Inti DharmaInti Dharma
Kinh điển
Nguyên Thủy — Pāli Tạng · Tiểu Bộ Kinh

Ja 478Duta Jātaka

Tên Pāli / Sanskrit:Dūtajātaka

📖1,478 từ · ~6 phút đọc
2
Tóm tắt

Câu chuyện này bậc Đạo Sư kể tại Jetavana, để tán dương trí tuệ của chính Ngài.

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản
Diễn giải bởi Inti AI (Tiếng Việt)
🪷 AI diễn giải

Chuyện Tiền Thân Đức Phật

Quyển 13 Terasanipāta

478. Duta Jātaka — Dūtajātaka

"Ồ người đang đắm chìm trong tư tưởng," v.v.—Câu chuyện này Đức Thế Tôn kể khi đang trú tại Jetavana, về sự ca ngợi trí tuệ của chính Ngài. Trong Giảng đường Chân Lý, họ đang bàn tán: "Hãy xem, chư Huynh, tài năng ứng phó của Bậc Thập Lực! Ngài chỉ cho vị thiếu niên Nanda thấy đoàn tiên nữ, PTS vp En 140 và ban cho vị ấy Thánh quả; Ngài ban y phục cho người tùy tùng nhỏ bé của mình, và cùng với bốn nhánh thần thông ban Thánh quả cho người ấy; với người thợ rèn Ngài chỉ cho thấy một bông sen, và ban Thánh quả; với những phương tiện thiện xảo đa dạng như vậy Ngài hướng dẫn chúng sinh!" Đức Thế Tôn bước vào và hỏi họ đang ngồi bàn luận về điều gì; họ nói cho Ngài biết.

Ngài bảo: "Không chỉ lần này Như Lai mới thiện xảo trong phương tiện, và khéo léo biết điều gì sẽ đạt hiệu quả mong muốn; trước đây Ngài cũng đã như vậy." Nói xong, Ngài kể một câu chuyện quá khứ.

Thuở xưa, khi Brahmadatta là vua Benares, đất nước thiếu vàng; vì vị vua ấy áp bức đất nước để tích lũy kho báu. Vào thời đó, Bồ-tát sinh trong gia đình một vị Bà-la-môn của một làng nọ ở Kāsi. Khi trưởng thành, vị ấy đến Takkasila và nói: "Ta sẽ kiếm tiền để trả thù lao cho thầy sau, bằng cách xin bố thí một cách đứng đắn." Vị ấy thu nhận học vấn, và khi học xong, nói: "Thưa thầy, con sẽ hết sức cố gắng để mang lại cho thầy số tiền thù lao xứng đáng." Rồi từ biệt thầy, vị ấy rời đi và đi khắp nơi xin bố thí.

Khi đã kiếm được một ít lượng vàng một cách đứng đắn và công bằng, vị ấy lên đường trao cho thầy giáo; và trên đường, vị ấy lên thuyền để qua sông Hằng. Khi thuyền đang lắc lư trên sóng nước, vàng rơi xuống sông. Bấy giờ vị ấy nghĩ: "Đây là vùng đất khó kiếm vàng; PTS vp Pali 225 nếu ta phải đi xin nữa để có tiền trả thầy, sẽ mất nhiều thời gian.

Hay là ta ngồi nhịn ăn bên bờ sông Hằng? Nhà vua rồi sẽ nghe tin về việc ta ngồi đây, và vua sẽ sai một số cận thần đến, nhưng ta sẽ không nói gì với họ. Bấy giờ chính nhà vua sẽ đích thân đến, và qua đó ta sẽ lấy được học phí của thầy từ vua." Vậy là vị ấy quấn y phục trên người, và để lộ sợi dây Bà-la-môn ra ngoài, ngồi trên bờ sông Hằng, như một tượng vàng trên cát bạc.

Đám đông qua lại nhìn thấy vị ấy ngồi như vậy mà không ăn uống, bèn hỏi tại sao vị ấy ngồi như vậy. Nhưng vị ấy không nói một lời với bất kỳ ai. Ngày hôm sau dân làng ở vùng ngoại ô nghe tin vị ấy ngồi ở đó, và cũng đến hỏi, nhưng vị ấy cũng không cho họ biết thêm; thấy tình trạng kiệt sức của vị ấy, dân làng thương xót bỏ đi.

Ngày thứ ba, người từ thành phố đến, ngày thứ tư những quan chức lớn trong thành đến, ngày thứ năm những người thân cận của vua đến, ngày thứ sáu vua sai quan đại thần đến; nhưng vị ấy không chịu nói chuyện với bất kỳ ai trong số đó. PTS vp En 141 Đến ngày thứ bảy, nhà vua lo lắng đến gặp người đó và hỏi sự giải thích, đọc lên câu kệ đầu tiên:

"Ồ người đang đắm chìm trong tư tưởng bên bờ sông Hằng, tại sao ông không đáp lại
Để trả lời các thông điệp của trẫm? Ông có muốn giấu nỗi đau không?"

Khi nghe vậy, Đại Nhân đáp: "Ồ Đại Vương! Nỗi đau phải được nói với người có khả năng giải quyết nó, chứ không phải với người khác:" và vị ấy lặp lại bảy câu kệ:

"Ồ Chúa tể nuôi dưỡng đất Kāsi! Nếu ưu bi là phần của bệ hạ,
Đừng nói ưu bi đó với bất kỳ ai nếu người đó không thể giúp được.

"Nhưng bất kỳ ai có thể giải quyết một phần ưu bi đó theo đúng pháp,
Hãy để mọi người đau khổ trình bày tất cả nỗi lòng với người đó.

"Tiếng kêu của chó hoang hay của chim dễ hiểu;
Phải, nhưng lời của người đời, ồ Vua ơi, tối tăm hơn những tiếng đó nhiều.

PTS vp Pali 226 Một người có thể nghĩ: 'Đây là bạn ta, bầu bạn ta, cùng giòng họ với ta':
Nhưng tình bạn đã mất, và thường oán thù và thù hằn bắt đầu!

"Người nào khi không được hỏi và khi được hỏi đi hỏi lại
Không đúng thời điểm trình bày nỗi đau của mình,
Chắc chắn làm bực lòng những người là bạn của mình,
Và những ai chúc tốt cho người ấy đau lòng than thở.

"Biết cách tìm thời điểm thích hợp để nói,
Biết tìm một người trí tuệ có tâm tương hợp,
Người trí tuệ trình bày khổ não của mình với người như vậy,
Bằng những lời nhẹ nhàng với ý nghĩa ẩn giấu bên trong.

"Nhưng nếu người ấy thấy rằng không gì có thể cải thiện
Hoàn cảnh khó khăn của mình, và rằng nói ra cũng sẽ dẫn đến
Không kết quả tốt, hãy để người trí tuệ một mình
Chịu đựng, kín đáo và biết tự trọng đến cùng."

PTS vp Pali 227 Đại Nhân như vậy đã thuyết giảng trong bảy câu kệ này để dạy vua; rồi lặp lại bốn câu nữa để trình bày việc tìm kiếm tiền trả học phí cho thầy:

"Ồ Vua! Ta đã đi khắp các vương quốc, các thành của mỗi vua,
Mỗi thị trấn hay làng mạc, xin bố thí, để mang học phí cho thầy.

"Nhà chủ đất, cận thần, người giàu có, Bà-la-môn—tại mỗi cửa
Đi xin, ta kiếm được một ít vàng, chỉ một hai lượng mà thôi.
Nay số đó đã mất, ồ Đại Vương hùng mạnh! và vì vậy ta buồn bã vô cùng.

"Các thông điệp của bệ hạ không có quyền năng giải thoát ta khỏi đau khổ—
Ta đã cân nhắc kỹ họ, ồ Đại Vương hùng mạnh! nên ta không giải thích.

"Nhưng bệ hạ có quyền năng, ồ Đại Vương hùng mạnh! để giải thoát ta khỏi đau khổ,
Vì ta đã cân nhắc công đức của bệ hạ; với bệ hạ ta mới giải thích."

Khi nghe lời bày tỏ của vị ấy, nhà vua đáp: "Đừng lo, này Bà-la-môn, ta sẽ cấp học phí của thầy cho ông;" và Ngài hoàn trả gấp đôi. PTS vp En 142

Để làm rõ điều này, Đức Thế Tôn lặp lại câu kệ cuối:

"Chúa tể nuôi dưỡng đất Kāsi đã hoàn trả cho người này
(Trong sự tin tưởng đầy đủ) vàng ròng gấp đôi số vị ấy đã có trước."

Sau khi Đại Nhân đã phát biểu như vậy, vị ấy tiếp tục trả học phí cho thầy; và nhà vua cũng vậy, sống theo lời khuyên của vị ấy, làm phước bố thí và hành thiện, và trị vì trong công lý. Cả hai cuối cùng qua đời theo nghiệp quả của họ.

PTS vp Pali 228 Khi Đức Thế Tôn kết thúc bài giảng này, Ngài nói: "Vậy, chư Tỳ-kheo, không phải chỉ bây giờ Như Lai mới thiện xảo phương tiện, mà luôn luôn như vậy." Rồi Ngài xác định Tiền Thân: "Vào thời đó Ānanda là nhà vua, Sāriputta là thầy giáo, và chính Ta là người thanh niên."

Jātaka, hay Chuyện Tiền Thân Đức Phật, do E.B. Cowell biên tập, do Nhà Xuất bản Đại học Cambridge ấn hành.

  • Quyển 1, Robert Chalmers dịch, 1895.
  • Quyển 2, W.H.D. Rouse dịch, 1895.
  • Quyển 3, H.T. Francis và R.A. Neil dịch, 1897.
  • Quyển 4, W.H.D. Rouse dịch, 1901.
  • Quyển 5, H.T. Francis dịch, 1905.
  • Quyển 6, E.B. Cowell và W.H.D. Rouse dịch, 1907.

Các bản dịch này thuộc phạm vi công cộng. Quý vị tự do sử dụng theo ý muốn.

Được quét, hiệu đính và định dạng tại sacred-texts.com, từ tháng 1 năm 2006 đến tháng 2 năm 2010, bởi John Bruno Hare và các cộng tác viên khác. Trân trọng cảm ơn Sacred Texts Archive đã cung cấp những bản văn này dưới dạng kỹ thuật số.

Chuẩn bị cho SuttaCentral bởi Bhikkhu Sujato.

🌏Vì sao bài kinh này do Inti AI tóm lược?

Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.

🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này
Nguồn bản dịch: Diễn giải / dịch bởi AI (Inti Sage)Giấy phép: CC0-1.0 (Sujato) · personal-use (Minh Châu) · VI: bản dịch AI (Claude), chờ đối chiếu🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến