Inti DharmaInti Dharma
← Kinh điển
Đại Thừa — Tạng Bắc Truyền · Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Việt dịch)

Cảnh Đức Truyền Đăng Lục quyển 11

Tên chữ Hán:景德傳燈錄

📖11,444 từ · ~46 phút đọc
2

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản →
Bản dịch đầy đủ (Tiếng Việt)

CẢNH ĐỨC TRUYỀN ĐĂNG LỤC - QUYỂN 11

QUYỂN 11

Thiền sư Hoài Nhượng trong đời thứ 4 có 89 vị.

– Đệ tử nối pháp của Thiền sư Thiền sư Linh Hựu ở Qui Sơn Đàm

Châu có 34:1. Thiền sư tuệ Tịch Ngưỡng Sơn ở Viên Châu.2. Thiền sư Trí Nhàn ở chùa Hương Nghiêm Đặng Châu3. Thiền sư Pháp Đoan ở chùa Diên Khánh Tương Châu4. Thiền sư Hồng nhân ở Kính Sơn Hàng châu5. Thiền sư Linh Vân ở Chí cần Phước Châu6. Hòa thượng ứng Thiên ở ích Châu7. Thiền sư Từ tuệ ở cửu Phong Phước Châu8. Hòa thượng Mễ ở Kinh triệu9. Hoắc Sơn Hòa thượng ở Tương Châu10. Vương Kính Sơ Thường Thị ở Tương Châu(10 vị trên đây thấy có ghi lục)11. Hòa thượng ở Song Phong Phước Châu12. Thiền sư Viên Giám ở Trường Diên13. Thiền sư Chí Hòa14. Thiền sư Đạo Phương ở Tây Sơn Hồng Châu15. Thiền sư Như Chân ở Qui Sơn16. Thiền sư Nguyên Thuận ở Tinh Châu17. Thiền sư Sùng Hạo ở phủ Hưng Nguyên18. Thiền sư Toàn Thâm ở Ngạc Châu19. Thiền sư Thần Kiếm ở Tung Sơn20. Thiền sư Hoằng Tấn ở Hứa Châu21. Thiền sư Văn Lập ở Dư Hàng22. Thiền sư Quang Tướng ở Việt Châu23. Thiền sư Văn Ước ở Tô Châu24. Thiền sư Trí Mãn ở Thượng Nguyên25. Thiền sư Pháp Lãng ở Kim Châu26. Thiền sư Siêu Đạt ở núi Huỳnh hạc Ngạc Châu27. Thiền sư Tùng Ước ở Bạch Lộc28. Thiền sư Phục ở Tây Đường,29. Thiền sư Linh Không ở Ôn Châu30. Thiền sư Giản ở Đại Qui3 1. Thiền sư Trí Lãng ở Kinh Nam32. Thiền sư Phổ Nhuận ở Qui Sơn33. Thiền sư Pháp Chân ở Qui Sơn34. Hòa thượng Hắc Sơn35. Trừ Châu Định Sơn Thiền sư ở Thần Anh36. Hòa thượng Sương Sơn37. Hòa thượng Nam Nguyên38. Thiền sư Xung Dật ở Qui Sơn39. Thiền sư Ngạn ở Qui Sơn40. Thiền sư Pháp ở núi Tam Giác-Kỳ Châu41. Thiền sư Chí Thuyên ở Đặng Châu42. Thiền sư Hoằng Khuê ở Kinh Châu43. Thiền sư Đạo Khoáng ở Nham Bối(33 vị trên không có cơ duyên ngữ cú không ghi lục).

– Đệ tử nối pháp pháp Thiền sư Đại An ở Phước Châu có 10 vị.

1. Thiền sư Pháp Chân ở Đại Tùy ích Châu2. Thiền sư Như Man ở Linh Thọ Thiều Châu3. Thiền sư Sư Giải ở Thọ Sơn Phước Châu4. Hòa thượng Nhiêu Sơn ở Nhiêu Châu5. Đại sư tuệ Nhật Sùng Phước ở Phủ Điền Tuyền Cha6. Hòa thượng Phù Giang ở Thai Châu7. Lộ Châu thượng ở Lục Thủy Hòa8. Thiền sư Viên ở viện Văn Thù Quảng Châu(8 vị trên đây có ghi lục)9. Thiền sư Linh dương ở Ôn Châu10. Hòa thượng Chỉ Y ở Hồng Châu(2 vị trên đây không có cơ duyên ngữ cú không ghi lục)

– Đệ tử nối pháp pháp ngài Đại sư Giám Tông ở Kính Sơn Hàng

Châu có 3 vị.1. Thiền sư ở núi Hàm Khải Thiên Đồng Minh Châu2. Thiền sư Hành Chân ở Bối Sơn3. Thiền sư Hành Mãn ở núi Đại Từ Hàng Châu(3 vị trên đây không có cơ duyên ngữ cú không ghi lục)

– Đệ tử nối pháp pháp Thiền sư Tùng thẩm ở viện Đông Triệu

Châu có 13 vị.1. Tôn giả Nghiêm Dương ở Tân Hưng Hồng Châu2. Thiền sư tuệ Giác ở viện Quang Hiếu Dương Châu,3. Thiền sư Phụng ở viện Quốc Thanh Lung Châu4. Thiền sư Tùng Lãng ở Mộc Trần Vụ Châu5. Thiền sư Tân Kiến ở Vụ Châu6. Hòa thượng Đa Phước ở Hàng Châu7. Hòa thượng Tây Mục ở ích Châu(7 vị trên thấy có ghi lục)8. Hòa thượng ở núi Ma Cốc Đàm Châu9. Thiền sư Định Ngạc ở viên Quán Âm10. Hòa thượng ở núi Minh Bình Tuyên châu11. Đạo giả Miễn ở Thái Nguyên12. Yến Vương ở u Châu13. Triệu Vương ở Trấn Châu(6 vị trên đây không có cơ duyên ngữ cú không ghi lục)

– Đệ tử nối pháp của Thiền sư Lợi Tung ở núi Tử HỒ-CÙ Châu có

4 vị.1. Hòa thượng Thắng Quang ở Thai Châu2. Hòa thượng Phù Thạch ở Chương Châu3. Hòa thượng Tử Đồng4. Hòa thượng Nhật Dung(4 vị trên đây thấy có ghi lục)

– Đệ tử nối pháp của Thiền sư Tánh Không ở chùa Hiếu Nghĩa-

Cát Châu có 1 vị.1. Thiền sư Thủ Nhuận ở Viện Thọ Hưng-Ngang Châu (không cócơ duyên ngữ cú)

– Đệ tử nối pháp của Hòa Thượng Thù Du ở Ngạc Châu có 1 vị.

1. Hòa thượng Thạch Thê (thấy có ghi lục).

– Đệ tử nối pháp của Hòa thượng Thiên Long có 2 vị

1. Hòa thượng Cu Chi Kim Hoa Vụ Châu- (thấy có ghi lục)
2. Thiền sư Ngạn Trung người nước Tân La (Không có cơ duyên-
ngữ cú)

– Đệ tử nối pháp của Thiền sư Trường Sa cảnh sầm ở có 2 vị.

1. Thiền sư Thường thông ở núi Tuyết Đậu Minh Châu (Thấy có
ghi lục)
2. Thiền sư Nghiêm Linh ở núi Kim Hoa Vụ Châu (không có cơ
duyên-ngữ cú)

– Đệ tử nối pháp của Thiền sư ở Quan Na, có 2 vị:

1. Hòa thượng Đạo Ngô ở Quan Nam
2. Hòa thượng La Hán ở Chương Châu

– Đệ tử nối pháp của Thiền sư Đàm Chiếu ở Bạch Mã

1. Thiền sư Vô Danh ở Hoắc Sơn Tấn Châu (không có cơ duyên-ngữ cú)Đệ tử nối pháp của Thiền sư Đại Chứng ở Tân La, có 2 vị:1. Đại vương Văn Thán2. Đại Vương Hiến An (không có Ngữ lục)

– Đệ tử nối pháp pháp Tiểu Mã Thiền sư ở Thần Chiếu, có 1 vị

1. Thiền Sư Hữu Duyên ở Viện Liên Vân-quận Tấn Vân (không
có cơ duyên-ngữ cú)

– Đệ tử nối pháp của, Hòa thượng Đại Ngu ở Cao An có 1 V

1. Ni Liễu Nhiên ở Mạt Sơn, Quân Châu (Thấy có ghi lục)

– Đệ tử nối pháp của Thiền sư Hồng Trực ở Tân La có 2 vị:

1. Đại Vương Hưng Đức.2. Thái tử Tuyên Khang (2 vị trên đây không có cơ duyên-ngữ cúkhông ghi lục)

– Đệ tử nối pháp của Hòa thượng Vô Tích ở Hứa Châu có 1 vị.

1. Thiền sư Đạo Toại (không có cơ duyên-ngữ cú không ghi lục)

– Đệ tử nốì pháp của Thiền sư Linh Hựu ở Qui Sơn đời thứ 4

của Thiền sư Hoài Nhượng
1. Thiền sư Tuệ Tịch Ngưỡng Sơn ở Viên Châu.
Sư người ở Hoài Hóa thuộc Thiều Châu, họ Diệp. Năm 15 tuổi
muốn xuất gia nhưng cha mẹ không cho. Sau đó 2 Năm Sư chặt 2 lóng
tay quì trước cha mẹ thề cầu chánh pháp để đền đáp ân cù lao. Bèn
nương Thiền Thông sư ở chùa Nam Hoa mà cạo tóc. Chưa thọ giới túc
liền đi du phương. Trước đến ra phải ngài Đam Nguyên mà ngộ Huyền
chỉ. Sau tham vấn ngài Qui Sơn mà lên Đường Áo. Ngài Linh Hựu hỏi:
Ông là Sa di có chủ hay Sa di không chủ? Sư nói: Có chủ. Hỏi: ở đâu?
Sư từ Đông qua ở tây đứng. Sư biết là dị nhân bèn khai thị cho. Sư hỏi
thế nào là chỗ ở của chân Phật? Hựu nói lấy cái mầu nhiệm của suy
nghĩ không suy nghĩ mà suy xét trở lại mình sáng suốt vô cùng. Suy nghĩ
hết rồi lại trở về với (tánh sẳn có là tướng thường trụ. Sự lý chẳng 2 là
chân Phật như như. Sau lời nói ấy Sư đốn ngộ từ đó luôn giữ gìn. Sau tìm
đến Giang lăng thọ giới trụ Hạ tham khảo luật tạng. Sau tham vấn ngài
Nham Đầu. Nham Đầu đưa phất trần lên thì Sư trải tọa cụ. Đầu để phất
trần ở sau lưng thì Sư đeo tọa cụ trên vai mà đi. Nham Đầu nói ta không
chịu ông buông ra, chỉ chịu ông thâu vào. Sư lại đến hỏi ngài Thạch
Thất rằng: Phật Đạo cách nhau thế nào Thạch Thất nói Đạo như mở tay
ra, Phật như nắm tay lại. Sư bèn từ giả Thạch Thất. Thạch Thất đưa ra
cửa bảo rằng: Ông chớ đi luôn, sau hãy trở về bên ta. Vi Trụ đến ngài
Qui Sơn xin 1 Già Đà, Qui Sơn nói: Xem mặt trình nhau cũng là gã độn,
há lại vẽ bằng giấy bút. Bèn đến xin Sư. Sư vẽ trên giấy 1 vòng tròn rồi
chú rằng: Suy nghĩ mà biết thì rơi vào đầu thứ 2, chẳng suy nghĩ mà biết
thì rơi vào đầu thứ 3. Một hôm Sư theo ngài Qui Sơn ra cày ruộng. Sư
hỏi: Đầu này sao thấp đầu kia sao cao? Hựu nói: Nước có thể đo vật
ngang nhau vì nước luôn nằm ngang. Sư nói nước cũng không bằng cứ,
Hòa thượng chỉ chỗ cao mà bằng cao, chỗ thấp mà bằng thấp. Hựu cho
là đúng. Có thí chủ cúng lụa Sư hỏi Hòa thượng nhận của thí chủ cúng
dường như vậy thì lấy gì đền đáp? Hựu liền nhấc cao giường Thiền lên.
Sư nói Hòa thượng đâu được lấy vật của mọi người làm vật dụng cho
mình. Hựu bỗng hỏi Sư từ đâu đến? Sư nói: Từ Điền Trung đến. Hựu
hỏi: Điền Trung bao nhiêu người? Sư cắm cái mai mà đứng. Hựu nói
hôm nay ở Nam Sơn có nhiều người cắt tranh. Sư bèn vác cái mai lên
mà đi. Khi Sư ở bên ngài Qui Sơn chăn trâu. Đệ Nhất Tòa nói: Trăm ức
đầu lông trăm ức sư tử hiện. Sư không đáp, về đứng hầu. Đệ Nhất Tòa
thăm hỏi, Sư nhắc lại lời nói trước hỏi: Vừa rồi nói trăm ức đầu lông
trăm ức sư tử hiện há là chẳng phải. Thượng Tọa nói phải: Sư hỏi chính
ngay lúc hiện thì hiện ở trước lông hay sau lông? Thượng Tọa nói: Khi
hiện thì chẳng nói trước sau. Hựu nói cái lưng sư tử gãy. Thượng Tọa
Qui Sơn đưa cây phất trần lên bảo: Vị nào thực hành được đạo lý thì
cho. Sư nói con làm được đạo lý, được chăng. Thượng Tọa nói chỉ làm
được đạo lý thì được. Sư bèn lấy cây phất trần mà đi. Một hôm trời mưa.
Thượng Tọa bảo: Mưa tốt đó Tịch Xà Lê. Sư hỏi tốt chỗ nào? Thượng
Tọa không đáp được. Sưnói: Tôi nói được. Thượng Tọa hỏi tốt chỗ nào?
Sư chỉ ra mưa. Ngài Qui Sơn cùng Sư đi dạo. Chim ngậm 1 quả thị đỏ rơi
trước mặt. Hựu lấy đưa cho Sư, Sư nhận lấy nước rửa sạch rồi đưa cho
Phải. Hựu hỏi vì sao ông lại được. Sư đáp đây là đạo đức của Hòa
thượng cảm được. Hựu nói ông cũng chẳng được rỗng không, rồi chia
nửa quả mà đưa cho sư. Sư giặt áo. Đam Nguyên hỏi: Chính lúc đó làm
gì? Sư hỏi chính lúc đó hướng vào đâu mà thấy? Sư quanh quẩn bên
ngài Qui Sơn trong năm mươi Năm. Thể có câu nói nào học chúng đều
phục. Khi được Qui Sơn mật truyền rồi thì Sư dẫn chúng đến ở núi
Vương Mãng. Nhưng ai hóa duyên chưa khế hợp thì dời đến theo Ngưỡng
Sơn mà học trò dần đông. Sư lên Pháp Đường dạy chúng rằng: Các ông
đều phải cố (tự xét lại mình) chớ ghi nhớ lời nói. Các ông từ vô thỉ kiếp
đến nay trái sáng theo tối, vọng tưởng rễ sâu, rốt lại khó nhổ được
nhanh. Do đó phải nhờ phương tiện mà cướp lấy thô thức (chỗ thấy cạn
cợt) của ông, như dùng lá vàng mà ngăn tiếng, sao có việc đó. Cũng như
có vị dùng trăm thứ hàng hóa và vàng báu mở tiệm mà buôn bán tính
toán nặng nhẹ. Do đó nói ngói đá là tiệm vàng ròng còn ta các thứ đó
là tiệm tạp hóa. Có người đến tìm cứt đái ta cũng đưa cho, người khác
đến tìm vàng ròng ta cũng đưa cho. Lúc khác Có vị Tăng hỏi: Cứt đái
tức chẳng cần xin Hòa thượng cho vàng ròng. Sư nói: Răng nhọn định
mở miệng tuổi lứa cũng chẳng hiểu. Vị Tăng không đáp được. Sư nói:
Đòi gọi phải có giao dịch chẳng đòi gọi phải không ta (Vô ngã?). Nếu
nói Thiền Tông thì bên cạnh cần một người để làm bạn cũng không, há
lại có 500, 700 chúng ư? Nếu ta nói Đông nói Tây đều tranh nhau nhặt
lượm, thì như đem nắm tay không mà gạt trẻ con, đều không thật có
việc thấy, nay Ta rõ ràng nói với các ông việc bên Thánh chớ nên đem
tâm nương ghá, chỉ hướng về biển tánh của mình như thật mà tu. Chẳng
cần 3 minh 6 thông. Vì sao thế, vì đây là cuộc đời Thánh mà làm việc.
Như nay lại cần biết tâm suốt gốc thì chỉ được cái gốc mà không được
cái ngọn, lúc khác sau này sẽ đầy đủ Nếu chưa được gốc, dẫu dùng
nhiều tình học thì nó cũng không được, ông há chẳng thấy. Hòa thượng
Qui Sơn nói: Tình phàm Thánh dứt hết thì thể lộ bày chân thường, sự lý
không 2 tức Phật như như. Hỏi Thế nào là ý Tổ sư? Sư liền lấy tay vẽ
vòng tròn trên không, trong vòng lại vẽ chữ Phật. Vị Tăng không đáp
được. Sư bảo Đệ Nhất Tòa rằng: Không nghĩ thiện không nghĩ ác chính
lúc ấy là gì? Đáp rằng: Chính lúc ấy là chỗ con buông bỏ thân mạng. Sư
nói sao chẳng hỏi Lão Tăng. Đáp: Chính lúc ấy con không thấy có Hòa
thượng. Sư nói giúp ta dạy chẳng khởi. Sư nhân về Qui Sơn thăm viếng.
Linh Hựu nói: Ông đã gọi là Thiện tri thức tranh nói được các nơi đến
biết có hay chẳng biết có, có Sư thừa hay không Sư thừa (đệ tử nối pháp
thầy hay không đệ tử nối pháp thầy) là nghĩa học hay là huyền học 1
ông thử nói xem. Sư nói: Tuệ Tịch có chỗ nghiệm, chỉ thấy vị Tăng các
phương đến liền dựng đứng cây phất trần mà hỏi họ. Các phương lại nói
cái ấy không nói. Lại nói cái ấy lại bỏ Lão Túc các phương ý thế nào.
Linh Hựu khen rằng: Đó là theo móng vuốt của Tông môn. Hựu hỏi
chúng sinh khắp nơi nghiệp thức mịt mờ không có gốc nào để y cứ
nương tựa, ông làm sao biết họ có hay không? Sư nói tuệ Tịch có chỗ
nghiệm. Lúc đó có 1 vị Tăng đi qua trước Sư gọi lớn Xà Lê! vị Tăng ấy
quay đầu. Sư nói: Hòa thượng cái đó chính là nghiệp thức mịt mờ không
có gốc nào để có thể nương tựa. Hựu nói đây là 1 giọt sữa của sưtử đánh
tan 6 hộc sữa lừa. Tướng Công Trịnh Ngu hỏi: Chẳng dứt phiền não mà
vào Niết-bàn lúc đó thế nào? Sư dựng đứng cây phất trần. Ông nói 1
chữ nhập vào không cần cũng được Sư nói: Một chữ Nhập vào không
Tướng Công. Sư hỏi vị Tăng: Từ đâu đến? Đáp: Từ u Châu. Sư nói: Ta
muốn biết giá gạo ở u Châu là bao nhiêu? Đáp: Khi con đi thì không đi
ngang qua chợ vì đạp gảy cầu bến rồi. Sư bèn thôi. Sư thấy 1 vị Tăng
đến bèn dựng đứng cây phất trần lên. Vị Tăng ấy liền hét. Sư nói hét
tức chẳng không lại nói Lão Tăng lỗi chỗ nào? Vị Tăng nói: Hòa thượng
chẳng được đem cảnh chỉ vị. Sư bèn đánh. Sư hỏi Hương Nghiêm: Sư đệ
những ngày gần đây chỗ thấy thế nào? Nghiêm đáp: Con cuối cùng nói
chẳng được. Bèn có kệ rằng:
Năm trước nghèo chưa phải là nghèo
Năm nay nghèo mới thật là nghèo
Năm rồi không có đất cắm dùi
Năm nay cả cái dùi cũng không.
Sư nói ông chỉ được Như Lai Thiền, chưa được Tổ sư Thiền. Qui
Sơn gói kính cái gương gởi Sư. Sư lên Pháp Đường mở ra đưa lên. Lại
hỏi là gương của Qui Sơn hay gương của Ngưỡng Sơn ai nói được thì
không đập vỡ gương. Chúng không đáp được. Sư bèn đập vỡ gương. Sư
hỏi Song Phong: Ngày gần đây chỗ thấy của Sư đệ thế nào? Đáp rằng:
Y cứ vào chỗ thấy của tôi thì không có 1 pháp nào để đương tình. Sư
nói chỗ hiểu của ông cũng còn ở cảnh. Song phong nói: Tôi chỉ Thế,
Sư huynh ra sao? Sư nói: Ông há chẳng biết không có, 1 pháp nào để
đương tình Qui Sơn nghe xong nói: Ông Tịch 1 câu nghi giết vị thiên
hạ. Có vị tăng hỏi pháp thân có giảng nói pháp không? Sư nói: Ta nói
chẳng được, chỉ có 1 vị nói được. Hỏi vị nào nói được, ở đâu? Sư đưa
cái lên gối. Ngài Qui Sơn nghe nói bảo: Ông Tịch dùng kiếm nhọn Sư
ngồi nhắm mắt, Có vị Tăng lén đến đứng 1 bên. Sư mở mắt vẽ trên
đất 1 vòng tròn, trong đó viết chữ nước rồi ngoái nhìn vị Tăng ấy. Vị
Tăng không đáp được. Sư bèn cầm 1 cây gậy. Vị Tăng hỏi ở đâu có
được. Sư bèn giấu sau lưng. Vị Tăng không đáp được. Sư hỏi 1 vị Tăng
ông biết gì? Vị Tăng nói biết bói. Sư đưa cây phất trần lên hỏi trong 64
quẻ thì thuộc về quẻ nào Tang không đáp được. Sư bèn đáp thay rằng:
Vừa đến là tuyết trời rất mạnh, như nay thây thành lửa đất rất sáng. Sư
hỏi 1 vị Tăng: Tên gì? Đáp: Linh Thông. Sư nói liền xin vào lồng đèn.
Đáp: Buổi sáng vào rồi. Có vị Tăng hỏi: Người xưa nói: Thấy sắc liền
thấy tâm, gương thiên là sắc, xin Hòa thượng lìa sắc mà chỉ tâm cho
Đệ tử. Sư nói cái đó là giường thiền mà ra. Vị Tăng không đáp được.
Có vị Tăng hỏi: Thế nào là Sư Tỳ Lô? Sư bèn hét. Lại hỏi: Thế nào là
Hòa thượng Sư? Sư nói: Chớ vô lễ. Sư cùng 1 vị Tăng nói chuyện, Có
vị Tăng bên cạnh hỏi: Nói sao là Văn Thù, im sao là Duy Ma. Sư nói:
Chẳng nói chẳng im sao chẳng là ông? Vị Tăng im lặng. Sư nói sao
không hiện thần thông? Vị Tăng nói không từ hiện thần thông, chỉ sợ
Hòa thượng thâu vào giáo. Sư nói: Xét chỗ ông đến chưa có mắt nào
giáo ngoài. Hỏi thiên đường địa ngục cách nhau bao xa? Sư lấy gậy vẽ
trên đất 1 vạch. Khi Sư ở Quán Âm viện có dán bảng rằng: Xem kinh
thì không được hỏi việc. Sau Có vị Tăng đến thăm thấy Sư xem kinh
bèn đứng 1 bên mà đợi. Sư cuốn kinh lại hỏi: Hiểu không? Vị Tăng nói:
Con không xem kinh sao hiểu được. Sư nói: Ông từ sau trở đi hiểu đi.
Có vị Tăng hỏi Thiền tông Đôn ngộ vào cửa rốt ráo ý Thế nào? Sư nói ý
này rất khó. Nếu là dưới cửa Tổ tông thì kẻ thượng y thượng trí, 1 nghe
ngàn ngộ được Đại tổng trì. Vị y này khó được vì nơi ấy có căn yếu trí
kém. Do đó Cổ đức có nói nếu không an thiền tịnh lự, thì đến chỗ đó
đều mịt mờ. Trừ cái chính này ra còn có phương tiện riêng khác khiến
Đệ tử này được vào chăng? Sư nói riêng có riêng không khiến tâm ông
chẳng an, ông là người ở đâu? Đáp: Người u Châu. Sư nói ông có nghĩ
chỗ ấy chăng? Đáp: Luôn nghĩ. Sư nói: Ớ chỗ đó có lầu đài vườn rừng
người ngựa tụ tập, ông lại nghĩ sao vẫn có rất nhiều loại như thế hay
không? Vị Tăng nói con đến chỗ ấy tất cả đều chẳng thấy. Sư nói: Ông
hiểu cũng còn ở cảnh. Tín vị thì phải, nhân vị tức chẳng phải. Y cứ vào
chỗ ông hiểu thì chỉ được 1 huyền, được ngồi vạch áo hướng về sau tự
xem. Vị Tăng ấy lễ tạ mà đi. Sư mới từ Ngưỡng Sơn mà dời về Quán
Âm, tiếp có lợi vật làm tiêu chuẩn cho Thiền tông. Trước khi thiên hóa
(tịch) mấy năm, Sư có kệ rằng:
Tuổi tròn bảymươi bảy già chết là ngày nay
Mặc tánh tự chìm nổi hai tay bám gối cong.
Sư thị tịch ở núi Đông Bình tại Thiều Châu, 77 tuổi, ôm gối mà
mất. Vua ban thụy là Trí Thông Đại sư, tháp hiệu là Diệu Quang. Sau
dời tháp về Ngưỡng Sơn.
2. Thiền sư Trí Nhàn ở Hương Nghiêm, Đặng Châu.
Sư người ở Thanh Châu. Chán tục từ biết cha mẹ đi du phương
mộ Đạo, nương Hội thiền của ngài Qui Sơn. Hòa thượng Hựu biết Sư là
pháp khí, muốn kích phát trí sáng một hôm gọi Sư bảo rằng: Ta không
hỏi ông chỗ bình sinh học hiểu và nhớ kinh sách, khi ông chưa ra khỏi
bào thai, chưa phân biệt Đông Tây, thì bổn phận sự thử nói 1 câu. Ta
cần ghi nhớ lời ông. Sư mơ màng không đáp, trầm ngâm hồi lâu, rồi nói
mấy lời trình bày chỗ hiểu. Ngài Linh Hựu đều không chịu. Sư nói: Xin
Hòa thượng vì nói cho. Hựu nói ta nói ra chỉ là chỗ hiểu của ta đối với
mắt tai ông nào có ích gì? Sư bèn về Pháp Đường, khắp kiểm tra các
câu phương ngữ thì không có 1 lời nào đáp lại được. Bèn tự than rằng:
Bách vẽ chẳng thể kêu no, bèn đem đốt hết, bảo rằng: Đời này chẳng
học Phật pháp nữa chỉ làm 1 vị Tăng cơm cháo qua ngày chẳng cần khổ
dịch tâm thần. Sư bèn khóc lóc từ giả ngài Qui Sơn mà đi. Sư đến Nam
Dương thấy di tích của Quốc Trung Sư bèn ở đấy. Một hôm nhân lên
núi dọn cây cỏ, ném hòn đá vào bụi tre phát ra một 1 tiếng cốc, bỗng Sư
rỗng rang tỉnh ngộ. Sư bèn trở về tắm gội đốt hương xa lễ ngài Qui Sơn
khen rằng Hòa thượng Đại Từ Bi ơn hơn cha mẹ, nếu lúc đó Hòa thượng
nói cho ta nghe thì đâu có việc ngày nay. Bèn làm 1 bài kệ rằng:
Một tiếng “cốc” quên biết,
Lại chẳng nhờ tu sửa
Nhăn mặt bày đường xưa,
Chẳng rơi chỗ lặng yên
Nơi nơi không dấu vết,
Thỉnh sắc ngoài oai nghi
Kẻ đạt Đạo các nơi,
Đều nói cơ thượng thượng.
Sư lên Pháp đường nói: Đạo do ngộ mà đạt, không phải ở lời nói.
Huống chi thấy kín kín rực rỡ không hê ngăn cách không nhọc tâm ý,
tạm nhờ toàn công hồi quang hằng ngày tự trái đường mê. Hỏi: Thế nào
là cảnh của Hương Nghiêm? Sư nói: Hoa cây chẳng thấm. Hỏi Thế nào
là Tiên Đà Bà? Sư gõ vào giường thiền nói đưa cái đó đến đây. Hỏi:
Thế nào là thấy chỗ học? Sư (xoay tròn) cây quạt hỏi: Thấy không? Vị
Tăng không đáp được. Hỏi: Thế nào là ăn chánh mạng? Sư nắm tay lại
mà chỉ. Hỏi Thế nào là vô biểu giới? Sư nói: Đợi Xà Lê làm tục (bỏ
tu) thì nói. Hỏi: Thế nào là một câu gặp nhau ngoài thanh sắc Sư nói:
Như khi tôi chưa ở Hương Nghiêm nói ở đâu? Vị Tăng nói: Lúc ấy cũng
chẳng dám nói có chỗ ở. Sư nói: Như pháp tâm tâm sở của vị huyễn. Vị
Tăng hỏi: Chẳng mộ các Thánh chẳng trọng tánh linh của mình lúc đó
thế nào? Sư nói muôn cơ thôi nghĩ ngàn Thánh không phải. Lúc đó Sơ
Sơn ở giữa chúng làm tiếng nôn ói bảo: Là nói gì? Sư hỏi ai? Chúng nói
Sư thúc. Sư nói không dạ Lão Tăng ư? Sơ Sơn nói đúng. Sư nói ông nói
được chăng? Đáp: Nói được. Sư nói: Ông thử nói xem. Đáp: Nếu dạy
tôi nói lại cần Sư giúp lễ mới được. Sư bèn xuống tòa lễ bái nhắc lại lời
hỏi trước. Sơ Sơn hỏi sao không nói chịu nặng chẳng được toàn. Sư nói:
Ông nhiều Thế cũng 30 Năm ỉa ngược. Nếu ở núi thì không có củi đốt,
ở gần nước mà không có nước uống, rõ ràng nhớ lấy. Sau chỗ ở của Sơ
Sơn quả đúng như lời Sư nói trước. Đến 27 Năm sau thì bịnh lành. Bèn
tự bảo Sư huynh Hương Nghiêm ký cho ta 30 Năm ỉa ngược, nay ít hơn
3 Năm. Mỗi khi kêu xong đều lấy tay chọc cho ói ra, đúng lời ký trước.
Hỏi Thế nào là câu trước tiếng Sư nói: Đại đức khi chưa hỏi tức là đáp.
Vị Tăng hỏi tức thời là sao? Sư nói là hỏi tức thời. Hỏi Thế nào là cắt
đứt ngang y nguyên chỗ ấn của Phật. Sư liền ném gậy vung tay mà đi.
Hỏi: Thế nào là đại ý pháp của Sư? Sư nói Năm nay sấm chớp lúa kiều
mạch mất mùa. Hỏi: Thế nào là ý Tây Trúc đến? Sư đưa tay vào bụng
rồi giả bộ nắm lấy đưa ra cho. Tang bèn quì gối đa 2 tay nhận lấy. Sư
hỏi là sao? Vị Tăng không đáp được. Hỏi thế nào là Đạo. Sư nói: Cây
khô rồng ngâm. Vị Tăng hỏi Đệ tử không hiểu. Sư nói con người trong
đầu lâu. Hỏi lìa 4 câu dứt trăm lỗi, xin Hòa thượng nói: Sư nói: Trước
thợ săn không được nói giới của Bổn sư. Một hôm Sư bảo chúng rằng:
Như người ở trên đỉnh non cao ngàn thước, miệng ngậm nhánh cây,
chân không đạp đất chân không chỗ vịnh, bỗng có người hỏi thế nào là
ý Tây Trúc đến. Nếu mở miệng đáp thì tan thân mất mạng, nếu chẳng
đáp thì trái với câu hỏi. Lúc đó phải làm sao? Lúc đó có Thượng Tọa
Chiêu ra nói: Ớ trên cây thì không nói, khi chưa ở trên cây thì thế nào?
Sư chỉ cười mà thôi. Sư hỏi 1 vị Tăng ở đâu đến? Vị Tăng nói ở Qui Sơn
đến. Sư hỏi: Hòa thượng ngày gần đây có nói câu nào không. Vị Tăng
nói có người hỏi thế nào là ý Tây Trúc đến? Hòa thượng bèn dựng đứng
cây phất trần. Sư nghe rồi bèn nói: Trong đó huynh đệ hiểu thế nào về
ý chỉ của Hòa thượng? Vị Tăng nói trong đó bàn bạc nói ở sắc mà làm
sáng tâm, mượn vật mà làm rõ lý. Sư nói hiểu tức liền hiểu, không hiểu
thì dính gì chết gấp. Vị Tăng liền hỏi ý Sư thế nào? Sư lại dơ cây phất
trần lên. Phàm Sư dạy dỗ chúng đều nói nhiều lời vắn tắt. Vư có kệ tụng
hơn 200 bài. Tùy duyên đối cơ mà không theo vần luật, lưu hành ở các
nơi rất thịnh hành. Sau vua ban thụy là tập Đăng Đại sư.
3. Đại sư Pháp Đoan ở núi Diên Khánh, thuộc Tương Châu.
Có người hỏi: Con giun đứt 2 đoạn thì làm hai đầu đều cử động,
vậy Phật tánh ở đầu nào? Sư mở toang hai tay. Sư mất rồi vua ban thụy
hiệu là Thiệu Chân Đại sư. Tháp hiệu là Minh Kim.
4. Thiền sư Hồng Yên ở Kính Sơn, Hàng Châu.
Sư người ở Ngô Hưng, họ Ngô. Năm 19 tuổi Sưlễ ngài Vô Thượng
Đại sư ở chùa Khai Nguyên mà cạo tóc. Năm 22 tuổi đến Tung Nhạc
thọ giới Cụ túc. Rồi trở về lễ Bổn Sư. Bổn sử của Sư hỏi: Ông trong lúc
này (đó) lấy gì báo đáp 4 ân. Hồng nhân không đáp được. Ba ngày quên
ăn, bèn từ giã thầy mà đi hành cước. Đến gặp ngài Vân Nham nhưng cơ
duyên chưa khế hợp. Sau đến ngài Qui Sơn thì các tự liền trừ hết. năm
Hội Xương thời Đường Võ Tông bị nạn sa thải Tăng Ni, chúng đều buồn
khổ Yên nói kẻ Đại trượng phu gặp ách nạn này không phải là mạng, sao
lại bắt chước tánh đàn bà con gái. Nên Niên hiệu Đại Trung bèn trở lại
tướng Sa môn mà trở về quê cũ ở Tây Phong viện. Năm Hàm Thông thứ
6 thì Sư lên Kính Sơn. Năm sau bổn Sư mất, chúng thỉnh Sư nối nghiệp ở
Kính Sơn làm đời thứ 3, tức Đệ tử nối pháp của Qui Sơn. Có vị Tăng hỏi:
Khi hơi thở lặng lẽ như tro thì thế nào? Sư nói: Hãy còn là lúc người làm
ăn công. Vị Tăng hỏi: Sau khi làm thì thế nào? Sư nói: Người cày ruộng
mà không gieo giống. Vị Tăng hỏi: Cuối cùng thì thế nào? Sư nói: Lúc
chín không đến sân phơi. Vị Tăng hỏi: Long Môn chẳng nhờ thế sấm sét
gió mưa liền thấu được là như thế nào? Sư nói: Cũng là 1 phẩm 2 phẩm.
Vị Tăng hỏi: Đây đã là cấp bậc hướng về Thượng sự thì thế nào? Sư nói:
Ta chẳng biết có Long môn của ông. Vị Tăng hỏi: Khi như sương như
tuyết thì thế nào? Sư nói: Hãy còn là ô nhiễm. Hỏi khi không ô nhiễm
thì như thế nào? Sư nói: Chẳng giống với sắc. Thượng Tọa Toàn Minh
ở Hứa Châu trước hỏi Thạch Sương: Một cái sợi lông xâu vào nhiều
lỗ thì như thế nào? Thạch Sương nói: Thẳng đến vạn năm sau. Hỏi:
Vạn năm sau như thế nào? Thạch Sương nói: Đăng khoa Đăng khoa
mặc ông đăng khoa, bạt tụy mặc ông bạc tụy. Sau hỏi Sư rằng: 1 cái
mầm có nhiều lỗ như thế nào? Sư nói: quang hóa mặc ông quang hóa
kết quả mặc ông kết quả. Có vị Tăng hỏi như thế nào là dài? Sư đáp:
Ngàn Thánh chẳng thể lường. Hỏi: Như thế nào là ngắn? Sư nói: Trong
mắt con sâu tiêu minh không đầy. Vị Tăng ấy không chịu bèn đem câu
chuyện kể lại với Thạch Sương. Thạch Sương nói: Chỉ vì rất gần cái
thật. Vị Tăng hỏi: Như thế nào là dài? Thạch Sương nói: Không quanh
co. Hỏi: Như thế nào là ngắn? Thạch Sương nói trong 2 lục bàn không
uống ánh sáng. Phật Nhật trưởng lão thăm hỏi Sư. Sư hỏi: Trưởng lão
Phục thừa riêng hóa độ 1 phương sao còn dạo chơi các đảnh núi? Nhật
Phật nói: Mặt trăng sáng ở trên không đeo băng sương chẳng thấy lạnh.
Sư hỏi: Không phải chính là gia phong của Trưởng lão chăng. Phật nhật
nói: Cao vót vạn trùng quan (quan có vạn lớp), ở trong đó có mặt trăng
sáng. Sư nói: Đây cũng là lời văn làm sao là gia phong của Trưởng lão.
Bảo rằng: Ngày nay nhờ gặp Phật Nhật. Phật Nhật liền hỏi: Khi ẩn mật
toàn chân thì người biết có Đạo chẳng được. Khi Đại tỉnh không tội thì
người biết có Đạo được. Ớ hai nẻo này cũng là chỗ lên xuống của mọi
người lúc đó (thời nhân). Không biết Trưởng lão có thân Đạo và Tự Đạo
là Đạo thế nào? Sư nói: Trong gia Đạo ta không có Đạo ấy. Phật Nhật
nói: Đường Như Lai không riêng tư cong vạy, liền thỉnh Huyền âm hòa
1 cuộc. Sư nói: Mặc ông 2 vầng cùng họp chiếu bích đàm vân ngoại
(mây ở ngoài đàm xanh) chẳng tương quan. Phật Nhật nói: Vì báo đầu
bạc vô hạn chúng. Nay nhớ tuổi thơ chẳng về quê. Sư nói: Trẻ già đồng
nhóm không trái nhau, nhà ta huyền lộ không khác nhau. Phật Nhật nói:
1 lời nói định thiên hạ, 4 câu vì ai giữ. Sư nói: Ông nói có 3, 4. Ta nói
trong đó một cũng không. Sư nhân đó có kệ rằng:
Đông Tây chẳng trông nhau
Nam Bắc cùng ai giữ
Ông thì nói ba, bốn
Ta thì 1 cũng không.
Năm Quang Hóa thứ 4, ngày 28 tháng 9, Sư bạch chúng mà hóa.
5. Thiền sư Chí cầu ở Linh Vân, Phước Châu.
Sư người ở Trường Khê ở châu này. Lúc đầu ở với ngài Qui Sơn
nhân hoa đào mà ngộ Đạo. Sư có kệ rằng:
Ba mươi năm nay tìm kiếm khách,
Mấy độ rụng lá và này chồi
Từ khi vừa thấy hoa đào muộn,
Thẳng đến như ngày lại chẳng nghi.
Ngài Linh Hựu (Qui Sơn) xem kệ xong hỏi chỗ ngộ thì rất phù
hợp. Ngài Linh Hựu nói: Từ duyên ngộ đạt vĩnh viễn không lui mất, hãy
khéo giữ gìn. Sư bèn trở về Mấn Xuyên. Các học trò cùng đến. Sư lên
Pháp Đường bảo chúng rằng: Này các nhân quả, chỗ có dài ngắn tất cả
đều đến không thường, chỉ xem 4 mùa cây cỏ lá rụng hoa nở, huống là
nhiều kiếp đến nay trời người sáu đường, đất nước gió lửa thành hoại
đổi dời nhân quả đủ hết khổ 3 ác đạo mảy may không thêm bớt, chỉ
có căn đeo mang thần thức còn hoài. Người thượng căn gặp bạn lành
trình bày chỗ sáng, ngay chỗ giải thoát liền là Đạo tràng. Kẻ trung hạ
si ngu, không thể giác chiếu, đam mê 3 cõi luân chuyển sinh tử. Thích
Tôn vì vậy mà trên trời dưới nhân gian lập giáo chứng minh mở sáng
trí Đạo. Các ông lại hiểu chăng? Lúc đó có vị Tăng hỏi: Như thế nào là
được ra khỏi sinh già bịnh chết. Sư nói: Núi xanh vốn chẳng động, mây
nổi bay qua lại. Vị Tăng hỏi: Khi Quân vương ra trận thì như thế nào?
Sư nói: Xuân sáng ngoài cửa chẳng hỏi Trường An. Vị Tăng hỏi: Như
thế nào là được thấy Thiền sư? Sư nói: Con hạc mù ở dưới ao trong con
cá ở dưới chân lội qua. Vị Tăng hỏi: Như thế nào là Đại ý Phật pháp?
Sư nói: Việc lừa chưa đi việc ngựa lại đến. Tăng chưa hiểu ý chỉ lại
xin chỉ dạy. Sư nói: Khí sáng đêm thường động, tinh linh ngày ít gặp.
Ngài Tuyết Phong có kệ đưa đến ngài Song Phong cùng hiểu, câu cuối
nói rằng sấm hết không dừng tiếng Sư lại nói sấm động chẳng nghe
tiếng. Ngài Tuyết Phong nghe liền nói đầu núi Linh Vân trăng xưa hiện.
Tuyết Phong hỏi: Người xưa nói trước tam tam, sau tam tam ý chỉ như
thế nào? Sư nói: Cá trong nước, chim trên núi. Tuyết Phong hỏi: Ý chỉ
là gì? Sư nói: Cao có thể bắn, sâu có thể câu. Hỏi: Các nơi đều ăn tạp,
không biết Hòa thượng như thế nào? Sư đáp: Riêng có mân trung khác,
hùng hùng trấn bờ biển. Hỏi: Chiến đấu lâu ở sa trường vì sao công
danh không đến. Sư nói: Quân vương có nói 3 phía yên tịnh cần gì vạn
dặm đắp trường thành. Lại nói: Dẹp hết chiến tranh (can qua) bó tay về
triều lúc đó Như thế nào? Sư nói: Mây từ khắp thấm không bờ cõi, cây
khô không hoa làm sao được trường sinh. Hỏi: Khi hỗn độn chưa phân
thì hàm sinh đến đâu (hàm sinh từ đâu đến)? Sư nói: Như cây cột lộ có
con. Hỏi phần sau như thế nào? Sư đáp như mảnh mây ở giữa trời xanh.
Hỏi: Không biết trời xanh lại nhận điểm chăng? Sư không đáp. Hỏi: Đó
tức hàm sinh không đến. Sư cũng không đáp. Hỏi: Ngay khi được toàn
trong dứt điểm thì như thế nào? Sư đáp: Cũng là chân thường chảy ra.
Hỏi: Như thế nào là chân thường chảy ra. Sư nói: Như gương sáng mãi.
Hỏi: Hướng thượng lại có sự chăng? Sư đáp: Có. Hỏi: Như thế nào là
sự hướng thượng? Sư đáp đập bể gương lại thấy nhau. Hỏi: Như thế nào
là ý Tây Trúc đến? Sư nói: Dưới đáy giếng trồng lâm cầm hoa hồng.
Đáp: Học nhân chẳng hiểu. Sư nói: Năm nay đào lý đắt 1 quả đến ngàn
vàng. Hỏi: Ma ni châu chẳng theo các sắc chưa biết làm (có) sắc nào?
Sư nói: Sắc trắng. Vị Tăng nói: Đó là theo các sắc. Sư nói: Ngọc Triệu
Bích Vốn không vết, Tương Như gạt vua Tần. Hỏi: Khi Quân vương ra
trận thì như thế nào? Sư đáp: Lã Tài chôn hổ mà thôi. Hỏi: Việc ấy như
thế nào? Sư nói: Ngồi thấy trời áo trắng. Vị Tăng hỏi: vua nay ở đâu?
Sư nói: Chớ gặp Long nhan.
6. Hòa thượng ứng Thiên ở ích Châu.
Có vị Tăng hỏi: Mọi người đều có Phật tánh, như thế nào là Phật
tánh của Hòa thượng? Sư hỏi: Ông nói cái gì là Phật tánh. Vị Tăng nói:
Đó tức như Hòa thượng không có Phật tánh. Sư gọi lớn khoái quá, vui
quá!
7. Thiền sư Từ Tuệ ở cửu Phong, Phước Châu.
Trước Sư ở Qui Sơn gặp ngài Linh Hựu lên Pháp Đường nói rằng:
Các ông chỉ được Đại thể mà không được Đại dụng. Sư quay mình bỏ
đi. Ngài Qui Sơn gọi, Sư liền ngoái đầu lại. Qui Sơn bảo: Ông này đáng
là pháp khí. Một hôm Sư từ giã Qui Sơn vào núi, thưa rằng: Con từ giã
trái Hòa thượng, cách xa ngàn dặm không lìa gang tấc (2 bên). Ngài Qui
Sơn động sắc mặt nói tốt lắm!
8. Mề Hòa thượng ở Kinh Triệu (cũng gọi là Mễ Thất Sư)
Trước tham học rồi về chùa Thọ Nghiệp. Có vị Lão Túc hỏi: Dưới
ánh trắng 1 đoạn dây đứt ở dưới giếng người ta gọi là con rắn, không
biết Thất Sư thấy Phật gọi là gì? Sư nói: Nếu có Phật thì thấy giống
như chúng sinh. Lão Túc nói hạt đào ngàn năm. Sư khiến Tăng đến hỏi
Ngưỡng Sơn rằng: Ngày nay lại nhờ ngộ hay không? Ngưỡng Sơn nói:
Ngộ thì chẳng không, sao lại lạc vào đầu thứ 2. Sư rất bằng lòng. Lại
khiến Tăng đi hỏi Động Sơn rằng: Cái đó rốt ráo làm sao? Động Sơn
nói: Cần hỏi người khác mới được. Sư cũng chịu. Có vị Tăng hỏi như
thế nào là nạp y hạ sự? Sư nói: xấu xa mặc ông chê, chẳng đeo sắc vân
hà.
9. Hòa thượng Hoắc Sơn ở Tấn Châu.
Có 1 vị Tăng từ Ngưỡng Sơn đến tự xưng là vân tập dưới núi bôn
dãy cây dưới Vân Phong, tham vấn Đại thiền Phật trong thiên hạ. Sư
bèn gọi Duy na dọn củi đi ngay. Đại Thiền Phật bỗng bước ra đi. Sư
nghe Hòa thượng Bí Ma Nham phàm có vị Tăng lễ bái đều lấy cái dĩa
gỗ mà đeo. Một hôm Sư đến hỏi thăm. Vừa thấy không lễ bái, liền nhảy
vào lòng Bí Ma, Bí Ma vỗ vào lưng Sư 3 cái. Sư đứng dậy vỗ tay nói Sư
huynh ta 1000 dặm đến đây rồi quay về.
10. Vương kính Sơ Thường Thị ở Kinh Châu.
Mễ Hòa thượng đến thì Vương Công bèn nâng viết. Mễ hỏi: Lại
phán xét được hư không chăng? Công ném bút vào sảnh mà không ra
nữa. Mễ rất nghi. Sáng hôm sau chủ cúng dường Phùng ở núi bằng cổ
đến dò xét ý kiến. Mễ cũng đi theo lén vào núp ở bình phong mà rình.
Chủ cúng dường vừa ngồi hỏi rằng: Hôm qua Mễ Hòa thượng có nói
câu gì mà không cho thấy nữa? Vương Công nói: Sư tử cắn người con
lừa đuổi theo cục đất. Mễ Sư nghe lén câu nói ấy liền tỉnh sự lầm trước,
bèn chạy ra cười lớn bảo tôi hiểu rồi, hiểu rồi. Ông từng hỏi một vị
Tăng tất cả chúng sinh lại có Phật tánh chăng? Vị Tăng nói tất cả đều
có. Sư chỉ vách vẽ hình 1 con chó hỏi cái này có không? Vị Tăng không
đáp được. Công tự đáp thay rằng xem nó cắn.

– Đệ tử nối pháp của Thiền sư Đại An ở Phước Châu trước

đây.
1. Thiền sư Pháp Chân ở ích Châu Đại Tùy.
Tăng hỏi: Trong kiếp lửa trống không cả đại thiên đều tiêu hoại
hết, không biết cái ấy có hoại chăng? Sư nói: Hoại. Tăng nói đó tức là
theo cái khác (theo nó đi). Sư nói: Đi theo cái khác. Hỏi: Như thế nào
là tướng của Đạo nhân. Sư nói: Trên bụng không có thiếp bảng. Sư
hỏi: Vị Tăng: Ớ đâu đến? Vị Tăng nói ở am tại núi Tây mà đi. Sư nói:
Ta hướng về núi Đông gọi ông, ông đến được chăng? Vị Tăng nói tức
chẳng phải vậy. Sư nói: Ông ở am chưa được. Hỏi: Khi sinh tử đến thì
như thế nào? Sư nói: Gặp trà thì uống trà gặp cơm thì ăn cơm. Vị Tăng
hỏi: Có thể nhận ai cúng dường? Sư nói: Bình bát họp lấy. Ớ bên am Sư
có con rùa Tăng hỏi: Tất cả chúng sinh có xương trong da, còn chúng
sinh này thì da trong xương là sao? Sư để chiếc hài cỏ bên con rùa. Tăng
không đáp được. Hỏi: Như thế nào là pháp yếu của chư Phật? Sư đưa
cây phất trần lên hỏi: Hiểu không? Vị Tăng nói không hiểu. Sư nói: Bụi
ở đuôi cây phất trần. Hỏi: Như thế nào là người học tự mình? Sư đáp là
tự mình ta. Vị Tăng nói: Vì sao là tự mình Hòa thượng? Sư nói: Là tự
mình ông. Hỏi: Như thế nào là tháp vô bồng? Sư nói: Cao 5 thước. Vị
Tăng nói: Học nhân không hiểu. Sư nói: Gạch cốt lên. Hỏi: Hòa thượng
trăm tuổi rồi giao pháp cho ai? Sư nói: Cột sương lò lửa Tăng hỏi: Người
nhận cũng không? Sư nói: Lửa lò sương cột. Có hành giả dẫn chúng
đến. Sư hỏi: Đã tham được người nào gọi Đông làm gì? Đáp: Chẳng thể
gọi là Đông. Sư than rằng gã lừa thúi. Chẳng gọi làm Đông thì gọi cái
gì? Hành giả không đáp được, chúng bèn tan. Hỏi: Như thế nào là gia
phong của Hòa thượng? Sư nói: Đất đỏ vẽ nong gạo. Vị Tăng hỏi: Như
thế nào là đất đỏ vẻ nong gạo. Sư nói: Cái nong miệng ngăn gạo không
nhảy ra? Sư hỏi một vị Tăng giảng giáo pháp nào? Vị Tăng nói luận
Bách Pháp. Sư cầm gậy bảo: Từ đâu mà khởi. Đáp từ duyên mà khởi.
Sư nói: Khổ thay, khổ thay! Sư hỏi: Vị Tăng từ đâu mà đi. Đáp: Từ lễ
Phổ Hiền mà đi. Sư đưa cây phất trần lên bảo Văn Thù Phổ Hiền đều
ở trong đó Tăng vẽ hình tròn ném ra sau rồi lễ bái, Sư bảo: Thị giả lấy
1 chén trà cho vị Tăng ấy. Một hôm chúng Tăng đến tham. Sư giả bộ
đau miệng hỏi: Có ai trị bịnh được miệng ta chăng? Lúc đó chúng tăng
tranh nhau đưa thuốc đến. Có kẻ tục nghe cũng đưa nhiều thuốc, Sư đều
không nhận. 7 ngày sau Sư bèn vả miệng khiến ngay lại bảo rằng: Như
đã nhiều lần đánh hai miếng ga này đến nay không có qi trị được bịnh
miệng ta. Chúa Thục rất khâm kính nhiều lần sai sứ đến mời về cung
nhưng Sư đều từ chối vì bịnh già. Khi Sư mất thì vua ban hiệu là Thần
Chiếu Đại sư.
2. Thiền sư Như Mần ở Linh Thọ, Thiều Châu.
Sư người Mấn Xuyên. Quảng Chủ họ Lưu nhiều đời kính trọng
ban hiệu là tri Thánh Đại sư. Có vị Tăng hỏi chí lý của Phật pháp như
thế nào? Sư chỉ vung tay ra mà thôi. Hỏi như thế nào là Gia Phong của
Hòa thượng? Sư nói: Ngàn năm ruộng 800 chủ. Vị Tăng hỏi: Như thế
nào là ngàn năm ruộng 800 chủ? Sư nói: Nhà cửa xiêu vẹo chẳng ai tu
sửa. Hỏi: Như thế nào là ý Tây Trúc đến? Sư nói: Trẻ con chớ phẩu nhi.
Tăng nói xin Sư chỉ dạy. Sư nói: Ông từ Kiền Châu đến. Hỏi: Làm sao
mà được cái đó khó hiểu. Sư nói: quan đầu bếp đã lên xe gió. Có Ni
cô đưa bình bát cho Sư. Sư cầm lên hỏi rằng: Cái này từ đâu ra? Ni nói
từ Định Châu ra. Sư bèn đập bể bát. Ni không đáp được. Có người hỏi:
Hòa thượng bao nhiêu tuổi. Sư nói: Ngày nay sinh ngày mai chết. Lại
hỏi: Hòa thượng sinh duyên ở đâu? Sư nói: Mặt trời mọc hướng Đông,
mặt trăng lặn hướng Tây. Sư hơn 40 năm hoằng hóa khắp nơi, có nhiều
dấu vết lạ. Quảng chủ sắp hưng binh, đích thân vào viên thỉnh sư mở
kho được chăng. Sư đã biết trước tự nhiên ngồi hóa. Quảng Chủ giận
hỏi Tri sự: Hòa thượng bị bịnh lúc nào? Đáp: Sư không từng có bịnh. Có
đóng kín 1 hộp bảo đợi vua đến thì trình. Chúa mở hộp được lá thư viết
rằng. Tai mắt của trời người là Thượng tọa trong nhà. Chúa hiểu ý Sư
bèn lui binh. Rồi mời Đệ Nhất Tòa mở Pháp Đường nói pháp. Sư tịch
rồi toàn thân không rã khi chôn có đủ khám tháp và Quảng Chủ lo đầy
đủ. Nay gọi tháp là Linh Thọ Chân Thân.
3. Sư giải Thiền sư ở Thọ Sơn, Phước Châu.
Khi sư đi hành cước, Sư đến pháp tòa. Ngài Động Sơn. Động Sơn
hỏi: Xà Lê sinh duyên ở đâu? Sư đáp: Hòa thượng nếu thật hỏi thì con
là người Mấn Trung. Động Sơn hỏi cha ông tên gì? Sư đáp: Hôm nay
được Hòa thượng hỏi thẳng 1 lời liền quên mất trước sau. Sư ở Thọ Sơn
lên pháp tòa nói: Này các thượng tọa may mắn có lời chân thật khuyên
nhau, các huynh đệ đều phải tự thể nhập. Dứt tình phàm Thánh thể bày
chân như. Chỉ 1 lúc mà bỏ hết hư vọng từ nhiều kiếp trước, bỏ tâm phan
duyên trần cấu, giống như hư không. Ngày sau lúc khác họp biết được
cái tốt xấu kia. Mấn Sư hỏi rằng: Thọ Sơn bao nhiêu tuổi: Sư đáp: Cùng
hư không bằng nhau. Hỏi: Hư không bao nhiêu tuổi? Sư nói: Bằng Thọ
Sơn.
4. Hòa thượng Nghiêu Sơn ở Nhiêu Châu.
Có vị Tăng hỏi: Như thế nào là ý Tây Trúc đến. Sư nói: Tiết trọng
đông lạnh dữ. Hỏi: Như thế nào là chỗ sâu thẳm của Hòa thượng? Sư
nói: Đợi lưỡi ông rơi xuống đất thì ta sẽ nói cho ông. Hỏi: Như thế nào là
thân vàng trượng sáu. Sư nói: Phán Quan xử án Tướng Công đổi. Trường
Khánh hỏi: Từ khi kế thừa Tông chỉ trước đó đến nay luận nói như thế
nào? Sư nói: Có nguyện chẳng phụ rảy Tiên Thánh. Trường Khánh hỏi
chẳng phụ rảy Tiên Thánh làm gì? Sư nói: Chẳng lộ ra Trường Khánh
nói như thế tức thỉnh Sư nói: ra. Sư hỏi: Chỗ nào tới lui. Trường Khánh
nói chỉ cái đó tới lui chỗ nào?
5. Đại sư Tuệ Nhật Sùng Phước Quốc Hoan viện tại huyện Phủ
Điền Tuyền Châu.
Sư là người ở huyện Hầu Quan Phước Châu, họ Huỳnh. Khi sinh
có điềm lạ. Lớn lên đặt tên là Văn Cự, làm ngục tốt ở huyện. Thường
thường bỏ việc mà đến gặp Hòa thượng Linh Quán ở Thần quang và
Đại An Thiền sư ở Tây Viện. Quan không thể ngăn cấm được. Sau yết
kiến Đàm Không Thiền sư ở tháp vạn Tuế mà cạo tóc nhưng không mặc
áo cà sa, không thọ Cụ giới. Chỉ mặc áo lụa tạp làm quái tử. Sư lại đến
chỗ Quang Hòa thượng. Quán nói ta không phải thầy ông. Ông đi lễ Tây
viện đi. Sư bèn cầm 1 cây gậy trúc xanh vào Pháp Đường Tây viện. An
thấy Sư từ xa đến cười bảo rằng: Vào nhà Niết-bàn đi. Sư liền dạ! Vung
(múa) gậy tre mà vào. Lúc đó có 500 Tăng bị bịnh thời khí sư bèn lấy
gậy điểm lần lượt, ai nấy được điểm đều ngồi dậy. Mân Vương rất kính
trọng xây dựng Quốc Hoan Thiện Viện mời Sư ở. Sau đó có nhiều điềm
lạ. Trong năm Đường Càn Ninh thì Sư tịch.
6. Hòa thượng Phù Giang ở Thai Châu.
Có lúc Tuyết Phong Hòa thượng dẫn chúng đến hỏi: Nay có 200
người đến ở nhập Hạ tại viện này có được hay chăng? Sư lấy gậy vẽ
dưới đất 1 vạch bảo: Nếu không được liền nói. Tuyết Phong không
nói.
7. Hòa thượng Lộc Thủy ở Lộ Châu.
Có vị Tăng hỏi: Như thế nào là ý Tổ sư từ Tây Trúc đến. Sư hỏi:
Có thấy hoa dược lan trước sân chăng. Tăng không đáp được.
8. Viên Minh Thiền sư ở viện Văn Thù tại Quảng Châu.
Sư người ở Phước Châu, họ Trần. Sư vốn tham ngài Qui Sơn mà
được ý chỉ. Sau đến ngài Tuyết Phong thỉnh ích thì pháp vẫn không có
vị khác. Sư lại từng dạo chơi núi Ngũ Đài thấy Đức Văn Thù hóa hiện.
Bèn tùy phương mà lập viện đặt hiệu là Văn Thù. Trong năm Khai Bảo,
Tiền Khu Mật Sư Lý Sùng Cự tuần hộ phương Nam, nhân vào viện của
Sư thấy tượng Địa Tạng Bồ tát, hỏi Tăng rằng: Địa Tạng vì sao vung tay
ra. Tăng đáp: Trong tay có châu bị giặc cướp lấy. Lý liền hỏi Sư: Đã là
Địa Tạng vì sao gặp giặc. Sư nói: Hôm nay bắt được. Lý bèn từ tạ ra đi.
Niên hiệu Thuần Hóa thứ 1 Sư viên tịch thọ 136 tuổi.

– Đệ tử nối pháp của Thiền sư Tùng Niệm ở Triệu Châu trước

đây.
1. Nghiêm Dương Tôn giả ở Tân Hưng, huyện Võ Minh Hồng
Châu.
Có vị Tăng hỏi: Thế nào là Phật? Sư nói: Hòn đất. Hỏi: Thế nào
là pháp? Sư nói: Đất động. Hỏi: Thế nào là tăng? Sư nói: Ăn cháo ăn
cơm. Vị Tăng hỏi: Thế nào là nước Tân Hưng? Sư đáp trước mặt trong
sông. Vị Tăng hỏi: Như thế nào là ứng vật hiện hình. Sư nói: Cùng ta
khiên giường qua kia (đem giường kia đến cho ta). Sư có 1 con rắn và 1
con hổ luôn theo bên mình cùng ăn cơm trong tay Sư.
2. Thiền sư Tuệ Giác Viện Quang Hiếu ở tại thành Đông, Dương
Châu.
Có vị Tăng hỏi Giác Hoa vừa nứt ra thấy đầy khắp Ta Bà. Tổ Ân
ở Tây Trúc đến cùng nói việc gì? Sư nói: Tình sinh thì trí cách. Hỏi:
Đó là ý dạy? Sư nói: Ông mặc y phục nào (ông vạch y phục làm gì?)?
Hỏi: 1 gậy đánh phá hư không lúc đó thế nào? Sư đáp: Mệt thì nghỉ đi.
Sư hỏi: Tống Tề Khâu: Lại hiểu Đạo chăng? Tống nói: Đạo cũng dính
không được. Sư hói: Có dính không được hay là không có dính không
được? Tống nói: Tất cả không như vậy. Sư nói: Dính chẳng được sao?
Tống không đáp được. Sư dẫn chúng ra. Thấy Lộ Trụ Sư chấp tay nói:
Chẳng biết Thế Tôn. một vị Tăng nói: Hòa thượng là Lộ Trụ. Sư đáp:
Khóc được máu chảy không chỗ dùng, không bằng ngậm miệng qua
xuân tàn. Vị Tăng hỏi: Nhiều người từ xa đến tôn Sư làm thầy, ý sư thế
nào? Sư đáp quan gia nghiêm ngặt chẳng cho an bài. Hỏi: Sư há chẳng
CÓ phương tiện? Sư nói: Lại nghỉ 1 đêm trong biển lửa. Trường cư sĩ hỏi:
Tranh làm sao được với tuổi già. Sư hỏi: Bao nhiêu tuổi. Trương đáp 80.
Sư nói: Đáng nói là già. Hỏi: Rốt ráo như thế nào? Sư nói: Thẳng đến
ngàn tuổi chưa dừng. Có người hỏi con bình sinh ưa giết trâu lại có tội
chăng? Sư nói: Không tội. Hỏi vì sao không tội? Sư nói: Giết 1 cái lại
trả 1 cái.
3. Thiền sư Phụng ở viện Quốc Thanh, Lũng Châu.
Có người hỏi: Ý Tổ và ý giáo đồng hay khác? Sư nói: Mưa thấm
3 cỏ ra hoa, gió xuân chẳng vào đó. Vị Tăng hỏi: Rốt ráo là 1 hay 2. Sư
nói: Mây lành tranh khởi hang núi trống chẳng thiếu. Hỏi: Như thế nào
là gia phong của Hòa thượng? Sư nói: Bàn gỗ ghế dựa, lửa lò, cửa nẻo.
Hỏi: Như thế nào là người xuất gia? Sư đáp: Đầu đồng trán sắt mỏ chim
thân nai, Tăng hỏi như thế nào bổn phận sự của người xuất gia. Sư nói:
Sáng dậy chẳng xét trong đêm trân trọng. Vị Tăng hỏi: Khi Ngưu Đầu
chưa gặp Tứ Tổ, vì sao chim thú ngậm hỏa. Sư nói: Như người thiểm
Phủ đưa tiền cho trâu sắt. Hỏi: Gặp rồi vì sao không ngậm hoa nữa? Sư
nói: Ngựa gỗ buổi sáng đi 800. Hỏi trong suốt 12 giờ (24 giờ) làm thế
nào hàng phục tâm như thế nào? Sư nói: Gõ băng tìm nước, luận kiếp
chẳng gặp. Hỏi: Mười hai phần giáo là nghĩa của ngăn tiếng khóc lìa
mà lại ngăn tiếng khóc xin Sư nóil câu: Sư nói: Trên đảnh Cô Phong
người nữ 2 sừng. Hỏi: Như thế nào là đại ý Phật pháp? Sư nói: Thích
Ca là ngục tốt đầu trâu, Tổ sư là A Bà mặt ngựa. Hỏi: Như thế nào là
ý Tây Trúc đến? Sư nói: vách Đông đánh vách Tây. Hỏi: Như thế nào
là đánh chẳng hư câu nào. Sư nói: Khi chẳng cách mảy may mà người
lại hướng xa.
4. Thiền sư Tùng Lãng ở Mộc Trần, Vụ Châu.
Tăng hỏi thả hạc ra khỏi lồng hòa cùng tuyết mà đi lúc đó như thế
nào? Sưnói: Ta nói không 1 sắc nhân kim cang lật ngược (mặt rơi xuống
đất). Vị Tăng hỏi: Đã là thân kim cang bất hoại vì sao rơi xuống đất. Sư
gõ giường Thiền nói đi đứng ngồi nằm. Khi Sư sắp tịch, có kệ rằng:
Ba mươi năm đến ở Mộc trần
Mọi lúc không nhờ 1 công thành
Có người hỏi ta ý Tây đến
Như nhướng lông mày để làm gì.
5. Thiền sư Tân Kiến ở Vụ Châu.
Sư không độ Sư nhỏ. Có vị Tăng hỏi Hòa thượng tuổi đã già sao
không nuôi 1 đạo tiểu nhỏ để hầu hạ? Sư nói: Có kẻ mù điếc bị ta dẹp
bỏ. Tăng từ giã Sư hỏi đi đâu? Vị Tăng nói: Đến chùa Khai Nguyên
dưới Phủ. Sư nói: Ta có 1 tin nhờ ông đưa cho chủ chùa ông sắp đến
được chăng?
Vị Tăng xin nói: Thì xin sư nói: Sư bảo: Nghĩ ông cũng chẳng làm
sao.
6. Đa Phước Hòa thượng ở Hàng Châu.
Có vị Tăng hỏi Như thế nào là Đa Phước 1 bụi trúc. Sư đáp 1 thân
2 thân xiêng. Hỏi: Học nhân chẳng hiểu. Sư đáp: 3 thân 4 thân cong. Vị
Tăng hỏi: Như thế nào là nạp y hạ sự? Sư đáp lớn có người nghi. Hỏi:
Vì sao như thế? Sư đáp trong trăng giấu đầu.
7. Hòa thượng Tây Lục ở ích Châu.
Có 1 kẻ tục đưa 2 tay lên nói Hòa thượng là 1 đầu lừa. Sư nói: Lão
Tăng bị ông cởi. Người ấy kháp đáp được. Sau 3 ngày lại đến tự nói:
Con 3 ngày trước làm giặc. Sư cầm gậy đuổi đi. Sư có lúc bỗng gọi thị
giả. Thị giả dạ, Sư bảo: Đêm sâu vắng lặng cùng ông treo đổi ý kiến.

– Đệ tử nối pháp của Thiền sư Lợi Tung ở núi Tử Hồ Cù Châu

trước đây.
1. Hòa thượng Thắng Quang ở Thai Châu.
Hỏi: Như thế nào là gia phong của Hòa thượng? Sư nói: Phước
Châu có trái vải (lệ chi), Tuyền Châu có gai đồng. Hỏi: Như thế nào là
2 chữ Phật pháp? Sư đáp tức liền nói. Vị Tăng nói: Thỉnh Sư nói:. Sư
nói: Xỏ tai Hồ Tăng cười gật đầu. Hòa thượng Chiếu ở Long Hoa đến.
Sư cầm chặt hỏi: Làm gì? Chiếu nói: Chớ lầm! Sư bèn buông tay. Chiếu
nói: Đã lâu nghe tiếng Thắng Quang. Sư làm thinh. Chiếu bàn từ giã.
Sư đưa ra cửa nói: Từ đây cáo biệt làm sao gặp nhau? Chiếu cười khá
khà mà đi.
2. Hòa thượng Phù Trạch ở Chương Châu.
Sư lên Pháp Đường nói: Sơn Tăng mở tiệm bói toán, bay đoán
người giàu nghèo, xác định sự sống chết của người. Lúc đó có vị Tăng
bước ra hỏi: Lìa sinh tử giàu nghèo chẳng rơi vào 5 hành thỉnh Sư nói:
Ngay. Sư nói: Kim mộc thủy hỏa thổ.
3. Hòa thượng Tử Đồng.
Có vị Tăng hỏi thế nào là cảnh của tử đồng? Sư đáp: Trong mắt
ông dính cát được chăng? Đáp: Có cảnh tử đồng rất đẹp mà không
biết. Sư nói: Lão Tăng chẳng kỵ việc này. Vị Tăng ấy lui ra. Sư xuống
giường thiền cầm chặt nói: Hôm nay có công án tốt. Lão Tăng chưa
được phần văn vào tay. Thưa: Không may gặp con là Tăng. Sư nói: Lỗi
chẳng đi 1 mình (riêng lẽ).
4. Hòa thượng Nhật Dung.
Thượng Tọa Khoát đến tham lẽ, Sư tát (vỗ tay) 3 cái bảo: Cọp dữ
trước xe ai địch nổi. Khoát nói: Hạc giỏi bay lên trời ai bắt được. Sư nói:
Kia đây khó đương cự. Đáp lại nghỉ chưa dứt công án ấy. Sưbèn lấy gậy
múa mà về phương trượng. Khoát không đáp được. Sư nói: Chết đi lão
ấy cái lão chết tiệt ấy!

– Đệ tử nối pháp của Hòa thượng Thù Du ở Ngạc Châu.

1. Hòa thượng Thạch Thê.
Có vị Tăng mới đến đứng trước Sư 1 lát liền ra. Sư hỏi: Có việc gì
cần bàn (biện)? Vị Tăng lại đứng hồi lâu sư Sư nói: Bàn được vậy, bàn
được vậy. Vị Tăng hỏi: Bàn rồi làm gì? Sư nói: Chôn liền được. Tăng
nói trời xanh, trời xanh. Sư nói: Vừa đến liền thế, như nay lại chẳng
đương (gánh vác nỗi hay làm được). Tăng bèn lui ra.

– Đệ tử nối pháp của Thiên Long Hòa Thượng.

1. Hòa thượng Câu Chi ở núi Kim Hoa, Vụ Châu.
Trước Sư ở am. Có Ni tên Thật Tế đến am đội nón lá cầm tích
trượng đi nhiễu quanh Sư 3 vòng bảo: Nói được liền dỡ nón ra. 3 lần hỏi:
Sư đều không đáp được. Ni liền đi. Sư nói: Mặt trời sắp lặn ngủ lại 1
đêm. Ni bảo nói được thì ngủ. Sư lại không đáp được. Ni bỏ đi. Sau than
rằng: Ta tuy có hình đàn ông mà không có khí chất đàn ông. Bèn định
bỏ am mà đi các phương tìm hiểu. Đêm ấy thần núi bảo: Chẳng cần lìa
núi này, sẽ có Đại Bồ tát đến vì Hòa thượng nói pháp. Quả nhiên mười
ngày sau có Hòa thượng Thiên Long đến am. Sư bèn đón tiếp lễ bái kể
hết việc trước. Thiên Long dựng 1 ngón tay mà chỉ bày. Sư ngay đó mà
đại ngộ. Từ đó phàm có vị Tăng tham học đến. Sư chỉ đưa 1 ngón tay
mà không đề xướng gì khác. Có 1 cậu bé cậu bé ra ngoài bị người gạn
hỏi: Hòa thượng nói pháp yếu gì, cậu bé dựng 1 ngón tay trở về thuật
lại với Sư. Sư lấy dao chặt đầu ngón tay. Cậu bé kêu la chạy ra. Sư gọi
1 tiếng. Cậu bé quay đầu Sưbèn dựng 1 ngón tay. Cậu bé bỗng mà hiểu
rõ. Khi Sư sắp tịch, bảo chúng rằng: Ta được 1 ngón tay của ngài Thiên
Long Thiền 1 đời dùng không hết. Nói xong thì mất.

– Đệ tử nối pháp của Thiền sư Cảnh sầm ở Trường Sa trước

đây.
1. Thường Thông Thiền sư ở núi Tuyết Đậu, Minh Châu.
Sư người ở Hình Châu, họ Lý, vào Thước Sơn xuất gia. Năm 20
tuổi thọ giới ở chùa Khai Nguyên châu ấy, học tập kinh luật suốt 7
năm, bảo rằng: Ngài Ma Đằng vào Hán dịch làm văn này, Đạt Ma đến
Lương lại nói việc gì? Bèn ra đi xa xôi tham vấn ngài Hòa thượng sầm
ở Trường Sa. sầm hỏi: Người ở đâu? Sư đáp: Người ở Hình Châu, sầm
nói: Ta nói không từ nơi ấy đến. Hỏi: Hòa thượng đã từng ở đây chăng?
Sầm nói: Đúng. Bèn cho vào thất. Sau Sư đến Động Sơn Thạch sương
mà pháp không có vị khác. Cuối năm Đường Hàm thông, Sư đến Tuyên
Thành. Quận thú ở núi Tạ Tiên, họp bày Thiền Uyển, đặt hiệu là Đoan
Thánh Viện mời Sư về ở. Vị Tăng hỏi: Như thế nào là mật thất. Sư nói:
Không thông gió. Vị Tăng hỏi: Như thế nào là người trong mật thất. Sư
nói: Các Thánh cầu thấy chẳng thấy. Lại nói ngàn Phật chẳng thể nghĩ
vạn Thánh không thể bàn. Càn khôn hoại hay chẳng hoại, hư không bao
hay chẳng bao. Tất cả đều không có người sinh, 3 đời nói không dậy.
Hỏi như thế nào là chỗ xuất thân của 3 đời chư Phật? Sư đáp: Họ chẳng
biết có ông 3 đời. Hồi lâu lại nói: Tiến chăng? Chẳng phải thế thì chẳng
được làm Phật thể luôn thường còn (về thể thì luôn thường còn), biết hết
công thành liếc mắt mà dậy tức liền thương tổn người khác, huống là
nói năng! Trong năm Quang Khải giặc cướp nổi dậy. Sư dẫn chúng đến
Tứ Minh. Niên hiệu Đại Thuận thứ 2, Quận thú mời Sư về ở Tuyết Đậu,
việc hoằng hóa thịnh hành. Niên hiệu Ất Sửu Thiên Hữu 2, tháng 7 Sư
có bịnh, tập chúng thắp hương dặn dò xong thì chấp tay mà tịch, thọ 72
tuổi. Năm ấy ngày 07 tháng 08 xây tháp Đá ở góc Tây nam của viện.

– Đệ tử nối pháp của Thiền sư Đạo thường ở Quan Nam trước

đây.
1. Đạo ngô Hòa thượng ở Quan Nam, Tương Châu.
Trước sư về thôn quê nghe kẻ lên đồng là Lạc Thần nói thức thần
không có. Sư bỗng nhiên tỉnh ngộ. Sau Sư tham vấn Thiền sư Thường
bèn được ấn chứng chỗ hiểu. Sư dạo đến ngài Đức Sơn thì vị pháp vẫn
thế. Khi lên Pháp Đường dạy chúng Sư thường đội nói hoa sen, mặc áo
dài cầm thẻ, đánh trống thổi địch miệng xưng Lỗ Tam Lang. Có lúc nói:
Đánh động trống Quan Nam, xướng khúc ca Đức Sơn. Vị Tăng hỏi: Như
thế nào là ý Tổ Tây Trúc đến? Sư bèn cầm giản vái chào nói dạ. Sư có
lúc cầm kiếm gỗ đưa ngang mày mà múa. Vị Tăng hỏi: Kiếm trong tay
chỗ nào đến? Sư ném xuống đất. Vị tăng lại lấy đặt trong tay Sư. Sư
nói: Từ chỗ nào có được? Vị tăng không trả lời. Sư bảo: Cho ông trong
3 ngày phải nói 1 lời. Vị Tăng ấy cũng không đáp được Sư tự đáp thay
cầm kiếm đưa ngang mày múa bảo rằng như thế mới được. Hỏi như thế
nào là gia phong của Hòa thượng? Sư xuống giường thiền giả làm cô
gái lạy nói rằng: Tạ ông ở xa đến đều không mong đợi. Sư hỏi: quán
khê thế nào (làm gì)? Quán Khê nói không ngôi vị. Sư hỏi: Chớ đồng
hư không chăng? Rồi nói gã đồ tể ấy. Sư nói: Có sống có thể giết chẳng
mệt mỏi.
Chương Châu mới đầu là sau cái đấm của Thiền sư Thường ở
Quan Nam mà ngộ ý chỉ. Bèn làm bài ca rằng:
Hàm Thông bảy năm mới tham Đạo
Đến chỗ gặp lời biết nói
Trong tâm khối Si như cái giỏ
Ba xuân chẳng ưa ở Lâm Tuyền
Bỗng gặp Pháp vương áo lông ngồi trên nệm
Thành khẩn bày nghi ra trước Sư
Sư đang kiết già mà đứng dậy
Áo ngắn ngay bụng đánh một thoi
Kinh hãi khối si chạy mất hết
Ngước đầu thấy rõ mặt nhựt tròn
Từ đây ngơ ngác cục đá trơ
Thẳng đến như nay luôn vui sướng.
Chỉ nghe trong bụng no binh bỉnh
Lại chẳng Đông Tây ôm bát đi.
Lại soạn 1 kệ rằng:
Trong nhà là khách nhàn
Trong người là Tăng hoang
Mặc người cứ cười ta
Tùy chỗ tự chạy nhảy.

– Đệ tử nối pháp của Thiền sư Đại Ngu ở Cao An trước đây.

1. Ni Liễu Nhiên ở Mạt Sơn Quân Châu.
Hòa thượng Nhàn ở Quán Khê khi du phương đến núi thì trước
bảo rằng: Nếu thích hợp thì ở, nếu không thế thì xô ngã giường Thiền.
Bèn đi vào trong Pháp Đường. Ni khiến thị giả hỏi: Thượng tọa dạo núi
đến hay vì Phật pháp mà đến? Nhàn đáp vì Phật pháp mà đến. Ni bèn
lên Pháp tòa, Nhàn lên tham vấn, Liều Nhiên hỏi: Thượng tọa hôm nay
lìa chỗ nào? Nhàn đáp: Lìa đường miệng. Nhiên hỏi sao không đậy lại?
Nhàn không đáp được. Mới lễ bái hỏi: Như thế nào là Mạt Sơn? Nhiên
đáp: Chẳng lộ đảnh. Nhàn hỏi: Như thế nào là chủ Mạt Sơn? Nhiên đáp:
Không phải tướng nam nữ. Nhàn bèn hét bảo rằng: Sao không biến đi?
Nhiên đáp: Không phải là thần, không phải là quỉ biến cái gì? Do đó
Nhàn khâm phục bèn làm người làm vườn ở đó 3 năm có vị Tăng đến
tham. Nhiên hỏi sao sông quá rách rưới bần thỉu thế? Vị Tăng đáp tuy
thế mà là Sư tử con. Nhiên hỏi đã là sư tử con sao lại bị Văn Thù cởi.
Tăng không đáp được. Vị Tăng hỏi: Như thế nào là tâm của Phật xưa?
Nhiên đáp: Thế giới nghiêng đổ. Vị Tăng hỏi: Thế giới vì sao nghiêng
đổ? Nhiên đáp: Thà không có thân ta.

Nguồn bản dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Internet Archive OCR)Giấy phép: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Việt dịch) · OCR Internet Archive · nguồn: archive.org · EN quarantined on 2026-07-06: previous bodyEn was short INTI-AI quote-widget noise, not a source English body. · EN: AI translation from Vietnamese source, awaiting source English🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch bằng AI do Inti biên soạn: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến