Inti DharmaInti Dharma
Kinh điển
Nguyên Thủy — Pāli Tạng · Tiểu Bộ Kinh

Ja 163Susīma Jātaka

Tên Pāli / Sanskrit:Susīmajātaka

📖1,836 từ · ~7 phút đọc
2
Tóm tắt

"Năm trăm con voi đen."—Câu chuyện này được Đức Thế Tôn kể tại Jetavana, liên quan đến việc bố thí một cách tùy tiện.

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản
Diễn giải bởi Inti AI (Tiếng Việt)
🪷 AI diễn giải

Chuyện Tiền Thân của Đức Phật

Quyển 2 — Dukanipāta

163. Susīma Jātaka

"Năm trăm voi đen," v.v. — Câu chuyện này được Bậc Thầy kể tại Jetavana, nhân dịp một trường hợp bố thí tùy tiện.

Chúng ta được biết rằng tại Sāvatthi, một gia đình đôi khi bố thí cho Đức Phật và các Tỳ-kheo, đôi khi lại bố thí cho các ngoại đạo; hoặc những người bố thí tự họp thành nhóm, hoặc người dân trong cùng một con phố chung góp với nhau, hoặc toàn thể cư dân cùng nhau quyên góp tự nguyện rồi dâng cúng.

Lần này, toàn thể cư dân đã quyên góp đầy đủ mọi vật phẩm cần thiết; nhưng ý kiến chia đôi, một phần đề nghị dâng cúng cho ngoại đạo, một phần đề nghị dâng cúng cho những người theo Đức Phật. Mỗi bên giữ vững lập trường của mình, đệ tử của ngoại đạo bầu cho ngoại đạo, còn đệ tử của Đức Phật bầu cho hội chúng của Ngài. Rồi người ta đề nghị biểu quyết, và kết quả là những ai đứng về phía Đức Phật chiếm đa số.

Vậy kế hoạch đó được thực hiện, và đệ tử của ngoại đạo không thể ngăn cản các vật phẩm được dâng đến Đức Phật cùng hội chúng của Ngài.

Cư dân mời hội chúng của Đức Phật; trong bảy ngày, họ dâng cúng phong phú, và đến ngày thứ bảy, họ trao tất cả vật phẩm đã quyên góp. Bậc Thầy cảm tạ, PTS vp Pali 46, sau đó Ngài khai thị cho đông đảo thính chúng về sự chứng đắc các Đạo Quả. Tiếp đó, Ngài trở về Jetavana; khi các đệ tử của Ngài đã hoàn thành phận sự, Ngài giảng một thời pháp trước Hương Thất rồi vào nghỉ trong đó.

Buổi chiều tối, các Tỳ-kheo cùng nhau bàn luận trong Giảng Đường về Chân Lý: "Này đạo hữu, kìa xem các đệ tử của ngoại đạo đã tìm cách ngăn cản việc dâng cúng đến các bậc thánh nhân như thế nào! Vậy mà họ không làm được; tất cả vật phẩm đã được đặt dưới chân các vị thánh nhân. Ôi, thần lực của Đức Phật thật vĩ đại thay!" "Các thầy đang bàn luận điều gì vậy?" — Bậc Thầy bước vào hỏi. Họ thưa lại với Ngài. "Này các Tỳ-kheo," Ngài nói, "đây không phải lần đầu tiên các đệ tử của ngoại đạo tìm cách cản trở một lễ dâng cúng lẽ ra phải đến với Ta. Trước đây họ cũng từng làm vậy; nhưng cuối cùng các vật phẩm đó bao giờ cũng được đặt dưới chân Ta." Nói xong, Ngài kể cho họ nghe một câu chuyện thời xa xưa.

PTS vp En 32 — Thuở xưa, tại Bārāṇasī có một vị vua tên Susīma; và Bồ-tát là con trai của vị Bà-la-môn giáo sĩ tế lễ hoàng cung. Khi chàng được mười sáu tuổi, cha chàng qua đời. Khi còn sống, người cha giữ chức Chủ Lễ trong các lễ hội voi của nhà vua. Chỉ một mình ông mới có quyền hưởng tất cả y phục và trang sức của những con voi tham dự lễ hội. Nhờ đó, ông thu được tới mười triệu đồng tiền mỗi lễ hội.

Vào thời điểm câu chuyện của chúng ta, mùa lễ hội voi lại đến. Và tất cả các Bà-la-môn kéo đến gặp nhà vua với những lời này: "Tâu Đại vương! Mùa lễ hội voi đã đến, và nên tổ chức lễ hội. Nhưng con trai của vị giáo sĩ này còn quá trẻ; chàng không biết ba kinh Veda cũng chẳng biết thuật lễ nghi voi. Chúng thần có thể chủ trì nghi lễ chăng?" Nhà vua chấp thuận.

Các Bà-la-môn ra về hỷ hả. "Aha," họ nói, "chúng ta đã loại trừ được chàng trai này khỏi việc chủ lễ. Chúng ta sẽ tự làm, và giữ lấy phần thưởng!"

Nhưng mẹ của Bồ-tát nghe tin rằng bốn ngày nữa sẽ có lễ hội voi. PTS vp Pali 47 "Bảy đời nay," bà nghĩ, "chúng ta đã chủ trì lễ hội voi từ đời cha truyền con nối. Phong tục cũ sắp rời bỏ chúng ta, và toàn bộ tài sản sẽ tan theo!" Bà khóc than.

"Mẹ khóc vì sao?" con trai hỏi. Bà kể cho chàng nghe. Chàng nói: "Vậy mẹ ơi, con có thể chủ trì lễ hội không?" "Gì cơ, con?

Con không biết ba kinh Veda cũng chẳng biết thuật lễ nghi voi; làm sao con có thể làm được?" "Bao giờ họ tổ chức lễ hội, mẹ?" "Bốn ngày nữa, con ơi." "Con có thể tìm thấy những vị thầy giỏi ba kinh Veda và thuật lễ nghi voi ở đâu không?" "Đúng có một vị thầy nổi tiếng như vậy, con ơi, sống ở Takkasila, thuộc vương quốc Gandhāra, cách đây hai nghìn do-tuần." "Mẹ ơi," chàng nói, "quyền thừa kế của chúng ta sẽ không mất. Một ngày đủ để con đến Takkasila; một đêm đủ để con học thuộc ba kinh Veda và thuật lễ nghi voi; ngày hôm sau con sẽ lên đường về nhà; và đến ngày thứ tư con sẽ chủ trì lễ hội voi.

Mẹ đừng khóc nữa!" Nói những lời đó, chàng an ủi mẹ.

Sáng hôm sau, chàng ăn sáng rồi một mình lên đường đến Takkasila, chỉ trong một ngày là đến nơi. Rồi tìm đến vị thầy, chàng kính chào và ngồi sang một bên.

"Con từ đâu đến?" vị thầy hỏi.

"Từ Bārāṇasī, thưa Thầy."

"Để làm gì?"

"Để học từ Thầy ba kinh Veda và thuật lễ nghi voi."

"Được thôi, con ta, con sẽ học được." PTS vp En 33

"Nhưng thưa Thầy," Bồ-tát của chúng ta thưa, "hoàn cảnh của con rất cấp bách." Rồi chàng kể lại toàn bộ sự tình, thêm rằng: "Chỉ trong một ngày con đã đi hơn hai nghìn do-tuần. Thầy dành cho con một đêm này. Ba ngày nữa sẽ có lễ hội voi; con sẽ học toàn bộ sau một lần chỉ bảo."

Vị thầy đồng ý. Rồi chàng rửa chân thầy và đặt trước mặt thầy một lễ phí một nghìn đồng tiền; PTS vp Pali 48 chàng ngồi sang một bên rồi học thuộc lòng bài học của mình; khi trời rạng đông, ngay khi bình minh ló dạng, chàng đã hoàn thành ba kinh Veda và Thuật Lễ Nghi Voi. "Còn gì nữa không, thưa Thầy?" chàng hỏi. "Không còn gì nữa, con ta, con đã học hết rồi." "Thưa Thầy," chàng tiếp, "trong cuốn sách này có một câu kệ đặt sai chỗ, một câu khác bị thất lạc trong cách đọc. Đây là cách Thầy nên dạy học trò trong tương lai," và rồi chàng sửa lại những chỗ sai trong kiến thức của vị thầy.

Sau bữa sáng, chàng cáo biệt, và chỉ trong một ngày đã trở lại Bārāṇasī, kính chào mẹ. "Con đã học được bài chưa, con trai ta?" bà hỏi. Chàng đáp đã học xong; bà vô cùng hoan hỷ khi nghe vậy.

Hôm sau, lễ hội voi được chuẩn bị. Một trăm con voi được dàn hàng với y phục bằng vàng, cờ vàng, toàn thân phủ lưới vàng mịn; và toàn bộ sân cung điện được trang hoàng. Các Bà-la-môn đứng đó trong trang phục lễ hội tươm tất, tự nghĩ: "Bây giờ chúng ta sẽ làm lễ, chúng ta sẽ làm!" Tiếp đó nhà vua đến, uy nghi lộng lẫy, cùng với đồ trang sức và các vật phẩm được sử dụng.

Bồ-tát, phục trang như một hoàng tử, đứng đầu đoàn tùy tùng, tiến đến gần nhà vua với những lời này:

"Thưa Đại vương, có thật chăng rằng Ngài đang toan đoạt lấy quyền thừa kế của thần? Ngài có trao cho các Bà-la-môn khác việc chủ trì nghi lễ này không? Ngài có bảo rằng Ngài muốn trao cho họ các đồ trang sức và bình đồng dùng trong lễ không?" và chàng đọc khổ kệ đầu tiên như sau:

"Năm trăm voi đen, ngà trắng ngần,Của Ngài, phủ vàng rực sáng lên.'Ta trao cho ngươi, ngươi' — Ngài phán,Nhớ chăng quyền tổ của muôn đời?"

PTS vp Pali 49 — Vua Susīma, được thưa như vậy, liền đọc khổ kệ thứ hai:

"Năm trăm voi đen, ngà trắng ngần,Của Ta, phủ vàng rực sáng lên.'Ta trao cho ngươi, ngươi' — Ta phán,Chàng ơi, nhớ quyền tổ muôn đời."

Rồi một ý nghĩ nảy sinh trong Bồ-tát; và chàng thưa: "Tâu Đại vương, nếu Ngài nhớ đến quyền thừa kế xưa của thần và phong tục cũ của Ngài, sao Ngài lại bỏ qua thần mà đặt người khác làm chủ lễ của Ngài?" "Sao ư, Ta PTS vp En 34 được tâu rằng ngươi không biết ba kinh Veda hay Thuật Lễ Nghi Voi, và đó là lý do Ta để người khác chủ trì lễ hội." "Vâng thưa Đại vương. Nếu trong số tất cả các Bà-la-môn này có ai có thể đọc được một đoạn Veda hay Thuật Lễ Nghi Voi để đọ với thần, hãy để người đó bước ra!

Trên khắp cõi Ấn Độ này không có ai ngoài thần biết được ba kinh Veda và Thuật Lễ Nghi Voi để chủ trì lễ hội voi!" PTS vp Pali 50 — Lời đáp vang lên kiêu hãnh tựa tiếng gầm của sư tử! Không một Bà-la-môn nào dám đứng lên tranh luận với chàng. Vậy là Bồ-tát giữ được quyền thừa kế của mình và chủ trì nghi lễ; rồi chàng trở về nhà với đầy ắp tài sản.

Khi Bậc Thầy kết thúc thời pháp này, Ngài tuyên thuyết Tứ Diệu Đế và xác nhận Bổn Sanh — một số vào Sơ Đạo, một số vào Nhị Đạo, một số vào Tam Đạo, và một số vào Tứ Đạo — "Lúc đó Mahāmāyā là mẹ Ta, vua Suddhodana là cha Ta, Ānanda là vua Susīma, Sāriputta là vị Danh Sư nổi tiếng, và chính Ta là chàng Bà-la-môn trẻ."

---

Jātaka, hay Chuyện Tiền Thân của Đức Phật, biên tập bởi E.B. Cowell, xuất bản bởi Nhà xuất bản Đại học Cambridge.

  • Quyển 1, dịch bởi Robert Chalmers, 1895.
  • Quyển 2, dịch bởi W.H.D. Rouse, 1895.
  • Quyển 3, dịch bởi H.T. Francis và R.A. Neil, 1897.
  • Quyển 4, dịch bởi W.H.D. Rouse, 1901.
  • Quyển 5, dịch bởi H.T. Francis, 1905.
  • Quyển 6, dịch bởi E.B. Cowell và W.H.D. Rouse, 1907.

Các bản dịch này thuộc phạm vi công cộng. Bạn có thể tự do sử dụng như mong muốn.

Được quét, hiệu đính và định dạng tại sacred-texts.com, tháng 1 năm 2006 – tháng 2 năm 2010, bởi John Bruno Hare và những người khác.

Được chuẩn bị cho SuttaCentral bởi Tỳ-kheo Sujato.

🌏Vì sao bài kinh này do Inti AI tóm lược?

Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.

🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này
Nguồn bản dịch: Diễn giải / dịch bởi AI (Inti Sage)Giấy phép: CC0-1.0 (Sujato) · personal-use (Minh Châu) · VI: bản dịch AI (Claude), chờ đối chiếu🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🔗Các bản đối chiếu
🕯️ Thắp nến