiệu Phật như nhả
châu ngọc (được quả báo cõi Trời, cõi Phật); miệng thuyết pháp giáo
hóa như phóng ánh sáng (phá vỡ sự mê ám của người); miệng nói lời
vô ích như nhai gỗ nát (chẳng bằng im lặng dưỡng hơi); miệng ưa đùa
cợt như mùa dao kiếm (sẽ làm tổn thương người); miệng nói lời nhơ bẩn
như giòi bọ (quả báo súc sinh, địa ngục); miệng nói lời lành như phun
hương trong lành (như việc khen ngợi sở trường của người); miệng nói
lời thành thật như mở vải vóc ra (dùng để độ người); miệng nói lời lừa
gạt như nay hố bay nguy hiểm (làm người mê lầm); miệng nói việc ác
như phun hơi hôi thối (như nói chuyện kém của người).
Đời người chẳng qua là ba nghiệp thân miệng ý; sát đạo dâm là
ba nghiệp của thân; nói dối, hai lưỡi, thêu đệt, nói lời ác là bốn nghiệp
của miệng; tham sân si là ba nghiệp của ý. Tổng cộng là mười nghiệp;
nếu giữ gìn không phạm thì đó gọi là mười điều lành. Theo lời Phật
dạy thì quả báo khẩu nghiệp nhiều hơn hai nghiệp thân ý. Do vì khởi ý
niệm thì chưa hẳn thành hình ra bên ngoài, nhưng đã nói ra miệng thì
liền thấy sự việc. Toàn thân làm ác còn có lúc bị khó khăn ngăn trở, còn
miệng thì dễ phát ra lời. Chưa nói việc đời sau, chỉ nói việc đời nay, ví
như có người khen kẻ khác một lời thì người ấy suốt đời được mang ơn,
để phước cho cháu con. Nói một lời hại người, kẻ ấy suốt đời bihại, liên
lụy cháu con. Khẩu nghiệp quả thật nặng nề. Một lời nói ra sẽ trở lại
với chính mình, cho nên nó thật đáng sợ. Kẻ oán Trời thì nghèo khốn,
kẻ vô trí thì oán người, chỉ nên tự cẩn thận ngăn tránh. Thuật lại ý Hiền
thánh ở đây là để khuyên ngăn. (Một thiên này, nếu ai có thể ấn tống
thì người đó là bậc thiện nhân trong số những người thiện).
Con đường siêu thoát luân hồi nhanh và tắt.
Trong Đại tạng có hơn mười cuốn kinh nói về những sự việc của
Tịnh độ Tây phương; mọi người đều được hóa sinh trong hoa sen, áo
quần và thức ăn đều do hóa thành, mọi người được sống lâu không già.
138 BỘ CHƯ TỒNG 12
Nói về pháp môn tu hành của Tịnh độ gồm có chín phẩm. Nay tôichọn
ra một phương pháp mà mọi người đều có thể tu hành.
Đó là, Đức Phật A-di-đà có thệ nguyện rằng: “Lúc tôi thành Phật,
nếu chúng sinh tin tưởng, yêu thích và muốn sinh về cõi nước của tôi,
dẫu họ niệm lớn danh hiệu của tôi có mười tiếng nhưng nếu không được
sinh thì tôi thể không thành Phật.” Hiện đời, những chúng sinh ấy có thể
tiêu trừ được tai nạn, giải được oán kết, tăng thêm phước và bảo toàn
được tuổi thọ.
Phương pháp ấy như thế nào? Hành giả mỗi sáng chấp hai tay, mặt
hướng về phía Tây, đảnh lễ mà niệm Nam-mô A-di-đà Phật. Nam-mô
Quán Thế Âm Bồ-tát. Nam-mô Đại Thế Chí Bồ-tát. Nam-mô Thanh
Tịnh Đại Hải Chúng Bồ-tát (mỗi danh hiệu mười biến).
Lại đảnh lễ mà niệm một biến bài kệ “Đại Từ Bồ-tát tán Phật
sám hối hồi hướng phát nguyện”:
“Phật ba đời mười phương,
Đệ nhất A-di-đà,
Chín phẩm độ chúng sinh,
Oai đức không cùng tận.
Con nay quyết quy y,
Sám hối tội ba nghiệp,
Nếu có những phước lành,
Một lòng đem hồi hướng.
Nguyện cùng người niệm Phật,
Tùy thời hiện cẳm ứng,
Lúc mất cảnh Tây phương,
Hiện rõ ràng trước mắt.
Thấy nghe đều tỉnh tấn,
Cùng sinh nước Cực lạc,
Thấy Phật thoát tử sinh,
Độ chúng sinh như Phật”.
(Lại đảnh lễ mà lui ra).
Bài kệ này có uy lực rất lớn. Nó có thể diệt trừ tất cả tội và nuôi
lớn tất cả phước. Dạy người niệm sẽ được phước báu lớn.
Nếu hành giả chí thành tụng niệm như thế thì sẽ sinh vào Trung
phẩm. Hành giả lại tinh tiến thêm nữa lại đem pháp môn niệm Phật
này để giáo hóa tất cả mọi người, khiến cho họ cùng khuyến hóa lẫn
nhau. Được như thế, hành giả chắc chắn sinh vào Thượng phẩm thượng
sinh. Người tội ác tu tập cũng được sinh vào Hạ phẩm. Trong khi niệm
Phật thì ao bảy báu ở phương Tây sinh ra một đóa sen, nêu tên họ người
niệm, ngày sau sẽ thác sinh vào đó. Việc này so với việc nói âm phủ ghi
họ tên đợi khi tuyệt mạng đến bắt hoàn toàn khác nhau.
Nhân duyên niệm Phật báo ứng.
Con gái nhà họ Lương hai mắt đã mù lại được sáng. Phu nhân họ
Bằng bị bệnh lâu ngày được lành. Trần Trọng Cử đuổi quỷ oán đi. Lưu
Tuệ Trọng đêm ngủ không còn bị kinh sợ. Những hiện tượng ấy là hiệu
quả của việc niệm Phật lúc còn sống.
Bà lão họ Đào thấy Phật xuất hiện giữa bầu Trời. Đàm Giám có
được hoa sen trong chiếc bình. Hoài Ngọc được đài vàng đón về Cực
lạc. Trí Thuấn thấy chim khổng tước bay và hót. Những hiện tượng đó
là hiệu quả của sự vãng sinh lúc lâm chung.
Chí Thông có mây lành năm màu xuất hiện. Ông họ Lý được ba
căn không hư hoại. Bảo Tạng có đồng tử hiện trên đỉnh đầu. Công Tắc
có màu vàng hiện trong thôn xóm. Những hiện tượng đó là hiệu quả của
sự thị hiện thân đời sau.
Người sinh Tịnh độ thì chỉ tiến thẳng đến quả vị Phật chứ không
thối lui. Vì vậy, nếu ta khuyên một người tu Tịnh độ tức là ta đã thành
tựu một chúng sinh làm Phật. Thông thường, làm một vị Phật tất sẽ độ
vô số chúng sinh. Như vậy, những chúng sinh được độ đó đều bắt đầu
từ nơi ta. Vì thế, phước đức của người khuyên dạy kẻ khác tu tập Tịnh
độ là không có cùng tận.
Kệ của Đại Từ Bồ-tát nói:
“Khuyên được mỘt người Iu,
Bằng tự mình tỉnh tiến,
Khuyên được quá ImưỜi người,
Phước đức là vô lượng.
Nếu khuyên đến trăm, ngàn,
Gọi là chân Bồ-tát,
Nếu hơn cả mười ngàn,
Là Di-đà từ phụ. ”
Kệ lại nói:
“Ân tình cốt nhục thương nhau,
Khó mong câu được bạc đầu đoàn viên,
Lắm người mất buổi tráng niên,
Lại còn nhiều đứa trê con qua đời,
Chuyên cần niệm Phật A-di, Trong
ao thất bảo tức thì hóa sinh,
140 BỘ CHƯ TÔNG 12
Được an lạc được trường sinh,
Vây sưu mãi mãi chẳng còn biệt ly. ”
Thơ người xưa nói:
“Ngàn món chẳng được mang ẩi,
Có mang chăng, chỉ nghiệp tùy tấm thân. ”
Những người có chí nguyện cứu đời không tự cảnh tỉnh và lo sợ
hay sao?

Nguồn bản dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Internet Archive OCR)Giấy phép: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Việt dịch) · OCR Internet Archive · nguồn: archive.org · EN quarantined on 2026-07-06: previous bodyEn was short INTI-AI quote-widget noise, not a source English body. · EN: AI translation from Vietnamese source, awaiting source English🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch bằng AI do Inti biên soạn: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến