Inti DharmaInti Dharma
← Kinh điển
Đại Thừa — Tạng Bắc Truyền · Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Việt dịch)

Di Sa Tắc Bộ Hoà Hề Ngũ Phần Luật quyển 8

Tên chữ Hán:彌沙塞部和醯五分律

📖14,203 từ · ~57 phút đọc
2

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản →
Bản dịch đầy đủ (Tiếng Việt)

LUẬT DI SA TẮC BỘ HÒA HÊ NGŨ PHẦN - QUYỂN 8

QUYỂN 8

Phần 1: GIỚI PHÁP CỦA TỲ KHEO

Đoạn 5: NÓI VE 91 PHÁP ĐỌA (Tiếp Theo)
Đức Phật ở tại thành Vương-xá. Bấy giờ, Đức Thế Tôn chưa vì
Tỳ-kheo chế giới cấm ăn phi thời. Các Tỳ-kheo đi khất thực vào ban
đêm, hoặc bị rơi ngã vào hào rãnh, hoặc đụng phải nữ nhân, hoặc gặp
kẻ cướp đoạt, hoặc bị các loại thú, trùng làm hại, các Tỳ-kheo ăn bất
kể ngày đêm, chểnh mảng việc tu phạm hạnh. Khi ấy, Ca-lưu-đà-di có
khuôn mặt đen, mắt đỏ, lại mặc y tạp sắc khất thực trong đêm tối. Một
người phụ nữ mang thai thấy bóng Ca-lưu trong tia chớp sáng, hoảng
hồn, la lớn: Tỳ-xá-già! Tỳ-xá-già! (ma! ma!) Ca-lưu-đà-di: Tôi là Sa-
môn khất thực, chứ không phải là Tỳ-xá-già đâu. Người phụ nữ trong
cơn sợ, tức giận mắng không tiếc lời: Tại sao ông không lấy dao mổ
bụng đi mà lại khất thực trong đêm tối? Các Sa-môn, Bà-la-môn khác
chỉ ăn một lần là đủ, tại sao ông ăn không kể ngày đêm? Các Tỳ-kheo
trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi bạch Phật. Nhân việc
này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Ca-lưu-đà-di: Thật sự các
ông có như vậy không? Bạch Thế Tôn, có như vậy. Đức Phật bằng mọi
cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo: Nay Ta vì các Tỳ-kheo kiết giới.
Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào ăn phi thời, phạm Ba-
dật-đề
Bấy giờ, có một Tỳ-kheo bị nôn thốc thuốc trong bụng ra ngoài,
chưa đến bữa ăn mà bụng lại trống không nên ngất xỉu. Các Tỳ-kheo
không biết làm thế nào, bạch Phật. Đức Phật dạy: Dùng tô thoa nơi
thân, nếu không giảm thì dùng bột gạo thoa nơi thân, vẫn không lành
thì lấy tô hòa với bột gạo thoa nơi thân, vẫn không có hiệu quả thì Đức
Phật bảo, lấy nước nóng xoa rửa, nếu cũng không lành thì cho uống
nước nóng, vẫn không lành, Đức Phật bảo lấy cái chậu đựng đầy nước
thịt mỡ, rồi đặt ngồi trong đó. Dùng các phương thức trên để làm sao
kéo dài cho đến sáng. Dứt khoát không được ăn phi thời. Phi thời: Từ
giữa trưa cho đến khi tướng mặt trời chưa xuất hiện gọi là phi thời. Nếu
Tỳ-kheo phi thời, tưởng là phi thời, nghi là phi thời, phi thời tưởng là
thời đều phạm Ba-dật-đề. Thời, tưởng là phi thời, nghi là thời, phạm
Đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-
ni, phạm Đột-kiết-la.
Xong giới thứ ba mươi tám
Đức Phật ở tại thành Vương-xá. Khi ấy, Đức Thế Tôn chưa chế
giới cấm Tỳ-kheo ăn thức ăn cách đêm. Có một thần miếu nọ là nơi du
ngoạn. Mọi người đua nhau mang theo thức ăn ngon đến đây để chiêm
bái, thưởng ngoạn, hoăc ở lại thâu đêm với nhiều thức ăn ngon bổ, ê
hề. Các Tỳ-kheo nơi đây được cúng dường nhiều thức ăn, ăn không hết,
cất chứa trong phòng, không chỗ nào không có. Sâu, chuột tìm đến, đục
khoét, phá hoại làm hỏng cả vách tường. Các Cư sĩ thấy hỏi: Ai cất chứa
thức ăn đây? Có người nói: Sa-môn Thích tử. Cư sĩ chê trách: Đám trọc
đầu này chỉ biết ham hô" nhận cho nhiều rồi không hề nghĩ tới việc phí
phạm, tổn hao, thật không có hạnh Sa-môn, phá pháp của Sa-môn.
Lại có một Tỳ-kheo A-lan-nhã ở chỗ vắng vẻ, khởi ý niệm: “Ngày
nào cũng đi khất thực, phế bỏ việc hành đạo”, bèn xin các thức ăn để
dành hoặc phơi khô đem cất. Khi ấy, các Tỳ-kheo du hành thấy vậy
bảo: Đức Thế Tôn lẽ nào không nói: Áo mặc là để che hình hài, thức ăn
là để nuôi sống, tại sao thầy dồn chứa nhiều thức ăn, hong phơi bừa bãi
như thế? Tỳ-kheo kia trả lời: Chỗ này cách xa làng xóm, ngày nào cũng
đi khất thực phế bỏ việc hành đạo, nên tôi xin để dành cho khỏi phiền
bận. Các Tỳ-kheo bạch Phật, nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo
Tăng, hỏi Tỳ-kheo kia: Thật sự ông có như vậy không? Bạch Thế Tôn,
có thật vậy. Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
Nay Ta vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-
kheo nào ăn thức ăn cách đêm, phạm Ba-dật-đề ” Thức ăn cách đêm:
Thức ăn thọ rồi để lại đến ngày mai, gọi là thức ăn cách đêm. Nếu Tỳ-
kheo ăn thức này, mỗi miếng ăn phạm Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni cũng như
vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, phạm Đột-kiết-la.
Xong giới thứ ba mươi chín
Đức Phật ở tại thành Vương-xá. Lúc ấy, trong nước bị mất mùa,
khất thực khó được, hai mươi tám vị tướng quân quỷ thần đến chỗ Đức
Phật, đầu mặt kính lễ sát chân, bạch Phật: Bạch Đức Thế Tôn: Hiện
nay, đời bị đói khát, nguyện xin Đức Phật du hành trong nhân gian,
chúng con sẽ giáo hóa mọi người, khiến họ phát tâm thiện. Đức Thế
Tôn chấp thuận bằng cách im lặng. Kế đến, Tứ Thiên vương, Thích-đề-
hoàn-nhân, Phạm thiên vương chủ thế giới Ta Bà cũng đến đảnh lễ sát
chân Phật rồi đứng lui qua một bên, và cũng bạch Phật như vậy.
Đức Phật cũng im lặng chấp thuận. Lúc này, Đức Thế Tôn từ
thành Vương-xá cùng một ngàn hai trăm năm mươi Đại Tỳ-kheo Tăng,
lại có năm trăm Tỳ-kheo-ni, năm trăm Ưu-bà-tắc, năm trăm ưu-bà-di,
cùng du hành đến nước Ma-kiệt. Lại có một ngàn nam nữ ngoại đạo,
năm trăm người xin ăn, cùng tháp tùng theo sau Đức Phật để ăn thức
ăn dôi ra. Đức Thế Tôn đến chỗ nào cũng đều được sự cúng dường
nồng nhiệt. Người bốn phương xa gần mang thức ăn đến cúng dường
không xiết kể. Phẩm vật cúng dường không cách nào dùng hết. Các
Tỳ-kheo đem thức ăn dôi ra cho nam nữ ngoại đạo và người ăn xin. Các
Cư sĩ thấy thế bất mãn nói: Sa-môn Thích tử ai cho chi nhận hết nấy,
ăn không hết đem cho đám tà kiến, không như người vắt sữa còn biết
lưu lại sữa cho bê con. Hoặc có người lại nói: Sa-môn Thích tử hãy còn
cúng dường ngoại đạo, tại sao việc này chúng ta lại không phụng sự
được. Bấy giờ, Đức Thế Tôn đi đến ấp An-na-tần-đầu, nơi có đại Bà-
la-môn tên là Sa-môn, dùng năm trăm cỗ xe chở đầy thức ăn đi theo
Phật. Với thời gian hơn năm tháng để chờ đến phiên mình được cúng
dường, cuối cùng vẫn chưa được. Người nhà đến báo tin: Nông vụ muôn
quá thời hạn, cần về để lo việc nông trang. Đã đến lúc Bà-la-môn kia
phải đến chỗ Tôn giả A-nan. Người Bà-la-môn thưa với Tôn giả A-nan:
Năm trăm chiếc xe của tôi chở đầy thức ăn, muốn cúng dường Phật và
Tăng, theo Phật đến nay đã hơn năm tháng mà chưa cúng dường được,
nay người nhà đến báo tin, phải về, không thể tiếp tục chở theo được
nữa. Tôi muôn đem thức ăn này trải dài trên đường rồi mời Phật và
Tăng đi ngang qua, cho lòng tôi được mãn nguyện. Tôn giả A-nan nói:
Chờ tôi bạch Phật đã. Tôn giả A-nan bạch Phật. Phật dạy: Ông có thể
hội ý với người Bà-la-môn ấy, xem xét thức ăn mà các nhà cúng dường,
thứ nào thiếu thì làm. Tôn giả A-nan vâng lời và đã trao đổi với người
Bà-la-môn như vậy. Người Bà-la-môn thấy không có cháo và bánh ram
có dầu và mật. Ông ta cho nấu bảy thứ cháo và làm hai thứ bánh. Sáng
sớm, ông ta đến bạch Phật: Bánh và cháo đã làm xong. Đức Phật bảo
Tôn giả A-nan: Ông nên tiếp tay dọn ra. Tôn giả A-nan vâng lời Phật,
dọn bày ra bánh và cháo. Khi ấy, có ngoại đạo, người mẹ bồng một
đứa con gái nhỏ, Tôn giả A-nan thấy có đứa nhỏ nên cho bà ta hai cái
bánh. Các ngoại đạo nói: Tỳ-kheo này đã tâm nhiễm đối với bà ta nên
thiên vị cho hai cái bánh. Có người lại nói: Chính là ông ta cho đứa nhỏ
một cái chứ không phải thiên vị. Họ cãi nhau gây sự náo động. Tôn giả
A-nan thấy vậy, tự thấy lòng mình không yên, bèn đến chỗ Phật, đem
vấn đề ấy bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng,
hỏi A-nan: Thật sự ông có như vậy không? Bạch Thế Tôn, có. Đức Phật
bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo: Nay Ta vì các Tỳ-kheo
kiết giới. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào đem thức ăn
cho nam nữ ngoại đạo, phạm Ba-dật-đề
Lại có các Tỳ-kheo đem thức ăn cho ngoại đạo lõa thể. Ngoại
đạo kia gói một gói bánh đem vào thành Vương-xá. Các người hỏi: Từ
đâu đến? Từ đám Cư sĩ trọc đầu đến. Lại hỏi: Vật gì trong gói đó? Đáp:
Bánh ram có mật. Hỏi tiếp: Ai cho? Đáp: Các Cư sĩ thì lấy Sa-môn làm
ruộng phước, Sa-môn Thích tử lại lấy tôi làm ruộng phước, nên gói bánh
này nhận được từ họ đấy. Mọi người bèn chê trách nói: Sa-môn Thích
tử không biết tiết chế, tính lường, ham hố thọ nhận mấy cũng không
chán. Chúng tôi cắt giảm phần ăn của vợ con để cúng dường, lại đem
cho đám người tà kiến ác này. Nếu cần cúng dường thì chúng tôi cúng
dường, phiền chi phải nhờ Sa-môn. Các Tỳ-kheo trưởng lão nghe, bằng
mọi cách quở trách, rồi bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-
kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo: Thật sự các ông có như vậy không? Bạch
Thế Tôn, có thật như vậy. Đức Phật bằng mọi cách quở trách: Có y phục
hay lõa hình khác nhau chỗ nào? Bằng mọi cách quở trách rồi, Đức Phật
bảo các Tỳ-kheo: Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào cho
thức ăn cho nam nữ ngoại đạo lõa thể, phạm Ba-dật-đề
Có các ngoại đạo khi Tỳ-kheo ăn, đến xin. Các Tỳ-kheo không
dám cho, họ nổi giận mắng: Sa-môn Thích tử dạy người bố thí mà chính
mình lại bỏn sẻn thì làm gì có đạo. Nghe như thế, đến các bạch y có
lòng tín kính cũng chê trách nói: Tại sao Sa-môn thường đến người xin,
mà lại không cho người khác.
Lại có ngoại đạo do quen thân đến Tỳ-kheo xin, Tỳ-kheo cũng
không dám cho, bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo
Tăng, bảo các Tỳ-kheo: Nay cho phép các Tỳ-kheo cho ngoại đạo ăn,
nhưng đừng tự tay mình đưa. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-
kheo nào tự tay cho nam nữ ngoại đạo lõa thể ăn, phạm Ba-dật-đề ”.
Nếu ngoại đạo đến xin nên dùng một vắt cơm riêng của mình để một
chỗ nào đó, khiến họ tự lấy, không nên đem thức ăn của Tăng cho. Nếu
có người đến xin, trẻ nít đến xin, chó đến xin, chim đến xin, nên lượng
thức ăn của mình nhiều hay ít, giảm bớt một phần để cho, chứ không lấy
ngoài phần mình để cho. Sa-di phạm Đột-kiết-la. Nếu cha mẹ mình là
ngoại đạo, tự tay mình trao thì không phạm.
Xong giới thứ bốn mươi
Đức Phật ở tại thành Vương-xá. Khi ấy có các bạch y đến nơi
Tăng phường hỏi các Tỳ-kheo: Tăng có bao nhiêu vị? Các Tỳ-kheo trả
lời: Tăng có _ vị. Các bạch y thưa: Sáng mai, chúng con xin thỉnh
chúng Tăng hạ cô" đến nhà chúng con thọ bữa trai đạm bạc. Lục quần
Tỳ-kheo nói: Nếu quý Phật tử cho tôi sữa, lạc, tô, dầu, cá, thịt thì tôi
sẽ nhận lời mời. Bạnh y thưa: Chúng con sẽ vay mượn để ra chợ mua
sắm. Không chần chừ, họ cáo lui ngay. Hoặc vay mượn không kết quả
hoặc có ra chợ mua thì cũng không được. Sáng hôm sau, sửa soạn thức
ăn xong, họ đến mời phó trai, chúng Tăng mặc y, bưng bát đến nơi nhà
thì chủ. Các vị an tọa nơi tòa. Đang dùng nước rửa tồi mới ăn, Lục quần
Tỳ-kheo hỏi: Tại sao không có sữa, lạc, tô, dầu, cá, thịt? bạch y thưa:
Chúng con nhờ cậy không được, mà mua ở chợ cũng không có. Lục
quần Tỳ-kheo liền úp bát, bỏ về. Các cư sĩ dè bỉu chê trách: Làm như
thể họ là quốc vương hay Đại thần. Phàm người xuất gia cầu giải thoát
xin ăn đủ sống, tại sao nay ngược lại, đắm trước vào mỹ vị, thật không
có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn. Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe,
bằng mọi cách quở trách rồi bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập
hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Lục quần Tỳ-kheo: Thật sự các ông có như vậy
không? Bạch Thế Tôn, sự thật có như vậy. Đức Phật bằng mọi cách quở
trách rồi bảo các Tỳ-kheo: Nay Ta vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay giới
này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào đến nhà bạch y, đòi hỏi sữa, lạc,
tô, dầu, cá, thịt, phạm Ba-dật-đề
Sau đó, các Tỳ-kheo được thức ăn ngon không dám ăn, hoặc ăn
rồi xuất tội sám hối. Việc này được bạch Phật. Do thế, Đức Phật tập
hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo: Nếu không đòi hỏi thức ăn ngon
mà tự nhiên nhận được để ăn, phạm Ba-dật-đề là điều không thể có. Từ
nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào đến nhà các bạch y đòi
hỏi thức ăn ngon như sữa, lạc, tô, dầu, thịt, cá, nếu nhận được và ăn
phạm Ba-dật-đề
Trường hợp các Tỳ-kheo bệnh, thầy thuốc bảo ăn thức ăn ngon,
các Tỳ-kheo nói: Đức Phật không cho phép chúng tôi đòi hỏi các thức
ăn này, làm sao có được?! Các Tỳ-kheo bệnh lại gợi lên những suy
nghĩ: Nếu Đức Phật cho chúng ta xin hỏi các thức ăn này thì bệnh mới
có thể lành. Đem suy nghĩ ấy bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập
hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo: Nay cho phép Tỳ-kheo bệnh được
hỏi xin thức ăn ngon. Từ nay giới này được nói như sau: “Nêu trong các
gia đình có các thức ăn ngon như sữa, lạc, tô, dầu, các, thịt, Tỳ-kheo
nào không bệnh vì mình đòi để được ăn, phạm Ba-dật-đề Nếu vì Tỳ-
kheo bệnh mà hỏi xin, hoặc từ nhà bà con mà đòi, hoặc hỏi xin nơi nhà
quen biết, đều không phạm. Sa-di phạm Đột-kiết-la.
Xong giới thứ bốn mươi mốt
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ. Lúc này, Bạt-nan-đà thường thọ nhận
sự cúng dường của một Bà-la-môn. Thời gian sau, Bạt-nan-đà mặc y
bưng bát đến nhà đó, ông Bà-la-môn không có ở nhà, bèn cùng với
người vợ ngồi một chỗ nói chuyện. Trên đường đi, người Bà-la-môn
tâm dục phát khởi, liền trở về, thấy Bạt-nan-đà cùng vợ mình ngồi
nói chuyện, đã có suy nghĩ: Hiện nay, Tỳ-kheo này nói pháp, chẳng
phải lúc hành dục. Ông ta lại ra ngoài nhưng tâm dục càng tăng, trong
khoảnh khắc lại trở vào. Bạt-nan-đà vẫn chưa đi. Ông ta lại nghĩ như
trước, ức chế tâm dục, rồi đi ra. Trong khoảnh khắc lại trở vào, ông ta
nói với VỢ: Cho Tỳ-kheo ăn mau để ông ta đi, kẻo phế bỏ việc hành
đạo. Người vợ biết ý chồng, không muôn để cho chồng theo tâm dục,
trái với lẽ đạo, nên trả lời: Để Tỳ-kheo ăn từ từ, chứ có việc gì đâu
gấp? Người chồng nói ba lần như vậy, Bạt-nan-đà vẫn không chịu đi.
Ông Bà-la-môn bèn nói: Chúng tôi là bạch y, bận rộn nhiều việc, nào
có đủ thời gian nhàn rỗi để gần gũi nhà cửa, vợ con. Tại sao thầy ngồi
hoài không đi? Ai biết các thầy tu phạm hạnh? Các Tỳ-kheo trưởng lão
nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật
tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Bạt-nan-đà: Thật sự ông có như vậy không?
Bạch Thế Tôn, sự thật có như vậy. Đức Phật bằng mọi cách quở trách
rồi bảo các Tỳ-kheo: Nay Ta vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay giới này
được nói như sau: “Tỳ-kheo nào, trong nhà ăn, cùng ngồi với người nữ,
phạm Ba-dật-đề ”.
Ăn: Nam nữ dùng tình ái giao cảm nhau.
Ngồi: Biết trở ngại việc làm của họ mà vẫn ngồi. Tỳ-kheo-ni cũng
như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la. Nếu nhiều
người cùng ngồi, hoặc có vật ngăn che, hoặc ngày vợ chồng họ thọ tám
giới thì không phạm.
Xong giới thứ bốn mươi hai
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ. Khi ấy, Bạt-nan-đà thường nhận sự
cúng dường của một người Bà-la-môn. Sau đó, Bạt-nan-đà đến nhà,
ông Bà-la-môn đi khỏi, cùng với bà vợ ngồi chỗ vắng. Ông Bà-la-môn
trở về, nói với bà VỢ: Bà cùng với Tỳ-kheo ngồi chỗ vắng, thành thật
mà nói, tôi không nghi ngờ gì, nhưng người ta thấy, chắc chắn họ sẽ nói
bà làm điều ác, thương tổn đến Sa-môn và nhục cho gia môn mình. Ông
Bà-la-môn lại nói với Bạt-nan-đà: Thành thật tôi không nghi Đại đức,
Đại đức nên cẩn thận về tiếng xấu này. Người vợ tự ỷ mình có nhan
sắc thu hút, nhiều con, giàu có và khéo léo nên quở trách ông chồng:
Tôi cùng với Tỳ-kheo ngồi, cốt yếu là không di hại đến ông, chuyện gì
ông phải nói những lời tội lỗi như thế? Ông Bà-la-môn nổi giận, trách
Bạt-nan-đà: Chúng tôi là bạch y còn không cùng với vợ của người khác
ngồi chỗ vắng, huống chi là các thầy Sa-môn lại làm việc như vậy,
thật không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn. Các Tỳ-kheo trưởng lão
nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật
tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Bạt-nan-đà: Thật sự ông có như vậy không?
Bạch Thế Tôn, sự thật có như vậy. Đức Phật bằng mọi các quở trách
rồi bảo các Tỳ-kheo: Nay Ta vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay giới này
được nói như sau: “ Tỳ-kheo nào cùng với người nữ một mình ngồi chỗ
vắng, phạm Ba-dật-đề”. Sa-di phạm Đột-kiết-la.
Xong giới thứ bốn mươi ba
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ. Khi ấy, Bạt-nan-đà thường nhận sự
cúng dường của một Bà-la-môn, sau đó đến nhà. Ông Bà-la-môn không
có ở nhà, Bạt-nan-đà cùng với người vợ Bà-la-môn ngồi chỗ trống... cho
đến câu: Đức Phật bằng mọi cách quở trách... như trong giới ngồi chỗ
vắng đã nói... bảo các Tỳ-kheo: Nay Ta vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay
giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào cùng với người nữ một mình
ngồi chỗ trông, phạm Ba-dật-đề Sa-di phạm Đột-kiết-la.
Xong giới thứ bốn mươi bốn
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ. Bấy giờ, biên cương có giặc, Vua Ba-
tư-nặc nghiêm lệnh bốn binh chủng để đến đánh dẹp. Lục quần Tỳ-kheo
cùng nhau bàn tán: Ta nghe nhà Vua Quán đảnh, mỗi khi chinh phạt,
quân nghi hết sức trang nghiêm, oai vệ. Chúng ta chưa từng thấy, có thể
cùng nhau đến xem sao. Lục quần bèn đến bên đường, quân tiên phong
thấy Tỳ-kheo, giận nói: Hôm nay, tại sao chúng ta gặp người không tốt
thế này! Chúng ta ở tại gia nhàm chán không muốn thấy hạng người này,
hôm nay hành quân lại không tránh khỏi. Nếu nhà Vua không tin kính thì
ta chặt đầu hết đám này. Khi ấy, nhà Vua từ xa trông thấy Lục quần Tỳ-
kheo cũng không hài lòng, liền bảo người hỏi: Tại sao các Đại đức có
mặt nơi đây? Lục quần trả lời: Chúng tôi nghe nhà Vua Quán đảnh khi
xuất trận thì đoàn quân hết sức oai nghiêm hùng hậu. Chúng tôi chưa
từng thấy nên cùng đến xem. Nhà Vua nghĩ ngợi: Ai có thể đem việc
này bạch với Phật! Nhà Vua lại nghĩ: Bạch không bạch, Đức Phật cũng
tự biết. Nhà Vua liền lấy đường phèn và gừng khô gởi cho Lục quần
Tỳ-kheo và nói: Đại đức vì tôi mang vật này về dâng Đức Phật, với tất
cả lòng chí kính vô lượng của tôi. Lục quần chờ tàn cuộc hành quân mới
trở về, đem phẩm vật nhà Vua gởi, dâng lên Đức Phật, thưa: Đây là
phẩm vật với tất cả lòng chí kính của Vua, dâng cúng dường Phật. Đức
Phật hỏi Lục quần: Trong trường hợp nào các ông gặp nhà Vua? Lục
quần trình bày đầy đủ sự việc. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-
kheo Tăng, bằng mọi cách quở trách Lục quần Tỳ-kheo và nói: Các ông
ngu si, làm điều phi pháp. Khi quân xuất trận mà gặp Sa-môn là điềm
không tốt. Điều này các binh chủng giận dữ, chê trách. Nhà Vua cũng
bực mình các ông, cho nên mới gởi vật này đến Ta. Quở trách rồi bảo
các Tỳ-kheo: Nay Ta vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay giới này được
nói như sau: “Tỳ-kheo nào xem quân ra trận, phạm Ba-dật-đề ”. Nêu
khởi tâm muôn xem, chuẩn bị, đã bắt đầu bước, thấy mà không nghe,
hoặc nghe mà không thấy, đều phạm Đột-kiết-la. Hoặc nghe, hoặc thấy
riêng từng binh chủng trang phục, tiến về phía trước hay lui phía sau,
đều phạm Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-
di, Sa-di-ni, phạm Đột-kiết-la. Nếu trên đường đi, hoặc chỗ kinh hành
gặp mà không đứng lại xem thì không phạm.
Xong giới thứ bốn mươi lăm
Đức Phật ở tại thành Xá -vệ. Bấy giờ, kẻ dị đạo luận bàn: Nay
Vua Ba-tư-nặc và các vị Đại thần có lòng tin chánh pháp đều không có
ở nhà, không ai có thể ngăn chặn được việc làm của chúng ta, chúng ta
sẽ cùng nhau hợp lực đào ống công cho nước chảy thông qua Kỳ-hoàn.
Các Tỳ-kheo nghe tin, nói với Ưu-bà-tắc, ưu-bà-di: Quý vị có thể đến
tâu với nhà Vua, chứ khả năng chúng tôi không thể ngăn cấm được.
Ngay thời điểm ấy, nhà Vua và Đại thần Ất Sư Đạt Đa, Phú-lan-na, Tu-
đạt-đa v.v... lâu ngày không thấy dung mạo các Tỳ-kheo, sai người đến
thỉnh. Các Tỳ-kheo bàn nói: Nếu Đức Phật cho phép chúng ta đến nơi
quân trận, chắc chắn không có trường hợp kẻ dị đạo đào ống công cho
nước chảy qua Kỳ-hoàn. Quý vị bạch Phật. Phật dạy: Nay cho phép các
Tỳ-kheo đến trong quân trận. Các Tỳ-kheo vâng lời Phật dạy, bèn nhận
lời mời thỉnh của nhà Vua. Khi đến nơi đem vấn đề tâu với Vua. Vua
liền ra lệnh kẻ nào đào ống cống cho nước chảy qua Kỳ-hoàn sẽ bị giết
cả họ. Truyền lệnh xong, nhà Vua thiết lễ cúng dường các Tỳ-kheo.
Các Tỳ-kheo đã nhận được thức ăn ngon bổ rồi lại không chịu ra về.
Các quân nhân chê trách, nói: Nơi đây không phải là trú xứ A-lan-nhã,
chúng tôi là bạch y không thể trách khỏi quân trận, còn Sa-môn lý do
gì lại ở nơi đây?! Hoặc có người lại nói: Các Tỳ-kheo này không tin ưa
Phật pháp, chỗ nào có được thức ăn ngon bổ bèn ở, thật không có hạnh
Sa-môn, phá pháp Sa-môn. Các Tỳ-kheo trưởng lão nghe, bằng mọi
cách quở trách, rồi bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập Tỳ-kheo
Tăng, hỏi các Tỳ-kheo: Thật sự các ông có như vậy không? Các Tỳ-
kheo thưa:Bạch Thế Tôn, sự thật có như vậy. Đức Phật bằng mọi cách
quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo: Nay Ta vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay
giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào có nhân duyên tới trong quân
trận cho đến hai, ba đêm, nếu quá, phạm Ba-dật-đề”. Tuy có nhân
duyên mà dùng thư tín giải quyết được thì nên dùng thư tín, trường hợp
cần phải đích thân đi mới đi. Sự việc xong nên trở về liền, không được
ở lại đêm. Nếu việc chưa xong nên ở lại một đêm, một đêm không xong
nên ở lại đêm thứ hai, nếu lại không xong nên ở lại đêm thứ ba, việc
xong hay không xong, ở quá đêm thứ ba, phạm Ba-dật-đề. Việc xong
liền phải trở về không nên ở lại đêm, ở thì phạm Đột-kiết-la. Tỳ-kheo-
ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, phạm Đột-kiết-la.
Xong giới thứ bốn mươi sáu
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ. Bấy giờ, các Tỳ-kheo tới trong quân
trận ở lại ba đêm, xem binh lính cầm binh trượng dàn trận cho đến chiến
đấu, chiến sĩ thấy Tỳ-kheo nổi giận nói: Hạng người xui xẻo này lại đến
đây. Nếu nhà Vua không tin ưa Phật pháp, ta sẽ chặt đầu đám này trước
khi giết giặc. Nhân đó binh sĩ loạn chiến, bắn nhằm các Tỳ-kheo, bị
thương nhiều. Các Tỳ-kheo cùng dìu nhau về lại chỗ ở. Người đi đường
thấy vậy cũng đều giận nói: Như các Sa-môn này bị bắn giết là phải,
không có cớ gì đi xem trận làm chi, thật không có hạnh Sa-môn, phá
pháp Sa-môn. Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách,
rồi bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo tăng, hỏi các
Tỳ-kheo: Thật sự các ông có như vậy không? Các Tỳ-kheo thưa: Bạch
Thế Tôn, có sự thật như vậy. Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo
các Tỳ-kheo: Nay Ta vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay giới này được nói
như sau: “Tỳ-kheo nào có nhân duyên vào trong quân trận hai, ba đêm,
để xem quân trận chiến đấu, phạm Ba-dật-đề Nếu xem chim, thú đấu
đá, phạm Đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-
di, Sa-di-ni, phạm Đột-kiết-la.
Xong giới thứ bốn mươi bảy
Đức Phật ở tại thành Xá -vệ. Lúc ấy, có Tỳ-kheo tên là A-lê-tra
phát sinh tà kiến ác, nói: Tôi hiểu rõ lời Phật dạy: Phật nói pháp chướng
đạo, thật sự không chướng đạo. Các Tỳ-kheo hỏi: Thật sự ông có nói:
Ông hiểu rõ lời Phật dạy: Phật nói pháp chướng đạo, thật sự không
chướng đạo hay không? A-lê-tra nói: Đúng như thế. Các Tỳ-kheo lại
hỏi: Tại sao ông hiểu như vậy? A-lê-tra nói: Trường hợp này có hai
Trưởng giả Chất Đa, Tu-đạt-đa và các Ưu-bà-tắc đều sống với năm
dục, bị dục chi phối, bị dục thiêu đốt, nay đều đắc đạo quả Tu-đà-hoàn,
Tư-đà-hàm, A na hàm. Lại có các ngoại đạo không bỏ định kiến của
mình, xuất gia trong chánh pháp cũng được bốn quả Sa-môn. Do vậy,
cho nên tác động tôi hiểu như vậy. Các Tỳ-kheo muôn cho đương sự bỏ
tà kiến ác này nên can gián, bảo: Thầy chớ nói như vậy, chớ hủy báng
Đức Thế Tôn, chớ vu không Đức Thế Tôn, Đức Thế Tôn không nói như
thế. Thầy nên bỏ tà kiến ác đó đi. Đức Thế Tôn bằng mọi phương tiện
quở trách dục, nói dục như đông xương đỏ, cho đến như chất độc. Nếu
thọ hưởng năm dục, bị dục thiêu đốt, bị mê loạn vì cảm giác dục và các
ngoại đạo không bỏ kiến giải cũ của mình mà đạt được bốn quả Sa-môn
đều là những việc không thể có. Các Tỳ-kheo can gián như vậy, song
đương sự lại tăng thêm tà kiến, kiên trì không bỏ. Các Tỳ-kheo bèn đến
chỗ Tôn giả Xá-lợi-phất, bạch: Bạch Đại đức, A-lê-tra khởi tà kiến như
vậy: (trình bày đầy đủ như trên) cúi xin Tôn giả rủ lòng thương khuyến
dụ can gián cho bỏ việc ấy. Tôn giả Xá-lợi-phất chấp thuận bằng cách
im lặng. Tôn giả đến ngay chỗ A-lê-tra ở, hỏi chào thăm viếng rồi
ngồi qua một bên, hỏi: Thật sự ông có như vậy không? A-lê-tra trả lời:
Đúng như vậy (nói đầy đủ như trước). Tôn giả Xá-lợi-phất can gián:
Thầy chớ nên nói như vậy. Những điều thầy nói là phi pháp, phi luật.
Bằng mọi cách Tôn giả quở trách, Tỳ-kheo kia vẫn kiên trì không bỏ.
Tôn giả Xá-lợi-phất từ chỗ ngồi đứng dậy, đến chỗ Đức Phật, trình bày
đầy đủ rồi thưa: Cúi xin Đức Thế Tôn rủ lòng thương xót khuyến dụ
Tỳ-kheo A-lê-tra xả bỏ tà kiến ác. Đức Phật liền bảo một Tỳ-kheo:
Ông kêu A-lê-tra đến đây. Vị kia vâng lời đến bảo A-lê-tra: Đức Đại
sư gọi thầy. A-lê-tra liền đến, đầu mặt đảnh lễ sát chân Phật rồi đứng
qua một bên. Đức Phật hỏi A-lê-tra: Thật sự ông có như vậy không?
A-lê-tra thưa: Bạch Thế Tôn, thật sự con có như vậy. Đức Phật lại hỏi:
Tại sao ông hiểu Ta nói như thế? A-lê-tra trả lời như trước. Đức Phật
nói: Ông là người ngu si. Ông chớ nên hủy báng Như Lai, chớ nên vu
khống Như Lai. Tại sao vậy? Ta nói pháp chướng đạo. Nếu thọ hưởng
năm dục, bị lửa dục thiêu đốt, bị cảm giác dục làm mê loạn, và ngoại
đạo không xả kiến giải cũ mà chứng đạt bốn quả Sa-môn là điều không
thể có. Đức Thế Tôn khuyên dạy như vậy mà A-lê-tra vẫn không bỏ.
Đức Phật lại nói: Ta thấy ông khởi tà kiến ác, đó là hủy báng Ta, là vu
khống Ta, ông trở về lại trú xứ, Ta tự hỏi lại các Tỳ-kheo khác. A-lê-tra
đi rồi, Đức Phật muôn biết rõ tà kiến ác của Tỳ-kheo kia, nên hỏi các
Tỳ-kheo: Các ông hiểu lời nói của Ta có như A-lê-tra hay không? Các
Tỳ-kheo thưa: Chúng con không hiểu như vậy. Đức Thế Tôn hỏi: Các
ông hiểu thế nào? Các Tỳ-kheo thưa: Phật nói pháp chướng đạo, thật
sự là chướng đạo (nói đầy đủ như trước). Đức Phật dạy: Lành thay! Các
ông đã khéo hiểu ý của Ta nói. Đức Phật bảo các Tỳ-kheo: Nên sai một
Tỳ-kheo thân thiện với A-lê-tra, nơi chỗ vắng dùng lời mềm mỏng can
gián: Thầy chớ nên nói như vậy, chớ nên hủy báng Phật. Đức Phật dạy
pháp chướng đạo, thật sự là chướng đạo. Thầy nên bỏ tà kiến ác như
vậy. Bỏ thì tốt, không bỏ thì số đông Tỳ-kheo đến can gián như trên. Bỏ
thì tốt, không bỏ thì Tăng nên đến, cũng can gián như trên, bỏ thì tốt.
Các Tỳ-kheo vâng lời Phật dạy can gián ba phen như vậy. A-lê-tra vẫn
kiên trì không bỏ. Các Tỳ-kheo đem vấn đề bạch Phật. Nhân việc này,
Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, chuyển lời quở trách A-lê-tra rồi bảo
các Tỳ-kheo: Nay Ta vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay giới này được
nói như sau: “Tỳ-kheo nào nói như vậy: Như chỗ tôi hiểu, những gì Đức
Phật dạy là pháp chướng đạo thì thật sự không chướng đạo. Các Tỳ-
kheo nói với Tỳ-kheo này: Thầy chớ nói như vậy, chớ hủy báng Phật.
Đức Phật nói pháp chướng đạo, thật sự là chướng đạo. Thầy nên bỏ tà
kiến ác đó. Khi can gián như vậy đương sự kiên trì không bỏ, nên can
gián lần thứ hai, lần thứ ba. Lần thức hai, lần thứ ba can gián mà bỏ
việc này thì tốt. Không bỏ, phạm Ba-dật-đề”. Tỳ-kheo kia không bỏ tà
kiến ác, các Tỳ-kheo hoặc thấy hoặc nghe, sai một Tỳ-kheo can gián
nơi chỗ vắng, nếu đương sự bỏ thì trao cho một Đột-kiết-la hối quá. Nếu
không bỏ thì số đông Tỳ-kheo đến can gián, chịu bỏ, thì trao cho hai
Đột-kiết-la hối quá. Nếu không bỏ thì Tăng đến can gián, chịu bỏ, thì
trao cho ba Đột-kiết-la hối quá. Nếu không bỏ nên Bạch-tứ-yết-ma để
can gián. Một Tỳ-kheo xướng: Đại đức Tăng lắng nghe! Tỳ-kheo tên là
_ sinh tà kiến ác nói như vầy: Như chỗ tôi hiểu, những gì Đức Phật
nói là pháp chướng đạo, sự thật không chướng đạo. Tăng đã can gián:
Chớ nói như vậy, chớ hủy báng Phật, chớ vu không Phật. Đức Phật nói
pháp chướng đạo, thật sự là chướng đạo. Tăng can gián như vậy đương
sự kiên trì không bỏ. Nay Tăng Yết-ma can gián. Nếu thời gian thích
hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Đây là lời tác bạch. Tác bạch rồi
nên nói: Tăng đã bạch rồi, thầy nên bỏ tà kiến ác đó đi. Nếu đương
sự chịu bỏ thì trao cho bốn Đột-kiết-la hối quá. Nếu không bỏ thì nên
xướng: Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên là _ nói như vầy:
Theo chỗ tôi hiểu, những gì Đức Phật nói là chướng đạo, sự thật không
chướng đạo. Tăng đã can gián: Chớ nói vậy, chớ hủy báng Phật, chớ
vu khống Phật. Phật nói pháp chướng đạo, sự thật là chướng đạo. Tăng
can gián như thế, đương sự kiên trì không bỏ. Nay Tăng Yết-ma can
gián. Các Trưởng lão nào chấp nhận thì im lặng, vị nào không đồng ý
xin nói. Xướng rồi nên nói: Tăng đã Yết-ma lần thứ nhất rồi, thầy nên
bỏ tà kiến ác ấy đi. Nếu đương sự chịu bỏ thì trao cho năm Đột-kiết-la
hối quá. Nếu không chịu bỏ thì nên xướng lần thức hai như trên. Xướng
xong lại nói: Tăng đã Yết-ma lần thứ hai rồi, thầy nên bỏ tà kiến ác
ấy đi. Nếu bỏ thì trao cho sáu Đột-kiết-la hối quá. Nếu không bỏ nên
xướng lần thứ ba. Xướng lần thứ ba chưa xong mà bỏ cũng trao cho sáu
Đột-kiết-la hối quá. Yết-ma lần thứ ba rồi, bỏ hay không bỏ cũng phạm
Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni,
phạm Đột-kiết-la.
Xong giới thứ bốn mươi tám
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ. Bấy giờ, có Tỳ-kheo biết A-lê-tra
không bỏ tà kiến ác cùng ngồi, cùng lời trao đổi, cùng ngủ, cùng làm việc.
Các Tỳ-kheo quở trách, nói: A-lê-tra không bỏ tà kiến ác, Tăng đã Yết-
ma rồi, tại sao các thầy cùng ngồi, cùng chuyện vãn, cùng ngủ, cùng làm
việc? Các Tỳ-kheo nghe không hài lòng. Các Tỳ-kheo trưởng lão nghe,
bằng mọi cách quở trách, rồi bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập
hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo: Thật sự các ông có như vậy không?
Bạch Thế Tôn, sự thật có như vậy. Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi,
bảo các Tỳ-kheo: Nay Ta vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay giới này được
nói như sau: “Nếu các Tỳ-kheo biết Tỳ-kheo kia không như pháp sám
hối, không bỏ tà kiến ác, cùng ngồi, cùng nói, cùng ngủ, cùng làm việc,
phạm Ba-dật-đề”. Tỳ-kheo nói chuyện lâu hay mau, mỗi lời nói phạm
một Ba-dật-đề, cùng ngồi, mỗi lần ngồi phạm một Ba-dật-đề, cùng ngủ,
mỗi lần ngủ phạm một Ba-dật-đề, cùng làm việc, mỗi việc làm phạm Ba-
dật-đề. Tuy xả tà kiến ác, Tăng chưa giải Yết-ma, cũng phạm Ba-dật-đề.
Nếu khởi tà kiến ác, Tăng chưa Yết-ma, phạm Đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni
cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, phạm Đột-kiết-la. Nếu
không biết, cho đến Yết-ma không như pháp thì không phạm.
Xong giới thứ bôn mươi chín
Đức Phật ở thành Xá -vệ. Bấy giờ, Bạt-nan-đà có hai Sa-di sinh tà
kiến ác, nói như vầy: Như chỗ tôi hiểu Đức Phật dạy: Thọ hưởng năm
dục không có gì chướng đạo... cho đến câu: Tôn giả Xá-lợi-phất bạch
Phật, như trong giới A-lê-tra sinh tà kiến ác đã nói: Đức Phật liền ra
lệnh một Tỳ-kheo: Ông kêu hai Sa-di kia đến đây. Vâng lời Phật Tỳ-
kheo đến nói: Đại sư kêu hai ông. Hai Sa-di vội theo lời dạy đến đảnh
lễ sát chân Phật, rồi đứng lui qua một bên. Đức Phật hỏi hai Sa-di: Thật
sự các ông có như vậy không? Bạch Thế Tôn, sự thật có như vậy. Đức
Phật hỏi hai Sa-di: Các ông hiểu lời nói pháp của Ta như thế nào? Hai
Sa-di trả lời như A-lê-tra đã nói. Đức Phật bảo các Tỳ-kheo: Nên gọi
hai Sa-di này đến giữa Tăng dạy bảo họ xả bỏ, nếu bỏ thì tốt, không bỏ,
Tăng nên Bạch-tứ-yết-mA-diệt tẫn. Một Tỳ-kheo xướng: Đại đức Tăng
xin lắng nghe, Sa-di tên là _ không xả bỏ tà kiến. Nay Tăng trao cho
pháp diệt tẫn. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận.
Đây là lời tác bạch. Lại xướng: Đại đức Tăng xin lắng nghe, Sa-di tên
là... không bỏ tà kiến ác. Nay Tăng trao cho pháp diệt tẫn. Các Trưởng
lão nào chấp thuận thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói. Lần thứ
hai, lần thứ ba cũng xướng như vậy. Tăng trao cho Sa-di tên... pháp diệt
tẫn rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc như vậy, thọ trì như vậy.
Hai Sa-di kia đã bị Tăng diệt tẫn rồi, bèn du hành trong nhân gian. Trái
lại, Bạt-nan-đà nuôi hai Sa-di kia lại cùng nói chuyện, cùng ngủ. Các
Tỳ-kheo nói: Tăng đã Yết-mA-diệt tẫn hai Sa-di này rồi, thầy chớ nên
nuôi, chớ nên cùng nói chuyện, cùng ngủ. Bạt-nan-đà nói: Sa-di này là
anh của tôi, nếu tôi không chăm sóc thì ai chăm sóc? Ai có thể bảo hộ
sự cô đơn, khổ sở, để họ được an lạc?! Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe,
bằng mọi cách quở trách, rồi bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập
hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Bạt-nan-đà: Thật sự ông có như vậy không?
Bạch Thế Tôn, sự thật có như vậy. Đức Phật bằng mọi cách quở trách
rồi, bảo các Tỳ-kheo: Nay Ta vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay giới này
được nói như sau: “Nếu Sa-di nói như vầy: Như chỗ tôi hiểu, những gì
Phật nói, thọ hưởng năm dục, không trở ngại gì đối với đạo. Các Tỳ-
kheo nói với Sa-di này: Người đừng nói như vậy, đừng hủy báng Phật,
đừng vu khống Phật. Đức Phật dạy: Thọ hưởng năm dục thật sự có trở
ngại đối với đạo. Này Sa-di! Ngươi nên xả bỏ tà kiến ác này. Khi dạy
bảo như vậy, Sa-dỉ kiên trì không bỏ, nên dạy bảo lần thứ hai, lần thứ
ba. Lần thứ hai, lần thứ ba dạy bảo, Sa-di bỏ thì tốt, nếu không bỏ, các
Tỳ-kheo nên nói với Sa-di ấy: Ngươi đi đi! Từ nay ngươi đừng nói Phật
là thầy của tôi, đừng đi theo sau Tỳ-kheo, như các Sa-di khác. Các Sa-di
khác được cùng phòng Tỳ-kheo ngủ hai đêm, ngươi cũng không được
phép điều đó. Ngươi là người ngu si nên đi khỏi chỗ này, đừng ở nơi đây
nữa. Nếu Tỳ-kheo biết Sa-di bị diệt tẫn như vậy mà nuôi dưỡng, cùng ở,
cùng nói chuyện với họ, phạm Ba-dật-đề ”. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-ni-di, phạm Đột-kiết-la.
Xong giới thứ năm mươi
Đức Phật ở tại thành Xá -vệ. Khi ấy, Trưởng lão Ca-lưu-đà-di
không thích thấy Tỳ-kheo xấu, cũng không thích thấy các loài chim
quạ. Lúc này, có bầy quạ tập trung đậu trên nóc nhà, lại có các bạch y
cầm cung đến tìm bắn. Ca-lưu-đà-di nói: Các loài chim quạ này đầy đủ
mười pháp của Tỳ-kheo tệ ác:
1. Bỏn sẻn.
2. Tham lam.
3. Mặt đáng ghét.
4. Chiu nhuc.
5. Xấu XÍ.
6. Không từ bi.
7. Mong cầu.
8. Không nhàm đủ.
9. Chứa để.
10. ưa quên.
Loài chim này có đủ mười pháp như vậy, các người muốn giết nó
không? Người không tin tội phước nói: Muốn giết. Ca-lưu-đà-di liền lấy
cây cung và hỏi mọi người: Muốn bắn chỗ nào? Có người nói: Bắn con
mắt bên trái. Ca-lưu-đà-di bắn ngay nơi con mắt bên trái, chim chết.
Lại có người nói: Bắn con mắt bên phải. Ca-lưu-đà-di liền bắn ngay nơi
con mắt bên phải, chim chết. Chỉ trong chốc lát mà cả chục con chim bị
chết. Các người không tin Phật pháp chê trách, nói: Đám Sa-môn này
thường nói từ bi, hộ niệm chúng sinh, mà nay giết hại một cách vô đạo,
thật không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn. Các Tỳ-kheo Trưởng lão
nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật
tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Ca-lưu-đà-di: Thật sự ông có như vậy không?
Bạch Thế Tôn, sự thật có như vậy. Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi
bảo các Tỳ-kheo: Nay Ta vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay giới này được
nói như sau: “Tỳ-kheo nào đoạn mạng súc sinh, phạm Ba-dật-đề”.
Trường hợp các Tỳ-kheo trên đường đi, hoặc kéo vật dụng, hoặc
hong bát, ngộ sát các loài trùng, sinh lòng ân hận, có người hối quá xuất
tội, đem vấn đề bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo
Tăng, bảo các Tỳ-kheo: Ngộ sát chúng sinh mà phạm Ba-dật-đề là
điều không thể có. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào cô
tâm đoạt mạng chúng sinh, phạm Ba-dật-đề ”. Súc sinh: Trừ loài rồng,
ngoài ra đều thuộc súc sinh, cố tâm đoạt mạng: cố tâm muốn giết,
trước khi giết hại. Nếu đoạt mạng súc sinh, tùy theo nhiều ít, đều phạm
Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni,
phạm Đột-kiết-la.
Xong giới thứ năm mươi mốt
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm Tỳ-kheo mười bảy
người đến trú xứ của Lục quần Tỳ-kheo. Lục quần Tỳ-kheo lại nảy ra
ý nghĩ: số Tỳ-kheo này có tâm hổ thẹn, tri túc, thiểu dục, nay đến đây
chắc thấy lỗi lầm của ta. Chúng ta nên tạo ra phương cách khiến họ sinh
nghi hối. Đã sinh nghi hối rồi chắc họ sẽ trở về chỗ của thầy họ. Ý nghĩ
đi liền với hành động, Lục quần liền nói: Quý vị đã khéo thọ giới Cụ túc
rồi chứ? Thọ giới có giới trường hay không? Yết-ma có như pháp hay
không? Không phạm Ba-la-di, Tăng-già-bà-thi-sa, Ba-dật-đề, Ba-la-
đề-đề-xá-ni, Đột-kiết-la hay không? Có khéo phòng hộ thân khẩu hay
không? Hòa thượng, A-xà-lê của quý vị trước kia có khéo thọ giới Cụ
túc, cho đến khéo hộ thân khẩu không? Nhóm Tỳ-kheo mười bảy người
thưa: Chúng con không tự biết, cũng không biết Hòa thượng, A-xà-lê
thế nào! Nay chúng con xin thưa hỏi Đại đức, xin Đại đức chỉ vẽ cho
chúng con: Khi chúng con thọ giới Cụ túc, và Hòa thượng, A-xà-lê của
chúng con, tất cả có như pháp không? Lục quần Tỳ-kheo nói: Nếu tôi
có nói thật thì các ông cũng không tin. Các ông nên hỏi người nào các
ông từng tin cậy. Khi ấy, Thập thất quần bèn đến chỗ thầy mình để hỏi
sự việc trên. Thầy của họ trả lời: Mọi việc của các con đều như pháp
và xưa kia ta thọ giới cũng như pháp. Nhưng ai là người gây sự nghi hối
ấy. Thập thất quần thưa: Chính Lục quần Tỳ-kheo là người gây nghi hối
này. Các Tỳ-kheo trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi bạch
Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Lục quần
Tỳ-kheo: Thật sự các ông có như vậy không? Bạch Thế Tôn, sự thật có
như vậy. Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo: Nay
Ta vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-
kheo nào khiến các Tỳ-kheo sinh nghi ngờ, phạm Ba-dật-đề”.
Trường hợp có Tỳ -kheo phạm tội, lòng sinh nghi ngờ, hỏi các
Tỳ-kheo:Tôi phạm các việc như vậy, như vậy, thuộc về những tội nào?
Các Tỳ-kheo được hỏi, lại nghĩ ngay đến lời Phật dạy: Đức Phật đã kiết
giới, không cho phép khiến các Tỳ-kheo sinh nghi ngờ. Do thế, các Tỳ-
kheo phải trả lời: Không biết, rồi bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật
tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo: Không muôn khiến sinh nghi
ngờ, mà nói rõ chỗ tội của họ phạm Ba-dật-đề là điều không thể có. Từ
nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào cố ỷ khiến Tỳ-kheo khác
sinh nghi ngờ khởi ý niệm: khiến Tỳ-kheo kia sinh khổ não, dù chỉ
trong chốc lát, phạm Ba-dật-đề Nghi ngờ: Nghi về chỗ sinh, nghi về
thọ giới, nghi về phạm giới, nghi về y phục. Nếu làm cho Tỳ-kheo-ni,
Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni nghi ngờ, phạm Đột-kiết-la. Nếu Tỳ-
kheo-ni khiến cho Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni sinh nghi ngờ, phạmBa-dật-đề.
Làm cho Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni nghi ngờ, phạm Đột-kiết-la.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni tạo ra nghi ngờ cho năm chúng, đều
phạm Đột-kiết-la.
Xong giới thứ năm mươi hai
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ. Lúc ấy, Lục quần Tỳ-kheo có thế lực
ngăn Yết-ma và giải Yết-ma của Tăng, Tăng không nghe theo thì họ
đứng dậy bỏ đi, đến chỗ Tỳ-kheo bị đuổi, nói: Thầy đừng ưu sầu, tôi đã
yểm trợ thầy, ngăn Yết-ma của Tăng. Tăng không theo ý tôi, tôi liền
đứng dậy bỏ đi, như vậy Yết ma ấy không thành. Lục quần Tỳ-kheo đến
chỗ Tỳ-kheo được giải Yết-ma, nói: Thầy đừng tưởng là Tăng đã giải
Yết-ma cho thầy. Khi Tăng giải Yết-ma, tôi đã ngăn, Tăng không theo
ý tôi, tôi liền bỏ đi. Như vậy là Yết-ma giải không thành, nay thầy có
thể tự cầu Tăng để giải. Các Tỳ-kheo trưởng lão nghe, bằng mọi cách
quở trách, rồi bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo
Tăng, hỏi Lục quần Tỳ-kheo: Thật sự các ông có như vậy không? Bạch
Thế Tôn, sự thật có như vậy. Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi, bảo
các Tỳ-kheo: Nay Ta vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay giới này được
nói như sau: “Tỳ-kheo nào khi Tăng xử đoán sự, đứng dậy bỏ đi, phạm
Ba-dật-đề
Bấy giờ, các Tỳ-kheo có việc cần đi mà không dám đi, bạch Phật.
Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
Nay cho phép các Tỳ-kheo, có việc cần, trao dục, rồi đứng dậy đi. Trao
dục: Nói với một người: Trưởng lão nhất tâm niệm, nay Tăng xử đoán
sự, tôi Tỳ-kheo tên là _ như pháp Tăng sự, xin trao dục. Từ nay giới
này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào khi Tăng đoán sự, không trao
dục, đứng dậy bỏ đi, phạm Ba-dật-đề ”. Tăng đoán sự: bạch yết-ma,
bạch nhị, Bạch-tứ-yết-ma. Nếu Yết-ma trong thất, tùy theo ra khỏi thất
bao nhiêu lần thì mỗi lần phạm một Ba-dật-đề. Nếu Yết-ma nơi chỗ
đất trống, mỗi lần đi cách Tăng một tầm thì phạm một Ba-dật-đề. Nếu
người có thần thông thì đi cách đất bôn ngón tay, phạm Ba-dật-đề. Nếu
Tăng không Yết-ma đoán sự mà bỏ đi ra thì phạm Đột-kiết-la. Nếu nơi
phòng riêng đoán sự, đến rồi bỏ ra đi, phạm Đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni
cũng như vậy. Nếu Tăng không Yết-ma đoán sự và đoán sự nơi phòng
riêng, Sa-di được ở trong đó, nếu đứng dậy đi phạm Đột-kiết-la. Thức-
xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni cũng như vậy. Nếu Tăng không như pháp
Yết-ma, không gởi dục, đứng dậy bỏ đi, không phạm.
Xong giới thứ năm mươi ba
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ. Bấy giờ, Thập thất quần Tỳ-kheo
(nhóm Tỳ-kheo mười bảy người) đến trú xứ của Lục quần Tỳ-kheo,
cùng nhau thọc lét. Có một Tỳ-kheo bị nhiều Tỳ-kheo thọc lét, không
ngăn được cơn cười, nên bị hết hơi, chết. Thập thất quần Tỳ-kheo thương
khóc. Các Tỳ-kheo Trưởng lão hỏi: Tại sao khóc kể như thế? Thập thất
quần Tỳ-kheo thưa: Có một Tỳ-kheo bị cười giỡn quá trớn nên chết, cho
nên chúng con thương khóc. Các Trưởng lão lại hỏi: Vì sao đưa đến sự
việc như thế? Thập thất quần Tỳ-kheo thưa: Chúng con cùng nhau thọc
lét, vị ấy không chặn được cơn cười nên ngút hơi chết. Các Tỳ-kheo quở
trách rồi bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng,
hỏi Thập thất quần Tỳ-kheo: Thật sự các ông có như vậy không? Bạch
Thế Tôn, sự thật có như vậy. Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo
các Tỳ-kheo: Nay Ta vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay giới này được
nói như sau: “Tỳ-kheo nào thọc lét Tỳ-kheo khấc, phạm Ba-dật-đề ”.
Tỳ-kheo thọc lét Sa-di, cho đến súc sinh, phạm Đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni
cũng vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, phạm Đột-kiết-la.
Xong giới thứ năm mươi bốn
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ. Khi ấy, Thập thất quần Tỳ-kheo đến
sông A-di-la lấy nước, nhân đó xuống tắm, bơi lội, lặn hụp vui đùa, tát
nước lên nhau. Vua Ba-tư-nặc cùng phu nhân Mạt-lợi, lên trên lầu cao,
từ xa nhìn thấy. Vua nói với phu nhân: Ruộng phước của “mình” kia kìa.
Phu nhân tâu với Vua: Đức Phật chưa chế giới, tuổi nhỏ xuất gia, chưa
hiểu giáo pháp, “mình” đừng thấy vậy, sinh lòng không tin kính đối
với các Tỳ-kheo khác, để rồi thọ khổ lâu đời. Thập thất quần Tỳ-kheo
vui chơi đủ kiểu rồi đứng trên mặt nước mặc y. Phu nhân thấy, tâu với
Vua: “Mình” thử xem kìa, ruộng phước của em thờ là đó. Mặc y xong,
Thập thất quần Tỳ-kheo lấy bình nước ném lên hư không rồi bay theo
để lấy. Từ trên lầu nhìn qua giống như nhạn chúa. Phu nhân lại tâu với
Vua: Kìa “mình” lại xem ruộng phước của em thờ là đó. Nhà Vua rất
hoan hỷ, lòng kính tin càng tăng. Ngay sau đó, phu nhân bảo Bà-la-môn
Na-lân Già: Ngươi đến chỗ Đức Phật để kính trình việc này. Na-lân Già
vâng lệnh đến trình sự việc. Đức Phật vì ông nói pháp, chỉ bày chỗ lợi
ích, vui mừng, rồi Phật bảo đi về. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-
kheo Tăng, hỏi Thập thất quần Tỳ-kheo: Thật sự các ông có như vậy
không? Kính bạch Thế Tôn có thật như vậy. Đức Phật bằng mọi cách
quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo: Nay Ta vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay
giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào đùa giỡn trong nước, phạm
Ba-dật-đề”. Đùa giỡn trong nước cho đến dùng đồ đựng nước để tạt
với nhau, đều phạm Ba-dật-đề. Nếu vắt tuyết, cho đến thổi sương trên
đầu ngọn cỏ để chơi, đều phạm Đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, phạm Đột-kiết-la. Nếu không nhằm
mục đích để đùa giỡn thì không phạm.
Xong giới thứ năm mươi lăm
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ. Bấy giờ, Đức Thế Tôn chưa cấm Tỳ-
kheo cùng người nữ đồng nhà ngủ, nên hoặc có một Tỳ-kheo và một
người nữ, hoặc nhiều Tỳ-kheo và số ít người nữ, hoặc số ít Tỳ-kheo và
nhiều người nữ đồng nhà ngủ, do vậy sinh tâm nhiễm đắm, có người
hoàn tục, có người làm ngoại đạo. Các Cư sĩ thấy chê trách, nói: Các
Sa-môn này cùng người nữ đồng nhà ngủ, so với bạch y đâu khác gì,
thật không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.
Khi ấy, có người đàn bà tuổi trẻ, chồng chết, nảy ra ý nghĩ: Nay
ta nên bằng cách nào để tìm người vừa ý. Người đàn bà ấy lại nghĩ:
Ta không thể đến gõ cửa từng nhà, chi bằng làm một khách xá để cho
người tại gia hay xuất gia đến tạm nghỉ theo ý muốn của họ, từ đó mình
sẽ chọn một người. Bà ta liền thực hiện đúng ý đồ. Bà bố cáo khách đi
đường: Ai cần nghỉ đêm thì đến nghỉ. Khi ấy, A-na-luật đến thôn kia
thì trời đã xẩm tối, tìm nơi nghỉ lại đêm, có người giới thiệu tới nơi nhà
bà ta. A-na-luật liền đến xin tạm trú qua đêm. Trước khi chưa xuất gia,
A-na-luật vốn đã có dung mạo đẹp đẽ, sau khi đắc đạo sắc tướng còn
đẹp hơn gấp bội. Người đàn bà goá chồng kia trông thấy A-na-luật liền
sinh tà ý: Nay ta có cơ hội được một người chồng đẹp trai. Bà ta liền chỉ
chỗ cho A-na-luật vào nghỉ. A-na-luật vào nhà ngồi kiết già. Ngồi chưa
được bao lâu thì có đoàn khách buôn đến xin tá túc. Bà quả phụ nói: Tuy
tôi là chủ khách xá này nhưng tôi đã cho vị Tỳ-kheo nghỉ lại đêm, quý
vị nên hỏi ông ta. Đoàn khách buôn, theo lời người chủ khách xá đến
hỏi A-na-luật. A-na-luật nói với người đàn bà: Nếu do tôi thì họ được
phép đến ở. Đoàn buôn liền vào khách xá để nghỉ. Người đàn bà kia lại
nảy ra ý nghĩ: Nên mời Tỳ-kheo vào nhà trong, vì sẽ có người đến bất
ngờ nữa. Bà ta liền vào trong nhà trải giường tốt, đốt đèn rồi mời A-na-
luật. A-na-luật vào nhà trong rồi ngồi kiết già, buộc ý niệm trước mắt.
Sau khi mọi người đã ngủ, người đàn bà đến nói với A-na-luật: Đại đức
có biết chủ ý của tôi khi làm khách xá này không? A-na-luật nói: Chủ
ý của bà muốn cầu phước đức nên làm phước xá này. Người đàn bà kia
nói: Bổn ý không phải vậy mà là chọn người làm chồng. A-na-luật nói:
Thưa bà, chúng tôi không thể làm điều ác ấy, Đức Thế Tôn chế pháp
cũng cấm làm điều đó. Người nữ góa chồng nói: Tôi con nhà quý tộc,
ở độ tuổi dồi dào sức lực, lễ nghi hoàn bị, của cải nhiều, muôn vì Đại
đức cung cấp mọi thứ cần dùng, nguyện Đại đức thuận ý cho. A-na-luật
vẫn trả lời như trước. Bà goá chồng lại có ý nghĩ táo bạo: Kẻ nam tử
bị mê hoặc vì sắc, ta cần lộ hình đến đứng trước mặt. Thế là bà thoát y
đến đứng trước A-na-luật, vừa cười, vừa nói khêu gợi. A-na-luật nhắm
mắt ngồi thẳng, quán tưởng đống xương đỏ. Bà ta lại nghĩ: Ta vận dụng
khả năng đến thế mà vẫn không thuyết phục được đối phương, bèn leo
lên giường cùng ngồi. Ngay tức thời, A-na-luật vụt lên hư không. Bà ta
rất đỗi thẹn thùng, tâm sinh xấu hổ, vội vàng mặc lại y, chấp tay hối
quá, thưa: Bạch Đại đức, con thật là ngu si, nay con không còn nghĩ đến
những ý nghĩ xấu ác đó nữa, nguyện Đại đức dũ lòng thương tha thứ cho
con sám hối. A-na-luật nói: Tôi nhận sự sám hối của bà và nhân đó A-
na-luật giảng nói các pháp vi diệu. Đoạn đầu, chặng giữa hay đoạn sau
của bài pháp đều thiện, ý nghĩa thiện và hương vị thiện, đầy đủ tướng
thanh bạch phạm hạnh. Bà goá phụ nghe pháp rồi liền xa trần, lìa cầu,
đạt mắt pháp thanh tịnh. Bấy giờ, A-na-luật lại đi đến chỗ Đức Phật thu¬
ật lại sự việc, luôn cả việc của các Tỳ-kheo trước, trình bày đầy đủ lên
Đức Thế Tôn. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các
Tỳ-kheo: Thật sự các ông có như vậy không? Bạch Thế Tôn, sự thật có
như vậy. Đức Phật bằng mọi các quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo: Nay Ta
vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo
nào cùng người nữ đồng nhà ngủ, phạm Ba-dật-đề”. Người nữ kể cả
mới sinh, và người nữ hai căn đồng nhà ngủ, Ba-dật-đề. Nhà: Như trong
giới cùng người chưa thọ Cụ túc đã nói. Nếu cùng phi nhân nữ, súc sinh
nữ, huỳnh môn đồng nhà ngủ, đều phạm Đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni cũng
như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, phạm Đột-kiết-la. Nếu nhà
có lợp, có ngăn cách, hoặc đại hội nói pháp, hoặc mẹ hay chị em thân
thuộc có bệnh mà có người nam tử hiểu biết làm bạn, không nằm đều
không phạm.
Xong giới thứ năm mươi sáu
Đức Phật ở tại nước Câu-xá-di. Lúc ấy, Đức Thế Tôn chưa cấm
Tỳ-kheo uống rượu. Có các Tỳ-kheo ở trong hàng quán hay trong nhà
bạch y, uống nhiều rượu say túy lúy. Có khi rớt xuống hào và va đầu
vào vách, có khi làm cho y bát bể, rách, thương tổn đến thân thể. Các
bạch y thấy chê trách nói: Chúng ta là bạch y còn không uống rượu,
huống chi là Sa-môn Thích tử bỏ đời cầu đạo mà lại uống rượu quá hơn
người đời, không xứng mặc y hoại sắc cắt rọc, thật không có hạnh Sa-
môn, phá pháp Sa-môn. Bấy giờ, Đức Thế Tôn từ nước Câu-xá-di đến
ấp Bạt-đà-việt. Khi ấy, nơi trú xứ của Phạm chí bện tóc có một con độc
long, thường phun mưa đá làm hại ruộng vườn. Các cư dân ở đấy thường
tâm niệm: Trong số Sa-môn, Bà-la-môn ai là người có oai đức có thể
hàng phục được con rồng này! Nghe Đức Phật cùng một ngàn hai trăm
năm mươi đệ tử tới ấp không ai là không vui mừng, họ kéo đến nghinh
đón, đảnh lễ sát chân Phật rồi thưa: Bạch Đức Thế Tôn! Nơi ấp này
thường có một con độc long ác, phá hoại ruộng vườn, chúng con hằng
tâm niệm: Mong sao có được một bậc đại oai đức để hàng phục nó. Lúc
này, Sa-kiệt-đà đang đứng phía sau quạt hầu Phật, Đức Phật liền quay
lại hỏi: Ông có nghe các Cư sĩ này trình bày sự việc không? Bạch Thế
Tôn, có nghe. Lần thứ hai, lần thứ ba Phật hỏi và Sa-kiệt-đà trả lời cũng
như vậy. Sa-kiệt-đà liền có ý nghĩ: Đức Thế Tôn Ba lần hỏi là ý muôn
ta hàng phục con độc long này. Ngay lúc ấy, Sa-kiệt-đà đến trước Phật
kính lễ sát chân Ngài rồi nhiễu quanh và lui ra. Đi về chỗ ở của rồng,
với ý niệm: Nay ta nên hàng phục con rồng này, làm thế nào đừng để
nó hư hoại thân thể, bằng cách thu thân nó nhỏ lại như cái que cây. Sa-
kiệt-đà liền vào trong nhà Phạm chí, ngồi lui qua một bên. Thân con
rồng bèn tuôn ra khói, thân của Sa-kiệt-đà cũng tuôn ra khói, cả thân
con rồng thành lửa. Lửa nơi rồng biến thành năm sắc, lửa của Sa-kiệt-
đà cũng biến thành năm sắc. Thế là Sa-kiệt-đà thu hóa thân rồng nhỏ
lại như cây que, bỏ vào trong bình bát đem đến chỗ Phật. Sa-kiệt-đà
thưa: Bạch Đức Thế Tôn! Độc long ác này đã được hàng phục, nay nên
để nó vào chỗ nào? Đức Phật dạy: Nên để nó nơi trung gian thế giới.
Sa-kiệt-đà vâng lời Phật dạy, trong chớp nhoáng như kẻ lực sĩ co duỗi
cánh tay, đem nó để nơi trung gian thế giới, rồi trở về. Vào lúc này, Đức
Thế Tôn có ý muốn rời ấp Bạt-đà-việt trở về Câu-xá-di. Khi nghe Sa-
kiệt-đà hàng phục con độc long, các Cư sĩ ấp Bạt-đà-việt rất vui mừng,
hỏi các Tỳ-kheo: Sa-kiệt-đà là vị nào? Khi ấy, Sa-kiệt-đà đang đứng
phía sau Phật. Các Tỳ-kheo nói: Người đứng hầu phía sau Phật đấy.
Các Cư sĩ liền đến trước mặt Sa-kiệt-đà, kính lễ sát chân và thưa: Xin
Tôn giả nhận lời thỉnh mời của chúng con. Sa-kiệt-đà im lặng nhận lời.
Các Cư sĩ thưa: Đại đức cần những thức ăn gì? Sa-kiệt-đà nói: Khi tôi
còn là bạch y, tánh ưa rượu thịt. Cư sĩ hoan hỷ, vội vàng sắm sửa đầy
đủ. Sa-kiệt-đà đến nhà Cư sĩ ấy được mời ăn. Sau khi ăn thịt uống rượu
hết sức no đủ, trở về lại Câu-xá-di. Vừa lúc đến ngoài Tăng phòng vì
quá say, nên té xuống đất, ói mửa, y bát vung vãi lung tung. Qua thiên
nhãn, Đức Thế Tôn đã từ xa nhìn thấy, Ngài bảo Tôn giả A-nan: Ông
cùng Ta ra ngoài Tăng phường mà xem. Vâng lời dạy. Tôn giả đi theo
Phật ra ngoài Tăng phường chứng kiến sự thật về cảnh say sưa. Đức
Phật cùng Tôn giả khiêng Sa-kiệt-đà đặt cạnh giếng nước. Đức Phật
tự xách nước dội, còn A-nan thì lau rửa sạch sẽ, rồi mặc y vào, để nằm
trên giường dây, đầu hướng về Đức Phật. Trong giây lát, Sa-kiệt-đà lại
xoay chuyển mình, co chân đạp Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp
Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo: Sa-kiệt-đà trước đây có kính trọng
Đức Phật không? Các Tỳ-kheo thưa: Có kính trọng. Ngài lại hỏi: Hiện
nay còn kính hay không? Bất kính! Các Tỳ-kheo thưa. Đức Phật lại hỏi:
Có nên uống rượu để rồi mất bản tính tốt hay không? Đáp: Không nên,
bạch Thế Tôn. Đức Phật lại hỏi: Trước đây Sa-kiệt-đà có thể hàng phục
độc long, nay có thể hàng phục được con ểnh ương hay không? Đáp:
Bạch Thế Tôn, không. Các Tỳ-kheo lại đem việc xảy ra trước kia bạch
đầy đủ với Đức Phật. Do nhân duyên này, Đức Phật bằng mọi cách quở
trách các Tỳ-kheo rồi bảo các Tỳ-kheo: Nay Ta vì các Tỳ-kheo kiết
giới. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào uống rượu phạm
Ba-dật-đề
Đức Phật chế giới cấm rồi, nên Sa-kiệt-đà không dám uống rượu.
Song thói quen trước kia, nên cơn ghiền nổi lên là đứt hơi muốn chết, ăn
uống lại không tiêu. Vì không biết phải giải quyết thế nào, do thế bạch
Phật. Đức Phật bảo: Cho ngửi đồ đựng rượu. Ngửi đồ đựng rượu không
qua cơn thì: Cho một ít rượu vào trong bánh, trong cháo hay trong canh
cho ăn, nếu vẫn không khỏi được thì Đức Phật bảo: Cho phép dùng rượu
để chữa bệnh ăn không tiêu. Sa-kiệt-đà nhờ vậy mà lành cơn nghiện.
Kết quả này được bạch Phật, Đức Phật dạy: Lành rồi nên từ từ phải bỏ
rượu, kể cả việc ngửi đồ đựng rượu. Muôn không lại thành người xấu thì
không được ngửi rượu nữa. Có thứ rượu có sắc rượu, vị rượu, hương rượu.
Có thứ rượu có hương rượu, không có vị rượu. Có thứ rượu có sắc rượu,
không có hương rượu. Có thứ rượu không có sắc rượu, hương vị rượu,
uống say, đều phạm Ba-dật-đề. Có loại chẳng phải rượu, sắc rượu, vị
rượu, hương rượu, uống khiến cho người say, phạm Đột-kiết-la. Có loại
chẳng phải rượu, sắc rượu, hương rượu, vị rượu không khiến cho người
say, cần uống thì cho uống nơi chỗ vắng. Nếu Tỳ-kheo uống rượu, mỗi
lần nuốt phạm một Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy, Thức-xoa-ma-
na, Sa-di, Sa ni di, phạm Đột-kiết-la.
Xong giới thứ năm mươi bảy
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ. Khi ấy, Lục quần Tỳ-kheo không
kính Hòa thượng, A-xà-lê, không kính giới, có các Tỳ-kheo cũng bắt
chước như vậy. Các Tỳ-kheo Trưởng lão thấy, bằng mọi cách quở
trách, rồi bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng,
hỏi Lục quần Tỳ-kheo và các Tỳ-kheo: Các ông thật sự có như vậy
không? Bạch Thế Tôn, sự thật có như vậy. Đức Phật bằng mọi cách
quở trách rồi bảo cácTỳ-kheo: Nay Ta vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ
nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào khinh thầy, phạm Ba-
dật-đề”. Tỳ-kheo nào khinh ba thầy và giới đều phạm Ba-dật-đề. Nếu
khinh Tỳ-kheo khác phạm Đột-kiết-la. Cho đến thầy sai quét đất mà
không quét, bảo quét xuôi gió mà quét ngược gió đều phạm Đột-kiết-
la. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa ni di, phạm
Đột-kiết-la.
Xong giới thứ năm mươi tám
Đức Phật ở tại nước Câu-tát-la, cùng Đại Tỳ-kheo Tăng năm trăm
vị hội đủ, hướng tới ấp A-đồ-tỳ. Khi ấy, các Tỳ-kheo nơi ấp này, nghe
Đức Phật sẽ đến, mà không có nhà giảng đường, bèn cùng nhau phát cỏ
đào đất để làm... cho đến câu: Đức Phật bằng mọi cách quở trách, như
trong giới cất giảng đường đã nói. Phật bảo các Tỳ-kheo: Nay Ta vì các
Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào tự
mình đào đất lấy đất, phạm Ba-dật-đề
Khi đã cấm thì Lục quần Tỳ-kheo sai người giữ vườn, hay sai Sa-
di đào đất lấy đất, các Tỳ-kheo thấy, nói: Đức Phật cấm không được
đào đất, tại sao nay các thầy lại làm nghiệp ác này? Lục quần trả lời:
Tôi sai người đào. Các Tỳ-kheo nói: Sai người đào với tự mình đào có
khác gì đâu. Quý vị bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-
kheo Tăng, hỏi Lục quần Tỳ-kheo: Thật sự các ông có như vậy không?
Bạch Đức Thế Tôn! Có. Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các
Tỳ-kheo: Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào tự mình đào
đất hoặc sai người đào, phạm Ba-dật-đề
Có một bạch y cúng vật liệu để làm nhà cho Tăng. Sau thời gian
khá lâu đến thăm, thấy chưa cất, hỏi Tỳ-kheo phụ trách việc xây cất:
Tại sao không làm cho mau rồi để tôi hoàn thành phước đức? Vị ấy trả
lời: Đức Phật không cho phép chúng tôi tự đào đất hay sai người đào đất
thì làm sao làm thành. Quý vị bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập
hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo: Nếu cần đất thì nên nói với tịnh
nhân: “Biết việc này, xem việc này”. Tôi cần như vậy cho tôi như vậy.
Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào tự tay đào đất hoặc sai
người đào, nói đào như vậy, phạm Ba-dật-đề”. Tỳ-kheo-ni cũng vậy.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa ni di, không có việc gì mà đào đất, phạm
Đột-kiết-la. Nếu lấy đất khô thì không phạm.
Xong giới thứ năm mươi chín
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ. Khi ấy, Lục quần Tỳ-kheo cùng các
Tỳ-kheo tranh cãi. Tranh chấp rồi lại ra ngoài cửa lén nghe. Nghe rồi,
nói với các Tỳ-kheo: Tại sao thầy nói như vậy? Vị kia hỏi: Thầy nghe
nói như vậy? Đáp: Tôi đứng ngoài cửa nghe. Các Tỳ-kheo trưởng lão
nghe biết việc ấy, bằng mọi cách quở trách rồi bạch Phật. Nhân việc
này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Lục quần Tỳ-kheo: Thật sự
ông có như vậy không? Bạch Thế Tôn, sự thật có như vậy. Đức Phật
bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo: Nay Ta vì các Tỳ-kheo
kiết giới. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nơi chỗ vắng, lén
nghe Tỳ khác nói, phạm Ba-dật-đề”.
Lúc này, có các Tỳ-kheo cùng Tỳ-kheo tranh luận để tỏ rõ phải
quấy, có Tỳ-kheo ở cách vách nghe được, sinh nghi: Ta há không phạm
Ba-dật-đề? Do đó, xuất tội hối quá, rồi bạch Phật. Nhân việc này, Đức
Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo: Tỳ-kheo lén nghe tranh
luận, lý sự để biết phải quấy mà phạm Ba-dật-đề là điều không thể
có. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào cùng tranh chấp
rồi lén nghe, với ý niệm: Những gì các Tỳ-kheo nói, ta sẽ ghi nhớ,
phạm Ba-dật-đề”. Lén nghe Tỳ-kheo-ni, Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-
di-ni nói, phạm Đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni nghe Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni nói,
phạm Ba-dật-đề, nghe Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni nói, phạm Đột-
kiết-la. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni nghe lén năm chúng nói, phạm
Đột-kiết-la.
Xong giới thứ sáu mươi
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ. Bấy giờ, có một nhóm trẻ con mười
bảy đứa, cha mẹ rất mực thương yêu. Mẹ chúng thường hay nghĩ ngợi:
Con ta không quen chịu khó nhọc, thể tánh yếu đuối, nên cho nó học
nghề nào thật tốt khéo để nó được sung sướng trọn đời. Cha chúng nói:
Nên cho nó học kế toán, hội họa. Mẹ chúng nói: Cho học hội họa sợ hư
mắt, cho học kế toán sợ đau ngón tay, rồi đi đến đau tim. Cha mẹ chúng
cùng bàn tính: Nên cho nó xuất gia trong dòng họ Thích, đời này khỏi
phải làm gì, đời sau được vui sướng. Đám đồng tử mười bảy đứa đều
muốn xuất gia, cùng nhau nói: Chúng ta cần chờ Ưu-ba-ly về để nói lời
từ biệt. Khi ưu-ba-ly về đến chỗ các đồng tử, các đồng tử nói: Bạn có
biết chăng? Chúng tôi muốn xuất gia trong giáo pháp của Như Lai, chờ
bạn về để nói lời từ biệt. Ưu-ba-ly nghe, cũng muôn cùng đi xuất gia,
liền trở về xin cha mẹ. Cha mẹ liền cho phép, với ý nghĩ: Nên cho nó
làm đệ tử ai đây? Hai ông bà lại nghĩ: Tất-lăng-già-bà-ta đem nó từ tay
của đám giặc trở về, nay nên cho nó làm đệ tử. Cha mẹ chúng dẫn đến
Tất-lăng-già-bà-ta thưa: Bạch Đại đức! Đại đức đối với đứa nhỏ này là
kẻ đại ân, nay tôi xin dâng nó cho Đại đức, xin nhận nó làm đệ tử.
Tất-lăng-già-bà-ta liền độ chúng, cho thọ giới Cụ túc. Thọ giới
rồi, ban đêm, chúng không thể một mình đi đến nhà vệ sinh và nơi chỗ
rửa tay, phải có người dẫn. Có khi trời tối, thấy thầy mà không biết, gọi
là quỷ, thất thanh kêu lớn: Tỳ-xá-già! Tỳ-xá-già! (quỷ! Quỷ!). Thầy
nói đừng sợ, thầy đây chứ không phải quỷ đâu. Hoặc ban đêm đòi ăn,
thầy nói: Tăng có thức ăn, sáng sớm sẽ cho con ăn. Đồng tử hỏi: Nếu
Tăng không có thức ăn thì lấy ở đâu? Thầy nói: Nếu Tăng không có
thức ăn thì sẽ đi xin. Đồng tử nghe như vậy bèn lớn tiếng khóc, nói: Tỳ-
kheo đi xin về thì chúng con đã chết rồi. Ban đêm Đức Phật nghe tiếng
khóc, hỏi Tôn giả A-nan: Tiếng trẻ nhỏ ở đâu khóc đó? Tôn giả trình
bày đầy đủ vấn đề. Nhân việc này, sáng sớm Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo
Tăng, hỏi Tất-lăng-già-bà-ta: Thật sự ông có như vậy không? Bạch Đức
Thế Tôn! Sự thật có như vậy. Bằng mọi cách Đức Phật quở trách: Ông
không nên cho người chưa đủ hai mươi tuổi thọ giới Cụ túc. Chưa đủ hai
mươi tuổi phần nhiều không thể kham nhẫn, có thể đưa đến việc phá
giới. Quở trách rồi, Phật bảo các Tỳ-kheo: Nay Ta vì các Tỳ-kheo kiết
giới. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào cho người chưa
đủ hai mươi tuổi thọ giới Cụ túc, phạm Ba-dật-đề
Lúc ấy, đồng tử Ca-diếp không đủ hai mươi tuổi thọ Giới Cụ túc,
sau mới biết, sinh nghi, không biết giải quyết thế nào, bạch Phật. Nhân
việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo: Đồng tử
Ca-diếp có chứng đắc gì không? Các Tỳ-kheo thưa: Đắc Tu-đà-hoàn.
Đức Phật dạy: Người này mới là người thọ giới Cụ túc bậc nhất, nhưng
không gọi là Bạch-tứ-yết-ma thọ giới như pháp. Nay cho phép tính tuổi
trong thai để đủ hai mươi tuổi. Nếu vẫn chưa đủ thì cho phép tính tháng
nhuần để cho đủ. Nếu không đủ lại cho phép dùng đến năm của Sa-môn
để cho đủ. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào biết người
chưa đủ hai mươi tuổi mà trao cho giới Cụ túc, phạm Ba-dật-đề”, Người
ấy không đắc giới, các Tỳ-kheo cũng bị quở trách, như vậy là đúng
pháp. Chưa đủ hai mươi, tưởng là chưa đủ hai mươi, nghi là chưa đủ hai
mươi, phạm Ba-dật-đề. Đủ hai mươi, tưởng là chưa đủ, đủ hai mươi mà
nghi, phạm Đột-kiết-la. Nếu biết không đủ hai mươi, khởi ý niệm muôn
cho thọ giới Cụ túc, cho đến tạo phương tiện, cho đến Bạch-tứ-yết-ma
chưa xong, đều phạm Đột-kiết-la. Yết-ma lần thứ tư xong, Hòa thượng
phạm Ba-dật-đề, Sư Tăng khác phạm Đột-kiết-la
Xong giới thứ sáu mươi mốt.
Đức Phật ở nước Câu-tát-la, cùng năm trăm vị Đại Tỳ-kheo đi đến
thành Ca-duy-la-vệ. Các người giồng họ Thích nghe Phật từ nước Câu-
tát-la đến, cùng nhau lập ra định chế: Nếu ai không nghinh đón Phật sẽ
bị phạt năm trăm kim tiền. Do đó, lớn bé đều ra nghinh đón Đức Thế
Tôn, đầu mặt đảnh lễ sát chân, rồi đứng lui qua một bên. Đức Phật vì
họ giảng nói pháp chỉ bày sự lợi ích, khiến họ hoan hỷ, cùng nhau thỉnh
Phật và Tăng an cư bốn tháng mùa hạ, Đức Thế Tôn im lặng nhận lời.
Mỗi người đều tùy theo khả năng cúng dường, hoặc một gia đình cúng
một ngày cho đến mười ngày, hoặc hai gia đình cúng một ngày, cho
đến mười gia đình... hoặc chỉ cúng món ăn trước hay món ăn sau, hoặc
chỉ làm đát bát na, hoặc chỉ cúng cháo, hoặc chỉ cúng nước tắm, hoặc
chỉ cúng nước uống buổi chiều, hoặc cúng dầu thoa chân, thoa tay, dầu
thắp đèn.
Lúc này, Thích-ma-nam không có ở nhà, chưa cúng dường được
thứ gì, hỏi người xung quanh: Vị nào nhận vật cúng dường của tôi?
Được trả lời chưa có ai nhận. Lại hỏi: Thứ nào chưa ai cúng dường Đức
Phật và Tăng? Thưa thuốc trị bệnh chưa được ai cúng. Thích-ma-nam
xin cúng thuốc chữa bệnh cho Phật và Tăng trong bốn tháng mùa hạ,
bằng cách hoặc tự đưa đến, hoặc sai người đưa đến. Nhà Vua lại đến
chỗ Lục quần Tỳ-kheo nói: Đại đức cần thuốc gì tùy ý đến lấy. Lục
quần Tỳ-kheo khởi ý nghĩ: Nay Vua cúng thuốc trị bệnh cho Phật và
Tăng trong bốn tháng, hoặc sai người đem đến hay tự đem đến, lại bảo
ta tự đến nhận, như thế là tâm nhà Vua có sự khinh thường chúng ta.
Chúng ta chờ khi thân tộc nhóm họp, đến xin thứ thuốc khan hiếm, chắc
nhà Vua không có, phải bị hổ thẹn. Lục quần lại nghĩ: Nhà Vua này
phước đức, cũng có thể là không thiếu thứ thuốc nào. Trước hết ta nên
tìm hiểu trong thiên hạ thứ nào không có rồi sẽ đến xin. Sau khi lục lọi,
tìm hiểu nên biết được một thứ duy nhất không có. Ngày đợi chờ năm
thân thuộc của Vua nhóm họp đã tới, Lục quần Tỳ-kheo liền đến xin
thuốc. Nhà Vua sai người đi tìm khắp nước không có. Vua nói với Lục
quần Tỳ-kheo: Tìm kiếm khắp nơi mà không có. Lục quần Tỳ-kheo nói
với Vua: Nhà Vua tự thỉnh Phật và Tăng cúng thuốc chữa bệnh cho bôn
tháng, mà nay không cho chúng tôi một thứ nào! Nhà Vua thưa: Thưa
Đại đức! Không phải là không muốn cúng, cũng không phải là không
có thuốc, chỉ vì thứ thuốc này tuyệt nhiên tìm không có, hơn nữa bốn
tháng đã qua, đâu có gì làm phiền khổ cho nhau. Lục quần Tỳ-kheo lại
làm nhục nhà Vua trước công chúng: Trước đây nói với chúng tôi cứ
đến lấy thuốc theo nhu cầu, mà nay không nhận được một thứ nào! Các
Tỳ-kheo nghe, hỏi Lục quần Tỳ-kheo: Các thầy nói thế nào? Lục quần
Tỳ-kheo đem sự thật theo ý mình trả lời. Các Tỳ-kheo bằng mọi cách
quở trách, rồi bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo
Tăng, hỏi Lục quần Tỳ-kheo: Thật sự các ông có như vậy không? Bạch
Thế Tôn, sự thật có như vậy. Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo
các Tỳ-kheo: Nay Ta vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay giới này được nói
như sau: “Tỳ-kheo nào nhận sự cúng dường tùy ý trong bốn tháng, nếu
nhận quá thời hạn ấy, phạm Ba-dật-đề”.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo, vào mùa Thu thường mắc phải bệnh, Thích-
ma-nam đến tận phòng thăm hỏi: Đại đức mắc phải bệnh gì? Các Tỳ-
kheo nói: Chúng tôi mắc phải bệnh mùa Thu. Ma-ha-nam liền thưa với
Tỳ-kheo: Quý thầy có thể đến tôi lấy thuốc. Các Tỳ-kheo nói: Trước
đây Vua cúng bốn tháng, nay đã mãn, Đức Phật không cho phép chúng
tôi nhận thuốc quá thời gian bốn tháng. Nhà Vua lại xin cúng thêm
một tháng. Các Tỳ-kheo nói: Đức Phật chưa cho phép chúng tôi nhận
thêm một tháng. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo
các Tỳ-kheo: Nay cho phép các Tỳ-kheo nhận sự mời thỉnh thêm một
tháng. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào nhận sự mời
thỉnh tùy ý bốn tháng, nếu nhận quá, trừ thỉnh lại, phạm Ba-dật-đề ”.
Lại có các Cư sĩ đến thăm nơi các phòng Tăng, thấy các Tỳ-kheo
mắc bệnh mùa Thu, hỏi: Các thầy cần thuốc gì con sẽ đem đến? Các
Tỳ-kheo nói: Đức Phật chưa cho chúng tôi nhận thuốc do thí chủ đem
đến. Cư sĩ không biết làm sao, bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập
hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo: Nay cho phép các Tỳ-kheo nhận
sự mời thỉnh do thí chủ đem đến. Từ nay giới này được nói như sau:
“Tỳ-kheo nào nhận sự mời thỉnh tùy ý bốn tháng, nếu nhận quá, trừ
thỉnh lại tự đem đến, phạm Ba-dật-đề”.
Khi ấy, Thích-ma-nam lại có suy nghĩ: Lục quần Tỳ-kheo vì thuốc
mà đã nhục mạ ta trước mọi người. Nay ta cần tập trung nhiều thứ
thuốc. Thế là thuốc để dồn về. Đã có nhiều thuốc rồi, nhà Vua lại suy
nghĩ: Theo ta thì số thuốc này dùng trọn đời cũng không hết, nay ta nên
thỉnh các Tỳ-kheo để cúng thuốc trọn đời. Thực hiện ngay ý nghĩ, nhà
Vua đến các Tỳ-kheo thỉnh cúng thuốc lâu dài. Các Tỳ-kheo nói: Đức
Phật chưa cho phép chúng tôi nhận sự thỉnh cúng lâu dài như thế.
Trước sự khó xử ấy Ma-ha-nam đến bạch Phật. Nhân việc này,
Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo: Nay cho phép các
Tỳ-kheo nhận sự mời thỉnh lâu dài. Từ nay giới này được nói như sau:
“Tỳ-kheo nào nhận sự mời thỉnh tùy ý bốn tháng, nếu nhận quá, trừ
thỉnh lại, tự đem đến, thỉnh lâu dài, phạm Ba-dật-đề”. Nếu người cúng
thuốc cho Tăng thì Tỳ-kheo giúp việc cho chúng nên hỏi: Thuốc này để
trong xóm làng hay để nơi Tăng phường? Nếu nói để trong xóm làng thì
cần nên bảo: Tôi cần thứ thuốc đó hãy vì tôi mà soạn cho đừng để thiếu
thôn. Nếu nói để nơi Tăng phường thì nên để ở phòng trung ương cho
dễ lấy. Tăng nên tác pháp bạch nhị Yết-ma, sai một Tỳ-kheo xướng:
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nay dùng phòng... để thuốc cho Tăng. Nếu
thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Đây là lời tác bạch.
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nay dùng phòng... để thuốc cho Tăng. Các
Trưởng lão nào đồng ý thì im lặng, vị nào không đồng ý xin nói. Tăng
đã đồng ý dùng phòng... để đựng thuốc cho Tăng rồi. Tăng đồng ý nên
im lặng. Việc như vậy, thọ trì như vậy. Các Tỳ-kheo không biết ai là
người nên giữ thuốc cho Tăng, bạch Phật. Đức Phật dạy: Tăng nên bạch
nhị Yết-ma sai một Tỳ-kheo giữ thuốc. Một Tỳ-kheo xướng: Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Nay Tăng sai Tỳ-kheo tên là... vì Tăng làm người
giữ thuốc. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Đây
là tác bạch. Đại đức Tăng xin lắng nghe, nay Tăng sai Tỳ-kheo tên là...
vì Tăng làm người giữ thuốc. Các Trưởng lão nào đồng ý thì im lặng, vị
nào không đồng ý xin nói. Tăng đã sai Tỳ-kheo tên là... làm người giữ
thuốc rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc như vậy, thọ trì như vậy. Vì
các Tỳ-kheo sai Tỳ-kheo vô trí, không kham việc giữ thuốc, nên bạch
Phật. Đức Phật dạy: Không nên sai Tỳ-kheo vô trí giữ thuốc. Người
được sai giữ thuốc phải thành tựu năm pháp: Không làm theo ái, sân, si,
SỢ, phải biết rõ thuốc hay chẳng phải thuốc. Tỳ-kheo giữ thuốc cho Tỳ-
kheo Tăng nên dùng vật dụng mới để đựng Ha-lê-lặc, A ma lặc, Tỳ hê
lặc, Tất bạt la, gừng khô, đường mía, đường phèn. Nếu đồ đựng không
rỉ chảy nên đựng tô, dầu mật, nên dùng da bịt miệng, đề tên thuốc vào.
Nếu Tỳ-kheo nào bệnh cần thứ gì nên hoan hỷ đưa. Nếu người bệnh
biết nên dùng thuốc gì thì tự lấy dùng. Nếu không biết thì nên hỏi thầy
thuốc. Nếu không có thầy thuốc thì nên hỏi Hòa thượng, A-xà-lê: Con
bệnh như vậy, như vậy, nên uống thuốc gì? Nếu Hòa thượng, A-xà-lê
không biết thì nên uống thử Ba lần, không bớt thì lấy thứ khác uống.
Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, phạm Đột-
kiết-la.
Xong giới thứ sáu mươi hai
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ. Lúc này, Lục quần Tỳ-kheo thường
phạm giới, các Tỳ-kheo can ngăn: Các thầy thường phạm giới, nên tự
mình thấy tội, như pháp sám hối, đừng nên vì việc làm ấy phụ lòng
tin của tín thí, phải thọ khổ lâu dài. Lục quần Tỳ-kheo nói: Chúng tôi
không học giới này, trước hết chúng tôi cần hỏi vị trì pháp, trì luật mà
trí tuệ hơn thầy. Các Tỳ-kheo nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi bạch
Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Lục quần
Tỳ-kheo: Thật sự các ông có như vậy không? Bạch Thế Tôn, sự thật
có như vậy. Đức Phật bằng mọi cách quở trách: Các ông là người ngu
si, không nên tạo ra các nghiệp ác như vậy. Các Tỳ-kheo muốn không
cùng các ông Bố-tát, Tự tứ, làm các Yết-ma, do thương nghĩ các ông
nên như pháp can gián. Tại sao các ông nói: Chúng tôi không học giới
này, trước hết chúng tôi cần hỏi vị trì pháp, trì luật có trí tuệ hơn thầy
đã. Quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo: Nay Ta vì các Tỳ-kheo kiết giới.
Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào thường hay phạm tội,
các Tỳ-kheo như pháp can ngăn, mà lại nói: Tôi không học giới này,
cần hỏi Tỳ-kheo trì pháp, trì luật khác đã, phạm Ba-dật-đề”. Tỳ-kheo
muốn tìm hiểu thì nên hỏi vị trì pháp, trì luật là điều nên làm. Trì pháp:
Là người trì tụng những pháp do Phật nói. Người trì luật có năm hạng:
Một là tụng bôn việc cho đến hai Bất định. Hai là tụng bốn việc cho đến
ba mươi việc. Ba-là tụng hết hai trăm năm mươi giới. Bốn là tụng hết
hai bộ luật. Năm là tụng hết tất cả luật. Nếu Tỳ-kheo không tụng giới,
chẳng phải mùa an cư thì nên nương vào bôn hạng trì luật trước, trong
mùa an cư nên nương vào vị tụng hết tất cả luật. Nếu không nương vào
thì phạm Đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-
di, Sa-di-ni, phạm Đột-kiết-la.
Xong giới thứ sáu mươi ba
LUẬT DI SA TẮC BỘ HÒA HÊ NGŨ PHAN

Nguồn bản dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Internet Archive OCR)Giấy phép: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Việt dịch) · OCR Internet Archive · nguồn: archive.org · EN quarantined on 2026-07-06: previous bodyEn was short INTI-AI quote-widget noise, not a source English body. · EN: AI translation from Vietnamese source, awaiting source English🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch bằng AI do Inti biên soạn: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến