Vb 7Phân Tích Các Nền Tảng Chánh Niệm (Satipaṭṭhānavibhaṅga) — Phân Tích số 7, Sách Phân Tích (Vibhaṅga)
Tên Pāli / Sanskrit:Satipaṭṭhānavibhaṅga
Lưu tiến độ đọc kinh
Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.
– Sách Phân Tích
7. Phân Tích Các Nền Tảng Chánh Niệm
1. Phân Tích Theo Kinh Tạng
PTS cs 355 BA 251 PTS vp 193 Bốn nền tảng chánh niệm — Ở đây, một tỳ-khưu sống quán niệm thân trong thân một cách nội tâm; sống quán niệm thân trong thân một cách ngoại tâm; sống quán niệm thân trong thân cả nội tâm lẫn ngoại tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm; loại trừ tham lam và ưu phiền trong thế gian. Vị ấy sống quán niệm thọ trong các thọ một cách nội tâm; sống quán niệm thọ trong các thọ một cách ngoại tâm; sống quán niệm thọ trong các thọ cả nội tâm lẫn ngoại tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm; loại trừ tham lam và ưu phiền trong thế gian.
Vị ấy sống quán niệm tâm trong tâm thức một cách nội tâm; sống quán niệm tâm trong tâm thức một cách ngoại tâm; sống quán niệm tâm trong tâm thức cả nội tâm lẫn ngoại tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm; loại trừ tham lam và ưu phiền trong thế gian. Vị ấy sống quán niệm tâm sở trong các pháp tâm một cách nội tâm; sống quán niệm tâm sở trong các pháp tâm một cách ngoại tâm; sống quán niệm tâm sở trong các pháp tâm cả nội tâm lẫn ngoại tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm; loại trừ tham lam và ưu phiền trong thế gian.
1. Luận Giải Quán Niệm Thân
PTS cs 356 Và như thế nào một tỳ-khưu sống quán niệm thân trong thân một cách nội tâm? Ở đây, một tỳ-khưu quán chiếu thân một cách nội tâm, từ lòng bàn chân trở lên, từ đỉnh tóc trở xuống, bọc bởi da, đầy những tạp uế, như vầy: "Trong thân này có tóc trên đầu, lông thân, móng tay, răng, da; thịt, gân, xương, tủy xương, thận; tim, gan, màng bụng, lá lách, phổi; ruột già, mạc treo, thức ăn chưa tiêu, phân; mật, đờm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ; nước mắt, dịch bạch huyết, nước bọt, nước mũi, BA 252 | dịch khớp, nước tiểu". Vị ấy truy cầu, tu tập, lặp đi lặp lại, an trú vững chắc đối tượng đó; sau khi đã truy cầu, đã tu tập, đã lặp đi lặp lại, đã an trú vững chắc đối tượng đó, vị ấy hướng tâm thức ra ngoài trên thân (của người khác). PTS vp 194
Và như thế nào một tỳ-khưu sống quán niệm thân trong thân một cách ngoại tâm? Ở đây, một tỳ-khưu quán chiếu thân một cách ngoại tâm, từ lòng bàn chân trở lên, từ đỉnh tóc trở xuống, bọc bởi da, đầy những tạp uế, như vầy: "Trong thân của người đó có tóc trên đầu, lông thân, móng tay, răng, da; thịt, gân, xương, tủy xương, thận; tim, gan, màng bụng, lá lách, phổi; ruột già, mạc treo, thức ăn chưa tiêu, phân; mật, đờm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ; nước mắt, dịch bạch huyết, nước bọt, nước mũi, dịch khớp, nước tiểu". Vị ấy truy cầu, tu tập, lặp đi lặp lại, an trú vững chắc đối tượng đó; sau khi đã truy cầu, đã tu tập, đã lặp đi lặp lại, đã an trú vững chắc đối tượng đó, vị ấy hướng tâm thức đến thân cả nội tâm lẫn ngoại tâm.
Và như thế nào một tỳ-khưu sống quán niệm thân trong thân cả nội tâm lẫn ngoại tâm? Ở đây, một tỳ-khưu quán chiếu thân cả nội tâm lẫn ngoại tâm, từ lòng bàn chân trở lên, từ đỉnh tóc trở xuống, bọc bởi da, đầy những tạp uế, như vầy: "Trong thân này có tóc trên đầu, lông thân, móng tay, răng, da; thịt, gân, xương, tủy xương, thận; tim, gan, màng bụng, lá lách, phổi; ruột già, mạc treo, thức ăn chưa tiêu, phân; mật, đờm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ; nước mắt, dịch bạch huyết, nước bọt, nước mũi, dịch khớp, nước tiểu". Như vậy, một tỳ-khưu sống quán niệm thân trong thân cả nội tâm lẫn ngoại tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm; loại trừ tham lam và ưu phiền trong thế gian.
PTS cs 357 "Quán niệm" có nghĩa là: Ở đó, quán niệm là gì? Đó là trí tuệ, sự hiểu biết,* sự không có si mê, trạch pháp, chánh kiến. Đây gọi là quán niệm. Về quán niệm này, vị ấy được đầy đủ, được đầy đủ trọn vẹn, đạt được, đạt được trọn vẹn, được phú bẩm, được phú bẩm trọn vẹn, được trang bị. Do vậy, điều này được gọi là "quán niệm".
– Xem đoạn 525.
PTS cs 358 "Sống" có nghĩa là: Đảm nhận bốn oai nghi, tồn tại, gìn giữ, duy trì, tiếp nối, xoay chuyển, an trú. Do vậy, điều này được gọi là "sống".
PTS cs 359 BA 253 "Nhiệt tâm" có nghĩa là: Ở đó, nhiệt tâm là gì? Đó là sự khơi dậy năng lực tinh thần,* tinh tấn chánh. Đây gọi là nhiệt tâm. Về nhiệt tâm này, vị ấy được đầy đủ, được đầy đủ trọn vẹn, đạt được, đạt được trọn vẹn, được phú bẩm, được phú bẩm trọn vẹn, được trang bị. Do vậy, điều này được gọi là "nhiệt tâm".
– Xem đoạn 220.
PTS cs 360 "Tỉnh giác" có nghĩa là: Ở đó, tỉnh giác là gì? Đó là trí tuệ, sự hiểu biết,* sự không có si mê, trạch pháp, chánh kiến. Đây gọi là tỉnh giác. Về tỉnh giác này, vị ấy được đầy đủ, được đầy đủ trọn vẹn, đạt được, đạt được trọn vẹn, PTS vp 195 được phú bẩm, được phú bẩm trọn vẹn, được trang bị. Do vậy, điều này được gọi là "tỉnh giác".
– Xem đoạn 525.
PTS cs 361 "Chánh niệm" có nghĩa là: Ở đó, chánh niệm là gì? Đó là chánh niệm, chánh niệm liên tục,* chánh niệm đúng đắn. Đây gọi là chánh niệm. Về chánh niệm này, vị ấy được đầy đủ, được đầy đủ trọn vẹn, đạt được, đạt được trọn vẹn, được phú bẩm, được phú bẩm trọn vẹn, được trang bị. Do vậy, điều này được gọi là "chánh niệm".
– Xem đoạn 220.
PTS cs 362 "Loại trừ tham lam và ưu phiền trong thế gian" có nghĩa là: Ở đó, thế gian là gì? Chính thân này là thế gian, cũng như năm uẩn (là đối tượng của) thủ là thế gian. Đây gọi là thế gian. Ở đó, tham lam là gì? Đó là tham dục, mê say,* mê say của tâm thức. Đây gọi là tham lam. Ở đó, ưu phiền là gì? Đó là sự bất an về mặt tinh thần, ưu phiền, kinh nghiệm đau đớn bất an sinh từ xúc tinh thần, cảm thọ đau đớn bất an sinh từ xúc tinh thần. Đây gọi là ưu phiền. Như vậy, tham lam và ưu phiền này trong thế gian này được loại bỏ, xua tan, làm lắng xuống, làm tịch tịnh, ức chế, chấm dứt, biến mất, phá hủy, phá hủy hoàn toàn, héo tàn, héo tàn hoàn toàn, xóa bỏ. Do vậy, điều này được gọi là "loại trừ tham lam và ưu phiền trong thế gian".
– Xem đoạn 249.
(Kết Thúc) Luận Giải Quán Niệm Thân
2. Luận Giải Quán Niệm Thọ
PTS cs 363 BA 254 Và như thế nào một tỳ-khưu sống quán niệm thọ trong các thọ một cách nội tâm? Ở đây, một tỳ-khưu đang kinh nghiệm lạc thọ thì biết: "Tôi đang cảm thọ lạc thọ"; đang kinh nghiệm khổ thọ thì biết: "Tôi đang cảm thọ khổ thọ"; đang kinh nghiệm bất khổ bất lạc thọ thì biết: "Tôi đang cảm thọ bất khổ bất lạc thọ". Đang kinh nghiệm lạc thọ thế gian thì biết: "Tôi đang cảm thọ lạc thọ thế gian"; hoặc đang kinh nghiệm lạc thọ phi thế gian thì biết: "Tôi đang cảm thọ lạc thọ phi thế gian".
Đang kinh nghiệm khổ thọ thế gian thì biết: "Tôi đang cảm thọ khổ thọ thế gian"; hoặc đang kinh nghiệm khổ thọ phi thế gian thì biết: "Tôi đang cảm thọ khổ thọ phi thế gian". Đang kinh nghiệm bất khổ bất lạc thọ thế gian thì biết: "Tôi đang cảm thọ bất khổ bất lạc thọ thế gian"; hoặc đang kinh nghiệm bất khổ bất lạc thọ phi thế gian thì biết: "Tôi đang cảm thọ bất khổ bất lạc thọ phi thế gian". PTS vp 196 Vị ấy truy cầu, tu tập, lặp đi lặp lại, an trú vững chắc đối tượng đó; sau khi đã truy cầu, đã tu tập, đã lặp đi lặp lại, đã an trú vững chắc đối tượng đó, vị ấy hướng tâm thức ra ngoài trên thọ (của người khác).
Và như thế nào một tỳ-khưu sống quán niệm thọ trong các thọ một cách ngoại tâm? Ở đây, một tỳ-khưu biết về (người khác) đang kinh nghiệm lạc thọ: "Vị ấy đang cảm thọ lạc thọ"; biết về (người khác) đang kinh nghiệm khổ thọ: "Vị ấy đang cảm thọ khổ thọ"; biết về (người khác) đang kinh nghiệm bất khổ bất lạc thọ: "Vị ấy đang cảm thọ bất khổ bất lạc thọ". Biết về (người khác) đang kinh nghiệm lạc thọ thế gian: "Vị ấy đang cảm thọ lạc thọ thế gian"; biết về (người khác) đang kinh nghiệm lạc thọ phi thế gian: "Vị ấy đang cảm thọ lạc thọ phi thế gian".
Biết về (người khác) đang kinh nghiệm khổ thọ thế gian: "Vị ấy đang cảm thọ khổ thọ thế gian"; biết về (người khác) đang kinh nghiệm khổ thọ phi thế gian: "Vị ấy đang cảm thọ khổ thọ phi thế gian". Biết về (người khác) đang kinh nghiệm bất khổ bất lạc thọ thế gian: "Vị ấy đang cảm thọ bất khổ bất lạc thọ thế gian"; biết về (người khác) đang kinh nghiệm bất khổ bất lạc thọ phi thế gian: "Vị ấy đang cảm thọ bất khổ bất lạc thọ phi thế gian".
Vị ấy truy cầu, tu tập, lặp đi lặp lại, an trú vững chắc đối tượng đó; sau khi đã truy cầu, đã tu tập, đã lặp đi lặp lại, đã an trú vững chắc đối tượng đó, vị ấy hướng tâm thức đến các thọ cả nội tâm lẫn ngoại tâm.
Và BA 255 như thế nào một tỳ-khưu sống quán niệm thọ trong các thọ? Ở đây, một tỳ-khưu biết lạc thọ: "Lạc thọ"; biết khổ thọ: "Khổ thọ"; biết bất khổ bất lạc thọ: "Bất khổ bất lạc thọ". Biết lạc thọ thế gian: "Lạc thọ thế gian"; biết lạc thọ phi thế gian: "Lạc thọ phi thế gian". Biết khổ thọ thế gian: "Khổ thọ thế gian"; biết khổ thọ phi thế gian: "Khổ thọ phi thế gian". Biết bất khổ bất lạc thọ thế gian: "Bất khổ bất lạc thọ thế gian"; biết bất khổ bất lạc thọ phi thế gian: "Bất khổ bất lạc thọ phi thế gian". Như vậy, một tỳ-khưu sống quán niệm thọ trong các thọ cả nội tâm lẫn ngoại tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm; loại trừ tham lam và ưu phiền trong thế gian.
PTS cs 364 "Quán niệm" có nghĩa là: "Sống" có nghĩa là: 2 "Nhiệt tâm" có nghĩa là: 3 "Tỉnh giác" có nghĩa là: 4 PTS vp 197 "Chánh niệm" có nghĩa là:* 5 "Loại trừ tham lam và ưu phiền trong thế gian" có nghĩa là: Ở đó, thế gian là gì? Chính thọ này là thế gian, cũng như năm uẩn (là đối tượng của) thủ là thế gian. Đây gọi là thế gian.
Ở đó, tham lam là gì? Đó là tham dục, mê say,* 6 mê say của tâm thức. Đây gọi là tham lam.
Ở đó, ưu phiền là gì? Đó là sự bất an về mặt tinh thần, ưu phiền, kinh nghiệm đau đớn bất an sinh từ xúc tinh thần, cảm thọ đau đớn bất an sinh từ xúc tinh thần. Đây gọi là ưu phiền.
Như vậy, tham lam và ưu phiền này trong thế gian này được loại bỏ, xua tan, làm lắng xuống, làm tịch tịnh, ức chế, chấm dứt, biến mất, phá hủy, phá hủy hoàn toàn, héo tàn, héo tàn hoàn toàn, xóa bỏ. Do vậy, điều này được gọi là "loại trừ tham lam và ưu phiền trong thế gian".
– Xem đoạn 357.
– 2 Xem đoạn 358.
– 3 Xem đoạn 359.
– 4 Xem đoạn 360.
– 5 Xem đoạn 361.
– 6 Xem đoạn 249.
(Kết Thúc) Luận Giải Quán Niệm Thọ
3. Luận Giải Quán Niệm Tâm Thức
PTS cs 365 BA 256 Và như thế nào một tỳ-khưu sống quán niệm tâm trong tâm thức một cách nội tâm? Ở đây, một tỳ-khưu biết tâm thức có kèm tham dục: "Tâm thức tôi có kèm tham dục"; hoặc biết tâm thức không có tham dục: "Tâm thức tôi không có tham dục". Biết tâm thức có kèm sân hận: "Tâm thức tôi có kèm sân hận"; hoặc biết tâm thức không có sân hận: "Tâm thức tôi không có sân hận".
Biết tâm thức có kèm si mê: "Tâm thức tôi có kèm si mê"; hoặc biết tâm thức không có si mê: "Tâm thức tôi không có si mê". Biết tâm thức thu hẹp: "Tâm thức tôi thu hẹp"; hoặc biết tâm thức tán loạn: "Tâm thức tôi tán loạn". Biết tâm thức cao thượng: "Tâm thức tôi cao thượng"; hoặc biết tâm thức không cao thượng: "Tâm thức tôi không cao thượng".
Biết tâm thức có thể vượt qua: "Tâm thức tôi có thể vượt qua"; hoặc biết tâm thức không thể vượt qua: "Tâm thức tôi không thể vượt qua". Biết tâm thức tập trung: "Tâm thức tôi tập trung"; hoặc biết tâm thức không tập trung: "Tâm thức tôi không tập trung". Biết tâm thức giải thoát: "Tâm thức tôi giải thoát"; hoặc biết tâm thức chưa giải thoát: "Tâm thức tôi chưa giải thoát".
Vị ấy truy cầu, tu tập, lặp đi lặp lại, an trú vững chắc đối tượng đó; sau khi đã truy cầu, đã tu tập, đã lặp đi lặp lại, đã an trú vững chắc đối tượng đó, vị ấy hướng tâm thức ra ngoài trên tâm thức (của người khác).
Và như thế nào một tỳ-khưu sống quán niệm tâm trong tâm thức một cách ngoại tâm? Ở đây, một tỳ-khưu biết tâm thức của người khác có kèm tham dục: "Tâm thức của vị ấy có kèm tham dục"; hoặc biết tâm thức của người khác không có tham dục: "Tâm thức của vị ấy không có tham dục". Biết tâm thức của người khác có kèm sân hận: "Tâm thức của vị ấy có kèm sân hận"; PTS vp 198 hoặc biết tâm thức của người khác không có sân hận: "Tâm thức của vị ấy không có sân hận".
Biết tâm thức của người khác có kèm si mê: "Tâm thức của vị ấy có kèm si mê"; hoặc biết tâm thức của người khác không có si mê: "Tâm thức của vị ấy không có si mê". Biết BA 257 | tâm thức thu hẹp của người khác: "Tâm thức của vị ấy thu hẹp"; hoặc biết tâm thức tán loạn của người khác: "Tâm thức của vị ấy tán loạn". Biết tâm thức cao thượng của người khác: "Tâm thức của vị ấy cao thượng"; hoặc biết tâm thức không cao thượng của người khác: "Tâm thức của vị ấy không cao thượng".
Biết tâm thức có thể vượt qua của người khác: "Tâm thức của vị ấy có thể vượt qua"; hoặc biết tâm thức không thể vượt qua của người khác: "Tâm thức của vị ấy không thể vượt qua". Biết tâm thức tập trung của người khác: "Tâm thức của vị ấy tập trung"; hoặc biết tâm thức không tập trung của người khác: "Tâm thức của vị ấy không tập trung". Biết tâm thức giải thoát của người khác: "Tâm thức của vị ấy giải thoát"; hoặc biết tâm thức chưa giải thoát của người khác: "Tâm thức của vị ấy chưa giải thoát".
Vị ấy truy cầu, tu tập, lặp đi lặp lại, an trú vững chắc đối tượng đó; sau khi đã truy cầu, đã tu tập, đã lặp đi lặp lại, đã an trú vững chắc đối tượng đó, vị ấy hướng tâm thức đến tâm thức cả nội tâm lẫn ngoại tâm.
Và như thế nào một tỳ-khưu sống quán niệm tâm trong tâm thức cả nội tâm lẫn ngoại tâm? Ở đây, một tỳ-khưu biết tâm thức có kèm tham dục: "Tâm thức có kèm tham dục"; hoặc biết tâm thức không có tham dục: "Tâm thức không có tham dục". Biết tâm thức có kèm sân hận: "Tâm thức có kèm sân hận"; hoặc biết tâm thức không có sân hận: "Tâm thức không có sân hận".
Biết tâm thức có kèm si mê: "Tâm thức có kèm si mê"; hoặc biết tâm thức không có si mê: "Tâm thức không có si mê". Biết tâm thức thu hẹp: "Tâm thức thu hẹp"; hoặc biết tâm thức tán loạn: "Tâm thức tán loạn". Biết tâm thức cao thượng: "Tâm thức cao thượng"; hoặc biết tâm thức không cao thượng: "Tâm thức không cao thượng".
Biết tâm thức có thể vượt qua: "Tâm thức có thể vượt qua"; hoặc biết tâm thức không thể vượt qua: "Tâm thức không thể vượt qua". Biết tâm thức tập trung: "Tâm thức tập trung"; hoặc biết tâm thức không tập trung: "Tâm thức không tập trung". Biết tâm thức giải thoát: "Tâm thức giải thoát"; hoặc biết tâm thức chưa giải thoát: "Tâm thức chưa giải thoát".
Như vậy, một tỳ-khưu sống quán niệm tâm trong tâm thức cả nội tâm lẫn ngoại tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm; loại trừ tham lam và ưu phiền trong thế gian.
PTS cs 366 BA 258 "Quán niệm" có nghĩa là: "Sống" có nghĩa là: 2 "Nhiệt tâm" có nghĩa là: 3 "Tỉnh giác" có nghĩa là: 4 "Chánh niệm" có nghĩa là:* 5 "Loại trừ tham lam và ưu phiền trong thế gian" có nghĩa là: Ở đó, thế gian là gì? Chính tâm thức này là thế gian, cũng như năm uẩn (là đối tượng của) thủ là thế gian. Ở đó, tham lam là gì?
PTS vp 199 Đó là tham dục, mê say,* 6 mê say của tâm thức. Đây gọi là tham lam. Ở đó, ưu phiền là gì?
Đó là sự bất an về mặt tinh thần, ưu phiền, kinh nghiệm đau đớn bất an sinh từ xúc tinh thần, cảm thọ đau đớn bất an sinh từ xúc tinh thần. Đây gọi là ưu phiền. Như vậy, tham lam và ưu phiền này trong thế gian này được loại bỏ, xua tan, làm lắng xuống, làm tịch tịnh, ức chế, chấm dứt, biến mất, phá hủy, phá hủy hoàn toàn, héo tàn, héo tàn hoàn toàn, xóa bỏ.
Do vậy, điều này được gọi là "loại trừ tham lam và ưu phiền trong thế gian".
– Xem đoạn 357.
– 2 Xem đoạn 358.
– 3 Xem đoạn 359.
– 4 Xem đoạn 360.
– 5 Xem đoạn 361.
– 6 Xem đoạn 249.
(Kết Thúc) Luận Giải Quán Niệm Tâm Thức
4. Luận Giải Quán Niệm Các Pháp Tâm
PTS cs 367 Và như thế nào một tỳ-khưu sống quán niệm tâm sở trong các pháp tâm? Ở đây, một tỳ-khưu biết có dục tham nội tâm: "Trong tôi có dục tham nội tâm"; hoặc biết không có dục tham nội tâm: "Trong tôi không có dục tham nội tâm". Và như thế nào dục tham chưa sinh thì có sự sinh khởi, điều này vị ấy cũng biết; và như thế nào dục tham đã sinh thì có sự từ bỏ, điều này vị ấy cũng biết; và như thế nào dục tham đã được từ bỏ thì trong tương lai không sinh khởi nữa, điều này vị ấy cũng biết.
Về sân tâm nội tâm, về hôn trầm thuỵ miên nội tâm, về trạo hối nội tâm,* biết có hoài nghi nội tâm: "Trong tôi có hoài nghi nội tâm"; hoặc biết không có hoài nghi nội tâm: "Trong tôi không có hoài nghi nội tâm". Và như thế nào hoài nghi chưa sinh thì có sự sinh khởi, điều này vị ấy cũng biết; và như thế nào hoài nghi đã sinh thì có BA 259 | sự từ bỏ, điều này vị ấy cũng biết; và như thế nào hoài nghi đã được từ bỏ thì trong tương lai không sinh khởi nữa, điều này vị ấy cũng biết.
– Hoàn chỉnh như ví dụ cuối cùng.
Hoặc vị ấy biết có niệm giác chi nội tâm: "Trong tôi có niệm giác chi nội tâm"; hoặc biết không có niệm giác chi nội tâm: "Trong tôi không có niệm giác chi nội tâm". Và như thế nào niệm giác chi chưa sinh thì có sự sinh khởi, điều này vị ấy cũng biết; và như thế nào niệm giác chi đã sinh thì có sự hoàn thiện qua tu tập, điều này vị ấy cũng biết. Về trạch pháp giác chi nội tâm, về tinh tấn giác chi nội tâm, về PTS vp 200 hỷ giác chi nội tâm, về khinh an giác chi nội tâm, về định giác chi nội tâm,* biết có xả giác chi nội tâm: "Trong tôi có xả giác chi nội tâm"; hoặc biết không có xả giác chi nội tâm: "Trong tôi không có xả giác chi nội tâm".
Và như thế nào xả giác chi chưa sinh thì có sự sinh khởi, điều này vị ấy cũng biết; và như thế nào xả giác chi đã sinh thì có sự hoàn thiện qua tu tập, điều này vị ấy cũng biết. Vị ấy truy cầu, tu tập, lặp đi lặp lại, an trú vững chắc đối tượng đó; sau khi đã truy cầu, đã tu tập, đã lặp đi lặp lại, đã an trú vững chắc đối tượng đó, vị ấy hướng tâm thức đến các pháp tâm ngoại tâm.
– Hoàn chỉnh như ví dụ cuối cùng.
Và như thế nào một tỳ-khưu sống quán niệm tâm sở trong các pháp tâm một cách ngoại tâm? Ở đây, một tỳ-khưu biết có dục tham trong người khác: "Trong vị ấy có dục tham"; hoặc biết không có dục tham trong người khác: "Trong vị ấy không có dục tham". Và như thế nào dục tham chưa sinh thì có sự sinh khởi, điều này vị ấy cũng biết; và như thế nào dục tham đã sinh thì có sự từ bỏ, điều này vị ấy cũng biết; và như thế nào dục tham đã được từ bỏ thì trong tương lai không sinh khởi nữa, điều này vị ấy cũng biết.
Về sân tâm trong người khác, về hôn trầm thuỵ miên trong người khác, về trạo hối trong người khác, BA 260 | * biết có hoài nghi trong người khác: "Trong vị ấy có hoài nghi"; hoặc biết không có hoài nghi trong người khác: "Trong vị ấy không có hoài nghi". Và như thế nào hoài nghi chưa sinh thì có sự sinh khởi, điều này vị ấy cũng biết; và như thế nào hoài nghi đã sinh thì có sự từ bỏ, điều này vị ấy cũng biết; và như thế nào hoài nghi đã được từ bỏ thì trong tương lai không sinh khởi nữa, điều này vị ấy cũng biết.
– Hoàn chỉnh như ví dụ cuối cùng.
Hoặc vị ấy biết có niệm giác chi trong người khác: "Trong vị ấy có niệm giác chi"; hoặc biết không có niệm giác chi trong người khác: "Trong vị ấy không có niệm giác chi". Và như thế nào niệm giác chi chưa sinh thì có sự sinh khởi, điều này vị ấy cũng biết; và như thế nào niệm giác chi đã sinh thì có sự hoàn thiện qua tu tập, điều này vị ấy cũng biết. Về trạch pháp giác chi trong người khác, về tinh tấn giác chi trong người khác, về hỷ giác chi trong người khác, về khinh an giác chi trong người khác, về định giác chi trong người khác,* biết có xả giác chi trong người khác: "Trong vị ấy có xả giác chi"; hoặc biết không có xả giác chi trong người khác, PTS vp 201 "Trong vị ấy không có xả giác chi".
Và như thế nào xả giác chi chưa sinh thì có sự sinh khởi, điều này vị ấy cũng biết; và như thế nào xả giác chi đã sinh thì có sự hoàn thiện qua tu tập, điều này vị ấy cũng biết. Vị ấy truy cầu, tu tập, lặp đi lặp lại, an trú vững chắc đối tượng đó; sau khi đã truy cầu, đã tu tập, đã lặp đi lặp lại, đã an trú vững chắc đối tượng đó, vị ấy hướng tâm thức đến các pháp tâm cả nội tâm lẫn ngoại tâm.
– Hoàn chỉnh như ví dụ cuối cùng.
Và như thế nào một tỳ-khưu sống quán niệm tâm sở trong các pháp tâm cả nội tâm lẫn ngoại tâm? Ở đây, một tỳ-khưu biết có dục tham: "Có dục tham"; hoặc biết không có dục tham: "Không có dục tham". Và như thế nào dục tham chưa sinh thì có sự sinh khởi, điều này vị ấy cũng biết; và như thế nào dục tham đã sinh thì có sự từ bỏ, BA 261 | điều này vị ấy cũng biết; và như thế nào dục tham đã được từ bỏ thì trong tương lai không sinh khởi nữa, điều này vị ấy cũng biết.
Về sân tâm, về hôn trầm thuỵ miên, về trạo hối,* biết có hoài nghi: "Có hoài nghi"; hoặc biết không có hoài nghi: "Không có hoài nghi". Và như thế nào hoài nghi chưa sinh thì có sự sinh khởi, điều này vị ấy cũng biết; và như thế nào hoài nghi đã sinh thì có sự từ bỏ, điều này vị ấy cũng biết; và như thế nào hoài nghi đã được từ bỏ thì trong tương lai không sinh khởi nữa, điều này vị ấy cũng biết.
– Hoàn chỉnh như ví dụ cuối cùng.
Hoặc vị ấy biết có niệm giác chi: "Có niệm giác chi"; hoặc biết không có niệm giác chi: "Không có niệm giác chi". Và như thế nào niệm giác chi chưa sinh thì có sự sinh khởi, điều này vị ấy cũng biết; và như thế nào niệm giác chi đã sinh thì có sự hoàn thiện qua tu tập, điều này vị ấy cũng biết. Về trạch pháp giác chi, về tinh tấn giác chi, về hỷ giác chi, về khinh an giác chi, về định giác chi,* biết có xả giác chi: "Có xả giác chi"; hoặc biết không có xả giác chi: "Không có xả giác chi".
Và như thế nào xả giác chi chưa sinh thì có sự sinh khởi, điều này vị ấy cũng biết; và như thế nào xả giác chi đã sinh thì có sự hoàn thiện qua tu tập, điều này vị ấy cũng biết. Như vậy, một tỳ-khưu sống quán niệm tâm sở trong các pháp tâm cả nội tâm lẫn ngoại tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm; loại trừ tham lam và ưu phiền trong thế gian.
– Hoàn chỉnh như ví dụ cuối cùng.
PTS cs 368 "Quán niệm" có nghĩa là: Ở đó, quán niệm là gì? PTS vp 202 Đó là trí tuệ, sự hiểu biết,* sự không có si mê, trạch pháp, chánh kiến. Đây gọi là quán niệm. Về quán niệm này, vị ấy được đầy đủ, được đầy đủ trọn vẹn, BA 262 | đạt được, đạt được trọn vẹn, được phú bẩm, được phú bẩm trọn vẹn, được trang bị. Do vậy, điều này được gọi là "quán niệm".
– Xem đoạn 525.
PTS cs 369 "Sống" có nghĩa là: Đảm nhận bốn oai nghi, tồn tại, gìn giữ, duy trì, tiếp nối, xoay chuyển, an trú. Do vậy, điều này được gọi là "sống".
PTS cs 370 "Nhiệt tâm" có nghĩa là: Ở đó, nhiệt tâm là gì? Đó là sự khơi dậy năng lực tinh thần, tinh tấn chánh. Đây gọi là nhiệt tâm. Về nhiệt tâm này, vị ấy được đầy đủ, 2 được trang bị. Do vậy, điều này được gọi là "nhiệt tâm".
– Xem đoạn 220.
– 2 Xem đoạn 368.
PTS cs 371 "Tỉnh giác" có nghĩa là: Ở đó, tỉnh giác là gì? Đó là trí tuệ, sự hiểu biết, sự không có si mê, trạch pháp, chánh kiến. Đây gọi là tỉnh giác. Về tỉnh giác này, vị ấy được đầy đủ, 2 được trang bị. Do vậy, điều này được gọi là "tỉnh giác".
– Xem đoạn 525.
– 2 Xem đoạn 368.
PTS cs 372 "Chánh niệm" có nghĩa là: Ở đó, chánh niệm là gì? Đó là chánh niệm, chánh niệm liên tục, chánh niệm đúng đắn. Đây gọi là chánh niệm. Về chánh niệm này, vị ấy được đầy đủ, 2 được trang bị. Do vậy, điều này được gọi là "chánh niệm".
– Xem đoạn 220.
– 2 Xem đoạn 368.
PTS cs 373 "Loại trừ tham lam và ưu phiền trong thế gian" có nghĩa là: Ở đó, thế gian là gì? Chính các pháp tâm này là thế gian, cũng như năm uẩn (là đối tượng của) thủ là thế gian. Đây gọi là thế gian. Ở đó, tham lam là gì? Đó là tham dục, mê say,* mê say của tâm thức. Đây gọi là tham lam. Ở đó, ưu phiền là gì? Đó là sự bất an về mặt tinh thần, ưu phiền, kinh nghiệm đau đớn bất an sinh từ xúc tinh thần, cảm thọ đau đớn bất an sinh từ xúc tinh thần. Đây gọi là ưu phiền. Như vậy, tham lam và ưu phiền này trong thế gian này được loại bỏ, xua tan, làm lắng xuống, làm tịch tịnh, ức chế, chấm dứt, biến mất, phá hủy, phá hủy hoàn toàn, héo tàn, héo tàn hoàn toàn, xóa bỏ. BA 263 | Do vậy, điều này được gọi là "loại trừ tham lam và ưu phiền trong thế gian".
– Xem đoạn 249.
(Kết Thúc) Luận Giải Quán Niệm Các Pháp Tâm
(Kết Thúc) Phân Tích Theo Kinh Tạng
2. Phân Tích Theo Vi Diệu Pháp
PTS cs 374 Bốn nền tảng chánh niệm — Ở đây, một tỳ-khưu sống quán niệm thân trong thân; sống quán niệm thọ trong các thọ; sống quán niệm tâm trong tâm thức; sống quán niệm tâm sở trong các pháp tâm. PTS vp 203
PTS cs 375 Và như thế nào một tỳ-khưu sống quán niệm thân trong thân? Ở đây, vào thời điểm khi một tỳ-khưu tu tập thiền-na siêu thế hướng đến giải thoát, tiêu tan tái sinh và tử; vị ấy, để đoạn trừ tà kiến, để bước vào đạo lộ sơ đạo (Tu-đà-hoàn), xa lìa các dục lạc,* đạt đến và an trú trong thiền-na thứ nhất là thực hành gian khổ và trí tuệ chậm chứng — quán niệm thân trong thân. Điều gì vào thời điểm đó là chánh niệm, chánh niệm liên tục, chánh niệm đúng đắn, niệm giác chi, chi phần của đạo lộ, bao gồm trong đạo lộ. Đây gọi là nền tảng chánh niệm. (Cũng như vậy là) Các trạng thái còn lại tương ứng với nền tảng chánh niệm.
– Xem đoạn 205.
PTS cs 376 Và như thế nào một tỳ-khưu sống quán niệm thọ trong các thọ? Ở đây, vào thời điểm khi một tỳ-khưu tu tập thiền-na siêu thế hướng đến giải thoát, tiêu tan tái sinh và tử; vị ấy, để đoạn trừ tà kiến, để bước vào đạo lộ sơ đạo (Tu-đà-hoàn), xa lìa các dục lạc,* đạt đến và an trú trong thiền-na thứ nhất là thực hành gian khổ và trí tuệ chậm chứng — quán niệm thọ trong các thọ. Điều gì vào thời điểm đó là chánh niệm, chánh niệm liên tục, chánh niệm đúng đắn, niệm giác chi, chi phần của đạo lộ, bao gồm trong đạo lộ. Đây gọi là nền tảng chánh niệm. (Cũng như vậy là) Các trạng thái còn lại tương ứng với nền tảng chánh niệm.
– Xem đoạn 205.
PTS cs 377 Và như thế nào một tỳ-khưu sống quán niệm tâm trong tâm thức? Ở đây, vào thời điểm khi một tỳ-khưu tu tập thiền-na siêu thế hướng đến giải thoát, tiêu tan tái sinh và tử; vị ấy, để đoạn trừ tà kiến, để bước vào đạo lộ sơ đạo (Tu-đà-hoàn), xa lìa các dục lạc,* đạt đến và an trú trong thiền-na thứ nhất là thực hành gian khổ và trí tuệ chậm chứng — quán niệm tâm trong tâm thức. Điều gì vào thời điểm đó là chánh niệm, chánh niệm liên tục, chánh niệm đúng đắn, niệm giác chi, chi phần của đạo lộ, bao gồm trong đạo lộ. Đây gọi là nền tảng chánh niệm. (Cũng như vậy là) Các trạng thái còn lại tương ứng với nền tảng chánh niệm.
– Xem đoạn 205.
PTS cs 378 Và như thế nào một tỳ-khưu sống quán niệm tâm sở trong các pháp tâm? Ở đây, vào thời điểm khi một tỳ-khưu tu tập thiền-na siêu thế hướng đến giải thoát, tiêu tan tái sinh và tử; vị ấy, để đoạn trừ tà kiến, để bước vào đạo lộ sơ đạo (Tu-đà-hoàn), xa lìa các dục lạc,* đạt đến và an trú trong thiền-na thứ nhất là thực hành gian khổ và trí tuệ chậm chứng — quán niệm tâm sở trong các pháp tâm. Điều gì vào thời điểm đó là chánh niệm, chánh niệm liên tục, chánh niệm đúng đắn, niệm giác chi, chi phần của đạo lộ, bao gồm trong đạo lộ. Đây gọi là nền tảng chánh niệm. (Cũng như vậy là) Các trạng thái còn lại tương ứng với nền tảng chánh niệm.
– Xem đoạn 205.
PTS cs 379 Ở đó, nền tảng chánh niệm là gì? Ở đây, vào thời điểm khi một tỳ-khưu tu tập thiền-na siêu thế hướng đến giải thoát, tiêu tan tái sinh và tử; vị ấy, để đoạn trừ tà kiến, để bước vào đạo lộ sơ đạo (Tu-đà-hoàn), xa lìa các dục lạc,* đạt đến và an trú trong thiền-na thứ nhất là thực hành gian khổ và trí tuệ chậm chứng — quán niệm tâm sở trong các pháp tâm. Điều gì vào thời điểm đó là chánh niệm, chánh niệm liên tục, chánh niệm đúng đắn, niệm giác chi, chi phần của đạo lộ, bao gồm trong đạo lộ. Đây gọi là nền tảng chánh niệm. (Cũng như vậy là) Các trạng thái còn lại tương ứng với nền tảng chánh niệm.
– Xem đoạn 205.
PTS cs 380 Bốn nền tảng chánh niệm — Ở đây, một tỳ-khưu sống quán niệm thân trong thân; sống quán niệm thọ trong các thọ; sống quán niệm tâm trong tâm thức; sống quán niệm tâm sở trong các pháp tâm. PTS vp 204
PTS cs 381 Và như thế nào một tỳ-khưu sống quán niệm thân trong thân? Ở đây, vào thời điểm khi một tỳ-khưu tu tập thiền-na siêu thế hướng đến giải thoát, tiêu tan tái sinh và tử; vị ấy, để đoạn trừ tà kiến, để bước vào đạo lộ sơ đạo (Tu-đà-hoàn), xa lìa các dục lạc, đạt đến và an trú trong thiền-na thứ nhất là thực hành gian khổ và trí tuệ chậm chứng; vào thời điểm đó có xúc, 2 có sự bất động. Các trạng thái này là thiện.
Sau khi đã thực hiện, đã tu tập thiền-na thiện siêu thế đó, vị ấy, xa lìa các dục lạc,* đạt đến và an trú trong thiền-na thứ nhất là quả dị thục, thực hành gian khổ, trí tuệ chậm chứng và trống rỗng — quán niệm thân trong thân. Điều gì vào thời điểm đó là chánh niệm, chánh niệm liên tục, chánh niệm đúng đắn, niệm giác chi, chi phần của đạo lộ, bao gồm trong đạo lộ. Đây gọi là nền tảng chánh niệm. (Cũng như vậy là) Các trạng thái còn lại tương ứng với nền tảng chánh niệm.
– Xem đoạn 205.
– 2 Xem Pháp Tụ (Dhammasaṅgaṇī) đoạn 277.
PTS cs 382 Và như thế nào một tỳ-khưu sống quán niệm thọ trong các thọ? Ở đây, vào thời điểm khi một tỳ-khưu tu tập thiền-na siêu thế hướng đến giải thoát, tiêu tan tái sinh và tử; vị ấy, để đoạn trừ tà kiến, để bước vào đạo lộ sơ đạo (Tu-đà-hoàn), xa lìa các dục lạc, đạt đến và an trú trong BA 266 | thiền-na thứ nhất là thực hành gian khổ và trí tuệ chậm chứng; vào thời điểm đó có xúc, 2 có sự bất động. Các trạng thái này là thiện.
Sau khi đã thực hiện, đã tu tập thiền-na thiện siêu thế đó, vị ấy, xa lìa các dục lạc,* đạt đến và an trú trong thiền-na thứ nhất là quả dị thục, thực hành gian khổ, trí tuệ chậm chứng và trống rỗng — quán niệm thọ trong các thọ. Điều gì vào thời điểm đó là chánh niệm, chánh niệm liên tục, chánh niệm đúng đắn, niệm giác chi, chi phần của đạo lộ, bao gồm trong đạo lộ. Đây gọi là nền tảng chánh niệm. (Cũng như vậy là) Các trạng thái còn lại tương ứng với nền tảng chánh niệm.
– Xem đoạn 205.
– 2 Xem Pháp Tụ (Dhammasaṅgaṇī) đoạn 277.
PTS cs 383 Và như thế nào một tỳ-khưu sống quán niệm tâm trong tâm thức? Ở đây, vào thời điểm khi một tỳ-khưu tu tập thiền-na siêu thế hướng đến giải thoát, tiêu tan tái sinh và tử; vị ấy, để đoạn trừ tà kiến, để bước vào đạo lộ sơ đạo (Tu-đà-hoàn), xa lìa các dục lạc, đạt đến và an trú trong thiền-na thứ nhất là thực hành gian khổ và trí tuệ chậm chứng; vào thời điểm đó có xúc, 2 có sự bất động. Các trạng thái này là thiện.
Sau khi đã thực hiện, đã tu tập thiền-na thiện siêu thế đó, vị ấy, xa lìa các dục lạc,* đạt đến và an trú trong thiền-na thứ nhất là quả dị thục, thực hành gian khổ, trí tuệ chậm chứng và trống rỗng — quán niệm tâm trong tâm thức. Điều gì vào thời điểm đó là chánh niệm, chánh niệm liên tục, chánh niệm đúng đắn, niệm giác chi, chi phần của đạo lộ, bao gồm trong đạo lộ. Đây gọi là nền tảng chánh niệm. (Cũng như vậy là) Các trạng thái còn lại tương ứng với nền tảng chánh niệm.
PTS vp 205
– Xem đoạn 205.
– 2 Xem Pháp Tụ (Dhammasaṅgaṇī) đoạn 277.
PTS cs 384 Và như thế nào một tỳ-khưu sống quán niệm tâm sở trong các pháp tâm? Ở đây, vào thời điểm khi một tỳ-khưu tu tập thiền-na siêu thế hướng đến giải thoát, tiêu tan tái sinh và tử; vị ấy, để đoạn trừ tà kiến, để bước vào đạo lộ sơ đạo (Tu-đà-hoàn), xa lìa các dục lạc, đạt đến và an trú trong thiền-na thứ nhất là thực hành gian khổ và trí tuệ chậm chứng; vào thời điểm đó có xúc, 2 có sự bất động. Các trạng thái này là thiện.
Sau khi đã thực hiện, đã tu tập BA 267 | thiền-na thiện siêu thế đó, vị ấy, xa lìa các dục lạc,* đạt đến và an trú trong thiền-na thứ nhất là quả dị thục, thực hành gian khổ, trí tuệ chậm chứng và trống rỗng — quán niệm tâm sở trong các pháp tâm. Điều gì vào thời điểm đó là chánh niệm, chánh niệm liên tục, chánh niệm đúng đắn, niệm giác chi, chi phần của đạo lộ, bao gồm trong đạo lộ. Đây gọi là nền tảng chánh niệm. (Cũng như vậy là) Các trạng thái còn lại tương ứng với nền tảng chánh niệm.
– Xem đoạn 205.
– 2 Xem Pháp Tụ (Dhammasaṅgaṇī) đoạn 277.
PTS cs 385 Ở đó, nền tảng chánh niệm là gì? Ở đây, vào thời điểm khi một tỳ-khưu tu tập thiền-na siêu thế hướng đến giải thoát, tiêu tan tái sinh và tử; vị ấy, để đoạn trừ tà kiến, để bước vào đạo lộ sơ đạo (Tu-đà-hoàn), xa lìa các dục lạc, đạt đến và an trú trong thiền-na thứ nhất là thực hành gian khổ và trí tuệ chậm chứng; vào thời điểm đó có xúc, 2 có sự bất động. Các trạng thái này là thiện.
Sau khi đã thực hiện, đã tu tập thiền-na thiện siêu thế đó, vị ấy, xa lìa các dục lạc,* đạt đến và an trú trong thiền-na thứ nhất là quả dị thục, thực hành gian khổ, trí tuệ chậm chứng và trống rỗng. Điều gì vào thời điểm đó là chánh niệm, chánh niệm liên tục, chánh niệm đúng đắn, niệm giác chi, chi phần của đạo lộ, bao gồm trong đạo lộ. Đây gọi là nền tảng chánh niệm. (Cũng như vậy là) Các trạng thái còn lại tương ứng với nền tảng chánh niệm.
– Xem đoạn 205.
– 2 Xem Pháp Tụ (Dhammasaṅgaṇī) đoạn 277.
(Kết Thúc) Phân Tích Theo Vi Diệu Pháp
3. Vấn Đáp
PTS cs 386 Bốn nền tảng chánh niệm — Ở đây, một tỳ-khưu sống quán niệm thân trong thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm; loại trừ tham lam và ưu phiền trong thế gian; sống quán niệm thọ trong các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm; loại trừ tham lam và ưu phiền trong thế gian; sống quán niệm tâm trong tâm thức, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm; loại trừ tham lam và ưu phiền trong thế gian; sống quán niệm BA 268 | tâm sở trong các pháp tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm; loại trừ tham lam và ưu phiền trong thế gian. PTS vp 206
PTS cs 387 Trong bốn nền tảng chánh niệm, bao nhiêu là thiện; bao nhiêu là bất thiện; bao nhiêu là vô ký.* Bao nhiêu có nhân khổ não; bao nhiêu không có nhân khổ não?
– Các bộ ba và bộ đôi thích hợp còn lại.
1. Các Bộ Ba
PTS cs 388 (Bốn nền tảng chánh niệm) Đôi khi là thiện; đôi khi là vô ký. Đôi khi tương ứng với lạc thọ; đôi khi tương ứng với bất khổ bất lạc thọ. Đôi khi là quả dị thục; đôi khi là sinh quả.
Không bị nắm giữ (bởi tham ái và tà kiến), không là đối tượng của thủ. Không ô nhiễm, không là đối tượng của tùy miên (anusaya). Đôi khi có kèm tầm (vitakka), có kèm tứ (vicāra); đôi khi không có tầm, chỉ có tứ; đôi khi không có tầm, không có tứ.
Đôi khi có kèm hỷ; đôi khi có kèm lạc; đôi khi có kèm xả. Không bị đoạn trừ bởi đạo lộ sơ đạo (Tu-đà-hoàn) cũng không bởi các đạo lộ tiếp theo; không có gốc rễ bị đoạn trừ bởi đạo lộ sơ đạo (Tu-đà-hoàn) cũng không bởi các đạo lộ tiếp theo. Đôi khi tiêu tan (tái sinh và tử); đôi khi không tích lũy cũng không tiêu tan.
Đôi khi thuộc bảy thánh vị siêu thế; đôi khi thuộc thánh vị siêu thế cuối cùng (A-la-hán). Là vô lượng. Có đối tượng vô lượng.
Là thù thắng. Đôi khi là chánh (các trạng thái) có thời gian quả định sẵn; đôi khi không có thời gian quả định sẵn. Không lấy đạo lộ làm đối tượng; đôi khi lấy đạo lộ làm nhân; đôi khi lấy đạo lộ làm tăng thượng duyên; đôi khi không thể nói là lấy đạo lộ làm nhân hay lấy đạo lộ làm tăng thượng duyên.
Đôi khi đã sinh; đôi khi chưa sinh; đôi khi sẽ sinh. Đôi khi là quá khứ; đôi khi là tương lai; đôi khi là hiện tại. Không thể nói là có đối tượng quá khứ, đối tượng tương lai hay đối tượng hiện tại.
Đôi khi là nội tâm; đôi khi là ngoại tâm; đôi khi là cả nội tâm lẫn ngoại tâm. Có đối tượng ngoại tâm. Không thấy được, không có va chạm.
2. Các Bộ Đôi
PTS cs 389 BA 269 (Bốn nền tảng chánh niệm) Không phải là căn. Có kèm căn. Tương ứng với căn. Không thể nói là vừa là căn vừa có kèm căn; (chúng) có kèm căn nhưng không phải là căn. Không thể nói là vừa là căn vừa tương ứng với căn; (chúng) tương ứng với căn nhưng không phải là căn. Không phải là căn, có kèm căn.
(Bốn nền tảng chánh niệm) Có nhân. Có điều kiện. Không thấy được.
Không có va chạm. Không phải là sắc. Là siêu thế.
Có thể được nhận biết bằng một cách; không thể được nhận biết bằng cách khác. Không phải là phiền não / lậu hoặc. Không phải là đối tượng của phiền não / lậu hoặc.
Không tương ứng với phiền não / lậu hoặc. Không thể nói là vừa là phiền não / lậu hoặc vừa là đối tượng của phiền não / lậu hoặc hay là đối tượng của phiền não / lậu hoặc nhưng không phải là phiền não / lậu hoặc. Không thể nói là vừa là phiền não / lậu hoặc vừa tương ứng với phiền não / lậu hoặc hay là tương ứng với phiền não / lậu hoặc nhưng không phải là phiền não / lậu hoặc.
Không tương ứng với phiền não / lậu hoặc, không phải là đối tượng của phiền não / lậu hoặc. Không phải là kiết sử (saṃyojana). Không phải là phược (yoga). Không phải là bộc lưu (ogha). Không phải là ách (gantha). Không phải là triền cái (nīvaraṇa). Không phải là điên đảo (vipallāsa). Có đối tượng. Không phải là tâm thức.
Là tâm sở đồng hành. Tương ứng với tâm thức. Liên hợp với tâm thức.
Được sinh khởi bởi tâm thức. Đồng sinh với tâm thức. Đồng hành với tâm thức.
Liên hợp với, được sinh khởi bởi tâm thức. Liên hợp với, được sinh khởi bởi, đồng sinh với tâm thức. Liên hợp với, được sinh khởi bởi, đồng hành với tâm thức.
Là ngoại tâm. Không phải là phái sinh. Không bị nắm giữ.
Không phải là thủ. Không phải là tùy miên (anusaya). Không bị đoạn trừ bởi đạo lộ sơ đạo (Tu-đà-hoàn). Không bị đoạn trừ bởi các đạo lộ tiếp theo. Không có gốc rễ bị đoạn trừ bởi đạo lộ sơ đạo (Tu-đà-hoàn).
Không có gốc rễ bị đoạn trừ bởi các đạo lộ tiếp theo.
– Hoàn chỉnh như đối với phiền não / lậu hoặc trong đoạn này.
(Bốn nền tảng chánh niệm) Đôi khi có kèm tầm (vitakka); đôi khi không có tầm. Đôi khi có kèm tứ (vicāra); đôi khi không có tứ. Đôi khi có hỷ; PTS vp 207 đôi khi không có hỷ. Đôi khi có kèm hỷ; đôi khi không có kèm hỷ. Đôi khi có kèm lạc; đôi khi không có kèm lạc. Đôi khi có kèm BA 270 | xả; đôi khi không có kèm xả. Không phải là đặc trưng của cõi dục. Không phải là đặc trưng của cõi sắc. Không phải là đặc trưng của cõi vô sắc. Không thuộc (tức là siêu thế). Đôi khi hướng đến giải thoát; đôi khi không hướng đến giải thoát. Đôi khi có thời gian quả định sẵn; đôi khi không có thời gian quả định sẵn. Là vô thượng. Không có nhân khổ não.
(Kết Thúc) Vấn Đáp
Phân Tích Các Nền Tảng Chánh Niệm Đã Kết Thúc
---
Sách Phân Tích (The Book of Analysis), bản dịch tiếng Anh của Pāli Abhidhamma Vibhaṅga. Dịch bởi Paṭhamkyaw Ashin Thiṭṭila (Seiṭṭhila). Xuất bản bởi Pali Text Society, 1969.
Bản điện tử SuttaCentral do Manfred Wierich và Tỳ-kheo Vimala chuẩn bị và được Ariya Baumann hiệu đính. Một số thay đổi đã được đưa vào:
– Các liên kết nội bộ và bên ngoài đã được thêm vào để người đọc có thể dễ dàng nhấp vào các tham chiếu phong phú.
– Một số từ viết tắt đã được khai triển đầy đủ.
– Các thiếu sót và lỗi hiển nhiên đã được sửa chữa, tất cả đều nhỏ.
Phân trang của ấn bản PTS gốc có thể tìm thấy ở lề trang. Trừ khi phần ngắt trang bắt đầu một đoạn mới, một dấu gạch đứng chỉ sự bắt đầu của trang mới.
Bản điện tử này được xuất bản theo các điều khoản của Giấy phép Creative Commons Attribution Non-Commercial 3.0 (CC BY-NC 3.0) tại đây: http://creativecommons.org/licenses/by-nc/3.0/
Mọi bản quyền thuộc về Pali Text Society. Xem thêm thông báo tại http://www.palitext.com/ → Publications → Copyright Announcement. Chỉ dành cho mục đích phi thương mại.
Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.
🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch bằng AI do Inti biên soạn: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.