Inti DharmaInti Dharma
Kinh điển
Nguyên Thủy — Pāli Tạng · Tiểu Bộ Kinh

Ja 352Sujāta Jātaka – Chuyện Chàng Sujāta Giải Thoát Cha Khỏi Đau Buồn

Tên Pāli / Sanskrit:Sujātajātaka

📖939 từ · ~4 phút đọc
2
Tóm tắt

Đây là câu chuyện do Đức Thế Tôn kể khi đang trú tại Jetavana, liên quan đến một vị trưởng giả vừa mất cha.

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản
Diễn giải bởi Inti AI (Tiếng Việt)
🪷 AI diễn giải

Chuyện Tiền Thân của Đức Phật

Quyển 5 – Pañcanipāta

352. Sujāta Jātaka

"Sao vội vàng mang đến," v.v. — Đức Thế Tôn kể câu chuyện này khi đang trú tại Jetavana, liên quan đến một điền chủ đã mất cha. Tương truyền rằng sau khi cha mất, ông đi lại than thở, không thể nào gạt bỏ nỗi đau được. Đức Thế Tôn nhận ra rằng người đàn ông đó có khả năng đạt được Quả Giải Thoát, và khi Ngài đi khất thực tại Sāvatthī có một vị tỳ-kheo tháp tùng, Ngài đến nhà ông và ngồi xuống chỗ được soạn sẵn, cúi đầu chào chủ nhà cũng đang ngồi đó, rồi hỏi: "Này cư sĩ, ông có đang sầu khổ không?" Ông đáp: "Bạch Tôn giả, con có." Ngài nói: "Này bạn, các bậc trí giả thời xưa đã lắng nghe lời Trí Tuệ, và khi họ mất cha, họ không sầu khổ." Và theo yêu cầu của chủ nhà, Ngài kể một câu chuyện thời xa xưa.

Thuở xưa, khi vua Brahmadatta đang trị vì tại Bārāṇasī, Bồ-tát đầu thai trong nhà một điền chủ. Người ta đặt tên cậu là Sujāta trẻ. Khi cậu lớn lên, ông nội qua đời. Thế rồi cha cậu từ ngày ông cụ mất đã đầy lo buồn, thu nhặt xương của người chết từ nơi hỏa táng rồi đắp một ụ đất trong vườn hoa nhà mình, đặt hài cốt vào đó, và mỗi khi đến thăm PTS vp En 104 nơi đó, ông trang trí tháp thờ bằng hoa rồi thương tiếc cụ một cách chu đáo, không tắm, không thoa dầu, không ăn. Cũng chẳng quan tâm đến việc làm ăn. Bồ-tát thấy vậy nghĩ: "Cha ta từ khi ông nội mất đã đi lại trong sầu khổ. Và ta chắc rằng, ngoài ta ra, không ai có khả năng an ủi ông. Ta sẽ tìm cách giải thoát ông khỏi đau buồn."

PTS vp Pali 156 Vậy khi thấy một con bò chết nằm ngoài thành, cậu mang cỏ và nước đến đặt trước mặt nó rồi nói: "Ăn đi, uống đi, ăn đi, uống đi." Tất cả những ai đi ngang qua trông thấy cảnh đó đều nói: "Bạn Sujāta ơi, bạn có điên không? Sao lại mang cỏ và nước cho con bò chết?" Nhưng cậu chẳng đáp một lời.

Vậy họ đến nói với cha cậu: "Con trai ông bị điên rồi. Nó mang cỏ và nước cho con bò chết." Nghe điều này, điền chủ thôi không sầu khổ vì cha nữa mà bắt đầu lo lắng cho con. Ông vội vội vàng vàng chạy đến và kêu lên: "Sujāta yêu của cha, con có tỉnh táo không? Sao con lại mang cỏ và nước cho xác con bò?" Và ông đọc hai bài kệ:

Sao vội vàng mang cỏ tươi thơm ngát đến đây,Và gọi thú vô hồn, "Trỗi dậy mà ăn"?Không thức ăn nào có thể làm con bò chết sống lại,Lời ngươi là vô ích và sinh ra từ ngu xuẩn.

Rồi Bồ-tát đọc hai bài kệ:

Ta nghĩ con thú này có thể sống lại được,
Vì đầu và đuôi cùng bốn chân vẫn còn đây.
Nhưng xương của ông nội ta, đầu tứ chi đã tiêu tan:
Không kẻ ngu nào khóc mộ ông, chỉ một mình cha thôi.

PTS vp Pali 157 Nghe điều này, cha của Bồ-tát nghĩ: "Con ta thông minh. Nó biết điều đúng đắn cần làm cho đời này lẫn đời sau. Nó làm vậy để an ủi ta." Và ông nói: "Sujāta con ơi, bậc trí nhân của ta, ta biết rằng tất cả mọi sự vật đều vô thường. Từ nay ta sẽ không sầu khổ nữa. Người con như con phải là tấm gương cho ai muốn gỡ bỏ nỗi đau của cha." Và trong khi ca ngợi con trai, ông nói:

Như ngọn lửa nuôi bằng bơ bùng cháy to lớn
Được dập tắt bằng nước, con đã dập tắt đau khổ của cha.
Với mũi tên sầu muộn, trái tim cha bị thương đau,
Con chữa lành vết thương và khôi phục lại cuộc đời cha.
Rút được mũi tên ra rồi, đầy bình an và hoan hỷ,
Cha thôi không khóc than nữa và lắng nghe lời con.
Những tâm hồn nhân hậu như vậy cai giải con người khỏi đau buồn,
Như Sujāta trí tuệ đã giải thoát cha mình.

Đức Thế Tôn sau khi kết thúc bài giảng, tuyên thuyết Tứ Diệu Đế và xác nhận Tiền Thân — Vào lúc kết thúc Tứ Diệu Đế, điền chủ đạt được Quả Nhập Lưu — "Lúc đó ta chính là Sujāta."

---

Jātaka, hay Chuyện Tiền Thân của Đức Phật, do E.B. Cowell biên tập, xuất bản bởi The Cambridge University Press.

  • Quyển 1, dịch bởi Robert Chalmers, 1895.
  • Quyển 2, dịch bởi W.H.D. Rouse, 1895.
  • Quyển 3, dịch bởi H.T. Francis và R.A. Neil, 1897.
  • Quyển 4, dịch bởi W.H.D. Rouse, 1901.
  • Quyển 5, dịch bởi H.T. Francis, 1905.
  • Quyển 6, dịch bởi E.B. Cowell và W.H.D. Rouse, 1907.

Các bản dịch này thuộc phạm vi công cộng. Bạn được tự do sử dụng theo bất kỳ cách nào.

Được quét, hiệu đính và định dạng tại sacred-texts.com, tháng 1 năm 2006 – tháng 2 năm 2010, bởi John Bruno Hare và các cộng tác viên khác. Cảm ơn Sacred Texts Archive đã cung cấp các văn bản này dưới dạng kỹ thuật số.

Chuẩn bị cho SuttaCentral bởi Bhikkhu Sujato.

🌏Vì sao bài kinh này do Inti AI tóm lược?

Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.

🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này
Nguồn bản dịch: Diễn giải / dịch bởi AI (Inti Sage)Giấy phép: CC0-1.0 (Sujato) · personal-use (Minh Châu) · VI: bản dịch AI (Claude), chờ đối chiếu🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến