Inti DharmaInti Dharma
← Kinh điển
Kinh Điển Bộ Phái · Đối Chiếu · Luật Đối Chiếu — Hán ngữ

Lzh Dg Bi Vb Pc 112Trao Thức Ăn

Tên Pāli / Sanskrit:Bhojanadāna

📖511 từ · ~2 phút đọc
2
Bản dịch đầy đủ (Tiếng Việt)

– TỨ PHẦN LUẬT

– BA-DẬT-ĐỀ

ĐIỀU 112

A. DUYÊN KHỞI

Một thời, đức Bà-già-bà ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, Bạt-nan-đà Thích tử có hai sa-di, một người tên là Nhĩ, một người tên Mật.Một người bỏ đạo, một người mang áo ca-sa gia nhập trong chúng ngoại đạo. Nhóm sáu tỳ-kheo-ni đem thức ăn cho bạch y và người gia nhập ngoại đạo.

Các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni: «Tại sao các cô đem thức ăn cho bạch y gia nhập ngoại đạo?»

Các tỳ-kheo-ni bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch lên đức Thế tôn. Đức Thế tôn dùng nhơn duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo-ni:

«Các cô làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Tại sao các cô đem thức ăn cho bạch y gia nhập ngoại đạo?»

Dùng vô số phương tiện quở trách rồi, đức Phật bảo các tỳ-kheo:

«Tỳ-kheo-ni này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là người đầu tiên phạm giới này. Từ nay về sau, Ta vì các tỳ-kheo-ni kiết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.»

Muốn nói giới nên nói như vầy:

Tỳ-kheo-ni nào, đem thức ăn cho bạch y và người gia nhập ngoại đạo thức ăn có thể ăn, ba-dật-đề.

Thế tôn vì tỳ-kheo-ni kiết giới như vậy, thì có vị nghi không dám để dưới đất cho, không dám sai người cho, đức Phật dạy:

«Cho phép sai người cho hoặc để dưới đất cho.»

Từ nay về sau nên nói giới như vầy:

Tỳ-kheo-ni nào, tự tay cầm thức ăn cho bạch y và người gia nhập ngoại đạo ăn, ba-dật-đề.

B. GIỚI TƯỚNG

Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trên.

Bạch y: người chưa xuất gia.

Ngoại đạo: người xuất gia ngoài Pháp của đức Phật.

Thức ăn nhai: như trước đã giải.

Tỳ-kheo-ni nào, tự đem thức ăn cho bạch y và người gia nhập ngoại đạo; người này cho, người kia nhận; (người cho) ba-dật-đề; người kia không nhận, (người cho) đột-kiết-la.

Phương tiện muốn cho mà không cho, hẹn sẽ cho rồi ăn năn không cho; tất cả đều đột-kiết-la.

Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.

Sự không phạm: hoặc để dưới đất cho, hoặc sai người cho; hoặc cho cha mẹ, cho thợ làm tháp, hoặc bị cường lực đoạt; thảy đều không phạm.

Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống não, bức bách.

Việt dịch: Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh và Thích Đức Thắng . TỨ PHẦN LUẬT, PHẦN THỨ NHẤT

Hán dịch: Tam tạng Phật-đà Da-xá và Trúc-phật-niệm.

Hiệu chính và chú thích: Tỳ-kheo Thích Nguyên Chứng

(Hán dịch quyển 1–21, Việt dịch quyển 1, 2)

Ban tu thư Phật học 2002

Nguồn bản dịch: Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh, Thích Đức Thắng (SuttaCentral)Giấy phép: VI © Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh, Thích Đức Thắng (qua SuttaCentral) · EN: AI translation from Vietnamese source, awaiting source EnglishPrepared for SuttaCentral by Ayya Vimala .🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch bằng AI do Inti biên soạn: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến