Inti DharmaInti Dharma
← Kinh điển
Đại Thừa — Tạng Bắc Truyền · Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Việt dịch)

Di Sa Tắc Bộ Hoà Hề Ngũ Phần Luật quyển 7

Tên chữ Hán:彌沙塞部和醯五分律

📖12,936 từ · ~52 phút đọc
2

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản →
Bản dịch đầy đủ (Tiếng Việt)

LUẬT DI SA TẮC BỘ HÒA HÊ NGŨ PHẦN - QUYỂN 7

QUYỂN 7

Phần 1: GIỚI PHÁP CỦA TỲ KHEO

Đoạn 5: NÓI VE 91 PHÁP ĐỌA (Tiếp Theo)
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ. Bấy giờ, các Tỳ-kheo, theo thứ tự,
giáo giới Tỳ-kheo-ni, nói với Tỳ-kheo-ni: Sáng mai tới phiên Tỳ-kheo
Ban-đà giáo giới, các cô sẽ đến đó thọ lãnh giáo pháp. Nói như vậy rồi,
quý vị trở về trú xứ nói với Ban-đà: Sáng sớm thầy nên giáo giới Tỳ-
kheo-ni. Trưởng lão Ban-đà, sáng sớm hôm sau đến giờ ăn, mặc y bưng
bát vào thành khất thực. Sau khi ăn, trở về quét dọn trong ngoài, múc
nước sạch, để sẩn khăn lau tay lau chân, dọn chỗ ngồi nơi đất trống, tự
lấy giường dây ngồi thiền một bên. Khi các Tỳ-kheo-ni đến chỗ Ban-
đà, đầu mặt kính lễ sát chân, rồi tới chỗ ngồi để ngồi. Tiếp đó, Ban-đà
hỏi các Tỳ-kheo-ni: Các cô đã từng nghe Tám kính pháp chưa? Các cô
thưa: Đã nghe. Ban-đà nói: Các cô nên nghe lại:
1. Chúng Tỳ-kheo-ni mỗi nửa tháng nên đến chúng Tỳ-kheo thỉnh
vị giáo giới.
2. Chúng Tỳ-kheo-ni khi an cư cần phải nương nơi chúng Tỳ-kheo
Tăng.
3. Tỳ-kheo-ni khi Tự tứ nên bạch nhị Yết-ma, sai ba Tỳ-kheo-ni
đến chúng Tỳ-kheo thỉnh tội thấy, nghe, nghi.
4. Thức-xoa-ma-na, hai năm học sáu pháp rồi, nên đối trước hai
bộ chúng cầu thọ giới Cụ túc.
5. Tỳ-kheo-ni không được mắng Tỳ-kheo, không được nói với
bạch y về tội phạm giới, phạm oai nghi, tà kiến, tà mạng của Tỳ-
kheo.
6. Tỳ-kheo-ni không được cử tội Tỳ-kheo, nhưng Tỳ-kheo được
quở trách Tỳ-kheo-ni.
7. Tỳ-kheo-ni phạm tội thô nên đến hai bộ Tăng cầu nửa tháng
hành Ma-na-đỏa, hành Ma-na-đỏa rồi, hành A-phù-ha-na, nên đến
trước hai mươi vị Tỳ-kheo và hai mươi vị Tỳ-kheo-ni xuất tội.
8. Tỳ-kheo-ni tuy thọ giới Cụ túc trước một trăm năm, nên lễ bái
Tỳ-kheo mới thọ đại giới. Nói tám kính pháp rồi, Ban-đà liền nói kệ:
Muốn tâm được tốt đừng phóng dật
Siêng học pháp thiện của Thánh nhân
Nhất tâm ấy là người trí huệ
Họa ưu sầu đâu nữa phải lo.
Nói kệ xong, Ban-đà nhắm mắt ngồi thẳng. Khi ấy các Tỳ-kheo-
ni trộm lời với nhau: Tỳ-kheo này chỉ biết có một bài kệ, làm sao có
thể giáo giới chúng ta! Ban-đà nghe khởi ý niệm: Các Tỳ-kheo-ni ấy
khinh dể ta. Ban-đà liền bay vụt lên hư không, hiện một thân thành vô
số thân, rồi trở lại thành một thân, đi xuyên qua vách đá, đi trên nước
như đi trên đất, vào trong đất như vào trong nước, hoặc hiện nửa thân,
hoặc hiện toàn thân, hoặc thân trên tuôn ra khói, thân dưới tuôn ra lửa,
hoặc thân trên tuôn ra lửa, thân dưới tuôn ra khói, hoặc thân trên tuôn ra
nước, thân dưới tuôn ra lửa, hoặc thân trên tuôn ra lửa, thân dưới tuôn ra
nước, hoặc ngồi nằm trên hư không như chim dang hai cánh, hoặc dùng
tay sờ mặt trời, mặt trăng, hoặc thân đứng thẳng đến trời Phạm Tự tại.
Hiện thần biến như vậy rồi, Ban-đà trở lại chỗ cũ, nói kệ như trước. Các
Tỳ-kheo-ni thấy các thứ thần biến này tâm rất hoan hỷ, bạch: Đại đức!
Xin lại dùng thần túc để giáo hóa.
Liền khi ấy, Ban-đà hiện ra nơi phương Đông chìm mất vào
phương Tây, hiện ra nơi phương Tây chìm mất vào phương Đông. Các
phương khác cũng vậy. Hiện tất cả các thần biến như vậy rồi trở về
chỗ cũ, lại nói bài kệ trên, cho đến mặt trời lặn, Ban-đà mới cho ra về.
Bấy giờ, đã xẩm tối rồi, Tỳ-kheo-ni đến cửa thành, cửa thành đã đóng,
gõ cửa xin vào, người giữ cửa hỏi: Các ngươi là ai? Đáp lời: Chúng tôi
là Tỳ-kheo-ni. Người giữ cửa hỏi: Tại sao đi tối thế? Các Tỳ-kheo-ni
nói: Tôn giả Ban-đà giáo giới chúng tôi, cho nên về trễ. Người giữ cửa
nói: Có thể trở về lại chỗ cũ, chứ dù Vua đến, tôi cũng không dám mở.
Các Tỳ-kheo-ni không vào được, hoặc ở bên cửa, hoặc ở bên hào, hoặc
nương bên gốc cây, suốt đêm bị mòng muỗi gió bụi gây não.
Sáng ngày cửa thành mở, các ni vào trước hơn mọi người. Các Cư
sĩ hỏi nhau: Các Tỳ-kheo-ni này, từ đâu đến mà cửa thành vừa mở đã
vào trước hết? Có người nói: Chính là họ đi tìm nam tử trở về. Những
người không tin ưa Phật pháp bằng mọi cách chê bai nói: Chúng ta là
bạch y, không tu phạm hạnh... chứ các Tỳ-kheo-ni này đầu không tóc,
mặc đồ hoại sắc mà cũng như vậy chăng! Các Tỳ-kheo trưởng lão nghe
liền quở trách Ban-đà: Tại sao giáo giới Tỳ-kheo-ni đến tối? Quý vị
bạch Phật, nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Ban-đà:
Thật sự ông có như vậy không? Ban-đà công nhận là có. Đức Phật bằng
mọi hình thức quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo: Nay ta vì các Tỳ-kheo
kiết giới. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào Tăng sai giáo
giới Tỳ-kheo-ni cho đến chiều tối, phạm Ba-dật-đề
Tăng sai: Tức bạch nhị Yết-ma sai. Nếu Tỳ-kheo đã được Tăng
sai thì nên nói với các Tỳ-kheo-ni: Này các cô! Nếu lúc không phải nạn
thì nên giáo giới, còn khi có nạn thì không giáo giới. Nếu nhận tới trú
xứ của Tỳ-kheo-ni giáo giới thì nên nói: Các cô trải tòa, tôi sẽ đến. Nếu
không đến được, cần giáo giới tại trú xứ của mình thì lau quét sạch sẽ
như trước. Nên mời theo một Tỳ-kheo khỏe làm bạn, bằng không có thì
mới đi một mình. Nói tám kính pháp rồi, nếu còn sớm thì nói thêm các
pháp khác cũng tốt. Nên trù tính xong sớm kịp trong ngày về đến trú xứ
của mình. Nếu nói pháp rồi nên đi trước thì đi. Nếu chỗ có sự khủng bố
thì Tỳ-kheo nên đưa Tỳ-kheo-ni về tới nơi. Nếu Tỳ-kheo giáo giới cho
Tỳ-kheo-ni đến chiều tối, mỗi lời giáo giới đều phạm Ba-dật-đề. Sa-di
phạm Đột-kiết-la.
Xong giới thứ hai mươi hai
Đức Phật ở tại thành Xá -vệ. Lúc ấy các Tỳ-kheo, theo thứ tự giáo
giới Tỳ-kheo-ni, Tỳ-kheo-ni đều đạt được các thiền giải thoát, Tam-
muội chánh thọ. Khi ấy, Lục quần Tỳ-kheo, Tăng không sai cũng đến
giáo giới, chỉ nói những lời thô ác, bất thiện, các Tỳ-kheo-ni trưởng lão
im lặng không phục, còn Lục quần Tỳ-kheo-ni thì khen ngợi, nói: Lành
thay! Không ai hơn. Với sự việc như vậy, Tỳ-kheo-ni Ba-xà-ba-đề cùng
năm trăm Tỳ-kheo-ni đến chỗ Đức Phật, báo lại việc trên. Nhân việc
này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Lục quần Tỳ-kheo: Thật sự
các ông có như vậy không? Bạch Thế Tôn, có thật như vậy. Đức Phật
bằng mọi cách quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo: Nay Ta vì các Tỳ-kheo
kiết giới. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào vào trong trú
xứ của Tỳ-kheo-ni, phạm Ba-dật-đề ”.
Nhân khi các Tỳ-kheo có nhân duyên hoặc việc của pháp, việc
của Tăng, hay việc riêng cần vào trú xứ của Tỳ-kheo-ni nhưng vì e
ngại không dám vào, không biết nên thế nào, đem vấn đề bạch Phật.
Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo: Nếu
không vì nhân duyên giáo giới thì không cho phép vào. Từ nay giới này
được nói như sau: “Tỳ-kheo nào Tăng không sai, do nhân duyên giáo
giới, vào trú xứ của Tỳ-kheo-ni, phạm Ba-dật-đề
Có các Tỳ-kheo tuy Tăng sai mà vẫn e ngại không dám vào, do
đó, các Tỳ-kheo-ni không được giáo giới, nên không chứng đắc được
gì, bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các
Tỳ-kheo: Tỳ-kheo được Tăng sai, cho phép vào. Từ nay giới này được
nói như sau: “Tỳ-kheo nào Tăng không sai, vì giáo giới, cô' vào trú xứ
của Tỳ-kheo-ni, phạm Ba-dật-đề
Bấy giờ, Tỳ-kheo-ni Bạt-đà-lâm bệnh sai người tin cậy đến bạch
Tôn giả Xá-lợi-phất, mời Tôn giả đến để thuyết pháp lần cuối cùng cho
cô nghe. Tôn giả nói: Đức Phật không cho phép Tăng không sai vì vấn
đề giáo giới mà cố vào trong trú xứ của Tỳ-kheo-ni. Do đó, bạch Phật.
Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo: Cho
phép Tăng không sai nhưng do Tỳ-kheo-ni bệnh được đến thuyết pháp.
Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào Tăng không sai, vì
giáo giới, cô vào trú xứ của Tỳ-kheo-ni, trừ nhân duyên, phạm Ba-dật-
đề”.
Nhân duyên: Là Tỳ-kheo-ni bệnh, gọi là nhân duyên. Nếu Tăng
không sai vì giáo giới, cố vào trú xứ của Tỳ-kheo-ni, tùy theo việc vào
nhiều hay ít, mỗi bước đều phạm Ba-dật-đề. Nếu một chân vào trong
cửa, phạm Đột-kiết-la, Sa-di phạm Đột-kiết-la.
Xong giới thứ hai mươi ba
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ. Bấy giờ, các Tỳ-kheo Thượng tọa,
theo thứ tự giáo giới Tỳ-kheo-ni, các Tỳ-kheo-ni hoặc biệt thỉnh cúng
dường, hoặc cúng dường dãy đựng bát, dây lưng, dầu đèn, y thực, thuốc
thang. Lục quần Tỳ-kheo thấy vậy nói với các Tỳ-kheo: Có thể sai
chúng tôi làm người giáo thọ. Các Tỳ-kheo nói: Theo lời Phật dạy, sai
người thành tựu mười pháp, các thầy không có, thì làm sao sai? Lục
quần Tỳ-kheo bèn nói: Các Tỳ-kheo vì lợi dưỡng nơi sự cúng dường
nên giáo giới Tỳ-kheo-ni. Các Tỳ-kheo Trưởng lão bằng mọi cách quở
trách, rồi bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng,
hỏi Lục quần Tỳ-kheo: Thật sự các ông có như vậy không? Bạch Thế
Tôn, sự thật có như vậy. Đức Phật bằng mọi hình thức quở trách rồi bảo
các Tỳ-kheo: Nay Ta vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay giới này được
nói như sau: “Tỳ-kheo nào nói các Tỳ-kheo vì lợi dưỡng nên giáo giới
Tỳ-kheo-ni, phạm Ba-dật-đề. Nếu nói vì lợi của sự cúng dường nên giáo
giới Tỳ-kheo-ni, Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, phạm Đột-kiết-la
Nếu nói Tỳ-kheo hành mười hai hạnh đầu đà, tọa thiền, tụng kinh, làm
các công đức, đều là vì lợi của sự cúng dường, mỗi lời nói đều phạm
Đột-kiết-la. Sa-di phạm Đột-kiết-la.
Xong giới thứ hai mươi bốn
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ. Khi ấy, các Tỳ-kheo cùng với Tỳ-
kheo-ni ngồi nơi chỗ vắng, sinh tâm nhiễm, không vui sống phạm hạnh,
có người hoàn tục, có người làm ngoại đạo. Các Cư sĩ thấy, dị nghị
chê trách nói: Những Sa-môn này cùng Tỳ-kheo-ni một mình ngồi chỗ
vắng, giống như bạch y đối với dâm nữ, ăn của tín thí mà làm việc như
thế, không có hạnh của Sa-môn, phá pháp Sa-môn.
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi bạch
với Đức Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Tỳ-
kheo kia: Thật sự các ông có như vậy không? Bạch Thế Tôn, có thật như
vậy. Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo: Nay Ta vì
các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào
cùng Tỳ-kheo-ni ngồi chỗ vắng, phạm Ba-dật-đề
Cùng với Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni ngồi chỗ vắng cũng như vậy.
Sa-di phạm Đột-kiết-la. Nếu số đông Tỳ-kheo cùng Tỳ-kheo-ni cùng
ngồi, hoặc có nạn sự khởi, cần phải cùng ngồi nơi chỗ vắng đều không
phạm.
Xong giới thứ hai mươi lăm
Đức Phật ở tại thành Xá -vệ. Bấy giờ, có một Tỳ-kheo A-lan-nhã,
trú ngụ nơi A-lan-nhã, ban đầu không thân quen với bất kỳ người nào.
Tỳ-kheo kia, vào một buổi sáng, mặc y bưng bát vào thôn khất thực,
trên đường đi gặp hai Tỳ-kheo-ni. Cô ni này nói với cô ni kia: Nay tôi
muốn cùng Tỳ-kheo kia làm quen, cô đồng ý không? Tốt lắm! Cô ni
kia trả lời. Khi Tỳ-kheo kia đến, cô ni tác lễ. Tỳ-kheo im lặng không
nói năng gì cả. Hai cô ni cùng nhau bàn nói: Tỳ-kheo này không muốn
chúng ta làm quen giữa đường, chúng ta nên đến trú xứ của Tỳ-kheo để
bái chào. Sáng sớm hôm sau, hai Tỳ-kheo-ni đến chỗ Tỳ-kheo lễ bái
thăm hỏi. Lạy một lạy, lạy hai lạy, Tỳ-kheo không nói gì, đến lạy thứ
ba, Tỳ-kheo mới nói: “Lão thọ” (từ dùng để đáp lễ có nghĩa cầu chúc
điều tốt lành cho nhau). Hai Tỳ-kheo-ni kính lễ xong ra về. Sau đó, Tỳ-
kheo kia vào thôn khất thực, hai Tỳ-kheo-ni gặp nơi đường hẻm, liền lễ
bái hỏi chào, cùng nhau nói chuyện. Hai Tỳ-kheo-ni bèn dùng một đoạn
vải và chỉ may nhuộm rồi, cúng cho Tỳ-kheo. Tỳ-kheo thọ nhận. Hai cô
ni lại thưa: Đại đức có mỏi mệt, mời đến trú xứ của chúng con tạm nghỉ
một chút rồi đi khất thực. Tỳ-kheo bèn đến đó nghỉ. Nghỉ xong, gần đến
giờ khất thực, Tỳ-kheo-ni lại thưa: Nơi đây có rau tương, nếu được thức
ăn rồi mời thầy về lại đây dùng. Tỳ-kheo lại nhận lời, được thức ăn rồi
đem về đó, nhiều lần như vậy. Có khi Tỳ-kheo khất thực về trước, đợi
Tỳ-kheo-ni, có khi Tỳ-kheo-ni khất thực về trước, đợi Tỳ-kheo. Từ đó,
thường khen ngợi lẫn nhau khi đến gia đình nào đó. Một hôm, Tỳ-kheo
nhận được một tấm y tốt, bèn khởi tâm không đúng đắn, nghĩ như sau:
Nay ta đem y này biếu cho Tỳ-kheo-ni kia, chắc chắn cô ta không nhận,
như thế ta sẽ nhận được cái ân huệ cho nhiều hơn nữa. Với ý nghĩ như
vậy, việc trước hết là đến trước các Tỳ-kheo khen ngợi Tỳ-kheo-ni kia:
Tỳ-kheo-ni _ là con nhà giòng dõi xuất gia, lòng tin kiên định, chánh
trực, ít ham muôn, biết vừa đủ. Các Tỳ-kheo nói: Người xuất gia như
vậy là đáng khen. Sau đó, đem y cho Tỳ-kheo-ni kia, cô ta nhận y ngay.
Mưu đồ bị vỡ, ôm lòng não hận, lại đến các Tỳ-kheo nói: Tỳ-kheo-ni
_ tín tâm mỏng manh, nhiều ham muôn, không biết nhàm chán. Các
Tỳ-kheo nói: Thầy vừa rồi nói Tỳ-kheo-ni _ ít ham muốn, biết vừa
đủ, sao bây giờ lại nói như vậy? Tỳ-kheo tỏ bày những lắc léo của lòng
mình. Các Tỳ-kheo bằng mọi cách quở trách: Tại sao tâm không xả vật,
đã hứa cho người mà còn tính đến việc người ta không nhận, lấy cảm
tình người ta bằng sự hư dối, vọng ngữ này! Quý vị bạch Phật, nhân việc
này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Tỳ-kheo kia: Thật sự ông có
như vậy không? Đương sự thú nhận là có. Đức Phật bằng mọi cách quở
trách: Há ông không nghe Ta khen ngợi với tâm xả vật cho người mới
được công đức lớn hay sao? Tại sao nay ông với tâm không xả vật mà
dối đem cho người?! Quở trách rồi, Đức Phật bảo các Tỳ-kheo: Nay Ta
vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo
nào cho y cho Tỳ-kheo-ni, phạm Ba-dật-đề
Khi ấy, các Tỳ-kheo có Tỳ-kheo-ni bà con, y phục ngọa cụ đều
thô tệ, đau ốm thuốc men cũng không thể có được. Các Tỳ-kheo có suy
nghĩ: Nếu Đức Thế Tôn cho phép ta cho y vật cho Tỳ-kheo-ni bà con thì
đâu đến nỗi như thế. Quý vị bạch Phật, nhân việc này, Đức Phật tập hợp
Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo: Nay cho phép các Tỳ-kheo cho y vật
cho Tỳ-kheo-ni bà con. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào
cho y cho Tỳ-kheo-ni không phải thân quyến, phạm Ba-dật-đề
Bấy giờ, tại thành Xá-vệ, hai bộ Tăng nhận được y đã may thành,
cùng phân chia cho nhau. Có trường hợp Tỳ-kheo nhận được cỡ y của
Tỳ-kheo-ni, có trường hợp Tỳ-kheo-ni nhận được cỡ y của Tỳ-kheo,
muốn trao đổi cho nhau mà không dám, bạch Phật. Nhân việc này,
Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo: Nay cho phép các
Tỳ-kheo cùng Tỳ-kheo-ni đổi y. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-
kheo nào cho y cho Tỳ-kheo-ni chẳng phải bà con, trừ trao đổi, phạm
Ba-dật-đề”. Nếu cho y cho Tỳ-kheo-ni bà con mà họ là người phá giới,
phá kiến, phạm Đột-kiết-la. Nếu cho y cho Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni
không phải bà con, phạm Đột-kiết-la. Sa-di phạm Đột-kiết-la. Nếu vì
lo liệu công việc, hoặc vì khéo nói kinh pháp, hoặc vì tụng nhiều kinh
giới nên cho y thì không phạm.
Xong giới thứ hai mươi sáu
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ. Lúc ấy, có một Tỳ-kheo-ni ít người
quen biết, nhận được vải y chưa may thành, mà tự mình không biết
may, nói với các Tỳ-kheo-ni: Tôi không biết may y, nhờ các cô may gi¬
ùm. Các Tỳ-kheo-ni nói: Này cô! Chúng tôi nhiều việc không thể may
được, cô có thể đến nơi chúng Tỳ-kheo thưa, có thầy nào rủ lòng thương
chắc sẽ may cho cô. Cô liền đến trong chúng Tỳ-kheo thưa: Con là kẻ
ít người quen biết, nhận được vải y nhưng chưa may thành, con không
tự may được, mong các thầy may giùm cho. Các Tỳ-kheo cũng đều từ
chối, vì bận việc. Cô đến Trưởng lão Ưu-đà-di thưa như trên. Ưu-đà-di
nói: Tôi có thể may được, nhưng đừng lúc nào cũng đến thúc hối, tùy
tôi may khi nào xong thì thôi, đồng ý như vậy tôi sẽ may cho. Cô thưa:
Tùy Trưởng lão, khi nào may xong cũng được. Ưu-đà-di nhận lấy vải y
cắt may. Trải qua thời gian lâu không thấy giao y, Tỳ-kheo-ni đến hỏi:
Thưa Đại đức y may xong chưa? Ưu-đà-di nói: Trước đây tôi đã giao
hẹn như vậy, tại sao nay đến hối thúc? Cô ni thưa: Con đến hỏi để biết
chứ không dám hối thúc. Cô liền rút lui. Sau đó, Ưu-đà-di dùng các loại
chỉ đủ màu sắc, thêu thành hình nam nữ giao hội trên phần vải giữa tấm
y. Thêu xong, kêu cô ni đến giao. Cô ni đến nhận, ưu-đà-di dặn: Chưa
có thể trương ra xem và cũng đừng cho ai coi: Khi nào Tỳ-kheo-ni Ba-
xà-ba-đề đến chỗ Đức Phật, nơi đầu đường, khi đó mới mặc. Tỳ-kheo-
ni nhận được y đem về, không trương ra xem cũng không đưa ai xem.
Khi Tỳ-kheo-ni Ba-xà-ba-đề đến chỗ Đức Phật, tại đầu đường, cô ni đó
mặc y vào, người đi đường thấy, không ai không vỗ tay cười lớn, cùng
nhau nói: Tỳ-kheo-ni này thật là người khéo tay mới có thể thêu thành
hình dâm dục trên y như vậy được. Tỳ-kheo-ni xấu hổ hết sức, trở về lại
trú xứ. Tỳ-kheo-ni Ba-xà-ba-đề cuốn cái y đó mang đến chỗ Đức Phật
trương ra, thưa: Cúi xin Đức Thế Tôn chứng tri cho việc làm này. Đức
Phật vì Cù-đàm-di nói các pháp rồi bảo bà trở về trú xứ. Nhân việc này,
Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Ưu-đà-di: Thật sự ông có như vậy
không? Ưu-đà-di thú nhận là có. Bằng mọi cách Đức Phật quở trách:
Ông là người ngu si, tại sao thêu hình người nhớp nhúa này lên trên y?!
Quở trách rồi, Phật bảo các Tỳ-kheo: Nay Ta vì các Tỳ-kheo kiết giới.
Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào may y cho Tỳ-kheo-ni,
phạm Ba-dật-đề
Trường hợp các Tỳ-kheo có Tỳ-kheo-ni bà con, y phục bị hư rách,
xin được một khổ vải mà không biết may, các Tỳ-kheo lại có suy nghĩ:
Nếu Đức Thế Tôn cho phép ta may y cho Tỳ-kheo-ni bà con thì không
trở ngại cho điều này. Quý vị bạch Phật, nhân việc ấy, Đức Phật tập
hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo: Nay cho phép các Tỳ-kheo vì Tỳ-
kheo-ni bà con may y. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào
may y cho Tỳ-kheo-ni không phải bà con, phạm Ba-dật-đề”. Tỳ-kheo
vì Tỳ-kheo-ni không phải bà con nhận vải, phạm Đột-kiết-la, cắt, may,
nhuộm phạm Ba-dật-đề. Khi may, mỗi mũi kim đều phạm Ba-dật-đề.
Ngoài ra như trong giới cho y đã nói.
Xong giới thứ hai mươi bảy
Đức Phật ở tại thành Xá -vệ. Bấy giờ, các Tỳ-kheo ở nước Ma-kiệt
Đề cùng các Tỳ-kheo-ni du hành trong nhân gian, hoặc một Tỳ-kheo
cùng một Tỳ-kheo-ni đi, cho đến sô" đông, hoặc lội qua nước sâu, hoặc
leo lên gành cao, thây hình nhau, sinh tâm nhiễm đắm, không vui sống
phạm hạnh, đưa đến tình trạng hoàn tục, hoặc làm ngoại đạo. Các bạch
y thây, dè bỉu nói: Đám Sa-môn này, như người đời dẫn vợ hay dâm nữ
đi chơi... chê trách đủ cách như trong giới ngồi một mình nơi chỗ vắng đã
nói. Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách rồi bạch
Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
Thật sự các ông có như vậy không? Bạch Thế Tôn, có như vậy. Đức
Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo: Nay Ta vì các Tỳ-
kheo kiết giới. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào cùng
Tỳ-kheo-ni đi một đường, phạm Ba-dật-đề
Trường hợp các Tỳ-kheo cùng sô" đông bạn đồng đi một đường,
thây các Tỳ-kheo-ni cũng đi trên đường đó, bèn khởi ý nghĩ: Chúng ta
có phạm Ba-dật-đề không! Quý vị bạch Phật, nhân việc này, Đức Phật
tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo: Nếu trước không cùng hẹn
mà phạm Ba-dật-đề là điều không thể có. Từ nay giới này được nói
như sau: “Tỳ-kheo nào cùng Tỳ-kheo-ni hẹn trước cùng đi một đường,
phạm Ba-dật-đề
Trường hợp các Tỳ-kheo cùng Tỳ-kheo-ni trước đã hẹn đi một
đường, sau không dám đi, hoặc hai bên tránh nhau, do trước có hẹn nên
nghi, bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo
các Tỳ-kheo: Nếu trước cùng Tỳ-kheo-ni hẹn đồng đi một đường, hoặc
không đi, hoặc hai bên tránh nhau mà phạm Ba-dật-đề là điều không
thể có. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào cùng Tỳ-kheo-
nỉ, có hẹn trước cùng đi một đường, từ xóm làng này đến xóm làng kia,
phạm Ba-dật-đề
Bấy giờ, có một Tỳ-kheo-ni, nơi đoạn đường nguy hiểm, thấy một
Tỳ-kheo, liền kêu: Đại đức đến mau, để cùng đi với nhau. Tỳ-kheo kia
đến nói: Này cô! Đức Phật cấm không cho phép cùng Tỳ-kheo-ni đi
một đường. Tỳ-kheo-ni thưa: Đoạn đường này nguy hiểm, mà con là nữ
yếu ớt, xin được nương nơi Đại đức mới có thể đi qua được. Tỳ-kheo
vẫn nói như trước, rồi bỏ đi. Tỳ-kheo-ni đi sau bị giặc cướp đoạt y phục,
lõa hình, kêu la lớn: Giặc lột đồ con! Giặc lột đồ con! Tỳ-kheo kia từ
xa nghe. Khi về đến trú xứ nói với các Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo đem vấn
đề bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các
Tỳ-kheo: Nay cho phép các Tỳ-kheo, nếu gặp chỗ nguy hiểm, nghi ngờ
có sự khủng bố, được cùng Tỳ-kheo-ni đồng đi một đường. Từ nay giới
này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào cùng Tỳ-kheo-ni, trước hẹn cùng
đi một đường, từ xóm làng này đến xóm làng kia, trừ nhân duyên, phạm
Ba-dật-đề
Nhân duyên: Hoặc có nhiều bạn, chỗ có sự nghi ngờ, gọi là nhân
duyên. Nếu Tỳ-kheo cùng Tỳ-kheo-ni trước hẹn đi một đường, chỗ
không có xóm làng, thì nửa do-tuần phạm Ba-dật-đề. Nếu cùng Thức-
xoa-ma-na, Sa-di-ni trước hẹn cùng đi một đường cũng như vậy. Sa-di
phạm Đột-kiết-la.
Xong giới thứ hai mươi tám
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ. Bấy giờ, các Tỳ-kheo nước Ma-kiệt
Đề, cùng các Tỳ-kheo-ni đồng đi trên một thuyền, hoặc một Tỳ-kheo
cùng một Tỳ-kheo-ni cùng đi một thuyền, cho đến số đông. Khi lên
xuống thuyền cùng nhau thấy hình thể. Bạch y chê trách nói: (như
trước). Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe... cho đến câu: Đức Phật bảo các
Tỳ-kheo... đều như trong giới “Cùng đi một đường” đã nói: Nay Ta vì
các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào
cùng Tỳ-kheo-ni hẹn trước đồng đi một thuyền, phạm Ba-dật-đề
Có một Tỳ-kheo-ni đứng bên bờ sông A-di-la đợi đò để qua sông.
Sau đó, có một Tỳ-kheo đến, Tỳ-kheo-ni thưa: Thưa Đại đức, nơi đây
có nạn nguy hiểm có thể cho con cùng qua một chuyến đò. Tỳ-kheo trả
lời: Đức Phật cấm không cho chúng tôi cùng Tỳ-kheo-ni đi trên cùng
một đò. Người lái đò lại nói: cả hai vị cùng lên đò, mỗi vị ngồi một đầu.
Tỳ-kheo không đồng ý. Tỳ-kheo-ni thưa: Nếu không được thì mời Đại
đức qua trước. Tỳ-kheo liền qua chuyến đò trước. Chuyến đò chưa đến
bên kia, Tỳ-kheo-ni đã bị giặc cướp trấn lột. Người lái đò thấy vậy rất
bất bình chê trách: Các người đồng xuất gia mà không thể bảo hộ nhau,
huống chi là đối với người ngoài, thật không có hạnh Sa-môn, phá pháp
Sa-môn. Tỳ-kheo kia trở về trong Tăng phường, kể lại câu chuyện cho
các Tỳ-kheo nghe. Các Tỳ-kheo đem vấn đề đến bạch Phật. Nhân việc
này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Tỳ-kheo kia: Thật sự các ông
có như vậy không? Bạch Thế Tôn, có xảy ra như vậy. Đức Phật bằng
mọi cách quở trách: Ông là người ngu si, tại sao bỏ Tỳ-kheo-ni lại để
giặc cướp đoạt như thế! Quở trách rồi, Phật bảo các Tỳ-kheo: Từ nay
giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào cùng Tỳ-kheo-ni trước có hẹn
đồng đi một thuyền, hoặc thuận dòng nước, hoặc nghịch dòng nước,
trừ đò ngang, phạm Ba-dật-đề”. Ngoài ra, như trong giới “Đồng đi một
đường” đã nói.
Xong giới thứ hai mươi chín
Đức Phật ở tại thành Vương-xá. Khi ấy, Nan-đà, Bạt-nan-đà ăn
thức ăn do Tỳ-kheo-ni khen ngợi mà được. Các Tỳ-kheo thấy, bằng mọi
cách quở trách. Lúc đó, hai Tôn giả Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên du hành
trong nhân gian, tới thành Vương-xá. Có một Cư sĩ nghe hai vị đến, ra
nghinh đón, đầu mặt đảnh lễ sát chân, rồi ngồi lùi qua một bên. Hai vị
vì người ấy giảng nói pháp chỉ bày điều lợi ích, khiến họ vui mừng. Cư
sĩ liền mời sáng hôm sau thọ trai, được hai vị im lặng nhận lời. Cư sĩ
liền về nhà sửa soạn các món ăn thức uống, trải tọa cụ tốt. Hai Tôn giả
Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên đến giờ, mặc y bưng bát tới nhà đó. Tôn giả
Xá-lợi-phất đi trước, muốn vào nhưng nghe tiếng nói của Tỳ-kheo-ni
Thâu-la-nan-đà đã có mặt trong nhà này rồi, nên dừng lại không vào.
Tỳ-kheo-ni kia thấy gia chủ sửa soạn thức ăn, trải tọa cụ tốt, hỏi: Nay
gia chủ có rước Vua hay làm đám cưới? Gia chủ trả lời: Không rước Vua
cũng chẳng làm đám cưới, mà là muôn cúng dường Tôn giả Xá-lợi-phất
và Tôn giả Mục-kiền-liên. Tỳ-kheo-ni nói: Tại sao không thỉnh bậc
Đại long mà lại cúng dường Tỳ-kheo tiểu đức này? Cư sĩ hỏi: Vị nào là
Đại long? Đáp lời: Tỳ-kheo Lục quần. Cô ni lại nói: Muốn thỉnh hàng
Tỳ-kheo tộc tánh xuất gia, tu đầu đà, bốn niệm xứ, cho đến tám Thánh
đạo phần, Tu-đà-hoàn cho đến A-la-hán, muôn cầu được người rể tốt,
con tốt, sinh thiên, giải thoát, hiện đời này giàu sang thì nên cúng dường
cho Lục quần Tỳ-kheo. Cô ni khen ngợi như vậy, rồi im lặng. Sau đó,
hai Tôn giả Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên mới vào. Tỳ-kheo-ni Thâu-la-
nan-đà đến trước hai vị hỏi chào rồi nói: Lành thay Tôn giả! Mời Tôn
giả an tọa nơi đây. Cô ni lại nói với Cư sĩ: Lành thay Cư sĩ! Nay người
được phước lợi lớn, mới thỉnh được Tỳ-kheo hàng Đại long như thế này.
Cư sĩ liền chê trách nói: Vừa rồi cô nói “Tiểu đức”, bây giờ lại nói “Đại
long”? Ăn nói ngược ngạo như vậy, tại sao không xấu hổ? Từ nay đến
sau cô đừng tới nhà này, tôi không cúng dường cho cô nữa đâu. Thế là
người Cư sĩ tự tay sớt thức ăn cúng dường. Ăn xong dâng nước, rồi lấy
chiếc ghế nhỏ ngồi trước hai Tôn giả. Hai Tôn giả vì gia chủ giảng nói
pháp diệu, xong liền rời tòa ngồi ra về, đến chỗ Đức Phật. Đức Phật từ
xa thấy bèn nói: Lành thay Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên! Quý vị ăn cơm
khách từ đâu về đó? Bạch Đức Thế Tôn! Vừa rồi chúng con đến một
nhà Cư sĩ, có một Tỳ-kheo-ni gọi chúng con là “Tiểu đức” rồi gọi là
“Đại long”. Đức Phật hỏi: Tại sao gọi như thế? Hai Tôn giả kể rõ đầu
đuôi câu chuyện. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi
Lục quần Tỳ-kheo: Thật sự các ông có ăn thức ăn do Tỳ-kheo-ni khen
ngợi mà được hay không? Bạch Thế Tôn, sự thật có như vậy. Đức Phật
bằng mọi cách quở trách, rồi bảo các Tỳ-kheo: Nay Ta vì các Tỳ-kheo
kiết giới. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào ăn thức ăn
do Tỳ-kheo-ni khen ngợi mà được, phạm Ba-dật-đề”.
Có các Tỳ-kheo-ni khen ngợi nơi chỗ vắng, sau khi Tỳ-kheo ăn
xong mới biết, bèn sinh hổ thẹn: Phải chăng ta đã phạm Ba-dật-đề?!
Do đó, bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo
các Tỳ-kheo: Nếu không biết do Tỳ-kheo-ni khen ngợi nên được thức
ăn mà ăn, phạm Ba-dật-đề là điều không thể có. Từ nay giới này được
nói như sau: “Tỳ-kheo nào biết do Tỳ-kheo-ni khen ngợi được thức ăn
mà ăn, phạm Ba-dật-đề
Bấy giờ, có một gia đình thỉnh năm trăm Tỳ-kheo thọ trai. Tỳ-
kheo-ni do gia đình này trước đây đã cúng dường, có nói: Nên cúng
dường cho các Tỳ-kheo đừng để mất cơ hội tốt. Các Tỳ-kheo nghe bèn
sinh xấu hổ, không dám ăn, trở về bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật
tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo: Nếu Tỳ-kheo-ni trước không
khen ngợi, đến khi ăn mới nói: Nên cúng dường thức ăn tốt cho các
Tỳ-kheo. Tỳ-kheo ăn thức ăn này mà phạm Ba-dật-đề là điều không
thể có. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào biết Tỳ-kheo-ni
do nhân duyên khen ngợi, nên được thức ăn mà ăn, trừ người đàn-việt
trước có ý phát tâm rồi, phạm Ba-dật-đề”.
Khen ngợi: Khen ngợi được pháp hơn người. Nếu Thức-xoa-ma-
na, Sa-di, Sa-di-ni khen ngợi Tỳ-kheo nhân đó nên được thức ăn mà ăn,
phạm Đột-kiết-la. Sa-di phạm Đột-kiết-la.
Xong giới thứ ba mươi
Đức Phật ở tại thành Vương-xá. Khi ấy, có một Đại thần thường
cúng dường Phật và Tỳ-kheo Tăng. Có một người nghèo thấy vậy nghĩ:
Nay vị Đại thần này được phước lợi lớn mới có thể cúng dường Phật và
Tăng như thế. Nếu ta có của cũng sẽ làm như vậy. Người ấy lại nghĩ:
Nay ta không có tài vật thì nên sử dụng công việc đi làm thuê chính đáng
để cúng dường. Người ấy liền đi làm thuê cho một người chủ nọ. Hằng
ngày ăn một phần để lại một phần. Người chủ hỏi: Tại sao ngươi để lại
một phần không ăn? Tôi để lại một phần sau sẽ nhận luôn. Vậy là thời
gian trôi qua trên người làm thuê và người ấy biết số tiền dành dụm đủ,
bèn nói với người chủ: Hãy lấy hết số tiền dồn lại từ lâu, vì tôi làm các
thức ăn cho đầy đủ. Người chủ hỏi: Nay ông nghèo khổ, tại sao dùng hết
số tiền đó làm các thức ăn uống để làm gì? Ông ta trả lời: Trước đây tôi
thấy vị Đại thần của thành Vương-xá này thường thỉnh Phật và Tăng để
cúng dường các thức ăn, nên tôi phát nguyện cũng sẽ làm như vậy. Do
đó, tôi mới đi làm thuê cho ông để thực hiện ý muốn này. Nay tính đã
đủ để thiết lập một lễ cúng dường, bây giờ phải nhanh chóng chuẩn bị
thức ăn. Người chủ nghe như vậy, một sự xúc động hiếm thấy trong lòng
ông, ông nghĩ: Người nghèo khổ đem thân làm thuê, làm mướn như thế
này, được một ít tài vật còn dùng để cúng dường, huống chi là ta giàu
CÓ, nếu lòng ta muôn tức khắc có đủ mọi thức ăn uống, thế mà không
thể làm được! Người chủ liền xoay sang trả tiền gấp bội cho người làm
thuê để ông tha hồ sắm các thức ăn cam mỹ. Được người chủ tác động
như thế, ông ta mang ngay tài vật ấy đến chỗ Đức Phật, rồi sắm sửa đầy
đủ các thức ăn ngon bổ nhất. Nhờ tấm lòng thành này, nên cả quỷ thần
cũng đến giúp đỡ. Chỉ trong chốc lát tự nhiên đầy đủ thức ăn. Hôm đó,
gặp ngày tiết hội, nhiều người cúng dường, họ tranh nhau đến thỉnh chư
Tăng về nhà thọ trai. Các Tỳ-kheo bàn nói với nhau: Hôm nay người
nhà nghèo này tận lực để cúng dường, đối với các gia đình khác chúng
ta nên dùng một ít thôi. Tuy dặn nhau là ăn rất ít, nhưng do nhiều nhà
mời nên khá no. Khi người nhà nghèo sửa soạn xong, mời thọ trai, các
Tỳ-kheo đều tập trung an tọa nơi tòa, chỉ trừ có Đức Phật là ở tại phòng.
Người nhà nghèo phấn khởi tự tay sớt các thức ăn, các Tỳ-kheo thọ thực
rất ít, người nhà nghèo lại có ý nghĩ: Các Tỳ-kheo vì thương ta nghèo
khổ sở không dám ăn no, hay là thức ăn không ngon nên các vị nuốt
không xuống?! Người nhà nghèo liền đặt vấn đề thắc mắc hỏi: Trong số
Tỳ-kheo có vị lòng nghĩ sao nói vậy: Sợ ông thức ăn ít nên đã ăn trước
nơi các nhà khác. Người nghèo buồn, thưa: Tại sao đã nhận lời mời của
con mà lại đến ăn trước nơi các nhà khác?! Con quyết dốc hết mọi khả
năng của con để cúng dướng cho bằng được, nay các Đại đức không thể
dùng hết thì tùy ý các thầy cứ mang hết, đừng để dư. Các Tỳ-kheo nghe,
bèn cố ăn, nhưng vẫn không hết phân nửa. chúng Tăng dùng rồi, người
nghèo hối tiếc nhgĩ: Ta cô" ép chư Tăng dùng như vậy không biết có mắc
tội hay không? Người nghèo đến bạch Phật. Đức Phật dạy: Lành thay,
bần sĩ! Ngươi thấy người làm phước mà đem thân đi làm thuê để được
làm phước như người, tuy ngươi đang thọ thân người nhưng nhân duyên
để sinh lên cõi trời đã đầy đủ. Từ khi ngươi phát tâm muốn cúng dường
Phật và Tăng đến nay, tất cả việc làm của ngươi đều có vô lượng công
đức. Dù cho chúng Tăng không thọ thực món cúng dường của ngươi
một hạt cơm đi nữa, thì công đức của ngươi cũng đầy đủ. Nay ngươi sẽ
được quả báo hiện đời này. Người nghèo nghe Phật dạy xong vui mừng
hớn hở. Đức Phật lại vì người nghèo giảng nói các pháp vi diệu. Người
nghèo liền ở nơi chỗ ngồi xa trần lìa câu, đạt được mắt pháp trong sạch,
thây pháp rồi, liền thọ ba pháp quy y, phụng trì năm giới, từ chỗ ngồi
đứng dậy đầu mặt kính lễ sát chân, nhiễu quanh Phật rồi cáo lui.
Bấy giờ, có năm trăm người lái buôn, từ nước Ưu-thiền-na đến,
với tuyến đường xa xôi nên đã hết lương thực ba ngày. Họ sai người cỡi
ngựa đi trước để tìm thức ăn đã nấu sấn. Người ấy rao nói: Chúng tôi
gồm năm trăm người lái buôn, tứ nước Ưu-thiền-na đến, hết lương thực
ba ngày, nên sai tôi đến trước tìm thức ăn đã nấu sấn, nếu ai có thì giá
nào chúng tôi cũng xin mua. Người trong thành nói: Nơi đây không có
ai, chỉ có một người nghèo đang cúng dường tại Tăng phường, có dư
thức ăn rất nhiều, ông có thể đến đấy xem chắc có thể có. Sứ giả kia
bèn thúc ngựa đến đó, trình bày tình cảnh như vậy. Người nghèo trả
lời: Nay tôi thiết lễ cúng dường không vì tài lợi, cần thì đến đây gấp đi,
đừng nghĩ tới chuyện giá cả. Sứ giả nghe như vậy, cho là ngoài ý mong
muốn của mình, liền trở về báo lại. Trong chốc lát, đoàn khách buôn
đến nơi, họ cảm động nói: Cho chúng tôi ăn mau, chúng tôi sẽ hậu tạ.
Người nghèo vẫn trả lời như trước. Đoàn buôn ăn vội vàng. Đã được no
đủ rồi, họ theo dò hỏi người khác để biết sự nghiệp của người cho mình
ăn, mới biết người này nghèo mà thiết lễ cúng dường Phật và Tăng.
Đoàn khách buôn nghe rồi càng cho là điều hiếm có. Họ góp nhau một
trăm ngàn lượng vàng để trả ơn cho người kia. Đoàn lái buôn lại hỏi
thăm: Tại thành này có người tên là _ hiện nay ở đâu? Đáp: Ông ấy
qua đời rồi. Đoàn buôn lại hỏi: Ông ấy còn con cháu gì không? Được
trả lời: Người vừa rồi cho các ông ăn đó là con của ông ấy. cả đoàn lái
buôn nghe như thế liền thốt lên: Đúng rồi, người nghèo ơi! Cụ thân sinh
của ông chính là thầy của chúng tôi. Họ liền lấy ra một trăm ngàn lượng
vàng nữa để tặng gọi là báo đáp ân tình trước kia.
Đại thần nơi thành Vương-xá và người chủ thuê mướn trước kia
biết rõ việc này rất đỗi vui mừng, lại mỗi người biếu tặng một ngàn
lượng vàng để kết tình bạn tốt. Cũng trong ngày ấy, Vua Bình-sa tấn
phong cho người nghèo chức “Đại thần”. Chỉ trong một ngày mà người
nghèo kia trở thành kẻ giàu có và quyền quý. Người trong nước ban cho
tước hiệu là “Trưởng giả bất ngờ”. Các Tỳ-kheo đem vấn đề ấy bạch
Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
Thật sự các ông có nhận lời mời của người mà lại ăn trước nơi nhà khác
không? Các Tỳ-kheo thú nhận là có. Đức Phật bằng mọi cách quở trách:
Các ông là người ngu si, tại sao đã nhận lời thỉnh của người mà lại đi
ăn trước nơi nhà khác?! Quở trách rồi, Phật bảo các Tỳ-kheo: Nay Ta vì
các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào
ăn nhiều lần, phạm Ba-dật-đề
Khi ấy, Tất-lăng-già-bà-ta cùng tám mươi Tỳ-kheo, đều mắc
trọng bệnh không thể ăn một lần đủ no. Nhân việc này bạch Phật, Đức
Phật hợp Tăng, bảo các Tỳ-kheo: Cho phép Tỳ-kheo bệnh được ăn
nhiều lần. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào ăn nhiều
lần, trừ nhân duyên, phạm Ba-dật-đề
Nhân duyên là khi bệnh. Như vậy gọi là nhân duyên.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn cho phép các Tỳ-kheo thọ y Ca-hi-na được
khỏi phạm năm việc. Các Tỳ-kheo lại nảy ra ý nghĩ: Khi thời của y
không phạm tội ăn nhiều lần, thời của y xong rồi có phạm hay chăng?
Quý vị bạch Phật, nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo
các Tỳ-kheo: Thời của y không phạm, ngoài thời của y thì phạm. Từ
nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào ăn nhiều bữa, trừ nhân
duyên, phạm Ba-dật-đề ”. Nhân duyên là khi bệnh, khi thời của y, như
vậy gọi là nhân duyên.
Có các bạch y biết các Tỳ-kheo không được phép ăn nhiều lần,
bèn nghĩ ra một cách: Ta nên tạo phương tiện vì các Tỳ-kheo may y,
Tỳ-kheo đến nhận, nhân đó ta cúng dường. Họ thực hiện ngay việc may
y rồi thỉnh các Tỳ-kheo đến. Các Tỳ-kheo nói: Chúng tôi không được
phép ăn, chỉ nhận y thôi. Các Cư sĩ thưa: Bạch Đại đức! Nhận thức ăn
của chúng con rồi mới cúng y. Các Tỳ-kheo lại suy nghĩ: Nếu Đức Thế
Tôn cho phép ta ăn nhiều bữa, trong trường hợp có người cúng y thì có
thể khỏi bị thiếu y. Quý vị bạch Phật, nhân việc này, Đức Phật tập hợp
Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo: Nay cho phép Tỳ-kheo vì thí y nên
được ăn nhiều lần. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào
được ăn nhiều lần, trừ nhân duyên, phạm Ba-dật-đề Nhân duyên là
khi bệnh, khi thời y, khi thí y. Như vậy gọi là nhân duyên.
Vào một ngày nọ, Tôn giả A-nan đến nhà Trưởng giả, ông Trưởng
giả bày biện các thức ăn, Tôn giả A-nan quên trước đã nhận lời mời bèn
thọ thức ăn này, khi sắp ăn mới nhớ lại, liền nói với người chủ: Xin lỗi
dọn cất đi, trước đây tôi đã nhận lời mời của người khác rồi, nên không
thể ăn được. Ông Trưởng giả buồn nói: Tại sao đã thọ thức ăn của tôi
lại bỗng dưng hối hận, không ăn. Như thế là Tôn giả A-nan vội vàng
về bạch Phật, Đức Phật dạy: Nếu có nhân duyên như vậy nên khởi tâm
niệm nhường lại chỗ mời trước cho vị khác như sau: Phần thỉnh của tôi,
xin nhường lại cho Tỳ-kheo tên là _ nghĩ như vậy, rồi có thể ăn. Nếu
không nghĩ như vậy mà ăn, phạm Đột-kiết-la.
Bấy giờ, lại có trường hợp người thỉnh trước lại dọn thức ăn sau,
có trường hợp người dọn thức ăn trước rồi thỉnh sau, các Tỳ-kheo không
biết nên như thế nào, bạch Phật, Đức Phật dạy: Khi thỉnh nên nói: Chỗ
nào dọn trước thì tôi sẽ ăn chỗ đó. Ăn nhiều lần: Trước nhận người thỉnh
sau lại ăn chỗ khác, như vậy gọi là ăn nhiều lần. Tỳ-kheo-ni cũng vậy,
Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la. Nếu được Tăng
sai, hoặc ăn phòng riêng, hoặc bạch y đến thọ tám giới, thiết trai cúng
dường, hay thường thực thì không phạm.
Xong giới thứ ba mươi mốt
Đức Phật ở tại thành Vương-xá. Bấy giờ, Điều-đạt tìm người làm
vây cánh nên giáo hóa các Cư sĩ. Theo lệnh của Điều-đạt, mỗi một nhà
thỉnh bốn Tăng hoặc năm, hoặc mười vị. Các Tỳ-kheo Trưởng lão quở
trách các Tỳ-kheo thọ thỉnh: Tại sao vì vấn đề vây cánh của Điều-đạt
mà nhận sự thỉnh ăn riêng chúng? Quý vị bạch Phật, nhân việc này,
Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo: Thật sự các ông có
nhận sự thỉnh ăn riêng chúng của Điều-đạt không? Bạch Đức Thế Tôn!
Sự thật có như vậy. Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-
kheo: Nay Ta vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay giới này được nói như
sau: “Tỳ-kheo nào nhận sự thỉnh ăn riêng chúng, phạm Ba-dật-đề
Có một Tỳ-kheo dắt Tỳ-kheo bệnh đi khất thực, nên bệnh tình
trầm trọng thêm. Các Cư sĩ thấy, nói: Đừng dắt Tỳ-kheo bệnh đi khất
thực, cứ đến nhà con lấy thức ăn. Tỳ-kheo nói: Đức Thế Tôn kiết giới
không cho phép chúng tôi nhận mời ăn riêng chúng, nếu cúng dường
cho chúng Tăng, trong đó có phần chúng tôi thì được. Các Cư sĩ nói:
Gia đình chúng con nghèo không thể cúng nhiều được, chỉ có thể đủ sức
cúng cho người bệnh mà thôi, nếu cần thì Đại đức đến nhận. Các Tỳ-
kheo không biết nên như thế nào, bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật
tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo: Nay cho phép các Tỳ-kheo
bệnh nhận sự mời ăn riêng chúng. Thời của y, khi thí y như trong giới ăn
nhiều lần đã nói. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào nhận
sự thỉnh ăn riêng chúng, trừ nhân duyên, Ba-dật-đề ”. Nhân duyên là
khi bệnh, khi thời của y, khi thí y. Như vậy gọi là nhân duyên.
Có các Tỳ-kheo may y, phải đi khất thực nên y lâu xong, phế bỏ
việc hành đạo, lại có ý nghĩ: Nếu khi may y mà Đức Phật cho phép ta
nhận sự mời ăn riêng chúng thì y may xong, không phế bỏ việc hành
đạo. Quý vị bạch Phật, nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng,
bảo các Tỳ-kheo: Nay cho phép các Tỳ-kheo, khi may y được nhận sự
thỉnh ăn riêng chúng. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào
nhận sự mời ăn riêng chúng, trừ nhân duyên, phạm Ba-dật-đề Nhân
duyên là khi bệnh, thời gian của y, khi thí y, khi may y. Như vậy gọi là
nhân duyên.
Có các Tỳ-kheo cùng với bạn đồng đi đến một xóm làng, nói với
các người bạn: Chúng tôi vào thôn khất thực, có thể chờ cho một chút.
Các người bạn nói: Khỏi phải khất thực, chúng tôi cung cấp thức ăn cho.
Các Tỳ-kheo nói: Đức Phật không cho phép chúng tôi nhận sự mời ăn
riêng chúng. Nói xong, vào thôn khất thực. Các người bạn bỏ đi. Tỳ-
kheo khất thực rồi, đi không kịp bạn, bị giặc cướp trấn lột. Các Tỳ-kheo
nghĩ: Nếu Đức Thế Tôn cho phép chúng ta, khi đi đường, được nhận sự
mời ăn riêng chúng thì đâu bị tai nạn này!
Có các Tỳ-kheo quá giang thuyền của người ta, đến giờ khất thực
chủ thuyền bỏ đi, gặp các khổ nạn như trên. Hai việc ấy được bạch Phật.
Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo: Từ
nay cho phép các Tỳ-kheo, khi đi đường, khi đi thuyền, nhận sự mời ăn
riêng chúng. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào, nhận sự
mời ăn riêng chúng, trừ nhân duyên, Ba-dật-đề ”. Nhân duyên là khi
bệnh, khi thời của y, khi thí y, khi may y, khi đi đường, khi đi thuyền.
Như vậy gọi là nhân duyên.
Lệ thường pháp các Đức Phật, hai lần đại hội trong năm vào tháng
cuối mùa Xuân và tháng cuối mùa hạ, Tỳ-kheo từ bốn phương tụ họp
về để thăm hỏi nhau. Với số chúng đông như vậy, theo thứ tự thỉnh rất ít
và khất thực khó được, các Tỳ-kheo khởi ý nghĩ: Nếu Đức Thế Tôn cho
phép chúng ta khi đại hội được nhận sự thỉnh ăn riêng chúng thì không
đến nỗi bị khổ như thế. Quý vị bạch Phật, nhân việc này, Đức Phật tập
hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo: Nay cho phép các Tỳ-kheo, khi
đại hội được nhận sự mời ăn riêng chúng. Từ nay giới này được nói như
sau: “Tỳ-kheo nào, nhận sự mời ăn riêng chúng, trừ nhân duyên, phạm
Ba-dật-đề ”. Nhân duyên là khi bệnh, khi thời của y, khi thí y, khi may
y, khi đi đường, khi đi thuyền, khi đại hội. Như vậy gọi là nhân duyên.
Bấy giờ, em Vua Bình-sa tên là Ca-lưu, phụng thờ một đạo, đạo
này hằng năm mời rộng chín mươi sáu hạng Sa-môn tổ chức một đại
hội, nghe Sa-môn Thích tử không nhận sự mời ăn riêng chúng và theo
khả năng thì không thể thỉnh cả chúng Tăng. Do thiếu Sa-môn của đạo
Phật nên ông ta ưu sầu không vui, lại có ý nghĩ: Ta nên làm thế nào
để thỉnh được Sa-môn Thích tử, chỉ có cách là nhờ nhà Vua mới có thể
được kết quả, bèn đến trình bày với Vua. Nhận lời, nhà Vua liền đến
chỗ Đức Phật, nêu bày đầy đủ sở nguyện của em mình. Sau khi nhà
Vua ra về, nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-
kheo: Nay cho phép các Tỳ-kheo khi Sa-môn hội được nhận sự mời ăn
riêng chúng. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào nhận sự
mời ăn riêng chúng, trừ nhân duyên, phạm Ba-dật-đề Nhân duyên là
khi bệnh, khi thời của y, khi thí y, khi may y, khi đi đường, khi đi thuyền,
khi đại hội, khi Sa-môn hội. Như vậy gọi là nhân duyên. Thỉnh ăn riêng
chúng: Là ở trong chúng mà thỉnh riêng bốn vị trở lên. Như vậy gọi là
thỉnh ăn riêng chúng. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-
di, Sa-di-ni, phạm Đột-kiết-la. Nếu mới bắt đầu nhận sự mời ăn riêng
chúng, khi đến lại chia ra, nói thọ thỉnh khác, không thành chúng thì
không phạm.
Xong giới thứ ba mươi hai
Đức Phật ở tại thành Vương-xá. Lúc này, các nơi bị đói kém, khất
thực khó được, tất cả các Tỳ-kheo tập trung về thành Vương-xá. Người
ở bốn phương xa xôi nói: Trước đây, chúng ta mai chiều đều thấy các
Tỳ-kheo, tại sao nay tuyệt nhiên không thấy nữa? Có người bảo: Lúc
này khất thực khó được, tất cả đều đến thành Vương-xá nên vắng bóng
Tỳ-kheo. Các Cư sĩ nói: Chúng ta có thể kiến lập một cái nhà nhỏ, mỗi
ngày lo cho một Tỳ-kheo ngủ một đêm, ăn một bữa. Nếu không vị nào
đến dùng cơm thì nên gom góp lại, đợi các Tỳ-kheo đến sau. Họ liền
thực hiện. Khi ấy, có một gia đình thường làm thức ăn ngon, Lục quần
Tỳ-kheo du hành trong nhân gian, thường đến nhà đó. Các Tỳ-kheo
khác đều không được đến, nói với các Cư sĩ: Các vị vì Tăng nên thiết
lập “nhất túc thực”, tại sao tôi không được dự một lần nào? Cư sĩ thưa:
Bổn nguyện của tôi là vì Tăng nên thiết lập chỗ này, nhưng Lục quần
Tỳ-kheo ở mãi không đi, khiến tôi không được đón tiếp vị Tăng nào
khác. Đây là lỗi tại Lục quần Tỳ-kheo, chứ chẳng phải do tôi. Các Tỳ-
kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách Lục quần Tỳ-kheo, rồi
bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Lục
quần Tỳ-kheo: Thật sự các ông có như vậy không? Bạch Thế Tôn, có.
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo: Nay Ta vì các
Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào, chỗ
cúng một bữa ăn, ăn quá một bữa, phạm Ba-dật-đề
Khi ấy, Tôn giả Xá-lợi-phất bị trúng gió, đến nơi cúng một bữa
ăn, ăn một bữa rồi bèn muốn đi chỗ khác. Các Tỳ-kheo thưa: Trưởng
lão bệnh hoạn không nên đi chỗ khác chúng tôi sẽ nhường phần ăn để
cúng dường. Tôn giả Xá-lợi-phất nói: Đức Thế Tôn không cho phép chỗ
ngủ một đêm, ăn quá một bữa. Có các Cư sĩ nghe Tôn giả Xá Lợi Phật
bị bệnh cũng cùng nhau thỉnh ở lại. Tôn giả cũng trả lời như trước, rồi
ôm bệnh ra đi. Các Tỳ-kheo lại có những suy nghĩ: Nếu Đức Thế Tôn
cho phép Tỳ-kheo bệnh, đối với chỗ cúng một bữa ăn được ăn quá một
bữa thì không có sự khổ tâm này. Quý vị bạch Phật, nhân việc này, Đức
Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo: Nay Ta cho phép các
Tỳ-kheo bệnh, đối với chỗ cúng một bữa, được ăn quá một bữa. Từ nay
giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào, không bệnh mà đôi với chỗ
cúng một bữa ăn, ăn quá một bữa, phạm Ba-dật-đề ”. Chỗ cúng một
bữa ăn, sô" đông Tỳ-kheo vào buổi chiều đồng thời đến, nếu đàn-việt có
cúng nước phi thời, hay dầu xoa chân, cho phép theo thứ tự nhận, sáng
ngày, theo thứ tự ăn. Nếu không, thì chỉ nghỉ một đêm, ăn một bữa rồi
nên đi. Nếu đàn-việt mời ở lại thì được phép ở. Nếu đi rồi có duyên
sự cần trở lại, nên nói với chủ nhân, chủ nhân cho phép ở thì ở, không
cho phép thì nên đi. Nếu Tỳ-kheo đến sau nên nhận thức ăn đủ ăn một
bữa, có dư nên cho Tỳ-kheo do chủ nhân lưu lại. Nếu Tỳ-kheo đến, có
nhiều chỗ cúng một bữa ăn, các Tỳ-kheo nên chia ra các nơi. Nếu nhà
bà con mà nhận quá một bữa ăn phạm Đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni cũng như
vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, phạm Đột-kiết-la. Nếu có các
nạn không đi được thì không phạm.
Xong giới thứ ba mươi ba
Đức Phật ở tại thành Vương-xá. Khi ấy, có một người nữ sắp về
lại nhà chồng, chuẩn bị các thứ bánh để dùng làm lương thực đi đường.
Có một Tỳ-kheo theo thứ tự khất thực đến nhà ấy, người nữ hỏi: Thầy
cần gì? Tỳ-kheo nói: Tôi cần thức ăn. Có thể ăn Khư xà ni được không?
Đáp lời: Được. Cô gái bèn lấy bình bát đặt đầy bánh để dâng. Tỳ-kheo
này nhận được bánh rồi lại nói các Tỳ-kheo khác: Nhà đó có nhiều thức
ăn ngon, thầy nên tới đó xin. Các Tỳ-kheo nghe theo đều đến xin. Tất
cả các bánh chín rồi đều đem cho hết. Khi ấy, phía nhà chồng cho người
tới giục. Cô gái trả lời: Lương thực làm chưa xong. Cô ta lại làm các
thức ăn khác, như vậy cho đến Ba lần, Tỳ-kheo cũng đến xin đều đem
cho hết. Nhà chồng Ba lần hối thúc, người nữ đều trả lời như lần đầu.
Ông chồng đùng đùng nổi giận, nghĩ là người nữ đã đổi ý, bèn sai người
nói: Ta đã cưới người vợ khác rồi, không cần đến người nữ nhắm mắt
lại như cô nữa. Như thế là cả gia đình người nữ nổi giận nói: Do Sa-môn
Thích tử nên con ta bị ở góa. Họ nhục mạ đủ thứ, không chừa một lời thô
bỉ nào. Người xung quanh hỏi: Người khác bạc bẽo đối với con bà, can
dự gì đến Sa-môn mà bà nhục mạ họ? Gia đình kể rõ lại vân đề. Người
không tin Phật pháp đều khoái chí: Do kính Sa-môn nên mới như thế,
nếu gần gũi lại còn gặp những điều tệ hại hơn nữa.
Bấy giờ, lại có người chủ khách buôn nói với các lái buôn: sửa
soạn lương thực, hôm đó là ngày tốt, ta sẽ khởi hành. Mọi người đều
chuẩn bị lương thực đi đường. Có một Tỳ-kheo, theo thứ tự khất thực
đến nhà một người lái buôn. Người lái buôn hỏi: Thầy cần gì? Tỳ-kheo
nói: Tôi cần thức ăn. Lại hỏi: Bánh bún dùng được không? Tỳ-kheo nói:
Được. Người lái buôn liền lấy bình bát đặt một bát đầy để cho. Tỳ-kheo
nhận được rồi, nói với các Tỳ-kheo khác: Tại nhà đó có nhiều thức ăn
ngon, các thầy có thể đến đó xin. Các Tỳ-kheo tới đó xin đều được.
Do vậy, lương đi đường của người lái buôn hết sạch. Người chủ khách
buôn nói: Ngày tốt đã đến, chúng ta nên khởi hành. Người lái buôn này
nói: Lương thực chưa xong. Người chủ khách buôn nói: Trước đây tôi
đã bô" cáo chuẩn bị lương thực, tại sao nay lại nói chưa xong? Người lái
buôn nói: Vì Sa-môn đến xin nên tôi cho hết. Người chủ khách buôn
bảo: Nay là ngày tốt, không thể không khởi hành, tôi đi trước, người
có thể đi sau. Người chủ khách buôn bèn khởi hành. Sau chuyến buôn
trở về được an ổn, thu nhiều lợi nhuận. Người lái buôn kia đi sau, gặp
đám cướp quét sạch của cải, kêu la khóc nói: Do Sa-môn Thích tử nên
tôi mới bị khốn đốn thế này! Đám giặc hỏi: Tôi cướp của ngươi, tại sao
lại oán người ta? Người lái buôn kể rõ đầu đuôi câu chuyện. Lũ giặc
nghe rồi lại nói: Ngươi gần gũi Sa-môn nên bị đánh, bị giết, bị cướp đồ
là phải. Nếu còn có sự gần gũi nữa cũng sẽ bị như vậy. Các Tỳ-kheo
Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi bạch Phật. Nhân việc
này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo kia: Thật sự các
ông có như vậy không? Bạch Thế Tôn, có thật vậy. Đức Phật bằng mọi
cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo: Nay Ta vì các Tỳ-kheo kiết giới.
Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào đến nhà bạch y, họ cho
lấy thức ăn theo ỷ muôn, hoặc bánh, hoặc bún, nếu cần thì nhận hai,
ba bát, nhận quá, phạm Ba-dật-đề
Có các Tỳ-kheo bệnh, vào thôn khất thực, một Cư sĩ cho nhiều
thức ăn, bảo lấy theo ý muốn, lấy quá hai, ba bát nhưng không dám thọ
nữa, đem vân đề bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo
Tăng, bảo các Tỳ-kheo: Nay Ta cho phép Tỳ-kheo bệnh nhận quá hai,
ba bát. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào đến nhà bạch
y, cho nhiều thức ăn, họ yêu cầu tùy ý lấy, hoặc bánh hoặc bún, cần thì
nên lấy hai, ba bát. Nếu không bệnh nhận quá, phạm Ba-dật-đề
Có các Tỳ-kheo đến nhà mời thọ trai, ăn rồi lại xin thêm mang
đi. Các Tỳ-kheo mang vân đề này bạch Phật. Phật dạy: Đến nhà người
mời ăn, không được xin thêm mang đi. Nếu không ăn thì được lấy mang
về.
Có các Tỳ-kheo nhận hai, ba bát mang đi rồi, không cho Tỳ-kheo
khác cùng ăn. Quý vị bạch Phật, nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-
kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo: Nên cho các Tỳ-kheo để cùng ăn. Từ nay
giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào đến nhà bạch y, cúng nhiều
thức ăn, yêu cầu tùy ỷ nhận, hoặc bánh hoặc bún, không ăn tại nhà đó,
cần thì nên nhận hai, ba bát, ra ngoài nên cho các Tỳ-kheo cùng ăn.
Nêu không bệnh, nhận quá mức đó, và không cho các Tỳ-kheo khấc
ăn, phạm Ba-dật-đề
Tùy ý cho thức ăn: Tức là đến xin cho liền. Nếu Tỳ-kheo nhận bát
thứ nhất, về chùa nên nói với các Tỳ-kheo: Tôi đã nhận nơi nhà đó một
bát, còn hai bát, thầy cần thì đến lấy. Nếu nhận bát thứ hai, nên nói: Tôi
đã nhận nhà đó hai bát, còn một bát, cần thì thầy đến nhận. Nếu nhận
bát thứ ba, nên nói: Tôi đã nhận nhà đó ba bát rồi, đừng đến nhận nữa.
Nếu không nói phạm Đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-
ma-na, Sa-di, Sa ni di, phạm Đột-kiết-la.
Xong giới thứ ba mươi bốn
Đức Phật ở tại thành Vương-xá. Bấy giờ, các nơi bị đói kém, khất
thực khó được, các Tỳ-kheo đều trở về thành Vương-xá. Các Cư sĩ nơi
thành Vương-xá hỏi: Tăng có bao nhiêu vị thọ trai và có bao nhiêu
người hứa cúng? Các Tỳ-kheo trả lời: Tăng có vị, có đã hứa.
Khi ấy, các Cư sĩ họp lại và có chung một giải pháp: Chúng ta sẽ vì các
Tỳ-kheo, tùy theo khả năng từng nhà mà làm thức ăn, hoặc một người
lo thức ăn từ một cho đến mười Tỳ-kheo. Hoặc hai người cho đến mười
người cùng nhau lo thức ăn cho một Tỳ-kheo đến mười Tỳ-kheo. sắp
xếp việc ăn đâu đó ổn rồi, các Cư sĩ chủ trương lại có ý nghĩ: Chúng
ta tuy tùy theo khả năng làm thức ăn để ăn từ một người cho đến mười
người, SỢ e không chu đáo, nay cần phải kiểm tra lại các vật phẩm để
làm thức ăn đồng đều. Nếu có trường hợp nào không đầy đủ ta sẽ bổ
túc. Họ thực hiện ngay việc kiểm tra lấy từng vật phẩm, trong số đó có
người nghèo, tuy lòng họ không tiếc của nhưng họ không có gạo tốt.
Đậu, mạch... thuộc các gia đình nghèo, do kiểm tra đã sung vào một
loại. Các Cư sĩ chủ trương liền sai làm các loại thức ăn gấp nên các
thức ăn uống đều thô cứng, xấu xí. Các Tỳ-kheo già bệnh không thể ăn
được, đem cho người ăn xin hay người ngoại đạo, rồi đến nhà quen biết
xin thức ăn khác. Các Cư sĩ biết, dị nghị nói: Chúng tôi giảm bớt phần
ăn của vợ con để gieo giống phước điền, tại sao Tỳ-kheo lại coi rẻ thức
ăn của chúng tôi?! sử dụng của đi xin đem cho người ăn xin và ngoại
đạo, rồi đi tìm thức ăn ngon khác là sao?! Hạng người này chủ đích là
tìm giải thoát, để khỏi già, bệnh, chết, tại sao nay lại tìm thức ăn ngon,
thật không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.
Khi ấy, người thí chủ của Bạt-nan-đà đến giám sát bữa ăn. Bạt-
nan-đà đã ăn với chúng rồi, lại đến nhà người thí chủ đòi thức ăn ngon.
Người thí chủ hỏi: Vừa rồi Đại đức không ăn với chúng sao? Bạt-nan-đà
trả lời: Có ăn với chúng, nhưng sợ đàn-việt mất phước đức cúng riêng,
cho nên đến đây. Người kia dè bỉu nói: Hiện nay ở đời đói khổ, mọi
người kiệt quệ mà phải chung nhau làm thức ăn, tại sao lại coi nhẹ để
đi tìm thức ăn ngon?! Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở
trách, rồi bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng,
hỏi Bạt-nan-đà: Thật sự các ông có như vậy không? Có như vậy, bạch
Thế Tôn. Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo: Nay
Ta vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-
kheo nào ăn rồi, lại ăn trở lại, phạm Ba-dật-đề
Lúc ấy, Tất-lăng-già-bà-ta cùng tám mươi Tỳ-kheo bị bệnh, các
Tỳ-kheo vì họ mà xin thức ăn, họ ăn không hết, bỏ trước phòng, các Cư
sĩ thấy hỏi: Những thức ăn nào đây? Được trả lời: Thức ăn dư của các
Tỳ-kheo bệnh. Các Cư sĩ nói: Sao không lấy ít? Đáp: Vì các Tỳ-kheo
bệnh có người ăn nhiều, có người ăn ít, nên chúng tôi không thể lấy ít
được. Cư sĩ lại nói: Hiện nay bị đói kém, đem bố thí một hạt cơm, phước
cũng đủ sinh thiên, tại sao lại vất bỏ, không ơn huệ để bố thí. Có người
lại nói: Các Sa-môn này, thức ăn dư thà họ vất bỏ chứ không cho ai đâu.
Chúng ta đã cúng cho Tăng, một hạt cơm rơi xuống đất cũng coi đó là
một tội lớn, tại sao Tỳ-kheo lại không tiếc? Các Tỳ-kheo Trưởng lão
nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi bạch với Phật. Đức Phật hỏi Tôn giả
A-nan: Có người nào có thể ăn thức ăn ấy hay không? Tôn giả thưa: Tỳ-
kheo nuôi bệnh đi xin thức ăn ấy, vậy mà chính họ vẫn ăn chưa đủ. Họ
muốn ăn thức ăn dư ấy, nhưng không dám ăn. Đức Phật nhân việc này,
tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo: Nay cho phép các Tỳ-kheo ăn
thức ăn dư của Tỳ-kheo bệnh.
Bấy giờ, trong thành Vương-xá chúng Tăng ăn rồi, có Tỳ-kheo từ
bên ngoài nhận được thức ăn đem về, các Tỳ-kheo không biết nên giải
quyết thế nào, bạch Phật, Đức Phật dạy: Có thể dùng thức ăn này cho
Tỳ-kheo bệnh. Quý vị đem cho, các Tỳ-kheo bệnh nói: Thức ăn này làm
cho tăng thêm bệnh, chúng tôi không dùng. Quý vị bạch Phật, Đức Phật
dạy: Cho các Tỳ-kheo đến bên Tỳ-kheo bệnh làm pháp tàn thực để ăn.
Lúc ấy, trong thành Vương-xá, chúng Tăng ăn rồi đứng dậy, lại có Tỳ-
kheo từ bên ngoài nhận được thức ăn đem về, khiến Tỳ-kheo hết bệnh
ăn. Tỳ-kheo này không biết nên thế nào, bạch Phật. Phật dạy: Nên đến
bên Tỳ-kheo ăn chưa xong, làm pháp tàn thực để ăn. Nếu không có vị
nào ăn chưa xong, thì đến vị chưa ăn để làm. Nếu trong chúng không
có Tỳ-kheo nào chưa ăn thì nên tìm đến nơi gần nhất, nếu nơi gần nhất
lại cũng không có, thì nên cho một Sa-di đủ điều kiện thọ giới Cụ túc,
thọ giới, rồi đến bên vị tân Tỳ-kheo đó làm pháp tàn thực để ăn. Nhân
việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo: Từ nay
giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào ăn rồi, không làm pháp tàn
thực mà ăn, phạm Ba-dật-đề”.
Có Tỳ-kheo buổi sáng mời các Tỳ-kheo dùng tiểu thực bằng thức
ăn Khư-đà-ni, thức ăn Xa đà ni, các Tỳ-kheo gọi đó là túc thực, không
dám ăn nữa, bạch Phật. Phật dạy: Đây không gọi là túc thực. Có năm
thức ăn gọi là túc thực: Cơm, cơm khô, bánh, bún, cá và thịt. Đối với
năm thức ăn này, mỗi thức ăn có năm trường hợp gọi là túc thực:
1. Có thức ăn.
2. Có trao cho.
3. Có nhận ăn.
4. Không nhận thêm.
5. Thân lìa khỏi chỗ cũ.
Nếu lìa khỏi chỗ cũ rồi lại nhận được thức ăn cơm, bún, không
làm pháp tàn thực mà ăn thì mỗi miếng ăn phạm Ba-dật-đề. Các Tỳ-
kheo không biết cách làm pháp tàn thực, bạch Phật, Đức Phật dạy: Để
thức ăn vào bình bát rồi bưng nơi tay, trống vai bên phải, đầu gối bên
phải chấm đất, bạch: Trưởng lão nhất tâm niệm: Tôi tên là _ ăn đã
đủ, xin vì tôi làm pháp tàn thực. Tỳ-kheo kia bưng bát, hỏi: Thức ăn này
cho tôi phải không? - Vâng! Vị kia ăn một ít còn bao nhiêu trả lại, hoặc
hoàn toàn không ăn chỉ bưng rồi đưa lại, nói: Đây là thức ăn dư của tôi,
thầy dùng đi! Như vậy gọi là làm pháp tàn thực. Tỳ-kheo-ni cũng như
vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa ni di, phạm Đột-kiết-la.
Xong giới thứ ba mươi lăm
Đức Phật ở tại thành Vương-xá. Bấy giờ, có hai Tỳ-kheo cùng kết
bạn thân với nhau, một người thông minh, một người ám độn thường
phạm tội ác, người thông minh luôn luôn nêu tội kia và khuyên bạn
phải sám hối. Lòng người ám độn sinh ra giận hờn, dấy lên ý nghĩ: Nay
ta cũng sẽ tìm tội lỗi của bạn ta. Nhưng không tìm được bèn chờ người
bạn ăn xong, không làm pháp tàn thực, bảo bạn ăn. Tỳ-kheo kia do tình
bạn bè nên không nghi, bèn ăn, ăn xong ông bạn ám độn nói: Thầy ăn
thêm mà không làm pháp tàn thực, phạm tội cần phải sám hối, đừng để
vi phạm phạm hạnh, nhiều đời chịu khổ. Tỳ-kheo kia than phiền: Tôi
muốn đem lại điều lợi cho thầy nên cùng nhau chỉ vẽ, tại sao thầy giận
tôi đưa tôi đến chỗ phạm tội?! Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng
nhiều cách quở trách, rồi bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp
Tỳ-kheo Tăng, hỏi Tỳ-kheo kia: Thật sự ông có như vậy không? Tỳ-
kheo kia nhận là có. Bằng nhiều cách Đức Phật quở trách rồi bảo các
Tỳ-kheo: Nay Ta vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay giới này được nói như
sau: “Tỳ-kheo nào không làm pháp tàn thực, nài nỉ cho Tỳ-kheo ăn rồi
ăn nữa, muốn khiến cho người kia phạm tội, phạm Ba-dật-đề”.
Có Tỳ-kheo ăn đủ rồi, các Tỳ-kheo không biết lại bảo khiến cho
ăn, Tỳ-kheo kia nói: Tôi ăn xong rồi. Các Tỳ-kheo bèn sinh nghi: Ta cố
bảo ăn, có phạm Ba-dật-đề không? Quý vị bạch Phật, nhân việc này,
Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo: Nếu không biết
người kia ăn xong rồi, bảo họ ăn mà phạm Ba-dật-đề là điều không
thể có. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào biết Tỳ-kheo
kia ăn xong rồi, không làm pháp tàn thực, chỉ nài nỉ khiến ăn, muôn
cho người kia phạm tội, phạm Ba-dật-đề Nêu nài nỉ Tỳ-kheo ăn, mỗi
miếng phạm Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na,
Sa-di, Sa ni di, phạm Đột-kiết-la.
Xong giới thứ ba mươi sáu
Đức Phật ở tại thành Vương-xá. Bấy giờ, Đức Thế Tôn chưa chế
Tỳ-kheo được nhận thức ăn để ăn. Đối với các gia đình quen biết, các
Tỳ-kheo không được mời mà ăn, các bạch y chê trách, nói: Chúng tôi
không thích thấy người ác này, mặc áo hoại sắc cắt rọc, không được
nhận thức ăn mà ăn. Ăn thức ăn không được người mời (trao) tức là
lấy của không cho. Lúc này, Tôn giả Đại Ca-diếp mặc y phấn tảo nhặt
những thức ăn đã bỏ đi khắp nơi hang cùng, ngõ hẻm mà ăn. Các Cư sĩ
thấy vậy rất bất bình, chê trách: Sa-môn này giông như chó, được đồ ăn
thì ăn không kể sạch dơ, làm sao để cho họ vào nhà chúng ta. Các Tỳ-
kheo Trưởng lão nghe hai việc như vậy rồi bạch Phật. Nhân việc này,
Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, trước hết hỏi các Tỳ-kheo: Thật sự các
ông không thọ thực mà ăn hay không? Các Tỳ-kheo nhận là có. Đức
Phật bằng nhiều cách quở trách rồi nói với Ca-diếp: Tuy là ông thiểu
dục song làm cho người ta coi thường, vậy không nên ăn thức ăn vất
bỏ, nếu ăn thì phạm Đột-kiết-la. Đức Phật bảo các Tỳ-kheo: Nay Ta vì
các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào
không nhận thức ăn mà để thức ăn vào miệng, phạm Ba-dật-đề”.
Khi ấy, các Tỳ-kheo được người làm thức ăn mời nếm, không dám
nếm, nên khi bị mặn, khi bị lạt, họ buồn không chịu phục vụ nữa. Do
vậy bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo
các Tỳ-kheo: Nay cho phép vì người nấu thức ăn, nếm thức ăn nhưng
không được nuốt vào. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào
không nhận thức ăn mà để thức ăn vào miệng, trừ nếm thức ăn, phạm
Ba-dật-đề
Lúc ấy, các Tỳ-kheo không nhận nhành dương (tăm xỉa răng) và
nước, không dám xỉa răng và súc miệng, thúi miệng, mờ mắt. Khi nói
chuyện với ai, họ nghe hơi thối này, hỏi: Tại sao miệng Đại đức thối?
Các Tỳ-kheo rất xấu hổ, bèn xin nhận nhành dương và nước, các người
nói: Thầy tự đi tìm lấy, chứ có ai lại trao cho thầy nhành dương và nước.
Các Tỳ-kheo đem vấn đề bạch Phật, nhân việc này, Đức Phật tập hợp
Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo: Nay cho phép nhận nhành dương và
nước. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào không nhận
thức ăn mà để thức ăn vào miệng, trừ nêm thức ăn, nhành dương và
nước, phạm Ba-dật-đề
Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất bị trúng gió, Tôn giả Mục-kiền-liên
đến hỏi: Khi thầy còn ở nhà đã từng có chứng bệnh này chưa? Xá-lợi-
phất đáp: Có bị rồi. Hỏi: Trị bằng thứ gì lành? Đáp: Bằng ngó sen. Thế
là Mục-kiền-liên đến ao A-nậu-đạt lấy ngó sen đem về. Xá-lợi-phất
hỏi: Lấy từ đâu? Mục-kiền-liên trả lời: Nơi ao A-nậu-đạt. Xá-lợi-phất
lại hỏi Mục-kiền-liên: Từ ai cho vậy? Nhận từ rồng. Xá-lợi-phất không
dám ăn, bạch Phật, Đức Phật dạy: Cho phép nhận thức ăn từ rồng.
Khi ấy, Tôn giả Đại Ca-diếp đến khất thực nơi nhà người nghèo,
Thích-đề-hoàn-nhân khởi ý niệm: Nay Đại đức Ca-diếp khất thực nơi
nhà nghèo, ta nên tạo phuơng tiện để cho Tôn giả nhận thức ăn nơi ta.
Theo thứ tự khất thực của Ca-diếp, Thích-đề-hoàn-nhân hóa làm một
người thợ dệt ngồi trên khung cửi, lại hóa một người con gái đưa thoi.
Theo thứ tự, Ca-diếp đến chỗ thợ dệt, người con gái lấy bình bát đặt đầy
thức ăn bách vị đem dâng. Sau khi nhận lại bình bát, Ca-diếp liền có ý
nghĩ: “Người ấy bần cùng làm sao có được thức ăn này”, liền nhập định
để xem xét biết là trời Đế Thích, bèn nói: Này Kiều Thi Ca! Sau này
đừng làm như vậy. Do thế, Ca-diếp không dám ăn, bạch Phật. Phật dạy:
Nay cho phép các Tỳ-kheo nhận thức ăn từ hàng trời.
Lúc này, Đức Thế Tôn du hóa trên tuyến đường xa xăm, vào buổi
chiều, đến thôn của quỷ Khoáng dã. Gặp được Phật, quỷ thần rất hoan
hỷ bèn thỉnh Phật và Tăng thọ trai vào ngày mai. Đức Phật nhận lời
bằng cách im lặng. Suốt đêm, quỷ sửa soạn các thức ăn uống đầy đủ.
Sáng sớm, trải tòa phu cụ thỉnh Phật và Tăng. Phật ra lệnh cho các Tỳ-
kheo phải cùng nhận lời mời của quỷ. Phật và Tăng đến đông đủ rồi
ngồi vào tòa. Quỷ thần tự tay san sớt thức ăn. Các Tỳ-kheo không dám
thọ, bạch Phật. Đức Phật dạy: Nay cho phép các Tỳ-kheo nhận thức ăn
từ loài quỷ.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn du hóa nơi rừng cây Ta-la, có một con khỉ
từ trên cây nhảy xuống, định lấy bình bát Phật đem đi, các Tỳ-kheo
nắm lấy bát không cho. Đức Phật bảo các Tỳ-kheo: Cứ để khỉ lấy bát
đem đi. Khỉ lấy ngay bát rồi đến trên một cây lớn lấy đầy bát mật ong
đem dâng Phật. Đức Phật thấy có ong con nên không nhận. Khỉ nhìn kỹ
thấy ong con liền bắt bỏ rồi dâng Phật. Đức Phật vì khỉ nhận bát mật.
Thế là khỉ vui mừng nhảy múa, hớn hở rồi cáo từ. Đức Phật đem bình
bát mật ong này cho các Tỳ-kheo, các Tỳ-kheo không dám ăn, bạch
Phật. Đức Phật dạy: Cho phép nhận thức ăn từ loài khỉ trao.
Khi đó, có người buôn ngựa thỉnh Phật và Tăng đến thọ trai, sửa
soạn vừa xong, có người đến báo: Chuồng ngựa bị cháy. Do vậy người
buôn ngựa không tự trao thức ăn được, nói với các Tỳ-kheo: Xin quý
vị tự lấy thức ăn cho! Nói xong liền bỏ chạy... Các Tỳ-kheo nghi ngại,
không dám lấy thức ăn, bạch Phật. Phật dạy: Nếu không có tịnh nhân,
cho phép các Tỳ-kheo, dựa theo lời người thí chủ, tự lấy thức ăn để
ăn.
Lại có các bạch y, từ xa ném thức ăn cho Tỳ-kheo, Tỳ-kheo đem
việc này bạch Phậ. Phật dạy: Không được nhận thức ăn từ xa ném đến.
Có các Tỳ-kheo già bệnh, mắt lại mờ, khi nhận được thức ăn xúc chạm
tay tịnh nhân, phải rửa tay nhiều lần nên rất phiền phức, bạch Phật. Phật
dạy: Nên dùng lá cây trải trên mặt đất, lấy tay đè xung quanh, khiến họ
để thức ăn vào đó, việc này cũng gọi là thọ thực. Các Tỳ-kheo bèn trải
rộng lá cây ra, đem điều này bạch Phật. Phật dạy: Không nên trải rộng,
chỉ trải ngang bằng tầm tay với tới. Có các bạch y khinh ghét Tỳ-kheo
không chịu đích thân trao thức ăn, bỏ trên đất trước mặt Tỳ-kheo và nói:
Tự lấy thức ăn đi! Các Tỳ-kheo không biết nên như thế nào, bạch Phật.
Đức Phật dạy: Nếu thí chủ khinh ghét không chịu trao thức ăn, cũng cho
phép dựa theo lời nói của họ mà lấy thức ăn.
Có bốn cách thọ: thần trao thân nhận, vật trao vật nhận, tay trao
tay nhận, bảo lấy mà nhận. Có nước muối, Tỳ-kheo không thọ, không
dám uống, bạch Phật. Phật dạy: Nếu không bỏ muôi vào mà tự nó mặn
thì cho phép không thọ được uống. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-
ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, phạm Đột-kiết-la.
Xong giới thứ ba mươi bảy
LUẬT DI SA TẮC BỘ HÒA HÊ NGŨ PHAN

Nguồn bản dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Internet Archive OCR)Giấy phép: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Việt dịch) · OCR Internet Archive · nguồn: archive.org · EN quarantined on 2026-07-06: previous bodyEn was short INTI-AI quote-widget noise, not a source English body. · EN: AI translation from Vietnamese source, awaiting source English🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch bằng AI do Inti biên soạn: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến