Pāli: saṃyojana · Sanskrit: saṃyojana · Tiếng Anh: fetters
Kiết sử (saṃyojana) là những sợi dây trói buộc tâm, giữ chúng sinh trong vòng sinh tử. Kinh Kiết Sử (AN 10.13) kể mười kiết sử, còn gọi là thập kiết sử, chia hai nhóm. Năm hạ phần kiết sử: thân kiến, nghi, giới cấm thủ, dục tham, sân. Năm thượng phần kiết sử: sắc ái, vô sắc ái, mạn, trạo cử, vô minh. Thân kiến là coi thân tâm này là «tôi»; nghi là lưỡng lự về con đường; giới cấm thủ là bám vào nghi thức, giới điều như thể tự chúng đưa đến giải thoát; sắc ái, vô sắc ái là ưa thích những tầng hiện hữu vi tế; mạn là so đo hơn kém; vô minh là không thấy rõ bốn sự thật về khổ. Kinh dùng kiết sử để mô tả các bậc Thánh như bản đồ con đường, không phải thang để tự xếp hạng mình hay người khác.
Trích nguyên văn toàn bài kinh, bản dịch của HT. Thích Minh Châu trong thư viện Inti Dharma (Tăng Chi Bộ Kinh 10.13).
Này các Tỷ-kheo, có mười kiết sử này. Thế nào là mười?
Năm hạ phần kiết sử, năm thượng phần kiết sử.
Thế nào là năm hạ phần kiết sử?
Thân kiến, nghi, giới cấm thủ, dục tham, sân. Đây là năm hạ phần kiết sử.
Thế nào là năm thượng phần kiết sử?
Sắc ái, vô sắc ái, mạn, trạo cử, vô minh. Đây là năm thượng phần kiết sử.
Này các Tỷ-kheo, đây là mười kiết sử.
Hạ phần (orambhāgiya) là thuộc phần dưới: năm kiết sử này trói tâm vào cõi dục. Thân kiến (sakkāya-diṭṭhi) là xem thân và tâm này là «tôi», «của tôi». Nghi (vicikicchā) là lưỡng lự kéo dài về Phật, Pháp, Tăng và con đường, khác với sự tìm hiểu lành mạnh. Giới cấm thủ (sīlabbata-parāmāsa) không có nghĩa là bỏ giới hay bỏ nghi lễ, mà là bỏ niềm tin rằng riêng nghi thức, kiêng cữ đã đủ đưa đến giải thoát. Dục tham (kāmarāga) và sân (paṭigha) là muốn có thêm và muốn đẩy đi. Kinh Hạ Phần Kiết Sử (SN 45.179) nói Thánh đạo Tám ngành được tu tập để đoạn tận năm kiết sử này.
Năm thượng phần kiết sử: những dây trói vi tế
Thượng phần (uddhambhāgiya) là thuộc phần trên: những dây trói vi tế còn lại khi dây thô đã đứt. Sắc ái và vô sắc ái (rūparāga, arūparāga) là ưa thích sự hiện hữu ở cõi sắc và cõi vô sắc; Kinh Thượng Phần Kiết Sử (SN 45.180) và Kinh Hợp Tụng (DN 33) dịch là sắc tham, vô sắc tham. Mạn (māna) là so đo; Kinh Hợp Tụng kể ba mạn: cho mình hơn, bằng hay kém người. Trạo cử (uddhacca) là tâm xao động chưa lắng hẳn. Vô minh (avijjā) là không thấy rõ khổ, nguồn gốc khổ, sự diệt khổ và con đường. SN 45.180 nói điều tương tự về năm kiết sử này.
Đoạn ba kiết sử: bước vào dòng
Ba kiết sử là thân kiến, nghi và giới cấm thủ, như Kinh Hợp Tụng (DN 33) kể. Kinh Quán Niệm Hơi Thở (MN 118) mô tả Tỷ-kheo đã đoạn ba kiết sử là bậc Dự lưu (sotāpanna): không còn đọa vào ác đạo, vững vàng hướng về giác ngộ. Kinh Tất Cả Lậu Hoặc (MN 2) cho thấy ba kiết sử được trừ diệt khi như lý tác ý về khổ, nguồn gốc khổ, sự diệt khổ và con đường, tức là nhờ cái thấy, không nhờ nghi lễ hay một trải nghiệm lạ. Vì vậy «đoạn ba kiết sử» không phải cảm giác nhẹ nhõm sau một khóa tu, mà là sự đổi khác trong cách thấy.
Bốn bậc Thánh được mô tả qua kiết sử
Kinh Quán Niệm Hơi Thở (MN 118) kể trong chúng Tỷ-kheo có đủ các hạng. Người đã đoạn ba kiết sử là bậc Dự lưu. Người đã đoạn ba kiết sử và làm cho tham, sân, si mỏng nhẹ là bậc Nhất lai, trở lại đời này một lần rồi chấm dứt khổ. Người đã đoạn năm hạ phần kiết sử thì hóa sanh, nhập Niết-bàn ở đó, không trở lại đời này, thường gọi là bậc Bất lai. Bậc A-la-hán đã đoạn trừ các lậu hoặc và «hữu kiết sử»; theo cách hiểu phổ biến, vị ấy đã cắt cả mười kiết sử. Bài về bốn Thánh quả nói kỹ hơn.
Bảy kiết sử, ái kiết sử và bảy tùy miên
Kinh Kiết Sử AN 7.8 kể bảy kiết sử: tùy tham, sân, kiến, nghi, mạn, hữu tham và vô minh; Kinh Hợp Tụng (DN 33) nêu bảy kiết sử theo cùng thứ tự, chi đầu dịch là «ái kiết sử». Kinh Tùy Miên AN 7.11 kể bảy tùy miên (anusaya) với tên gần giống: dục tham, sân, kiến, nghi, mạn, hữu tham, vô minh. «Tùy miên» thường được hiểu là khuynh hướng ngủ ngầm trong tâm, còn «kiết sử» nhấn mạnh sự trói buộc. AN 7.9 và AN 7.12 nói đời sống Phạm hạnh được sống để đoạn tận bảy kiết sử và bảy tùy miên ấy. Gặp «7 kiết sử», nên xem văn cảnh đang dùng danh sách nào.
Nhận ra kiết sử trong đời thường mà không tự gắn nhãn
Danh sách kiết sử hữu ích nhất khi làm gương soi phản ứng hằng ngày. Thân kiến lộ ra khi một lời chê làm ta thấy cả con người mình bị xúc phạm. Giới cấm thủ lộ ra khi tin rằng làm đủ nghi thức là xong việc tu, dù tham, sân vẫn y nguyên. Mạn lộ ra khi lặng lẽ so mình với người cùng tu. Nhận ra như vậy không phải để đếm mình còn bao nhiêu kiết sử hay xếp ai vào quả vị nào. Nếu việc tự soi xét làm bạn lo âu, tự trách nặng nề, hãy dừng lại và tìm người hướng dẫn hoặc hỗ trợ chuyên môn.
Đọc thử miễn phí
Không cần tài khoản để thử một bước thực hành
Mở một đoạn ngắn từ chính bài này, thực hành ngay tại đây, rồi tạo tài khoản nếu muốn lưu tiến trình và mở khóa cõi giới.
Chạm mở để đọc một đoạn ngắn và thử một bước thực hành trước khi đăng ký.
Thực hành trong hôm nay
1.Hôm nay, mỗi khi thấy mình so hơn kém với ai, ghi nhận «đây là mạn» rồi thôi nuôi câu chuyện ấy.
2.Chọn một nghi thức quen làm và tự hỏi: mình làm với hiểu biết, hay tin rằng tự nó đưa đến giải thoát?
3.Ghi một điều còn phân vân về con đường rồi đọc thẳng bài kinh liên quan.
Câu hỏi thường gặp
3 kiết sử là gì?
Là thân kiến, nghi và giới cấm thủ (DN 33). MN 118 gọi người đã đoạn ba kiết sử này là bậc Dự lưu; MN 2 cho thấy chúng được trừ diệt nhờ như lý tác ý về Tứ Diệu Đế.
5 kiết sử (năm kiết sử) là gì?
Thường là năm hạ phần kiết sử: thân kiến, nghi, giới cấm thủ, dục tham và sân; người đã đoạn năm kiết sử này hóa sanh, nhập Niết-bàn ở đó, không trở lại đời này (MN 118). Năm kiết sử còn lại thuộc thượng phần.
7 kiết sử là gì? Ái kiết sử là gì?
AN 7.8 kể bảy kiết sử: tùy tham, sân, kiến, nghi, mạn, hữu tham, vô minh. Kinh Hợp Tụng (DN 33) nêu cùng bảy chi, dịch chi đầu là «ái kiết sử»: sự ưa thích, dính mắc trói tâm vào điều vừa ý. Bảy tùy miên ở AN 7.11 là danh sách khác, tuy gần tên.
Hữu kiết sử là gì?
Cụm «hữu kiết sử đã được đoạn tận» nằm trong lời mô tả bậc A-la-hán ở MN 118 và nhiều kinh khác. «Hữu» (bhava) là sự hiện hữu, tiếp nối đời sống; hữu kiết sử là những gì còn trói vào sự tiếp nối ấy. Gần nghĩa là «hữu tham kiết sử» trong bảy kiết sử của AN 7.8.
Kiết sử và triền cái khác nhau thế nào?
Năm triền cái (AN 5.51) che lấp tâm, làm yếu trí tuệ ngay khi chúng có mặt. Kiết sử là dây trói mà kinh dùng để mô tả các bậc Thánh đã đoạn trừ. Hai danh sách có tên trùng như dục tham, sân, nghi; còn trạo cử là một nửa của trạo hối.