Inti DharmaInti Dharma
Kinh điển
Nguyên Thủy — Pāli Tạng · Tiểu Bộ Kinh

Ja 164Gijjha Jātaka — Chuyện Tiền Thân: Con Kền Kền

Tên Pāli / Sanskrit:Gijjhajātaka

📖974 từ · ~4 phút đọc
2
Tóm tắt

"Kên kên nhìn thấy xác chết"—Câu chuyện này được Đức Thế Tôn kể về một vị Tỳ-kheo phải phụng dưỡng mẫu thân. Hoàn cảnh dẫn khởi sẽ được trình bày trong Tiền thân Sama.

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản
Diễn giải bởi Inti AI (Tiếng Việt)
🪷 AI diễn giải

Chuyện Tiền Thân của Đức Phật

Quyển 2 Dukanipāta

164. Gijjhajātaka — Chuyện Tiền Thân Con Kền Kền

"Kền kền nhìn thấy xác chết," v.v.—Câu chuyện này Bậc Đạo Sư kể về một Tỳ-khưu phải nuôi dưỡng mẹ. Hoàn cảnh sẽ được kể lại trong Jātaka Sama. Bậc Đạo Sư hỏi ngài rằng, là một Tỳ-khưu, ngài có thực sự đang cưu mang những người vẫn đang sống đời thế tục. Vị Tỳ-khưu xác nhận điều đó. "Họ có quan hệ gì với ông?" Bậc Đạo Sư hỏi tiếp. "Họ là cha mẹ con, thưa Ngài." "Tốt lắm, tốt lắm," Bậc Đạo Sư nói; và dặn các Tỳ-khưu đừng tức giận với Tỳ-khưu này. "Người trí tuệ thời xưa," Ngài nói, "đã phục vụ ngay cả những người không có quan hệ thân thuộc với họ; còn công việc của vị Tỳ-khưu này là phụng dưỡng chính cha mẹ mình." Nói xong, Ngài kể câu chuyện từ thời xưa.

Ngày xưa, khi Brahmadatta là vua ở Benares, Bồ-tát đầu thai làm một con kền kền non trên Núi Kền Kền, và phải nuôi dưỡng cha mẹ. PTS vp En 35

Một hôm có một trận gió lớn và mưa dữ. Các con kền kền không thể chống đỡ; nửa đông cứng, chúng bay đến Benares, và ngồi gần tường thành và hào, run rẩy vì lạnh.

Một thương nhân ở Benares đang đi ra khỏi thành để tắm, thì nhìn thấy những con kền kền khốn khổ này. Ông tập hợp chúng ở một nơi khô ráo, đốt lửa, sai người đem thịt bò từ lò mổ đến cho chúng ăn, và cử người trông nom chúng.

Khi cơn bão tan, PTS vp Pali 51 các con kền kền của chúng ta đã ổn định và lập tức bay đi về phía núi. Không chần chừ, chúng tụ họp lại và bàn tính với nhau như vầy: "Một thương nhân Benares đã làm ơn cho chúng ta; và ơn phải được đền đáp, như người ta vẫn nói: vì vậy từ nay về sau, mỗi khi ai trong chúng ta tìm thấy áo quần hay đồ trang sức, phải thả chúng xuống sân của vị thương nhân đó." Vì vậy từ đó về sau, nếu chúng nhìn thấy người ta phơi quần áo hay đồ trang sức dưới nắng, chờ lúc họ sơ hở, chúng liền vồ lấy nhanh chóng như diều hâu sà xuống miếng thịt, và thả xuống sân nhà vị thương nhân. Nhưng mỗi khi ông nhận thấy chúng mang đến cho mình thứ gì, ông đều cho cất đi.

Người ta báo cho nhà vua biết rằng kền kền đang cướp phá thành. "Hãy bắt cho ta một con kền kền," nhà vua nói, "và ta sẽ bắt chúng đền lại tất cả." Vì vậy bẫy và lưới được giăng khắp nơi; con kền kền hiếu thảo của chúng ta bị bắt. Người ta tóm lấy nó để mang đến cho nhà vua. Vị thương nhân đã nói đến, trên đường đến hầu đức vua, nhìn thấy những người đi cùng với con kền kền. Ông đi theo cùng họ, vì sợ họ làm hại con kền kền.

Họ dâng con kền kền lên nhà vua, người đã xét hỏi nó.

"Các ngươi cướp phá thành của ta và mang đi quần áo cùng mọi thứ," nhà vua bắt đầu.—"Tâu vâng, thưa Bệ hạ."—"Chúng đã được cho ai?"—"Một thương nhân Benares, thưa Bệ hạ."—"Vì sao?"—"Vì ngài đã cứu mạng chúng tôi, và người ta bảo ơn phải được đền đáp; đó là lý do chúng tôi cho ngài."

"Kền kền, người ta nói," nhà vua phán, "có thể nhìn thấy xác chết từ khoảng cách một trăm do-tuần; vậy mà các ngươi không nhìn thấy bẫy được đặt sẵn trước mặt sao?" Và với những lời đó Ngài đọc bài kệ thứ nhất:

> "Kền kền thấy xác chết nằm một trăm do-tuần:
> Khi ngươi đậu xuống bẫy, chẳng lẽ ngươi không nhìn thấy sao?"

PTS vp Pali 52 Con kền kền lắng nghe, rồi đáp lại bằng bài kệ thứ hai:

> "Khi mạng sống sắp đến hồi kết thúc, và giờ chết đến gần,
> Dù ngươi có đến thật gần, cũng không thấy bẫy hay lưới."

Sau lời đáp của con kền kền, nhà vua quay sang vị thương nhân của chúng ta. "Tất cả những thứ này có thực sự được kền kền mang đến cho ông không?" PTS vp En 36 "Thưa vâng, bệ hạ." "Chúng ở đâu?" "Thưa bệ hạ, chúng đều được cất giữ; mỗi người sẽ nhận lại đồ của mình—chỉ cần thả con kền kền này ra!" Ông được chấp thuận; con kền kền được thả tự do, và vị thương nhân trả lại toàn bộ tài sản cho những người sở hữu.

Bài học kết thúc, Bậc Đạo Sư tuyên thuyết Tứ Diệu Đế và xác định câu chuyện tiền thân—vào lúc kết thúc Tứ Diệu Đế, vị Tỳ-khưu hiếu thảo đã an trú trong quả Nhập Lưu—"Ānanda là nhà vua ngày đó; Sāriputta là vị thương nhân; còn ta chính là con kền kền nuôi dưỡng cha mẹ."

---

The Jātaka, or Stories of the Buddha's Former Births, do E.B. Cowell biên tập, xuất bản bởi The Cambridge University Press.

  • Tập 1, Robert Chalmers dịch, 1895.
  • Tập 2, W.H.D. Rouse dịch, 1895.
  • Tập 3, H.T. Francis và R.A. Neil dịch, 1897.
  • Tập 4, W.H.D. Rouse dịch, 1901.
  • Tập 5, H.T. Francis dịch, 1905.
  • Tập 6, E.B. Cowell và W.H.D. Rouse dịch, 1907.

Các bản dịch này thuộc phạm vi công cộng.

Được số hóa, hiệu đính và định dạng tại sacred-texts.com, tháng 1/2006–tháng 2/2010, bởi John Bruno Hare và các cộng sự.

Chuẩn bị cho SuttaCentral bởi Tỳ-khưu Sujato.

🌏Vì sao bài kinh này do Inti AI tóm lược?

Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.

🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này
Nguồn bản dịch: Diễn giải / dịch bởi AI (Inti Sage)Giấy phép: CC0-1.0 (Sujato) · personal-use (Minh Châu) · VI: bản dịch AI (Claude), chờ đối chiếu🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến