Cảnh Đức Truyền Đăng Lục quyển 10
Tên chữ Hán:景德傳燈錄
Lưu tiến độ đọc kinh
Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.
CẢNH ĐỨC TRUYỀN ĐĂNG LỤC - QUYỂN 10
QUYỂN 10
Thiền sư Hoài Nhượng sau đời thứ 3 có 61 vị.
– Đệ tử nối pháp Thiền sư Phổ Nguyên Nam Tuyền ở Trì Châu có
– Đệ tử nối pháp của Thiền sư Tề An ở Diêm Quan-Hàng Châu có
– Đệ tử nối pháp của Thiền sư Linh Mặc ở núi Ngũ Tiết-vụ Châu
– Đệ tử nối pháp của Thiền sư Như mãn ở chùa Phật Quang-Lạc
Kinh có 1 vị: 1. Thứ sử Bạch Cư Dị ở Hàng Châu (1 người thấy có ghi
lục)
– Đệ tử nối pháp của Thiền sư Pháp Thường ở núi Đại Mai-Minh
– Đệ tử nối pháp Thiền sư Linh Thoan ở chùa Vĩnh Thái-Kinh
– Đệ tử nối pháp của Thiền sư Bảo Tích ở Bàn Sơn-U Châu có 2
– Đệ tử nối pháp của Thiền sư Duy Khoan ở Chùa Hưng Thiện-
– Đệ tử nối pháp của Thiền sư Tịnh Tông ở Vân Thủy (có 2 vị)
– Đệ tử nối pháp của Thiền Sư Viên Sướng ở núi Long Nha-Đàm
– Đệ tử nối pháp của Quốc sư Vô Nghiệp ở Phần Châu (có 2 vị)
1. Thường Trinh Thiền sư ở Trấn Châu
2. Thiền sư ở Trấn Châu Phụng Tiên nghĩa.
– Đệ tử nối pháp pháp ngài Lô Sơn Qui Tông Thiền sư ở (Trí
Thường có 6 vị)
1. Thiền sư Linh Huấn ở núi Phù Dụng Phước Châu,
2. Hòa thượng Cao Đình ở huyện Cốc Thành Hán Nam
3. Hòa thượng Đại Mao người nước Tân La
4. Thiền sư Trí Thông ở Ngũ Đài (4 vị này có ghi lục)
5. Thiền sư Đại Ngu ở Cao An Hồng Châu
6. Giang Châu Thứ sử Lý Bột (2 người này không có Ngữ lục).
– Đệ tử nối pháp của Thiền sư Bảo Vân ở Lỗ Tổ (có 1 vị)
1. Hòa thượng Vân Thủy.
– Đệ tử nối pháp pháp ngài Đạo Thông Thiền sư ở núi Tử Ngọc
– Đệ tử nối pháp của Thiền sư Trí Tạng ở chùa Hoa Nghiêm (có
1 vị)
1. Hòa thượng Tề An ở Huỳnh Châu (1 vị này thấy có ghi lục)
- Thiền SƯ Hoài Nhượng ở - Đời thứ 3.
- Đệ tử nôi pháp của Thiền sư Phổ Nguyện Nam Tuyền ở Trì
Châu.
1. Cảnh Sầm hiệu Đại sư Chiêu Hiền ở Trường Sa Hồ Nam.
Bắt đầu ở Lộc Uyển là đời thứ nhất. Sau đó ở chỗ không nhất
định. Sư chỉ theo duyên tiếp vật, tùy xin mà nói pháp. Nên mọi người
lúc ấy gọi là Hòa thượng Trường Sa. Sư lên Pháp Đường nói: Nếu Tôi
1 bề mở mang Tông giáo thì Trong Pháp Đường cỏ cao một trượng,
việc ta chẳng được, do đó mà tôi nói với các ông rằng: Tất cả thế giới
mười phương đều là mắt Sa môn, tất cả thế giới mười phương đều là
toàn thân Sa môn, hết cả thế giới mười phương đều là ánh sáng của
mình, tất cả thế giới mười phương đều ở trong ánh sáng của mình, tất
cả thế giới mười phương không 1 ai chẳng phải là mình. Tôi nói với các
ông rằng: 3 đời chư Phật cùng hết cả pháp giới chúng sinh là ánh sáng
Ma-ha Bát Nhã. Khi ánh sáng chưa phát ra thì các ông hướng vào đâu
mà phó thác, khi ánh sáng chưa phát thì còn không có tin tức của Phật
của chúng sinh, chỗ nào mà được núi sông cõi nước đến. Lúc đó Có vị
Tăng hỏi rằng: Thế nào là mắt Sa môn? Sư nói dài dài ra mãi chẳng
được. Lại nói thành Phật thành Tổ ra chẳng được, 6 đường luân hồi ra
chẳng được. Vị Tăng nói: Chẳng hay ra cái gì chẳng được. Sư nói: Ngày
thấy mặt trời đêm thấy sao. Vị Tăng nói: Đệ tử chẳng hiểu. Sư nói: Núi
diệu cao màu xanh càng xanh. Vị Tăng hỏi: Trong giáo nói: mà thường
ở tòa Bồ đề này, thế nào là tòa. Sư nói Lão Tăng đang ngồi ở vị Đại
Đức. Có vị Tăng hỏi thế nào là Đại Đạo? Sư nói suốt đời mất ông. Vị
Tăng hỏi chư Phật là ai. Sư nói từ vô thỉ kiếp đến nay nhờ ai che mát.
Vị Tăng hỏi khi chưa có chư Phật về trước thì Sư làm gì? Sư nói: Lỗ tổ
mở Pháp Đường cùng Sư Tăng nói Đông nói Tây. Vị Tăng nói: Đệ tử
chẳng dựa vào đất đai thời giờ thì thế nào? Sư nói: Ông hướng vào đâu
ma an thân lập mạng. Vị Tăng hỏi tức dựa vào đất đai và thời gian thì
ra sao? Sư nói: Hãy ra khỏi cái thấy chết. Vị Tăng hỏi: Thế nào là dị
loại Sư nói: Thước ngắn mà tấc dài. Vị Tăng hỏi: Thế nào là thầy chư
Phật Sư nói chẳng thể trải qua bẻ thẳng mà làm cong chăng? Vị Tăng
nói xin Hòa thượng hướng thượng mà nói Sư nói: Xà Lê mắt mù tai điếc
là sao? Sư sai lvị Tăng đi hỏi người đồng tham là Hòa thượng hội.rằng:
Hòa thượng thấy Nam Tuyền sau này Thế nào? Hội im lặng hồi lâu. Vị
Tăng hỏi: Khi chưa thấy Nam Tuyền về trước thì Hòa thượng thế nào?
Hội nói: Chẳng thể có ghi khác nữa. Vị Tăng trở về nói lại cho Sư. nghe
Sư bèn nói 1 kệ rằng:
Người đầu rào trăm trượng chẳng động
Tuy vào được cũng chưa là chân
Đầu sào trăm trượng phải tiến bước
Thế giới mười phương là toàn thân.
Vị Tăng hỏi: Như dầu sào trăm Trượng làm sao tiến bước. Sư nói:
Núi Lãng Châu, nước lễ Châu. Vị Tăng nói: Xin sư nói. Sư nói: Rộng
hoằng hóa trong 4 biển 5 hồ.
Có khách đến gặp Sư gọi lớn “Thượng thư”! Người ấy dạ! Sư nói
chẳng phải là bổn mạng Thượng thư. Người ấy đáp: Chẳng thể lìa mà
lại ngay bây giờ chỉ đối riêng có chủ nhân thứ 2. Sư nói: Gọi Thượng
thư làm chí tôn được chăng? Người ấy đáp đó chẳng chỉ đối thời chẳng
phải là đệ tử và chủ nhân chăng? Sư nói không phải chỉ đối hay chẳng
đối, từ vô thỉ kiếp đến nay là cội gốc sinh tử. Có kệ rằng:
Người học Đạo mà chẳng biết chân
Chỉ vì từ xưa nhận thức thần
Vô thỉ kiếp nay gốc sinh tử
Người si gọi là thân xưa nay.
Có Tú tài xem kinh Phật Danh hỏi rằng: Trăm ngàn chư Phật chỉ
thấy danh hiệu của các ngài chẳng hay ở cõi nước nào có còn hóa vật
hay không? Sư nói: Lầu Hoàng Hạc Thôi Hiệu đề, sau Tú tài có từng
đề chưa? Đáp: Không hề. Sư nói: Được nhàn tản đề 1 bài có ngại gì?
Vị Tăng hỏi: Nam Tuyền thiên hóa đi đến nơi nào? Sư đáp nhà Đông
làm lừa, nhà Tây làm ngựa. Vị Tăng hỏi: Ý này Thế nào? Sư đáp muốn
cỡi thì cỡi muốn xuống thì xuống. Vị Tăng Hạo Nguyệt hỏi: Thiện tri
thức trong thiên hạ chứng được 3 đức Niết-bàn chưa? Sư hỏi Đại Đức
hỏi Niết-bàn trong quả hay Niết-bàn trong nhân? Đáp hỏi Niết-bàn
trong quả. Sư nói: Thiên hạ Thiện tri thức chưa chứng. Hỏi: Vì sao chưa
chứng? Sư đáp vì công chưa bằng với các Thánh. Hỏi: Công chưa bằng
các Thánh sao gọi là Thiện tri thức. Sư nói thấy sáng Phật tánh cũng
được gọi là Thiện tri thức. Hỏi chẳng hay công bằng với Đạo nào thì gọi
là chứng Đại Niết-bàn. Sư có bài kệ rằng:
Ma-ha Bát Nhã chiếu
Pháp giải thoát sâu xa
Pháp thân thể vắng lặng
Bo một Lý viên thường
Muốn biết chỗ công bằng
Đây gọi Thường tịch quang.
Lại hỏi: Quả của 3 đức Niết-bàn đã được chỉ bày, vậy thế nào là
Niết-bàn trong nhân? Sư nói: Chính là. Đại Đức Lại hỏi: Trong giáo
huyễn ý là có chăng? Sư hỏi: Đại Đức nói gì? Hỏi: Huyễn ý đó có hay
không có? Sư đáp: Đại Đức nói gì? Hỏi: Như thế thì huyễn ý là không
có cũng không không chăng? Sư nói: Đại đức là nói gì? Hỏi: Như con
trình bày ba lần đều không khế hội huyễn ý, chân hay Hòa thượng nói
thế nào về huyễn ý trong giáo. Sư hỏi Đại Đức có tin là tất cả pháp,
chẳng thể nghĩ bàn chăng? Đáp: Thật lời Phật nói đâu dám chẳng tin.
Sư hỏi: Đại Đức nói tin, vậy trong 2 tin thì là tin nào? Đáp: Con nói trong
2 tin gọi lấy duyên tin. Sư nói: Y vào giáo môn nào được sinh duyên tin.
Đại Đức nói: Y cứ vào Hoa Nghiêm nói Bồ tát Ma-ha Tát lấy trí tuệ vô
chướng vô ngại mà tin tất cả cảnh giới thế gian là cảnh giới Như Lai.
Lại Hoa Nghiêm nói: Chư Phật Thế Tôn đều biết pháp thế gian và pháp
tánh chư Phật không khác nhau, quyết định chẳng 2. Lai Hoa Nghiêm
nói: Phật pháp và pháp thế gian thây chân thật tất cả không khác nhau.
Sư nói: Đại Đức nêu duyên tin giáo môn rất có chỗ đến, nghe Lão Tăng
cùng Đại Đức nói ý huyễn trong giáo. Nếu người thấy huyễn xưa nay
vốn là chân, đó gọi là người thấy Phật. Viên thông pháp pháp không
sinh diệt, không diệt không sinh là thân Phật. Lại hỏi: Con giun đứt
làm 2 đoạn, 2 đoạn đều bò đi là Phật tánh ở (đoạn) nào. Sư nói động
và chẳng động là cảnh giới nào vị Tăng bảo: Nói chẳng có sách vở,
chẳng phải lời người trí nói. Chỉ như Hòa thượng nói động thì xuất phát
từ kinh nào? Sư nói rõ ràng lời nói không liên quan đến sách vở, chẳng
phải người trí nói, pháp há chẳng thấy kinh Thủ lăng Nghiêm nói: Phải
biết mười phương vô biên bất động hư không cùng với chỗ động của đất
nước lửa gió gọi là 6 đại, tánh thật viên dung đều là Như Lai tạng vốn
không sinh diệt. Sư có kệ rằng:
Rất sâu xa lại rất sâu xa,
Thân người pháp giới chính là tâm.
Mê thì mê tâm vì các sắc,
Khi ngộ cánh giới là chân tâm
Thân giới hai trần không thật tướng,
Rỗ ràng hiểu đây gọi tri âm.
Lại hỏi: Thế nào là Đà la ni? Sư chỉ bên phải giường thiền bảo:
Cái này Sư Tăng tụng được: Lại hỏi có riêng người tụng được chăng?
Lại chỉ bên trai giường thiền bảo: Cái này Sư Tăng cũng tụng được. Hỏi:
Vì sao tôi chẳng nghe. Sư nói: Đại Đức há chẳng nghe nói. Chân tụng
thì không có tiếng vang, chân nghe thì không nghe thấy gì. Vị Tăng nói:
Đó thì tiếng chẳng vào tánh pháp giới. Sư nói lìa sắc mà cầu xem không
phải chánh kiến, lìa tiếng mà cầu nghe ấy là nghe tà. Hỏi: Vì sao không
lìa sắc là chánh kiến, không lìa tiếng là chân nghe? Sư bèn nói kệ:
Đầy mắt không phải sắc
Đầy tai không phải tiếng
Văn Thù thường thấy hết
Quán Ầm bít lẽ tai
Đủ ba nguồn một một thể
Thấu bốn gốc đồng chân
Đầy nhà pháp giới tánh
Không Phật cũng không người.
Vị Tăng hỏi: Nam Tuyền nói: Con cáo con bò đực lại biết có, chư
Phật 3 đời không biết có. Vì sao chư Phật 3 đời chẳng biết có? Sư nói:
Cũng như ông khi chưa vào lộc uyển. Vị Tăng nói: Con cáo con bò đực
vì sao biết có. Sư nói: Ông sao lạ gì chúng. Vị Tăng hỏi: Hòa thượng kế
thừa người nào? Sư nói: Ta không có người có thể kế thừa. Vị Tăng hỏi:
Lại có tham học hay không? Sư nói ta tự tham học lấy. Vị Tăng hỏi ý sư
thế nào? Sư có kệ rằng:
Hư không hỏi muôn tượng
Muôn tượng đáp hư không
Người nào thân được nghe
Mộc Xoa tóc trái đào
Vị Tăng hỏi: Thế nào là tâm bình thường? Sư nói: Muốn ngủ thì
ngủ muôn ngồi thì ngồi. Vị Tăng nói: Đệ tử không hiểu. Sư nói: Nóng
thì chọn mát lạnh thì hơ lửa. Vị Tăng hỏi một đường hướng thượng xin
Sư nói. Sư nói: 1 lỗ kim sợi chỉ 3 thước. Vị Tăng hỏi phải hiểu thế nào?
Sư nói: ích Châu có vải, Dương Châu có lụa. Vị Tăng hỏi: Động là
giông Pháp vương Tịch là cội rễ Pháp vương, thế nào là Pháp vương?
Sư chỉ cây cột bảo: Sao không hỏi Đại sĩ. Nhân trước sân ngó mặt trời,
Ngường Sơn nói: Mọi ngườiđều có việc ấy, chỉ là dùng không được.
Sư nói: Xin ông dụng. Ngường Sơn hỏi làm sao dụng? Sư bèn đạp té
Ngường Sơn. Ngường Sơn nói: Ngay đây giống con sâu lớn ấy. Từ đó
các nơi đều gọi Sư là sầm Đại Trùng vị Tăng hỏi: Người xưa nay có
thanh Phật không? Sư nói: Ông có thấy vua nước Đại Đường tự làm
ruộng cắt lúa chăng? Vị Tăng nói: Chẳng hay vị nào thành Phật. Sư nói
là ông thành Phật. Vị Tăng không đáp. Sư hỏi: Hiểu chăng? Vị Tăng
nói không hiểu. Sư nói: Như người do đất mà té thì từ đất mà ngồi dậy,
đất nói gì Tam Thánh khiến Thượng Tọa Tú hỏi rằng: Nam Tuyền thiên
hóa đi về đâu? Sư đáp: Thạch Đầu còn làm Sa di tham kiến Lục tổ Tú
nói: Không hỏi Thạch Đầu gặp Lục Tổ mà hỏi Nam Tuyền khi thiên
hóa đi về đâu? Sư nói: Giáo ấy tìm hiểu đi. Tú nói: Hòa thượng tuy có
thông lạnh ngàn thước, lại không mọc lên tre đá Sư làm thinh. Tú nói:
Tạ ơn Hòa Thượng đáp lời! Sư cũng làm thinh Thượng tọa Tú kể lại với
Tam Thánh. Tam Thánh nói: Nếu thật thế thì cũng hơn Lâm Tế 7 bước,
song phải đợi ta thử nghiệm xem. Đến sáng hôm sau thì Tam Thánh lên
hỏi: Vừa nghe Hòa thượng đêm qua đáp 1 lời về Nam Tuyền thiên hóa
có thể nói là sáng rực cả từ trước đến nay xưa nay hiếm thấy. Sư cũng
làm thinh. Vị Tăng hỏi thế nào là Văn Thù. Sư nói là vách tường ngói
gạch là đó. Lại hỏi thế nào là Quán Âm. Sư nói tiếng tăm nói năng là
đó. Lại hỏi thế nào là Phổ Hiền. Sư nói tâm chúng sinh là đó. Lại hỏi
Thế nào là Phật? Sư nói sắc thân chúng sinh là đó. Vị Tăng nói hà sa
chư Phật, thể đều đồng đâu có các thứ danh tự (tên gọi ). Sư nói: Từ phải
ngược về nguồn gọi là Văn Thù, từ tai ngược về nguồn gọi là Quán Âm,
từ tâm ngược về nguồn gọi là Phổ Hiền. Văn Thù là t trí của Phật. Diệu
quán sat Quán Âm là Vô Duyên Đại từ của Phật, Phổ Hiền là Diệu hạnh
vô vi của Phật. Tam Thánh là Diệu dụng của Phật, Phật là chân thể của
Tam Thánh. Dụng thì có hà sa giả danh. Thể thì tên chung là 1 Bạc Già
Phạm. Vị Tăng hỏi: sắc tức là không, không tức là sắc, lý này thế nào?
Sư nói kệ rằng:
Chỗ ngại chẳng vách tường
Chỗ thông chẳng hư không
Nếu người hiểu như Thế
Tâm sắc xưa nay đồng.
Lại nói kệ rằng:
Phật tánh rõ ràng bày hiện
Trụ tánh hữu tình khó thấy
Nếu ngộ chúng sinh Vô ngã
Mặt mình nào khác mặt Phật.
Vị Tăng hỏi: Thức thứ 6, thứ 7 và thức thứ 8 rốt ráo không thể
vì sao có thể gọi là chuyển thức thứ 8 là trí Đại viên cảnh? Sư có kệ
rằng:
Bảy sinh nương một diệt
Một Diệt giữ bảy sinh
BỘ SỬ TRUYỆN 9
Một Diệt diệt cũng diệt
Sáu bảy mãi không dời.
Lại có vị Tăng hỏi: Con giun đứt làm 2 đoạn, 2 đoạn đều bò đi,
chẳng hay Phật tánh ở đoạn nào? Sư nói vọng tưởng làm gì. Vị Tăng
hỏi: Sao nó cử động được. Sư nói: Ông há chẳng biết gió lửa chưa tan.
Vị Tăng hỏi Thế nào mà chuyển được núi sông cõi nước về mình? Sư
hỏi làm sao chuyển được mình thành núi sông cõi nước? Vị Tăng nói:
Không hiểu. Sư nói: Dưới thành Hồ Nam nuôi tốt dân, lúa rẻ củi nhiều
no đủ bốn xóm. Vị Tăng ấy không đáp được. Sư có kệ rằng:
Ai hỏi núi sông chuyển
Núi sông chuyển vì ai
Viên thông chẳng hai bờ
Pháp tánh vốn không về.
Có Đại Đức giảng Hoa Nghiêm hỏi: Hư không nhất định có hay
nhất định không? Sư nói: Nói có cũng được mà nói không cũng được. Khi
hư không có thì chỉ giả có, còn khi hư không là không thì chỉ giả không.
Hỏi như chỗ đều Hòa thượng nói thì có giáo văn nào làm chứng. Sư nói:
Đại Đức há chẳng nghe kinh Thủ lăng Nghiêm có nói: Hư không Mười
phương sinh trong tâm ông cũng như mảng mây bay trong hư không, há
chẳng phải khi hư không sinh thì chỉ sinh giả danh Lại nói: Ông 1 người
phát chân về nguồn thì hư không mười phương đều tiêu mất, há chẳng
phải là hư không khi diệt thì chỉ diệt giả danh Do đó Lão Tăng nói có là
giả có, không là giả không. Lại hỏi kinh nói như trong Tịnh lưu ly hiện
ra tượng vàng ròng ý này ra sao? Sư nói: Vì Tịnh lưu ly là thể pháp giới,
vì tượng vàng vòng là thể trí vô lậu. Thể hay sinh ra trí, trí hay đạt hay.
Cho nên nói như trong tịnh lưu ly hiện ra tượng vàng ròng. Hỏi: Như thế
nào là hành xứ của người Thượng thượng? Sư nói: Như mắt người chết.
Hỏi: Khi người Thượng thượng gặp nhau thì như thế nào? Sứ nói như tay
vị chết. Hỏi vì sao Thiện Tài trải vô lượng kiếp đến các thế giới trong
thân Phổ Hiền mà không khắp? Sư hỏi: Ông từ vô lượng kiếp đến nay
có đi được khắp chăng? Hỏi: Thế nào là thân Phổ Hiền? Sư đáp: Trong
điện Hàm Nguyên lại tìm Trường An. Hỏi Thế nào là tâm của Đệ tử?
Sư nói: Khắp hết thế giớ mười phương là tâm ông. Hỏi: Thế thì đệ tử
không có chỗ để thân? Sư nói: Là chỗ ông để thân đấy. Hỏi chỗ nào để
thân? Sư nói: Biển lớn nước sâu lại càng sâu. Vị Tăng nói: Đệ tử chẳng
hiểu. Sư nói: Rồng cá ra vào mặc sức lên xuống. Hỏi: Có người hỏi Hòa
thượng liền tùy nhân duyên mà đáp, đều không có ai hỏi Hòa thượng
Thế nào? Sư đáp: Mệt thì ngủ, khỏe thì dậy. Hỏi: Dạy đệ tử hướng vào
chỗ nào mà hiểu, Sư nói: Hạ nóng thì cởi trần, Đông lạnh thì đắp mền.
Hỏi: vị Tăng mất rồi đi về đâu? Sư có kệ rằng:
Chẳng biết thể kim cang
Thì gọi là duyên sinh
Mười phương chân vắng lặng
Ai ở lại ai đi
Ngài Nam Tuyền có bài kệ chân tán rằng:
Rạng rỡ Nam Tuyền
Nguồn cội ba đời
Kim cang thường trú
Mười phương vô biên
Sinh Phật vô tận
Hiện xong lại về.
Nam Tuyền có bài kệ ở lâu hợp cơ rằng:
Ngày nay về quê vào đại môn
Nam Tuyền thân nói khắp trời đất
Pháp pháp rõ ràng đều ông cha
Quay đầu tủi thẹn với cháu con.
Sư đáp rằng:
Ngày nay đầu cơ việc chớ nói
Nam Tuyền chẳng nói khắp trời đất
về quê toàn là việc con cháu
Ông cha từ xưa chẳng vào cửa.
Sư lại có kệ khuyên học rằng:
Đầu vào vạn trượng chưa nghỉ ngơi
Rỗ ràng có nẻo í
Thiền sư ở muốn hiểu Nam Tuyền đi
Đầy phải núi xanh muôn thứ thu.
Nhân Hòa thượng Lâm Tế nói: Trên cục thịt đỏ có vị chân nhân
hay không, Sư có bài kệ rằng:
Muôn pháp nhất như một chẳng phân biệt
Như một ai chọn ai chẳng chọn
Tức nay sinh tử vốn Bồ đề
Như Lai ba đời đồng phải ấy.
Sư răng vị chặt phá thông trúc, kệ rằng:
Trúc ngàn Năm, tòng muôn Năm
Cành cành lá lá đều đồng nhau
Báo Khắp bốn phương kẻ huyền học
BỘ SỬ TRUYỆN 9
Động tay đâu cũng đều cha ông.
2. Ngài Kinh Nam Thiền sư Bạch Mã Đàm Chiếu ở thường nói
rằng: sống vui, sông vui, khi chết thì kêu khổ khổ lại bảo: Vua Diêm
La đến bắt ta. Viện Chủ hỏi: Hòa thượng lúc đó bị Tiết Độ sứ ném
xuống nước mà thần sắc không động, bây giờ sao lại sợ sệt Thế? Sư đưa
cái gối lên hỏi: Ông nói lúc đó là đúng hay ngày nay đúng? Viện Chủ
không đáp được.
3. Sư Tổ Thiền sư ở Vân Tế, núi Chung Nam.
Lúc đầu khi ở Nam Tuyền có hỏi: Châu ma ni vị chẳng biết, ở
trong Như Lai vị Tăng mà thu được, thế nào là vị Tăng? Nam Tuyền
nói: Cùng ông lui tới là vị Tăng. Sư hỏi: Không lui tới thì sao? Nam
Tuyền nói cũng là Tàng. Lại hỏi: Thế nào là châu? Nam Tuyền gọi lớp
“Sư Tổ”. Sư “dạ”!. Nam Tuyền nói: Đi đi, ông không hiểu lời ta. Sư từ
đó kính tin mà vào.
4. Thiền sư Nghĩa Đoan trụ Hạ Đường Hương Nghiêm, ở Đặng
Châu.
Sư dạy chúng rằng: Huynh đệ kia đây chưa dứt, có sự tướng gì
cần bàn bạc. Ta 5, 3 ngày nữa sẽ đi. Như nay người học cần phải dứt
hết lúc này, chớ ưa cái gì khác hơn là vị vô sự. Huynh đệ dẫu học được
các nghĩa lý khác nhau, nhưng không bao giờ thay được kiến giải của
mình, phải cố gắng hết sức mình mới được. Chớ ghi nhớ các chương cú
hay họ chỉ càng rắc rối. nếu Các ông muốn tương ưng chỉ cần cung kính
hết sức chớ dừng nghỉ mảy may, thẳng tựa hư không mới có chút phần,
vì hư không cột khóa, không vách ngăn, rơi vào chỗ không hình tướng
không có phải tâm.
– Có vị Tăng hỏi: Người xưa khi gặp nhau thì thế nào? Sư nói Lão
Tăng chẳng hề thấy người xưa nào khác. Vị Tăng hỏi ngày nay nhân
lúc còn sống mà ham muốn Thế Sứ nói có chỗ ham muốn nào đâu. Vị
Tăng hỏi con chẳng hỏi việc nhàn xin Hòa thượng đáp. Sư nói: Lại từ tạ
mà tìm cái gì? Vị Tăng nói không phải việc nhàn. Sư bảo: Ông dạy ta
nói. Sư lại nói: Huynh đệ, Phật là trần pháp cũng là trần, xuốt ngày tìm
cầu có lúc nào ngưng nghỉ. Chỉ trong lúc không có điều đeo tình, tình
không đeo vật không thiện để lấy, không ác để bỏ, chớ bảo bị cái khác
cột trói, mới là chỗ học.
– Có vị Tăng hỏi: Khi con từ giả 1 vị Túc người ấy có dạy con rằng
khi đi thì gần bạn bè nương Đạo phải, chẳng hay ý của Lão Túc ra sao?
Vừa lễ bái thì Sư nói: Lễ bái mặc tình chớ nhận tớ làm ông. Vị Tăng hỏi
Thế nào là cắt ngang nguồn cội? Sư bèn ném gậy vào phương trượng.
– Một hôm Sư bảo chúng rằng: Nói thì chê, im thì điên, im và nói
hướng thượng có nẻo ở đó. Lão Tăng miệng hẹp không nói cho ông nghe
được. Rồi xuống Pháp đường. Vị Tăng hỏi 1 câu Thế nào? Sư nói trong
đây 1 câu cũng không. Vị Tăng hỏi: Chánh nhân vì sao vô sự? Sư nói Ta
không hề dừng nghỉ. Lại nói nếu như có nhiều lớp thì lột cho sạch hết
chẳng dừng. Lúc quyền thì bày ra cũng là phương tiện tiếp người nếu như
là việc bên kia thì điều này không có.
5. Thiền sư Tùng Thâm ở viện Quán Âm, thuộc Triệu Châu.
Sư là người ở Hách Hương thuộc Tào Châu, họ Hách thuở nhỏ ở
viện Hộ Thông tại triệu châu theo thầy cạo tóc mặc áo Đạo nhưng chưa
thọ giới, bèn đến Trì Dương tham vấn Nam Tuyền. Gặp lúc Nam Tuyền
đang an nghỉ mà hỏi rằng: Vừa rồi chỗ nào? Sư nói: Vừa rời viện Thụy
Tượng. Hỏi: Còn thấy Thụy Tượng chăng? Sư nói không thấy Thụy
Tượng chỉ thấy Như Lai nằm.
Hỏi: Ông là Sa di có chủ hay không chủ? Đáp: Sa di có chủ? Hỏi:
Chủ ở đâu? Đáp: Tháng giữa Đông rét dữ chúc Hòa thượng tôn thể
muôn phúc. Nam Tuyền biết là pháp khí nên cho nhập thất. Một hôm
Sư hỏi Nam Tuyền: Thế nào là Đạo? Nam Tuyền nói: Tâm bình thường
là Đạo. Sư hỏi: Lại có thể đến được chăng? Nam Tuyền nói: Muôn
hướng đến liền trái. Sư hỏi: Khi không muôn hướng đến thì làm sao biết
là Đạo. Nam Tuyền nói Đạo không thuộc biết hay không biết, biết là
vọng giác, không biết là vô ký. Nếu là thật thấu suốt Đạo chẳng nghi
thì cũng như Thái hư rỗng rang trống không, đâu thể cưỡng là phải hay
không phải Sau lời nói thì Sư ngộ lý. Bèn đến Đàn lưu ly ở Tung Nhạc
mà thọ giới. Rồi trở về Nam Tuyền. Một hôm khác hỏi Nam Tuyền
rằng biết có người nào đến chỗ nào thì nghỉ dứt Nam Tuyền nói: Xuống
núi làm trâu đi! Sư nói: Tạ Đêm qua canh 3 trăng đến cửa sổ Sư châm
1 mồi lửa. Một hôm đóng cửa đốt sáng đầy nhà rồi kêu to: Cứu lửa, cứu
lửa. Lúc đó Đại chúng đều chạy đến. Sư nói nói được thì mở cửa. Chúng
đều không đáp được. Nam Tuyền đem chìa khóa đến cửa sổ trao cho Sư,
sư bèn mở cửa. Lại khi Sư đến Hoàng bá. Hoàng bá thấy đến thì liền
đóng cửa phương trượng lại. Sư bèn cầm lửa vào trong Pháp đường kêu
lớn cứu lửa, cứu lửa. Hoàng bá mở cửa nắm Sư lại bảo nói, nói! Sư nói:
Giặc qua rồi mới giương cung bắn! Sư lại đến Bảo Thọ. Bảo Thọ thầy
sư đến bèn ở trên giường thiền ngồi xoây mặt vào vách. Sư trải tọa cụ
lễ bái. Bảo Thọ xuống giường Thiền sư ở bèn lui ra. Sư lại đến Diêm
Quan bảo: Xem tên. Diêm Quan nói: Qua rồi. Sư nói trúng! Sư lại đến
Giáp Sơn chống gậy vào Pháp Đường. Giáp Sơn hỏi làm gì? Đáp: Dò
BỘ SỬ TRUYỆN 9
nước. Giáp Sơn nói 1 giọt cũng không, tham cái gì? Sư bèn chống gậy
lui ra. Sư đến núi Ngũ Đài, có 1 Đại Đức làm kệ giữ Sư lại:
Núi xanh chỗ nào chẳng Đạo Tràng
Đâu cần xách gậy lễ Thanh Lương
Trong mây dẫu có lông vàng hiện
Chánh nhãn lúc xem chẳng tốt lành.
Sư hỏi: Thế nào là Chánh nhãn. Đại Đức không đáp được. Sư từ
đó hoằng hóa ở đất Bắc. Chúng xin Sư đến ở Quán Âm Triệu châu.
Sư lên Pháp đường dạy chúng rằng: Như hạt ngọc ở trong tay, Hồ đến
hiện Hồ, Hán đến hiện Hán. Lão Tăng cầm 1 cọng cỏ làm thân vàng
trượng sáu, lấy thân vàng trượng sáu làm (cọng) cỏ. Phật là phiền não,
phiền não là Phật vị Tăng hỏi: Chẳng hay Phật là phiền não của ai Sư
nói phiền não của tất cả mọi người. Vị Tăng hỏi làm sao khỏi được? Sư
hỏi muốn phải làm sao? Sư quét đất. Có người hỏi rằng: Hòa thượng là
Thiện tri thức vì sao có trần? Sư đáp bên ngoài đến vị Tăng lại hỏi thanh
tịnh già làm vì sao có trần? Sư đáp lại một chút.
Lại có vị cùng Sư dạo trong vườn thấy con thỏ sợ hãi bỏ chạy bèn
hỏi: Hòa thượng là Đại Thiện tri thức vì sao thỏ thấy sợ? Sư nói vì Lão
Tăng ưa giết vị Tăng hỏi khi hoa giác chưa nở thì làm sao phân biệt
trinh thật. Sư nói: Mở ra. Vị Tăng hỏi là trinh hay' thật? Sư nói: Trinh
là thật, thật là trinh. Vị Tăng hỏi vị nào có phần thượng sự. Sư đáp: Lão
Tăng có phần Xà lê có phần. Vị Tăng hỏi: Con chẳng nhận thì làm sao?
Sư giả bộ không nghe. Vị Tăng không đáp được. Sư bảo đi đi. Viện của
Sư có cây cột đá bị gió thổi gãy. Vị Tăng hỏi cột Đà la ni đi làm phàm
hay đi làm Thánh Sư đáp cũng chẳng làm phám cũng chẳng làm Thánh.
Vị Tăng hỏi cuối cùng làm gì? Sư nói rơi xuống đất. Sư hỏi 1 tọa chủ:
Giảng kinh gì? Đáp: Giảng kinh Niết-bàn. Sư nói: Hỏi 1 đoạn nghĩa
được chăng? Đáp: Được. Sư lấy chân đạp vào hư không, thổi 1 hơi hỏi:
Là nghĩa gì Tọa chủ nói trong kinh không có nghĩa này. Sư nói là nghĩa
500 lực sĩ bày đá mà nói không có. Đại chúng buổi tối tham vấn, Sư nói
rằng: Đêm nay đáp lởi đi. Có ai hiểu câu hỏi thì ra. Lúc đó có 1 vị Tăng
ra lễ bái. Sư nói: Đây như so với ném gạch mà dẫn đến ngọc rồi dẫn đến
được cái đục. Có vị Tăng đến núi Ngũ Đài hỏi 1 bà lão rằng đường nào
ra Ngũ đài Bà lão đáp: Cứ đi thẳng. Vị Tăng liền đi. Bà lão nói lại cứ
thế mà đi Vị Tăng bèn kể lại sự việc với Sư. Sư nói đợi ta khám phá bà
lão. Sáng hôm sau Sư liền đến hỏi: Đường lên núi Ngũ Đài đi ngã nào?
Bà lão nói cứ đi thẳng liền đi. Lão bà nói lại cứ thế mà đi. Sư trở về
viện bảo vị Tăng rằng: Ta vì ông khám phá bà lão ấy rồi. Vị Tăng hỏi
vị nào lại đây Sư còn tiếp chăng? Sư nói tiếp. Vị Tăng hỏi: Không đến
đây thì sư vẫn tiếp chăng? Sư nói: Tiếp Vị tăng nói: Người ấy đến đây
thì sư tiếp không đến đây thì làm sao tiếp? Sư nói: Ngừng lại đi không
cần nói nữa, pháp ta mầu nhiệm khó lường. Sư ra viện giữa đường gặp
bà lão hỏi Hòa thượng ở đâu? Sư nói ở phía Tây viện đông tại Triệu
Châu. Bà lão không nói. Sư trở về viện hỏi chúng vị Tăng, thì chúng vị
Tăng cùng bảo cái đó là chữ Tây, hoặc nói chữ Đông tây, hoặc nói chữ
ở trọ Sư nói: Các ông đều làm phán quan Diêm Thiết được. Vị Tăng hỏi
Hòa vì sao thượng nói thế. Sư nói vì các ông đều biết chữ. Vị Tăng hỏi:
Thế nào là báu trong đảy Sư nói ngậm miệng lại. Có vị Tăng mới đến
bảo Sư rằng: Con từ Trường An đến vác ngang 1 cây gậy không vướng
vào 1 ai. Sư nói: Là do Đại Đức vác gậy ngắn. Vị Tăng không đáp được.
Có vị Tăng vẽ được hình Sư đem trình Sư, Sư nói: ông nói giống ta hay
chẳng giống ta, nếu giống ta thì là đánh giết Lão Tăng, còn không giống
ta thì đốt hình đi. Vị Tăng không đáp được. Sư đưa cao ngọn lửa hỏi vị
Tăng rằng: Lão Tăng gọi là lửa, ông gọi là gì? Vị Tăng không đáp được.
Sư nói: Chẳng biết huyền chỉ nhọc công niệm tịnh. Có vị Tăng mới đến
tham vấn. Sư hỏi: Từ đâu đến? Vị Tăng nói từ phương Nam đến. Sư
hỏi Phật pháp đều ở phương Nam ông đến trong ấy làm gì? Vị Tăng
hỏi: Phật pháp há có phương Bắc chăng? Sư nói: Ông từ Vân Cư Tuyết
Phong ở đến chỉ là gã gánh ván ấy. Vị Tăng hỏi: Thế nào là Phật? Sư
nói: Trong điện đó. Vị Tăng hỏi: Trong điện kia há không phải là cái
tựơng nắn khám đất? Sư nói đúng. Vị Tăng hỏi thế nào là Phật? Sư nói
trong điện đó. Vị Tăng nói: đệ tử mê muội xin Sư chỉ bày. Sư đáp ăn
cháo chưa. Vị Tăng nói ăn cháo rồi. Sư nói rửa bát đi. Vị Tăng ấy bỗng
nhiên tỉnh ngộ.
Sư lên Pháp Đường nói vừa có phải quấy thì lăng xăng mất tâm.
Lại có lời đáp không! Sau Có vị Tăng trình rằng bến lạc bến lạc gõ
răng. Lại nêu bày với Vân Cư. Vân Cư nói: cần gì vị Tăng trở về nói
lại với Sư. Sư nói phương Nam có người tan thân mất mạng. Vị Tăng
nói: xin Hòa thượng nêu. Sư vừa nêu lời nói trước. Vị Tăng chỉ vị Tăng
bên nói: Sư Tăng đó ăn cơm xong nói lời ấy. Sư bèn thôi. Vị Tăng hỏi:
Từ lâu nghe tiếng cầu đá Triệu Châu, đến nơi chỉ thấy cướp bóc. Sư nói:
Ông chỉ thấy cướp bóc mà không thấy cầu Triệu Châu. Vị Tăng hỏi:
Thế nào là cầu Triệu Châu? Sư nói: Đến đây! Lại có vị Tăng hỏi giống
như trước sư cũng trả lời như trước. Vị Tăng hỏi: Thế nào là cầu Triệu
Châu? Sưnói độ lừa độ ngựa. Vị Tăng hỏi: Thế nào là cướp bóc? Sư đáp
ai cũng độ người. Sư nghe Sa di hét mà tham vấn, bèn bảo thị giả rằng:
BỘ SỬ TRUYỆN 9
Bảo nó đi. Thị giả bảo đi. Sa di liền cẩn thận mà đi. Sư nói Sa di được
vào cửa Thị giả ở ngoài cửa.
– Sư hỏi vị Tăng mới đến: ở đâu đến? Vị Tăng nói từ Nam đến.
Sư hỏi lại biết có cửa ải Triệu Châu chăng? Vị Tăng nói: Biết có chẳng
quan hệ gì Sư nói: Cái lão bán muôi ấy. Vị Tăng hỏi: Thế nào là ý từ
Tây Trúc đến? Sư xuống giường thiền đứng. Vị Tăng hỏi: Phải chẳng là
cái ấy? Sư nói Lão Tăng chưa có lời ấy. Sư hỏi đầu bếp: Hôm nay kêu
rau sống hay rau chín. Đầu bếp đem rau ra trình. Sư nói vị biết ân thì
ít kẻ phụ ân thì nhiều. Vị Tăng hỏi: Trong kiếp không còn có người tu
hành chăng Sư hỏi: Ông gọi cái gì là kiếp không? Vị Tăng không đáp.
Vị Tăng hỏi: Thế nào là huyền trong huyền? Sư nói: Ông từ huyền đến
bao lâu? Vị Tăng nói: Huyền đã lâu rồi. Sư nói: Nếu Xà lê không gặp
Lão Tăng bao lâu sẽ bị huyền giết. Vị Tăng hỏi: Muôn pháp về 1, 1 về
đâu? Sư nói: Lão Tăng ở tại Thanh Châu làm được 1 sắp vải màu nặng
7 cân. Vị Tăng hỏi: Đêm rời Đâu suất ngày xuống Diêm phù. Ớ trong
đó vì sao ma ni chẳng hiện. Sư hỏi: Nói cái gì. Vị Tăng ấy lại hỏi. Sư
nói: Phật Tỳ-bà-thi sớm lưu tâm, thẳng đến như nay chẳng được diệu.
Sư hỏi viện chủ: Từđâuđến?Đáp rằng: Đến đây sông. Sư nói: Con quạ
về sao bay đi? Viện chủ nói: Vì sợ con. Sư nói: Ông 10 Năm biết việc
chỉ (nói) lời ấy. Viện chủ liền hỏi: Vì sao Quạ bay đi? Sư nói: Viện chủ
không có tâm giết. Sư đưa bát lên nói: 30 Năm sau nếu thấy Lão Tăng
thì giữ lấy mà cúng dường, nếu chẳng thấy thì đập vỡ đi. Một vị Tăng
ra hỏi 30 Năm sau dám nói thấy được Hòa thượng. Sư bèn đập vỡ bát.
Có vị Tăng từ giả, Sư hỏi: Đi đâu? Vị Tăng nói: Đi Tuyết Phong. Sư
nói: Nếu Tuyết Phong bỗng hỏi ông. rằng: Hòa thượng có lời nói gì. thì:
Ông làm sao đáp? Vị Tăng đáp: Con nói không được, xin Hòa thượng
nói. Sư nói: Đông thì nói lạnh, Hạ thì nói nóng. Lại nói: Tuyết Phong lại
hỏi ông việc rốt ráo thế nào? Vị Tăng ấy lại nói: Con nói không được.
Sư bảo: Chỉ nói đích thân từ Triệu Châu đến không nói lời người khác
truyền. Vị Tăng ấy đến kể lại đầy đủ cho Tuyết Phong nghe. Tuyết
Phong nói: Phải là Triệu Châu mới được Thế. Huyền Sa nghe bảo rằng:
Triệu Châu lớn nhỏ đều bại thiếu sót - chẳng biết - vị Tăng hỏi thế nào
là 1 câu nói của Triệu Châu. Sư nói Lão Tăng nửa câu cũng không. Vị
Tăng hỏi: Há Hòa thượng không có. Sư nói: Lão Tăng chẳng phải là
1 câu. Vị Tăng hỏi thế nào là xuất gia? Sư nói: Chẳng ham công danh
không làm cẩu thả. Vị Tăng hỏi: Khi lắng trong dứt sạch là thế nào?
Sư nói: Trong đó không vướng 1 khách làm chủ. Vị Tăng hỏi: Thế nào
là ý Tổ Sư? Không vì vị Sư bèn giơ gõ vào giường thiền. Vị Tăng hỏi:
Chỉ cái đó không phải chăng? Sư nói: Lão Tăng từ nhỏ xuất gia không
hề hoa mắt. Vị Tăng hỏi hà không phải là vị. Sư nói: Mong ông thường
viên tướng Tỳ Lô. Có người hỏi Hòa thượng có vào địa ngục không?
Sư nói: Lão Tăng cuối cùng cũng vào. Hỏi: Đại Thiện tri thức vì sao lại
vào địa ngục? Sư nói: Nếu không vào địa ngục thì ai giáo hóa ông. Một
hôm Chân Định Soái Vương Công dắt các con vào viện. Sư ngồi mà hỏi
rằng: Đại vương hiểu chăng? Vương nói: Không hiểu. Sư nói từ nhỏ trì
trai thân đã già, thấy người không sức xuống giường thiền. Vương công
càng kính trọng. Sáng hôm sau sai khách tướng truyền lời, Sư xuống
giường Thiền mà nhận, lát sau Thị giả hỏi: Hòa thượng thấy Đại vương
đến sao không xuống giường thiền. Nay quân tướng đến lại xuống?
Sư nói: Không thể biết được. Người bậc thượng ở trên giường mà tiếp;
người bậc trung xuống giương thiền mà tiếp; người bậc hạ ra ngoài cổng
tam môn mà tiếp. Sư gởi cây phất trần cho Vương công nói rằng: Như
hỏi chỗ nào được đến, chỉ nói Lão Tăng bình sinh dùng không hết. Sư
nói huyền ngôn khắp thiên hạ. Lúc đó gọi Triệu Châu môn phong đều
SỢ sệt tin phục. Năm Đường Càn Nguyên y thứ 4, ngày mồng 2 tháng
11, Sư nằm nghiêng hông bên phải mà tịch, thọ 120 tuổi. Sau vua ban
Thụy hiệu là Chân Tế Đại sư.
6. Thiền sư Nhàn ở Linh Thứu Trì Châu.
Sư gọi chúng bảo rằng: Đây là phận sự của các ông, nếu bảo Lão
Tăng nói thì tức là vẽ rắn có chân. Đây là Đốn giáo của các Thượng
tọa. Có vị Tăng hỏi: Việc vẽ rắn thêm chân thì chẳng luận, thế nào là
bổn phận sự? Sư nói: Xà Lê thử nói xem. Vị Tăng lại định hỏi thì Sư
nói: Vẽ rắn làm gì? Hòa thượng Minh Vĩnh hỏi: Thế nào là lập tức đạt
được pháp thân? Sư nói: 1 lần xem thấu mây ngoài Long môn, chớ làm
Hoàng Hà chỉ trán cá. Ngưỡng Sơn hỏi: vắng bặt không lời làm sao
nghe thấy? Sư nói: Nhiều nước mưa nối dài trước tháp. Vị Tăng hỏi:
Khi 2 cái đó không lời thì thế nào? Sư nói là thường. Vị Tăng hỏi lại có
cái gì hơn thường chăng? Sư đáp: Có. Vị Tăng nói: Xin sư khởi xướng.
Sư nói: Huyền châu tự sáng rỡ, đâu cần ánh sáng ngoài vách. Vị Tăng
hỏi: Ngày nay cúng dường Đại sư Vô Nhiễm ở Tây Xuyên chẳng biết
Đại sư có đến chăng? Sư đáp vốn tự không chỗ đến, nay há theo gió mà
chuyển vị Tăng nói: Như thế thì đâu cần cúng dường. Sư nói công sức
hữu vi hợp với nghĩa không đổi.
7. Hòa thượng ở núi Thù Du Ngạc Châu.
Lúc đầu ở viện Hộ Quốc tại Tùy Châu, là đời thứ nhất. Hòa thượng
hỏi: Thế nào là Đạo. Sư nói Đừng đóng đinh vào trong hư không Quán
BỘ SỬ TRUYỆN 9
nói hư không là cọc. Sư bèn đánh. Quán nắm gậy bảo: Chớ đánh con,
sau này đánh lầm người. Sư bèn thôi. Hòa thượng Thâm ở Triệu Châu
trước đến Vân Cư. Vân Cư hỏi: Lão Lão Đại Đại Hán sao không tìm
chỗ ở? Thâm nói làm sao ở được Vân Cư nói trước núi có nền chùa
xưa. Thâm nói Hòa thượng tự ở đấy. Sau đến chỗ Sư. Sư nói: Lão Lão
Đại Đại Hán sao không ở đi. Niệm hỏi: Ớ chỗ nào. Sư nói Lão Lão
Đại Đại Hán chỗ ở cũng không biết. Niệm nói: 30 Năm chơi cỡi ngựa,
ngày nay bị lừa đánh. Chúng vị Tăng đứng hầu, Sư nói: Chỉ đứng yên
đó không nói, 1 chỗ buồn. Có vị Tăng định hỏi, Sư bèn đánh, bảo rằng
đã vì chúng hết sức, rồi vào phương trượng. Có hành giả đến tham, Sư
hỏi: Có đi gặp Triệu Châu chăng? Hỏi: Hòa thượng dám nói chăng? Sư
bảo: Không phải chỉ Thù Du mà tất cả mọi người đều nói không được.
Hỏi: Hòa thượng tha lỗi cho con. Sư nói trong đó từ trước chẳng chung
cho nhân tình. Lại nói: Xin phát tâm từ bi. Sư lại đánh bảo. Tỉnh rồi sau
sẽ vì ông.
8. Thiền sư Lợi Tung ở núi Tử Hồ, Cù Châu.
Sư người ở Thiền Châu họ Chu. Xuất gia tại chùa Khai Nguyên ở
u châu, theo năm mà thọ giới cụ túc Sau vào thất của Nam Tuyền. Rồi
lại cất am tranh tại núi Mã đề ở Cù châu. Năm Đường Khai Thành thứ
2 năm thời Đường, người trong ấp lập viện Tử Hồ dưới núi mời Sư đến
ở. Niên hiệu Hàm Thông thứ 2 vua ban ngạch là Thiền Viện An Quốc.
Một hôm Sư lên Pháp đường dạy chúng rằng: Ớ Tử Hồ có 1 con chó
trên lấy đầu người, giữ lấy tâm người, dưới lấy chân người, định nghĩ
bàn liền tan thân mất mạng. Có vị Tăng hỏi thế nào 1 con chó ở Tử Hồ.
Sư nói: Gâu gâu! Có 2 vị Tăng ở dưới Lâm Tế đến tham vấn đang vén
rèm lên Sư nói: Xem chó. 2 vị Tăng xoay đầu lại Sư liền trở về phương
trượng. Sư cùng Hòa thượng Thắng Quan vườn, Sư bỗng chống cuốc
nhìn Thắng Quang và bảo: Sự thì chẳng phải không có, mà tâm nghĩ
đến liền sai. Quang bèn lễ bái định hỏi. Sư bèn đạp cho 1 đạp rồi trở
về Viện. Có 1 Ni đến tham. Sư hỏi: Có không phải là Lưu Thiết Ma?
Ni đáp không dám. Sư bảo quay sang trái, quay sang phải xem. Ni đáp:
Hòa thượng chớ điên đảo. Sư liền đánh nửa đêm Sư ở vị Tăng đường
hô lớn có giặc! Chúng đều kinh sợ chạy ra. Sư đến sau Tăng đường ôm
chặt cứng 1 vị Tăng gọi to: Duy na bắt được rồi, bắt được rồi! Vị Tăng
nói không phải con. Sư nói phải mà, chỉ là ông không chịu nhận thôi!
Sư có kệ dạy chúng rằng:
Ba mươi Năm đến ở Tử Hồ
Hai thời cơm cháo khí lực thô
Mỗi ngày lên núi năm, ba chuyến
Xin hỏi nào ai có hiểu không.
Sư ở Tử Hồ nói pháp 45 Năm. Trong niên hiệu Quảng Minh, Sư
không bịnh mà tịch thọ 81 tuổi, lạp được 61. Nay núi ấy vẫn còn tháp
thờ Sư.
9. Hòa thượng Tung Sơn ở Lạc Kinh.
Có vị Tăng hỏi: Khi đường xưa bằng phẳng là sao? Sư đáp: Không
đi tới. Vị Tăng hỏi: Vì sao không đi tới? Sưđáp: Không có chỗ ngăn che.
Vị Tăng hỏi: Thế nào là cảnh Tung Sơn? Sư đáp: Mặt trời mọc ở hướng
Đông, mặt trăng lặn về Tây. Nói: Đệ tử không hiểu. Sư nói: Đông Tây
cũng chẳng hiểu. Vị Tăng hỏi: Khi 6 thức đều sinh là sao? Sư đáp khác.
Vị Tăng hỏi: Vì sao Thế? Sư nói giông nhau.
10. Hòa thượng Nhật gử.
Á Khê đến tham. Sư ra bộ đứng dậy. Á Khê hỏi: Lão quỉ núi ấy
cũng thấy ta. Sư nói: Tội quá tội quá, vừa đến mất đối đáp. Á Khê
muốn nói thì Sư bèn hét. Á Khê nói: Trước trận lớn không đề phòng khó
chống cự. Sư nói: Phải phải. Á Khê nói chẳng phải chẳng phải.
11. Hòa thượng Tây Thiền ở Tô Châu.
Có vị Tăng hỏi: 3 thừa 12 phần giáo thì chẳng nói, thế nào là ý
Tổ sư từ Tây Trúc đến? Sư đưa cây phất trần lên. Vị Tăng ấy không lễ
bái, lại đi tham vấn Tuyết Phong. Tuyết Phong hỏi từ đâu đến. Vị Tăng
nói: Từ chiết Trung đến. Tuyết Phong hỏi: Mùa hạ này ở đâu? Đáp: ở
Tây thiền tại Tô châu. Tuyết Phong hỏi: Hòa thượng có an chăng? Đáp
khi đi thì muôn phúớc. Tuyết Phong hỏi sao không thong dong? Đáp:
Phật pháp chẳng rõ. Tuyết Phong nói: Có việc gì? Vị Tăng nêu lời nói
trước. Tuyết Phong hỏi ông sao chẳng chịu. Vị Tăng nói là cảnh. Tuyết
Phong hỏi ông thấy mọi người nam nữ trong thành Tô Châu chăng?
Đáp: Thấy. Tuyết Phong hỏi ông thấy rừng cây trên đường chăng? Đáp:
Thấy. Tuyết Phong nói hễ thấy mọi người nam nữ cây cối đất đai... thì
đều là cảnh, Ông lại chịu chăng? Đáp: Chịu. Tuyết Phong nói thì như
đủa cây phất trần lên, sao ông không chịu. Vị Tăng bèn lễ bái thưa: Đệ
tử chỉ lấy lời nói ra, xin Sư từ bi chỉ dạy. Tuyết Phong nói hết cả (trời
đất) đều là mắt ấy, ông ngồi ở đâu? Vị Tăng không đáp được.
12. Thứ sử Lục Hoàn ở Tuyên Châu.
Trước hỏi Nam Tuyền rằng: Người xưa nuôi trong bình 1 con
ngỗng, con ngỗng dần lớn lên chui ra khỏi bình không được. Như nay
không được dập bể bình, không được giết ngỗng, Sư làm sao lấy ra
được? Nam Tuyền gọi lớn “Đại phu”!, Lục: Dạ! Nam Tuyền nói ra rồi!
BỘ SỬ TRUYỆN 9
Lục từ đó khai ngộ. Khi Nam tuyền thị tịch, viện chủ hỏi rằng: Đại phu
sao chẳng khóc Tiên sư. Lục bảo: Viện chủ nói được thì tôi khóc ngay.
Viện chủ không nói được.
13. Hành giả Cam Chí ở Trì Châu.
Mang xâu tiền đi vào Tăng đường, ở trước mặt đệ nhất tòa nói
rằng: Xin thượng tọa cho tiền. Thượng tọa đáp tài thí vô tận, pháp thí
vô cùng. Cam nói: Nói thế thì sao có được tiền của tôi? Lại mang đi
ra. Thượng tọa không đáp được. Lại ở ngài Nam Tuyền cúng cháo nói
rằng: Xin Hòa thượng niệm tụng. Nam Tuyền nói: Hành giả Cam Chí
cúng cháo, xin đại chúng vì con cáo hoang con trâu đực trắng mà niệm
Ma-ha Bát nhã ba la mật. Cam bèn lễ bái rồi lui ra. Ngài Nam Tuyền
vào nhà bếp đập bể cái chảo. Hòa thượng Tuyết Phong đến, Cam đóng
cửa hô lớn xin Hòa thượng vào. Tuyết Phong ở cách bờ rào ném áo vào.
Cam bèn mở cửa, lễ bái. Có vị Tăng Trú Am đến hóa duyên xin vật.
Cam bảo: Nếu nói được liền cho. Bèn viết chữ tâm rồi hỏi chữ gì? Vị
Tăng nói chữ tâm. Lại hỏi vợ là chữ gì. Vợ đáp chữ tâm. Cam nói vợ ta
cũng hợp với Trú Am. Vị Tăng không đáp được. Cam cũng không cho.
Lại hỏi một Tăng, hỏi: Từ đâu đến? Vị Tăng nói từ Qui Sơn đến. Cam
nói: Từng có Tăng hỏi Qui Sơn thế nào là ý từ Tây Trúc đến. Qui Sơn
đưa cây phất trần lên, Thượng tọa có hiểu ý Qui Sơn là thế nào chăng?
Vị Tăng đáp mượn việc mà làm sáng tâm, nương vật mà bày rõ lý. Cam
nói hãy trở về Qui Sơn đi nhé.
– Đệ tử nốì pháp của Thiền sư Tề An ở Diêm Quan, Hàng
Châu trước đây.
1. Thiền sư Đạo Thường ở Quang Nam, Tương Châu.
Có vị Tăng hỏi: Thế nào là ý từ Tây Trúc đến Sư đưa gậy lên hỏi:
Hiểu không? Vị Tăng nói không hiểu Sư bèn hét đi ra! vị Tăng hỏi Thế
nào là nguồn Đại Đạo? Sư thoi cho một tấm. Mỗi khi thấy vị Tăng đến
tham lễ thì phần nhiều Sư cầm gậy đuổi chạy. Hoặc nói chậm 1 khắc,
hoặc nói đánh động trống Quan Nam. Mà lúc đó Bối Tiên có xướng
họa.
2. Thiền sư Huyền Chân ở Song Lãnh, Hồng Châu.
Trước hỏi ngài Đạo Ngô rằng Bồ tát không có thần thông vì sao
dấu chân khó tìm. Đạo Ngô nói kẻ đồng đạo mới biết. Sư hỏi Hòa
thượng có biết chăng. Đáp: Không biết. Sư hỏi vì sao không biết? Đáp:
Đi đi, chẳng biết lời ta nói. Sau Sư ở Diêm quan mà khế hội.
3. Thiền sư Giám Tông ở Kính Sơn, Hàng Châu.
Sư là người ở Trường Thành Hồ Châu, họ Tiền nương Đại Đức
Cao Nhàn tại chùa Khai Nguyên ở hàng châu mà xuất gia, học thông
kinh Tịnh Danh Tư ích. Sau đến yết kiến ngài Đại sư Ngộ Không mà
cởi bỏ hết nghi ngờ. Năm Đường Hàm Thông 3 thì ở tại Kính Sơn mà
mở bày Thiền giáo. Có 1 tiểu Sư ( vị Tăng trẻ) là Hồng cẩn vì giảng
luận mà tự khoe khoang. Sư gọi bảo rằng chánh pháp của Phật tổ thẳng
dứt khoát mất lời, ông coi như cát biển đối với lý nào ích gì, chỉ có thể
không giữ lấy tri kiến, dứt mất duyên ngoại, lìa tất cả tâm thì tức là
chân tánh của ông. Yên nghe mà mù tịt, lễ lạy giã từ, du phương, đến
chỗ ngài Qui Sơn thì mới ngộ được Huyền chỉ. Bèn thờ Qui Sơn làm
thầy. Hàm Thông thứ 7 nhằm năm Bính Tuất ngày 5 tháng 3 nhuần thì
Sư tịch. Vua ban Thụy hiệu là Vô Thượng Đại sư, tức là Kính Sơn đời
thứ 2 vậy.
– Đệ tử nôi pháp của Thiền sư Lỉnh Mặc ở núi Ngũ Tiết trước
– Đệ tử nối pháp của Thiền sư Như Mãn ở chùa Phật Quang,
Lạc Kinh trước đây.
1. Thứ sử Bạch Cư Dị, tự Lạc Thiên, ở Hàng Châu đời Đường.
Từ lâu tham vấn ngài Phật Quang mà được tâm pháp, gồm học
BỘ SỬ TRUYỆN 9
Bảo Giới Kim cang của đại thừa. Vào năm Nguyên Hòa ông đến trụ
Pháp Đường Hưng Thiện ở Kinh Triệu mà làm Tứ vấn. 15 Năm ông
cai trị ở Hàng Châu chê Hòa thượng Ô Sào có kệ tụng hỏi đáp. Có viết
thư cho Pháp sư Tế, dùng Đại tuệ Vô Thượng của Phật mà giảng nói
giáo lý, có theo cớ cao thấp ứng bịnh khác nhau, cùng 1 vị bình đẳng
mà nói trái nhau. Ông lại dẫn 6 kinh Duy Kim cang Tam-muội v.v... mở
mang hai nghĩa mà vấn nạn. Lại lấy 5 uẩn 12 duyên nói danh sắc trước
sau không cùng loại, lập lý mà nêu ra các chỗ gút mắc sâu kín thì làm
cho thông suốt sáng tỏ. Nhưng chưa thấy Pháp sư trả lời. Sau cũng ít có
người đáp. Lại nhận ở thiền sư Ngưng Đông Đô về ở 8 Tiệm, bèn rộng
ở 1 lời mà làm 1 kệ để giải thích chỉ thú từ cạn đến sâu lần lượt như
xâu chuỗi, chỗ ông trấn nhậm phần nhiều đều hỏi Tổ Đạo học Sư Vô
Thường. Sau vì tân khách phân ly Đông Đô, đem hết bổng lộc của mình
mà sửa sang chùa Hương Sơn Tự ở Long môn. Chùa sửa xong bèn tự
soạn bài ký. Hễ làm văn liên quan đến giáo hóa thì đều khen Phật thừa
sẽ thấy nêu trong tập sách này ghi rõ việc làm quan của ông theo thứ tự
về tất cả năm tháng thì sử truyện còn lưu giữ...
– Đệ tử nối pháp của Thiền sư Pháp Thường ở núi Đại Mai
trước đây.
1. Thiền sư Ca Trí ở nước Tân La:
Có vị Tăng hỏi: Thế nào là ý Tổ sư từ Tây Trúc đến? Sư nói: Đợi
trong đầu ông đến ta sẽ nói cho ông nghe. Vị Tăng hỏi thế nào là ý chỉ
của Đại Mai? Sư nói: Sữa đặc ban cho lúc ném đi.
2. Hòa thượng Thiên Long ở Hàng Châu.
Sư lên Pháp Đường nói: Đại chúng chớ đợi Lão Tăng đi lên thì đi
lên đi xuống thì đi xuống, mọi người đều có biển tánh Hoa Tạng đầy đủ
công đức sáng suốt vô ngại, tất cả đều cẩn thận tìm hiểu lấy. Vị Tăng
hỏi: Thế nào là ý của Tổ sư? Sư dựng thẳng cây phất trần. Vị Tăng hỏi:
Thế nào là được ra khỏi 3 cõi. Sư hỏi nay ông đang ở đâu?
– Đệ tử nối pháp của Thiền sư Tành Thụy ở chùa Vĩnh Thái
trước đây.
1. Thiền sư Giới Linh ở Thượng Lâm, Hồ Nam.
Trước Sư tham vấn ngài Qui Sơn, Ngài hỏi: Đại Đức đến đây làm
gì? Sư nói: Giáp trụ toàn đủ. Ngài Qui Sơn nói: Tất cả từ bỏ rồi đến cho
Đại đức cùng gặp. Sư nói: Từ bỏ rồi. Qui Sơn hét bảo: Giặc còn chưa
đánh hết làm sao? Sư không đáp được Ngưỡng sơn đáp thay rằng: Xin
Hòa thượng che 2 bên Qui Sơn vòng tay vái chào nói: Vâng, vâng! Sau
Sư tham vấn ngài Vĩnh Thái mới nói cho biết ý chỉ.
2. Hòa thượng Bí Quảng Nham ở núi Ngũ đài.
Sư thường cầm 1 cái dĩa gỗ. Mỗi khi thấy vị Tăng đến lễ bái thì
liền lấy cái dĩa đeo vào cổ bảo rằng: Đó là ma quỷ dạy ông xuất gia, đó
là ma quỷ dạy ông hành cước. Nói được thì xoa cũng chết, nói không
được thì xoa cũng chết, nói Mau. Học vị Tăng ít có người đáp được.
3. Hòa thượng Kỳ Lâm ở Hồ Nam.
Sư thường hét bảo Văn Thù, Phổ Hiền đều là tinh mị, tay cầm
kiếm gỗ bảo hàng ma. Vừa Có vị Tăng tham lễ, bèn nói: Ma đến! Ma
đến! Rồi múa kiếm loạn xa mà vào phương trượng, suốt trong mười hai
Năm. Sau bỏ kiếm không nói. Vị Tăng hỏi 12 Năm trước vì sao hàng
ma. Sư nói: Giặc cướp không đánh nhà nghèo. Vị Tăng hỏi sau 12 Năm
vì sao không hàng ma? Sư nói giặc cướp không đánh nhà nghèo.
– Đệ tử nốì pháp của Thiền sư Bảo Tích ở Bàn Sơn, u Châu
trước đây.
1. Hòa thượng Phổ Hóa ở Trấn Châu.
Không biết Sư người ở đâu. Sư thờ ngài Bàn Sơn mà ngầm được
chân quyết rồi giả điên mà nói năng vô độ. Đến khi Bàn Sơn thị tịch
bèn hành hóa ở đất Bắc. Hoặc ở thành thị hoặc ở nghĩa địa gõ một cái
chuông mà nói rằng: Sáng đến cũng đánh, tối đến cũng đánh. Một hôm
ngài Lâm Tế sai vị Tăng nắm lại nói: Không sáng không tối lúc đó thế
nào? Đáp rằng: Những ngày sắp tới trong viện Đại Bi có trai hội. Hễ
thấy người không cao không thấp đều gõ 1 tiếng mõ. Lúc đó người đời
gọi Sư là Hòa thượng Phổ Hóa. Hoặc đem mõ đến tai người gõ, hoặc
đeo ở lưng có người ngoái đầu lại liền chìa tay ra nói cho tôi 1 đồng. Phi
thời gặp thức ăn thì cũng căn. Đã từng chiều tối đi vào viện ngài Lâm
Tế mà ăn cơm rau sống. Ngài Lâm Tế nói: Lão ấy giống 1 cái đầu lừa!
Sư liền hý vang tiếng lừa. Lâm Tế bèn thôi. Sư nói: Tên đày tớ Lâm
Tế chỉ có một con mắt. Sư thấy Mã bộ sứ đi ra quát tháo, Sư cũng quát
tháo và làm thế như đang đánh nhau. Mã Bộ sứ sai người đánh 5 gậy.
Sư nói: Hình như thì hình như, đúng thì không đúng. Sư thường ở chôn
chơ búa gõ mõ mà hô rằng: Tìm cái bỏ chỗ không thể được. Lúc đó
Đạo Ngô gặp Sư giữ lại hỏi rằng: Ông định bỏ chỗ nào Sư hỏi ông từ
đâu đến? Đạo Ngô không đáp. Sư kéo tay rồi đi. Một hôm sư vào viện
ngài Lâm Tế. Lâm Tế nói giặc giặc! Sư cũng nói giặc giặc! Rồi cùng
vào vị Tăng Đường. Lâm Tế chỉ Thánh vị Tăng hỏi là phàm hay Thánh.
BỘ SỬ TRUYỆN 9
Sư nói là Thánh. Lâm Tế bảo: Nói lời ấy. Sư bèn gõ mõ nói: Hà Dương
mẹ con mới, tháp gỗ, Lão bà thiền, đứa đầy tớ Lâm Tế chỉ có một con
mắt. Năm Đường Hàm Thông 1 Sư sắp thị tịch bèn vào chợ gọi người
bảo rằng: “Cho ta 1 áo dài”. Người cho áo khoát hoặc áo vải đều không
nhận, gõ mõ mà đi. Lúc đó Lâm Tế sai vị đưa cho 1 quan tài. Sư cười
bảo: “Thằng đầy tớ Lâm Tế nhiều lời”, rồi nhận. Và nói lời từ tạ rằng
Phổ Hóa tôi ngày mai đi về cửa Đông mà chết. Người trong quận cùng
kéo nhau đưa Sư ra khỏi thành. Sư hét lớn hôm nay chôn không được
tốt. Bèn bảo ngày thứ 2 ta ở cửa Nam mà thiên hóa. Người cũng chiều
theo. Sư lại bảo ngày mai ra cửa Tây mới tốt. Mọi người kéo ra dần dần
thưa đi. Sư ra đó rồi lại trở về. Mọi người có ý chán dần. Đến ngày thứ
4 thì tự vác quan tài ra ngoài cửa Bắc, gõ chuông vào quan tài mà chết.
Người trong quận chạy ra ngoài thành mở quan tài ra nhìn thì không
thấy gì. Chỉ nghe tiếng chuông xa dần. Không lường được lý do.
– Đệ tử nốì pháp của Thiền sư Viên Sướng ở núi Long Nha
trước đây.
1. Thiền sư Tạng Dực ở Gia Hòa.
Sư là vị ở Tín An Cù Châu, họ Trình. Trong niên hiệu Đường
Nguyên Hòa Sư từ biệt cha mẹ đến chùa Nhạc Lộc ở trường Sa chùa lễ
Luật Sư Linh Trí mà xuất gia. Năm Trường Khánh 3, Sư ở chùa Khai
Nguyên ở Vô lăng mà thọ giới cụ túc Nhân nghe Luật bộ, bèn bảo bạn
đồng học rằng: Giáo môn quá rườm rộng, phải tìm cửa chung. Bèn đến
gặp Thiền sư Sướng ở núi Long Nha. Ngài Long Nha bảo rằng: uẩn giới
không thật, Phật và (chúng sinh) không phải ta. Ông chánh gốc tên gì,
từ ai mà được. Sư sau lời nói ấy thì lãnh ngộ. Bèn trở về Kha Sơn mà
lánh nạn vua Đường Võ đuổi vị Tăng Ni. Sau sư ở Long Hưng mà giáo
hóa rộng. Năm Càn Phù thứ 6 trong tháng 3 thì Sư tịch thọ 82 tuổi lạp
được 56.
– Đệ tử nối pháp của Thiền sư Trí Thường ở chùa Qui Tông
trước đây.
1. Thiền sư Linh Huân ở núi Phù Dung, Phước Châu.
Lúc đầu Sư tham vấn ngài Qui Tông, hỏi rằng: Thế nào là Phật.
Qui Tông nói: Ta nói với ông, ông tin chăng? Sưnói: Hòa thượng nói lời
thành thật đâu dám chẳng tin. Tông nói chính ông là phật Sư hỏi: Làm
sao giữ gìn? Tông nói: Một khi lóa mắt thì hoa đốm rơi đầy. Sư từ giả
ngài Qui Tông. Tông hỏi ông đi đâu? Sư nói về Lãnh Trung. Tông nói:
Ông ở đây nhiều Năm buộc áo xong liền đến vì ông mà nói Phật pháp
Nhất thừa. Sư bèn buộc áo lên Pháp Đường. Tông nói đến gần đây. Sư
bèn đến gần Tông nói: Lúc lạnh giữa đường khéo làm. Sư nghe câu nói
ấy liền quên ngay hiểu trước. Sau Sư tịch được vua ban Thụy là Hoằng
Chiếu Đại sư, tháp hiệu là Viên Tướng.
2. Hòa thượng Cao Đình ở huyện Cốc Thành, Hán Nam.
Có vị Tăng từ Giáp Sơn đến lễ bái. Sư liền đánh. Vị Tăng nói:
Riêng đến lễ bái, sao Sư đánh? Vị Tăng ấy lại lễ bái. Sư lại đánh đuổi
đi. Vị Tăng trở về kể lại cho Giáp Sơn. Nghe Giáp Sơn hỏi: Ông hiểu
không? Vị Tăng nói không hiểu. Giáp Sơn nói: Trách ông không hiểu,
nếu hiểu thì miệng của Giáp Sơn này sẽ câm.
3. Hòa thượng Đại Mao người nước Tân la.
Sư lên Pháp Đường nói: Muốn biết thầy chư Phật thì xưa nay trong
tâm vô minh mà biết lấy. Muốn biết tánh thường trú không tàn rụi thì
hướng về sự đổi dời của muôn cây biết lấy, vị Tăng hỏi: Thế nào là
cảnh Đại Mao? Sư nói: Chẳng lộ mũi nhọn. Vị Tăng hỏi: Vì sao chẳng
lộ kim? Sư nói không tương xứng.
4. Thiền sư Trí Thông ở núi Ngũ Đài.
Trước đến gặp ngài Qui Tông. Bỗng 1 đêm đi tuần Đường (nhà
thiền) kêu lớn: Ta đã đại ngộ. Chúng đều kinh hãi. Sáng hôm sau Qui
Tông lên Pháp Đường nhóm hợp chúng hỏi rằng: Đêm qua vị Tăng nào
đại ngộ bước ra đi. Sư bước ra thưa Trí Thông. Qui Tông hỏi: Ông thấy
đạo lý gì nói là đại ngộ thử nói ta xem. Sư đáp Sư cô tự nhiên là cô gái
làm ra. Qui Tông im lặng lấy làm lạ. Sưbèn từ giả. Qui Tông đưa ra cửa
đưa cho cái nón. Sư lấy nón đội lên đầu mà đi không hề quay đầu lại.
Sau Sư ở chùa Pháp Hoa ở Đài Sơn. Khi qua đời Sư có bài kệ rằng:
Đưa tay sờ (Nam Đẩu)
Quay mình dựa Bắc Thần
Thò đầu thấy ngoài trời
Ai là người như ta.
– Đệ tử nốì pháp của Thiền sư Trí Tạng ở chùa Hoa Nghiêm
trước đây.
1. Hòa thượng Tê An ở Huỳnh Châu.
Sư dạy chúng rằng: “Nói chẳng lạc câu Phật tổ chẳng bày. Huyền
vận chẳng rơi, ai người biết được”. Vị Tăng hỏi: Thế nào là biết được
Phật mình? Sư nói: “1 lá lúc sáng tiêu không hết. Gió tùng vận hết oán
không người”. Vị Tăng nói: Thế nào là Phật mình? Sư nói: Trước cỏ
tuấn mã thật khó cùng. Diệu hết lại cần súc sinh đi. Có người hỏi Đại sư
bao nhiêu tuổi? Sư nói 5, 6, 4, 3 chẳng được loại. Há đồng 1, 2 thật khó
cùng. Sư có bài tụng:
Trong lửa dữ dằn người có nẻo
Gió thoảng trên đầu, bốc lên cao
Trấn thường nhiều kiếp sai khác nhau
Mặt trời không nói chiếu khắp nơi
Sau Sư ở tại Phụng Tường.
Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch bằng AI do Inti biên soạn: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.