Inti DharmaInti Dharma
← Kinh điển
Kinh Điển Bộ Phái · Đối Chiếu · Luật Đối Chiếu — Hán ngữ

Lzh Dg Bi Vb Pc 105Y Chung Nhóm

Tên Pāli / Sanskrit:Gaṇacīvara

📖560 từ · ~2 phút đọc
2
Bản dịch đầy đủ (Tiếng Việt)

– TỨ PHẦN LUẬT

– BA-DẬT-ĐỀ

ĐIỀU 105

A. DUYÊN KHỞI

Một thời, đức Bà-già-bà ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà có quen biết người đàn-việt từ lâu, muốn dọn cơm và dâng y cho Tăng. Thâu-la-nan-đà nghe liền đến hỏi: ‹Tôi nghe ông muốn dọn cơm và dâng y cho Tăng, có đúng không?› Người đàn-việt trả lời, ‹Đúng.› Thâu-la-nan-đà nói: ‹Chúng Tăng công đức lớn, oai thần lớn, nhiều đàn-việt dâng cúng. Ông còn nhiều chỗ để cúng. Nay chỉ nên cúng cơm; khỏi phải dâng y.›

Người đàn-việt thuận theo lời nên không sắm y, trong đêm chỉ chuẩn bị thức ăn để cúng. Sáng sớm, người đàn-việt đến thỉnh ni Tăng thọ thực. Các tỳ-kheo-ni mặc y bưng bát đến nhà thí chủ, ngồi yên nơi chỗ ngồi.

Bấy giờ, người đàn-việt quan sát các tỳ-kheo-ni, oai nghi rõ nét, pháp phục tề chỉnh, tự ăn năn thốt lên lời: ‹Chúng Tăng tốt đẹp thế này, tại sao ngăn cản không để cho tôi được dâng y cúng dường?›

Các tỳ-kheo-ni nghe nói như vậy, mới hỏi người đàn-việt: ‹Vì nhơn duyên nào mà thốt lên những lời nói như vậy?› Người đàn-việt trình bày đầy đủ nhơn duyên.

Tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm trách tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà: ‹Tại sao cô ngăn cản việc cúng y cho chúng Tăng?›

Các tỳ-kheo-ni bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch lên đức Phật. Đức Phật dùng nhơn duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo quở trách Thâu-la-nan-đà:

«Cô làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Tại sao cô ngăn cản việc cúng y cho chúng Tăng?»

Dùng vô số phương tiện quở trách rồi, đức Phật bảo các tỳ-kheo:

«Tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là người đầu tiên phạm giới này. Từ nay về sau, Ta vì các tỳ-kheo-ni kiết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp cửu trụ.»

Muốn nói giới nên nói như vầy:

Tỳ-kheo-ni nào, cản trở việc cúng y cho chúng Tăng, ba-dật-đề.

B. GIỚI TƯỚNG

Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trên.

Chúng: cũng như trên.

Y: có mười loại như trước.

Tỳ-kheo-ni gây trở ngại việc cúng y cho chúng Tăng ba-dật-đề. Ngoài chúng Tăng, gây trở ngại với người khác, đột-kiết-la. Ngoài y ra, gây trở ngại đối với các vật khác đột-kiết-la.

Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.

Sự không phạm: người ta cúng ít, khuyên cúng nhiều; muốn cúng ít người, khuyên cúng nhiều người; muốn cúng thứ thô, khuyên cúng thứ tế; hoặc nói vui chơi, nói chỗ vắng, nói gấp gáp, nói trong mộng, muốn nói việc này nhầm nói việc khác; thảy đều không phạm.

Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống não, bức bách.

Việt dịch: Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh và Thích Đức Thắng . TỨ PHẦN LUẬT, PHẦN THỨ NHẤT

Hán dịch: Tam tạng Phật-đà Da-xá và Trúc-phật-niệm.

Hiệu chính và chú thích: Tỳ-kheo Thích Nguyên Chứng

(Hán dịch quyển 1–21, Việt dịch quyển 1, 2)

Ban tu thư Phật học 2002

Nguồn bản dịch: Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh, Thích Đức Thắng (SuttaCentral)Giấy phép: VI © Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh, Thích Đức Thắng (qua SuttaCentral) · EN: AI translation from Vietnamese source, awaiting source EnglishPrepared for SuttaCentral by Ayya Vimala .🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch bằng AI do Inti biên soạn: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến