Inti DharmaInti Dharma
← Kinh điển
Nguyên Thủy — Pāli Tạng · Luận Tạng

Vb 4Phân Tích Các Đế (Tứ Diệu Đế)

Tên Pāli / Sanskrit:Saccavibhaṅga

📖13,248 từ · ~53 phút đọc
2

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản →
Diễn giải bởi Inti AI (Tiếng Việt)
🪷 AI diễn giải

– Bộ Phân Tích (Vibhaṅga)

4. Phân Tích Các Đế

1. Phân Tích Theo Kinh Tạng (Suttanta)

PTS cs 189 BA 130 PTS vp 99 Tứ Thánh Đế là: Thánh Đế về Khổ; Thánh Đế về nhân sinh Khổ; Thánh Đế về sự diệt Khổ; Thánh Đế về con đường đưa đến sự diệt Khổ.

1. Khổ Đế

PTS cs 190 Ở đây, thế nào là Thánh Đế về Khổ? Sinh là khổ; già là khổ; chết là khổ; sầu — bi — khổ (thân) — ưu (tâm) — não là khổ; oán tắng hội (kết hợp với điều không ưa thích) là khổ; ái biệt ly (chia lìa điều yêu thích) là khổ; cầu bất đắc (không đạt được điều mong muốn), đó cũng là khổ; tóm lại, năm thủ uẩn (ngũ uẩn làm đối tượng của các thủ) là khổ.

PTS cs 191 Ở đây, thế nào là sinh? Cái mà đối với chúng sinh này hay chúng sinh khác, trong loại chúng sinh này hay loại chúng sinh khác, là sự sinh ra, sự phát sinh, sự nhập thai, sự hiện hữu đầy đủ, sự xuất hiện của các uẩn, sự thâu đắc các xứ. Đây gọi là sinh.

PTS cs 192 Ở đây, thế nào là già? Cái mà đối với chúng sinh này hay chúng sinh khác, trong loại chúng sinh này hay loại chúng sinh khác, là sự già nua, sự suy tàn, răng gãy, tóc bạc, da nhăn, tuổi thọ suy giảm, các quyền (căn) suy hoại. Đây gọi là già.

PTS cs 193 Ở đây, thế nào là chết? Cái mà đối với chúng sinh này hay chúng sinh khác, từ loại chúng sinh này hay loại chúng sinh khác, là sự từ trần, sự qua đời, sự tan rã, sự biến mất, sự chết, sự tử vong, sự hoàn tất tuổi thọ, sự tan rã của các uẩn, sự đặt xuống của thân xác, sự hủy diệt của mạng quyền. Đây gọi là chết.

PTS cs 194 Ở đây, thế nào là sầu? (Cái mà) đối với người bị tai họa vì thân quyến, hoặc đối với người bị tai họa vì tài sản, hoặc đối với người bị tai họa vì bệnh tật, hoặc đối với người bị tai họa vì (giới hạnh) hư hoại BA 131 | hoặc đối với người bị tai họa vì tà kiến, PTS vp 100 hoặc đối với người sở hữu tai họa này hay tai họa khác, hoặc đối với người bị bức bách bởi điều đau khổ này hay điều đau khổ khác, là sự sầu muộn, trạng thái sầu muộn, nội tâm sầu não, sầu não sâu xa, sự thiêu đốt của tâm ý, khổ đau tâm ý, mũi tên sầu muộn. Đây gọi là sầu.

PTS cs 195 Ở đây, thế nào là bi (than khóc)? (Cái mà) đối với người bị tai họa vì thân quyến, hoặc đối với người bị tai họa vì tài sản, hoặc đối với người bị tai họa vì bệnh tật, hoặc đối với người bị tai họa vì (giới hạnh) hư hoại, hoặc đối với người bị tai họa vì tà kiến, hoặc đối với người sở hữu tai họa này hay tai họa khác, hoặc đối với người bị bức bách bởi điều đau khổ này hay điều đau khổ khác, là sự khóc lóc, sự than vãn, hành vi khóc lóc, hành vi than vãn, trạng thái khóc lóc, trạng thái than vãn, lời nói (sầu thảm), lời nói vô nghĩa, tiếng than khóc, lời rên rỉ sầu thảm, hành vi rên rỉ sầu thảm, trạng thái rên rỉ sầu thảm. Đây gọi là bi.

PTS cs 196 Ở đây, thế nào là khổ (thân)? Cái mà là sự khó chịu nơi thân, khổ đau nơi thân, cảm thọ khó chịu đau khổ sinh từ thân xúc, cảm giác khó chịu đau khổ sinh từ thân xúc. Đây gọi là khổ (thân).

PTS cs 197 Ở đây, thế nào là ưu (tâm)? Cái mà là sự khó chịu nơi tâm ý, khổ đau nơi tâm ý, cảm thọ khó chịu đau khổ sinh từ ý xúc, cảm giác khó chịu đau khổ sinh từ ý xúc. Đây gọi là ưu.

PTS cs 198 Ở đây, thế nào là não? (Cái mà) đối với người bị tai họa vì thân quyến, hoặc đối với người bị tai họa vì tài sản, hoặc đối với người bị tai họa vì bệnh tật, hoặc đối với người bị tai họa vì (giới hạnh) hư hoại, hoặc đối với người bị tai họa vì tà kiến, hoặc đối với người sở hữu tai họa này hay tai họa khác, hoặc đối với người bị bức bách bởi điều đau khổ này hay điều đau khổ khác, là sự chán nản, tuyệt vọng, trạng thái chán nản, trạng thái tuyệt vọng. Đây gọi là não.

PTS cs 199 Ở đây, thế nào là khổ do oán tắng hội (kết hợp với điều không ưa thích)? Ở đây, phàm những (đối tượng) không đáng ưa, không dễ chịu, không vừa lòng nào, dù là khả kiến, khả thính, khả khứu, khả vị, khả xúc; hoặc những kẻ không mong cầu phúc lợi, không mong cầu điều tốt đẹp, không mong cầu sự an lạc, hoặc không mong (người ấy) được giải thoát khỏi các sự trói buộc; cái mà là sự kết hợp (do gặp gỡ), sự kết hợp (do tiếp nhận), sự tụ hội, sự cộng tác với những đối tượng ấy. Đây gọi là khổ do oán tắng hội.

PTS cs 200 Ở đây, thế nào là khổ do ái biệt ly (chia lìa điều yêu thích)? Ở đây, phàm những (đối tượng) đáng ưa, dễ chịu, vừa lòng nào, dù là khả kiến, khả thính, khả khứu, khả vị, khả xúc; hoặc những kẻ mong cầu phúc lợi, mong cầu điều tốt đẹp, mong cầu sự an lạc, hoặc mong (người ấy) được giải thoát khỏi các sự trói buộc, như mẹ, cha, anh em trai, chị em gái, bạn bè, đồng nghiệp, thân quyến hoặc bà con huyết thống; cái mà là sự không kết hợp (do gặp gỡ), sự không kết hợp (do tiếp nhận), không tụ hội, không cộng tác với những đối tượng ấy. Đây gọi là khổ do ái biệt ly. PTS vp 101

PTS cs 201 Ở đây, thế nào là "cầu bất đắc, đó cũng là khổ"? Nơi các chúng sinh chịu sự chi phối của sinh, khởi lên ước muốn như vầy: "Ôi, mong sao chúng ta không phải chịu sự chi phối của sinh; mong sao sinh chớ đến với chúng ta"; điều này thật ra không thể đạt được bằng cách ước muốn. Đây là "cầu bất đắc, đó cũng là khổ".

Nơi các chúng sinh chịu sự chi phối của già. Nơi các chúng sinh chịu sự chi phối của bệnh. Nơi các chúng sinh chịu sự chi phối của chết.* Nơi các chúng sinh chịu sự chi phối của sầu — bi — khổ (thân) — ưu (tâm) — não, khởi lên ước muốn như vầy: "Ôi, mong sao chúng ta không phải chịu sự chi phối của sầu — bi — khổ (thân) — ưu (tâm) — não; mong sao sầu — bi — khổ (thân) — ưu (tâm) — não chớ đến với chúng ta"; điều này thật ra không thể đạt được bằng cách ước muốn.

Đây cũng là "cầu bất đắc, đó cũng là khổ".

– Hoàn tất mỗi câu theo hình thức tổng quát của ví dụ đầu tiên.

PTS cs 202 Ở đây, thế nào là "tóm lại, năm thủ uẩn là khổ"? Đó là: sắc thủ uẩn (uẩn sắc chất làm đối tượng của các thủ), thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn (uẩn các tâm sở làm đối tượng của các thủ), thức thủ uẩn BA 133 | (đối tượng của các thủ). Đây gọi là "tóm lại, năm thủ uẩn là khổ".

Đây Gọi Là Thánh Đế Về Khổ

2. Tập Đế (Đế Về Nhân)

PTS cs 203 Ở đây, thế nào là Thánh Đế về nhân sinh Khổ? Đó là ái (taṇhā) — nhân của sự tái sinh, đi kèm với dục vọng mãnh liệt, là sự đam mê mạnh mẽ đối với cái này cái kia. Ví dụ: ái đối với dục lạc (dục ái), ái đối với sự hiện hữu (hữu ái), ái đối với sự không hiện hữu (phi hữu ái, vô hữu ái).

Chính ái này, khi sinh khởi thì sinh khởi ở đâu; khi an trú thì an trú ở đâu? Phàm cái gì trong thế gian là điều khả ái, điều khả lạc; chính ở đây, ái này khi sinh khởi thì sinh khởi; ở đây khi an trú thì an trú.

Trong thế gian, cái gì là điều khả ái, điều khả lạc? Trong thế gian, mắt là điều khả ái, điều khả lạc; chính ở đây, ái này khi sinh khởi thì sinh khởi; ở đây khi an trú thì an trú. Trong thế gian, tai.* Trong thế gian, mũi. Trong thế gian, lưỡi. Trong thế gian, thân. Trong thế gian, ý là điều khả ái, điều khả lạc; chính ở đây, ái này khi sinh khởi thì sinh khởi; ở đây khi an trú thì an trú.

– Hoàn tất mỗi câu như ví dụ đầu tiên.

Trong thế gian, các (đối tượng) khả kiến là những điều khả ái, những điều khả lạc; chính ở đây, ái này khi sinh khởi thì sinh khởi; ở đây khi an trú thì an trú. Trong thế gian, các (đối tượng) khả thính.* Trong thế gian, các (đối tượng) khả khứu. Trong thế gian, các (đối tượng) khả vị. Trong thế gian, các (đối tượng) khả xúc. PTS vp 102 Trong thế gian, các (đối tượng) pháp trần (khả tri) là những điều khả ái, những điều khả lạc; chính ở đây, ái này khi sinh khởi thì sinh khởi; ở đây khi an trú thì an trú.

– Hoàn tất mỗi câu như ví dụ đầu tiên.

Trong thế gian, nhãn thức là điều khả ái, điều khả lạc; chính ở đây, ái này khi sinh khởi thì sinh khởi; ở đây khi an trú thì an trú. Trong thế gian, nhĩ thức.* Trong thế gian, tỷ thức. Trong thế gian, thiệt thức. Trong thế gian, thân thức. Trong thế gian, ý thức là điều khả ái, điều khả lạc; chính ở đây, ái này khi sinh khởi thì sinh khởi; ở đây khi an trú thì an trú.

– Hoàn tất mỗi câu như ví dụ đầu tiên.

Trong BA 134 thế gian, nhãn xúc là điều khả ái, điều khả lạc; chính ở đây, ái này khi sinh khởi thì sinh khởi; ở đây khi an trú thì an trú. Trong thế gian, nhĩ xúc.* Trong thế gian, tỷ xúc. Trong thế gian, thiệt xúc. Trong thế gian, thân xúc. Trong thế gian, ý xúc là điều khả ái, điều khả lạc; chính ở đây, ái này khi sinh khởi thì sinh khởi; ở đây khi an trú thì an trú.

– Hoàn tất mỗi câu như ví dụ đầu tiên.

Trong thế gian, thọ sinh từ nhãn xúc là điều khả ái, điều khả lạc; chính ở đây, ái này khi sinh khởi thì sinh khởi; ở đây khi an trú thì an trú. Trong thế gian, thọ sinh từ nhĩ xúc.* Trong thế gian, thọ sinh từ tỷ xúc. Trong thế gian, thọ sinh từ thiệt xúc. Trong thế gian, thọ sinh từ thân xúc. Trong thế gian, thọ sinh từ ý xúc là điều khả ái, điều khả lạc; chính ở đây, ái này khi sinh khởi thì sinh khởi; ở đây khi an trú thì an trú.

– Hoàn tất mỗi câu như ví dụ đầu tiên.

Trong thế gian, tưởng về các (đối tượng) khả kiến là điều khả ái, điều khả lạc; chính ở đây, ái này khi sinh khởi thì sinh khởi; ở đây khi an trú thì an trú. Trong thế gian, tưởng về các (đối tượng) khả thính.* Trong thế gian, tưởng về các (đối tượng) khả khứu. Trong thế gian, tưởng về các (đối tượng) khả vị. Trong thế gian, tưởng về các (đối tượng) khả xúc. Trong thế gian, tưởng về các (đối tượng) pháp trần là điều khả ái, điều khả lạc; chính ở đây, ái này khi sinh khởi thì sinh khởi; ở đây khi an trú thì an trú.

– Hoàn tất mỗi câu như ví dụ đầu tiên.

Trong thế gian, tư (cetanā) liên quan đến các (đối tượng) khả kiến là điều khả ái, điều khả lạc; chính ở đây, ái này khi sinh khởi thì sinh khởi; ở đây khi an trú thì an trú. Trong thế gian, tư liên quan đến các (đối tượng) khả thính.* Trong thế gian, tư liên quan đến các (đối tượng) khả khứu. Trong thế gian, tư liên quan đến các (đối tượng) khả vị. Trong thế gian, tư liên quan đến các (đối tượng) khả xúc. Trong thế gian, tư liên quan đến các (đối tượng) pháp trần là điều khả ái, điều khả lạc; chính ở đây, ái này khi sinh khởi thì sinh khởi; ở đây khi an trú thì an trú.

– Hoàn tất mỗi câu như ví dụ đầu tiên.

Trong thế gian, ái đối với các (đối tượng) khả kiến là điều khả ái, điều khả lạc; chính ở đây, ái này khi sinh khởi thì sinh khởi; ở đây khi an trú thì an trú. Trong thế gian, ái đối với các (đối tượng) khả thính.* Trong BA 135 | thế gian, ái đối với các (đối tượng) khả khứu. Trong thế gian, ái đối với các (đối tượng) khả vị. Trong thế gian, ái đối với các (đối tượng) khả xúc. Trong thế gian, ái đối với các (đối tượng) pháp trần là điều khả ái, điều khả lạc; chính ở đây, ái này khi sinh khởi thì sinh khởi; ở đây khi an trú thì an trú.

– Hoàn tất mỗi câu như ví dụ đầu tiên.

Trong thế gian, tầm (vitakka, suy nghĩ hướng đến) các (đối tượng) khả kiến là điều khả ái, điều khả lạc; chính ở đây, ái này khi sinh khởi thì sinh khởi; ở đây khi an trú thì an trú. Trong thế gian, tầm các (đối tượng) khả thính.* Trong thế gian, tầm các (đối tượng) khả khứu. Trong thế gian, tầm các (đối tượng) khả vị. Trong thế gian, tầm các (đối tượng) khả xúc. Trong thế gian, tầm các (đối tượng) pháp trần là điều khả ái, điều khả lạc; chính ở đây, ái này khi sinh khởi thì sinh khởi; ở đây khi an trú thì an trú. PTS vp 103

– Hoàn tất mỗi câu như ví dụ đầu tiên.

Trong thế gian, tứ (vicāra, sự xem xét, quán sát) các (đối tượng) khả kiến là điều khả ái, điều khả lạc; chính ở đây, ái này khi sinh khởi thì sinh khởi; ở đây khi an trú thì an trú. Trong thế gian, tứ các (đối tượng) khả thính là điều khả ái, điều khả lạc; chính ở đây, ái này khi sinh khởi thì sinh khởi; ở đây khi an trú thì an trú. Trong thế gian, tứ các (đối tượng) khả khứu là điều khả ái, điều khả lạc; chính ở đây, ái này khi sinh khởi thì sinh khởi; ở đây khi an trú thì an trú.

Trong thế gian, tứ các (đối tượng) khả vị là điều khả ái, điều khả lạc; chính ở đây, ái này khi sinh khởi thì sinh khởi; ở đây khi an trú thì an trú. Trong thế gian, tứ các (đối tượng) khả xúc là điều khả ái, điều khả lạc; chính ở đây, ái này khi sinh khởi thì sinh khởi; ở đây khi an trú thì an trú. Trong thế gian, tứ các (đối tượng) pháp trần là điều khả ái, điều khả lạc; chính ở đây, ái này khi sinh khởi thì sinh khởi; ở đây khi an trú thì an trú.

Đây Gọi Là Thánh Đế Về Nhân Sinh Khổ

3. Diệt Đế

PTS cs 204 Ở đây, thế nào là Thánh Đế về sự diệt Khổ? Đó là sự diệt trừ hoàn toàn không còn dục vọng, sự từ bỏ, sự loại bỏ, sự giải thoát khỏi, sự không chấp trước đối với chính ái ấy.

Chính ái này, khi được từ bỏ thì nên từ bỏ ở đâu; khi diệt thì diệt ở đâu? Phàm cái gì trong BA 136 | thế gian là điều khả ái, điều khả lạc; chính ở đây, ái này khi được từ bỏ thì nên từ bỏ; ở đây khi diệt thì diệt.

Trong thế gian, cái gì là điều khả ái, điều khả lạc? Trong thế gian, mắt là điều khả ái, điều khả lạc; chính ở đây, ái này khi được từ bỏ thì nên từ bỏ; ở đây khi diệt thì diệt. Trong thế gian, tai.* Trong thế gian, mũi. Trong thế gian, lưỡi. Trong thế gian, thân. Trong thế gian, ý là điều khả ái, điều khả lạc; chính ở đây, ái này khi được từ bỏ thì nên từ bỏ; ở đây khi diệt thì diệt.

– Hoàn tất mỗi câu như ví dụ đầu tiên.

Trong thế gian, (đối tượng) khả kiến là điều khả ái, điều khả lạc; chính ở đây, ái này khi được từ bỏ thì nên từ bỏ; ở đây khi diệt thì diệt. Trong thế gian, (đối tượng) khả thính.* Trong thế gian, (đối tượng) khả khứu. Trong thế gian, (đối tượng) khả vị. Trong thế gian, (đối tượng) khả xúc. Trong thế gian, (đối tượng) pháp trần là điều khả ái, điều khả lạc; chính ở đây, ái này khi được từ bỏ thì nên từ bỏ; ở đây khi diệt thì diệt.

– Hoàn tất mỗi câu như ví dụ đầu tiên.

Trong thế gian, nhãn thức là điều khả ái, điều khả lạc; chính ở đây, ái này khi được từ bỏ thì nên từ bỏ; ở đây khi diệt thì diệt. Trong thế gian, nhĩ thức.* Trong thế gian, tỷ thức. Trong thế gian, thiệt thức. Trong thế gian, thân thức. Trong thế gian, ý thức là điều khả ái, điều khả lạc; chính ở đây, ái này khi được từ bỏ thì nên từ bỏ; ở đây khi diệt thì diệt.

– Hoàn tất mỗi câu như ví dụ đầu tiên.

Trong thế gian, nhãn xúc là điều khả ái, điều khả lạc; chính ở đây, ái này khi được từ bỏ thì nên từ bỏ; ở đây khi diệt thì diệt. Trong thế gian, nhĩ xúc.* Trong thế gian, tỷ xúc. Trong thế gian, thiệt xúc. Trong thế gian, thân xúc. Trong thế gian, ý xúc là điều khả ái, điều khả lạc; chính ở đây, ái này khi được từ bỏ thì nên từ bỏ; ở đây khi diệt thì diệt.

– Hoàn tất mỗi câu như ví dụ đầu tiên.

Trong thế gian, thọ sinh từ nhãn xúc là điều khả ái, điều khả lạc; chính ở đây, ái này khi được từ bỏ thì nên từ bỏ; ở đây khi diệt thì diệt. Trong thế gian, thọ sinh từ nhĩ xúc.* Trong thế gian, thọ sinh từ tỷ xúc. Trong thế gian, thọ sinh từ thiệt xúc. Trong thế gian, thọ sinh từ BA 137 | thân xúc. PTS vp 104 Trong thế gian, thọ sinh từ ý xúc là điều khả ái, điều khả lạc; chính ở đây, ái này khi được từ bỏ thì nên từ bỏ; ở đây khi diệt thì diệt.

– Hoàn tất mỗi câu như ví dụ đầu tiên.

Trong thế gian, tưởng về các (đối tượng) khả kiến. Trong thế gian, tưởng về các (đối tượng) khả thính. Trong thế gian, tưởng về các (đối tượng) khả khứu. Trong thế gian, tưởng về các (đối tượng) khả vị. Trong thế gian, tưởng về các (đối tượng) khả xúc. Trong thế gian, tưởng về các (đối tượng) pháp trần là điều khả ái, điều khả lạc; chính ở đây, ái này khi được từ bỏ thì nên từ bỏ; ở đây khi diệt thì diệt.

Trong thế gian, tư liên quan đến các (đối tượng) khả kiến. Trong thế gian, tư liên quan đến các (đối tượng) khả thính. Trong thế gian, tư liên quan đến các (đối tượng) khả khứu. Trong thế gian, tư liên quan đến các (đối tượng) khả vị. Trong thế gian, tư liên quan đến các (đối tượng) khả xúc. Trong thế gian, tư liên quan đến các (đối tượng) pháp trần là điều khả ái, điều khả lạc; chính ở đây, ái này khi được từ bỏ thì nên từ bỏ; ở đây khi diệt thì diệt.

Trong thế gian, ái đối với các (đối tượng) khả kiến. Trong thế gian, ái đối với các (đối tượng) khả thính. Trong thế gian, ái đối với các (đối tượng) khả khứu. Trong thế gian, ái đối với các (đối tượng) khả vị. Trong thế gian, ái đối với các (đối tượng) khả xúc. Trong thế gian, ái đối với các (đối tượng) pháp trần là điều khả ái, điều khả lạc; chính ở đây, ái này khi được từ bỏ thì nên từ bỏ; ở đây khi diệt thì diệt.

Trong thế gian, tầm các (đối tượng) khả kiến. Trong thế gian, tầm các (đối tượng) khả thính. Trong thế gian, tầm các (đối tượng) khả vị. Trong thế gian, tầm các (đối tượng) khả xúc. Trong thế gian, tầm các (đối tượng) pháp trần là điều khả ái, điều khả lạc; chính ở đây, ái này khi được từ bỏ thì nên từ bỏ; ở đây khi diệt thì diệt.

Trong thế gian, tứ các (đối tượng) khả kiến. Trong thế gian, tứ các (đối tượng) khả thính. Trong thế gian, tứ các (đối tượng) khả khứu. Trong thế gian, tứ các (đối tượng) khả vị. Trong thế gian, tứ các (đối tượng) khả xúc. Trong thế gian, tứ các (đối tượng) pháp trần là điều khả ái, điều khả lạc; chính ở đây, ái này khi được từ bỏ thì nên từ bỏ; ở đây khi diệt thì diệt.

Đây Gọi Là Thánh Đế Về Sự Diệt Khổ

4. Đạo Đế

PTS cs 205 BA 138 Ở đây, thế nào là Thánh Đế về con đường đưa đến sự diệt Khổ? Chỉ là Bát Chi Thánh Đạo (Con Đường Tám Chi Phần Cao Quý) này. Đó là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.

Ở đây, thế nào là chánh kiến? Trí về Khổ, trí về nhân sinh Khổ, trí về sự diệt Khổ, trí về con đường đưa đến sự diệt Khổ. Đây gọi là chánh kiến.

Ở đây, thế nào là chánh tư duy? Tư duy (đi kèm) với sự xuất ly, tư duy (đi kèm) với sự không sân hận, tư duy (đi kèm) với sự không hại. Đây gọi là chánh tư duy. PTS vp 105

Ở đây, thế nào là chánh ngữ? Sự kiêng tránh nói dối, sự kiêng tránh nói lời chia rẽ (nói hai lưỡi), sự kiêng tránh nói lời thô ác, sự kiêng tránh nói lời vô ích (nói lời phù phiếm). Đây gọi là chánh ngữ.

Ở đây, thế nào là chánh nghiệp? Sự kiêng tránh sát sinh, sự kiêng tránh lấy của không cho (trộm cắp), sự kiêng tránh tà hạnh trong các dục. Đây gọi là chánh nghiệp.

Ở đây, thế nào là chánh mạng? Ở đây, vị Thánh đệ tử, sau khi đã từ bỏ tà mạng, nuôi sống bằng phương tiện chánh mạng. Đây gọi là chánh mạng.

Ở đây, thế nào là chánh tinh tấn? Ở đây, vị tỳ-khưu khởi lên ước muốn, nỗ lực, phát khởi tinh tấn, nắm giữ và duy trì tâm ý, cố gắng để các pháp ác, bất thiện chưa sinh không sinh khởi; khởi lên ước muốn, nỗ lực, phát khởi tinh tấn, nắm giữ và duy trì tâm ý, cố gắng để đoạn trừ các pháp ác, bất thiện đã sinh; khởi lên ước muốn, nỗ lực, phát khởi tinh tấn, nắm giữ và duy trì tâm ý, cố gắng để các pháp thiện chưa sinh được sinh khởi; khởi lên ước muốn, nỗ lực, phát khởi tinh tấn, nắm giữ và duy trì tâm ý, cố gắng để làm cho ổn định, không quên lãng, tăng trưởng, sung mãn, phát triển, viên mãn các pháp thiện đã sinh. Đây gọi là chánh tinh tấn.

Ở đây, thế nào là chánh niệm? Ở đây, vị tỳ-khưu sống quán thân trong thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham dục và ưu não đối với đời (tức là đối với thân). Trong các thọ. Trong tâm. Sống quán pháp trong các pháp (tức là các uẩn tưởng và hành), nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục BA 139 | tham dục và ưu não đối với đời (tức là đối với các pháp). Đây gọi là chánh niệm.

– Hoàn tất mỗi câu theo hình thức tổng quát của ví dụ đầu tiên.

Ở đây, thế nào là chánh định? Ở đây, vị tỳ-khưu, ly các dục, ly các pháp bất thiện, chứng đắc và an trú sơ thiền, có tầm, có tứ, có hỷ và lạc sinh từ sự viễn ly; do sự tịnh chỉ tầm và tứ, chứng đắc và an trú nhị thiền, với nội tâm trong sáng, sự chuyên nhất của tâm, không tầm, không tứ, có hỷ và lạc sinh từ định; vị ấy, không còn tham đắm hỷ, an trú với tâm xả, chánh niệm, tỉnh giác, và thân cảm nhận lạc thọ (thuộc các tâm sở); (trạng thái) mà các bậc Thánh gọi là "người có tâm xả, chánh niệm, an trú lạc"; vị ấy chứng đắc và an trú tam thiền; do sự đoạn trừ lạc và do sự đoạn trừ khổ, do sự diệt trừ trước đó của hỷ và ưu, vị ấy chứng đắc và an trú tứ thiền, (trạng thái) không khổ không lạc, (mà là) sự thanh tịnh của niệm do xả. Đây gọi là chánh định. PTS vp 106

Đây Gọi Là Thánh Đế Về Con Đường Đưa Đến Sự Diệt Khổ

(Đến Đây Kết Thúc) Phần Phân Tích Theo Kinh Tạng

2. Phân Tích Theo Vi Diệu Pháp (Abhidhamma)

PTS cs 206 Bốn đế là: Khổ, nhân sinh Khổ, sự diệt Khổ, con đường đưa đến sự diệt Khổ.

Ở đây, thế nào là nhân sinh Khổ? Ái. Đây gọi là nhân sinh Khổ.

Ở đây, thế nào là Khổ? Các phiền não còn lại, các pháp bất thiện còn lại, ba thiện căn làm đối tượng của các phiền não, các pháp thiện còn lại làm đối tượng của các phiền não, các quả của các pháp thiện và bất thiện làm đối tượng của các phiền não, phàm những pháp duy tác nào không thiện không bất thiện cũng không phải là quả của nghiệp, và tất cả các sắc pháp. Đây gọi là Khổ.

Ở đây BA 140 thế nào là sự diệt Khổ? Sự đoạn trừ ái. Đây gọi là sự diệt Khổ.

Ở đây, thế nào là con đường đưa đến sự diệt Khổ? Ở đây, vào lúc vị tỳ-khưu tu tập thiền na siêu thế hướng đến sự giải thoát, có tác dụng làm tiêu tán sự tiếp diễn của tái sinh và tử vong; vị ấy, vì sự đoạn trừ tà kiến, vì sự bước vào giai đoạn đầu tiên, ly các dục lạc, chứng đắc và an trú sơ thiền — là pháp hành khó khăn và trí tuệ chậm đạt được; vào lúc ấy có Bát Chi Đạo, (là:) chánh kiến, 2 chánh định.

– Xem đoạn 205.

– 2 Các chi phần đạo trung gian.

Ở đây, thế nào là chánh kiến? Cái mà là tuệ, sự hiểu biết,* sự không mê mờ, sự trạch pháp, chánh kiến, trạch pháp giác chi, chi phần đạo, được bao gồm trong đạo. Đây gọi là chánh kiến.

– Xem đoạn 525.

Ở đây, thế nào là chánh tư duy? Cái mà là sự tác ý, sự suy nghĩ,* chánh tư duy, chi phần đạo, được bao gồm trong đạo. Đây gọi là chánh tư duy.

– Xem đoạn 182.

Ở đây, thế nào là chánh ngữ? Cái mà là sự tránh né, sự chế ngự, sự kiềm chế, sự kiêng tránh, sự không phạm, sự không làm, sự không phạm lỗi, sự không vượt quá giới hạn, sự phá hủy con đường dẫn đến bốn ác hạnh về lời nói: chánh ngữ, chi phần đạo, được bao gồm trong đạo. Đây gọi là chánh ngữ.

Ở đây, thế nào là chánh nghiệp? Cái mà là sự tránh né, sự chế ngự, sự kiềm chế, sự kiêng tránh, sự không phạm, sự không làm, sự không phạm lỗi, sự không vượt quá giới hạn, sự phá hủy con đường dẫn đến ba ác hạnh về thân: PTS vp 107 chánh nghiệp, chi phần đạo, được bao gồm trong đạo. Đây gọi là chánh nghiệp.

Ở đây, thế nào là chánh mạng? Cái mà là sự tránh né, sự chế ngự, sự kiềm chế, sự kiêng tránh, sự không phạm, sự không làm, sự không phạm lỗi, sự không vượt quá giới hạn, sự phá hủy con đường dẫn đến tà mạng: chánh mạng, chi phần đạo, được bao gồm trong đạo. Đây gọi là chánh mạng.

Ở đây, thế nào là chánh tinh tấn? Cái mà là sự phát khởi năng lực của tâm ý,* chánh tinh tấn, tinh tấn giác chi, chi phần đạo, được bao gồm trong đạo. Đây gọi là chánh tinh tấn.

– Xem đoạn 220.

Ở đây BA 141 thế nào là chánh niệm? Cái mà là niệm, niệm thường trực,* chánh niệm, niệm giác chi, chi phần đạo, được bao gồm trong đạo. Đây gọi là chánh niệm.

– Xem đoạn 220.

Ở đây, thế nào là chánh định? Cái mà là sự an trú của tâm thức, sự vững chắc,* chánh định, định giác chi, chi phần đạo, được bao gồm trong đạo. Đây gọi là chánh định. Đây gọi là con đường đưa đến sự diệt Khổ; (cũng như vậy là) các pháp còn lại tương ưng với con đường đưa đến sự diệt Khổ.

– Xem đoạn 220.

PTS cs 207 Ở đây, thế nào là nhân sinh Khổ? Ái và các phiền não còn lại. Đây gọi là nhân sinh Khổ.

Ở đây, thế nào là Khổ? Các pháp bất thiện còn lại, ba thiện căn làm đối tượng của các phiền não, các pháp thiện còn lại làm đối tượng của các phiền não, các quả của các pháp thiện và bất thiện làm đối tượng của các phiền não, phàm những pháp duy tác nào không thiện không bất thiện cũng không phải là quả của nghiệp, và tất cả các sắc pháp. Đây gọi là Khổ.

Ở đây, thế nào là sự diệt Khổ? Sự đoạn trừ ái và các phiền não còn lại. Đây gọi là sự diệt Khổ.

Ở đây, thế nào là con đường đưa đến sự diệt Khổ? Ở đây, vào lúc vị tỳ-khưu tu tập thiền na siêu thế hướng đến sự giải thoát, có tác dụng làm tiêu tán sự tiếp diễn của tái sinh và tử vong; vị ấy, vì sự đoạn trừ tà kiến, vì sự bước vào giai đoạn đầu tiên, ly các dục lạc, chứng đắc và an trú sơ thiền — là pháp hành khó khăn và trí tuệ chậm đạt được; vào lúc ấy có Bát Chi Đạo, (là:) chánh kiến, 2 chánh định. Đây gọi là con đường đưa đến sự diệt Khổ; PTS vp 108 (cũng như vậy là) các pháp còn lại tương ưng với con đường đưa đến sự diệt Khổ.

– Xem đoạn 205.

– 2 Các chi phần đạo trung gian.

PTS cs 208 Ở đây, thế nào là nhân sinh Khổ? Ái, các phiền não còn lại và các pháp bất thiện còn lại. Đây gọi là nhân sinh Khổ.

Ở đây BA 142 thế nào là Khổ? Ba thiện căn làm đối tượng của các phiền não, các pháp thiện còn lại làm đối tượng của các phiền não, các quả của các pháp thiện và bất thiện làm đối tượng của các phiền não, phàm những pháp duy tác nào không thiện không bất thiện cũng không phải là quả của nghiệp, và tất cả các sắc pháp. Đây gọi là Khổ.

Ở đây, thế nào là sự diệt Khổ? Sự đoạn trừ ái và các phiền não còn lại và các pháp bất thiện còn lại. Đây gọi là sự diệt Khổ.

Ở đây, thế nào là con đường đưa đến sự diệt Khổ? Ở đây, vào lúc vị tỳ-khưu tu tập thiền na siêu thế hướng đến sự giải thoát, có tác dụng làm tiêu tán sự tiếp diễn của tái sinh và tử vong; vị ấy, vì sự đoạn trừ tà kiến, vì sự bước vào giai đoạn đầu tiên, ly các dục lạc, chứng đắc và an trú sơ thiền — là pháp hành khó khăn và trí tuệ chậm đạt được; vào lúc ấy có Bát Chi Đạo, (là:) chánh kiến, 2 chánh định. Đây gọi là con đường đưa đến sự diệt Khổ; (cũng như vậy là) các pháp còn lại tương ưng với con đường đưa đến sự diệt Khổ.

– Xem đoạn 205.

– 2 Các chi phần đạo trung gian.

PTS cs 209 Ở đây, thế nào là nhân sinh Khổ? Ái, các phiền não còn lại, các pháp bất thiện còn lại và ba thiện căn làm đối tượng của các phiền não. Đây gọi là nhân sinh Khổ.

Ở đây, thế nào là Khổ? Các pháp thiện còn lại làm đối tượng của các phiền não, các quả của các pháp thiện và bất thiện làm đối tượng của các phiền não, phàm những pháp duy tác nào không thiện không bất thiện cũng không phải là quả của nghiệp, và tất cả các sắc pháp. Đây gọi là Khổ.

Ở đây, thế nào là sự diệt Khổ? Sự đoạn trừ ái và các phiền não còn lại và các pháp bất thiện còn lại và ba thiện căn làm đối tượng của các phiền não. Đây gọi là sự diệt Khổ.

Ở đây, thế nào là con đường đưa đến sự diệt Khổ? Ở đây, vào lúc vị tỳ-khưu tu tập thiền na siêu thế hướng đến sự giải thoát, có tác dụng làm tiêu tán sự tiếp diễn của tái sinh và tử vong; vị ấy, vì sự đoạn trừ tà kiến, vì sự bước vào giai đoạn đầu tiên, ly các dục lạc, chứng đắc và an trú sơ thiền — là pháp hành khó khăn và trí tuệ chậm đạt được; vào lúc BA 143 | ấy có Bát Chi Đạo, (là:) chánh kiến, 2 chánh định. Đây gọi là con đường đưa đến sự diệt Khổ.

– Xem đoạn 205.

– 2 Các chi phần đạo trung gian.

PTS cs 210 Ở đây, thế nào là nhân sinh Khổ? Ái, các phiền não còn lại, các pháp bất thiện còn lại, ba thiện căn làm đối tượng của các phiền não và các pháp thiện còn lại làm đối tượng của các phiền não. Đây gọi là nhân sinh Khổ.

Ở đây, thế nào là Khổ? Các quả của các pháp thiện và bất thiện làm đối tượng của các phiền não, phàm những pháp duy tác nào không thiện không bất thiện cũng không phải là quả của nghiệp, và tất cả các sắc pháp. Đây gọi là Khổ.

Ở đây, thế nào là sự diệt Khổ? Sự đoạn trừ ái và các phiền não còn lại và các pháp bất thiện còn lại và ba thiện căn làm đối tượng của các phiền não và các pháp thiện còn lại làm đối tượng của các phiền não. Đây gọi là sự diệt Khổ.

Ở đây, thế nào là con đường đưa đến sự diệt Khổ? Ở đây, vào lúc vị tỳ-khưu tu tập thiền na siêu thế hướng đến sự giải thoát, có tác dụng làm tiêu tán sự tiếp diễn của tái sinh và tử vong; vị ấy, vì sự đoạn trừ tà kiến, vì sự bước vào giai đoạn đầu tiên, ly các dục lạc, chứng đắc và an trú sơ thiền — là pháp hành khó khăn và trí tuệ chậm đạt được; vào lúc ấy có Bát Chi Đạo, (là:) chánh kiến, 2 chánh định. Đây gọi là con đường đưa đến sự diệt Khổ; (cũng như vậy là) các pháp còn lại tương ưng với con đường đưa đến sự diệt Khổ. PTS vp 110

– Xem đoạn 205.

– 2 Các chi phần đạo trung gian.

PTS cs 211 Bốn đế là: Khổ, nhân sinh Khổ, sự diệt Khổ, con đường đưa đến sự diệt Khổ.

Ở đây, thế nào là nhân sinh Khổ? Ái. Đây gọi là nhân sinh Khổ.

Ở đây, thế nào là Khổ? Các phiền não còn lại, các pháp bất thiện còn lại, ba thiện căn làm đối tượng của các phiền não, các pháp thiện còn lại làm đối tượng của các phiền não, các quả của các pháp thiện và bất thiện làm đối tượng của các phiền não, phàm những pháp duy tác nào không thiện không BA 144 | bất thiện cũng không phải là quả của nghiệp, và tất cả các sắc pháp. Đây gọi là Khổ.

Ở đây, thế nào là sự diệt Khổ? Sự đoạn trừ ái. Đây gọi là sự diệt Khổ.

Ở đây, thế nào là con đường đưa đến sự diệt Khổ? Ở đây, vào lúc vị tỳ-khưu tu tập thiền na siêu thế hướng đến sự giải thoát, có tác dụng làm tiêu tán sự tiếp diễn của tái sinh và tử vong; vị ấy, vì sự đoạn trừ tà kiến, vì sự bước vào giai đoạn đầu tiên, ly các dục lạc,* chứng đắc và an trú sơ thiền — là pháp hành khó khăn và trí tuệ chậm đạt được; vào lúc ấy có Ngũ Chi Đạo, (là:) chánh kiến, chánh tư duy, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.

– Xem đoạn 205.

Ở đây, thế nào là chánh kiến? Cái mà là tuệ, sự hiểu biết,* sự không mê mờ, sự trạch pháp, chánh kiến, trạch pháp giác chi, chi phần đạo, được bao gồm trong đạo. Đây gọi là chánh kiến.

– Xem đoạn 525.

Ở đây, thế nào là chánh tư duy? Cái mà là sự tác ý, sự suy nghĩ,* chánh tư duy, chi phần đạo, được bao gồm trong đạo. Đây gọi là chánh tư duy.

– Xem đoạn 182.

Ở đây, thế nào là chánh tinh tấn? Cái mà là sự phát khởi năng lực của tâm ý,* chánh tinh tấn, tinh tấn giác chi, chi phần đạo, được bao gồm trong đạo. Đây gọi là chánh tinh tấn.

– Xem đoạn 220.

Ở đây, thế nào là chánh niệm? Cái mà là niệm, niệm thường trực,* chánh niệm, niệm giác chi, chi phần đạo, được bao gồm trong đạo. Đây gọi là chánh niệm.

– Xem đoạn 220.

Ở đây, thế nào là chánh định? Cái mà là sự an trú của tâm thức,* chánh định, định giác chi, chi phần đạo, được bao gồm trong đạo. Đây gọi là chánh định. Đây gọi là con đường đưa đến sự diệt Khổ; (cũng như vậy là) các pháp còn lại tương ưng với con đường đưa đến sự diệt Khổ. PTS vp 111

– Xem đoạn 220.

PTS cs 212 BA 145 Ở đây, thế nào là nhân sinh Khổ? Ái, các phiền não còn lại, các pháp bất thiện còn lại, ba thiện căn làm đối tượng của các phiền não và các pháp thiện còn lại làm đối tượng của các phiền não. Đây gọi là nhân sinh Khổ.

Ở đây, thế nào là Khổ? Các quả của các pháp thiện và bất thiện làm đối tượng của các phiền não, phàm những pháp duy tác nào không thiện không bất thiện cũng không phải là quả của nghiệp, và tất cả các sắc pháp. Đây gọi là Khổ.

Ở đây, thế nào là sự diệt Khổ? Sự đoạn trừ ái và các phiền não còn lại và các pháp bất thiện còn lại và ba thiện căn làm đối tượng của các phiền não và các pháp thiện còn lại làm đối tượng của các phiền não. Đây gọi là sự diệt Khổ.

Ở đây, thế nào là con đường đưa đến sự diệt Khổ? Ở đây, vào lúc vị tỳ-khưu tu tập thiền na siêu thế hướng đến sự giải thoát, có tác dụng làm tiêu tán sự tiếp diễn của tái sinh và tử vong; vị ấy, vì sự đoạn trừ tà kiến, vì sự bước vào giai đoạn đầu tiên, ly các dục lạc,* chứng đắc và an trú sơ thiền — là pháp hành khó khăn và trí tuệ chậm đạt được; vào lúc ấy có Ngũ Chi Đạo, (là:) chánh kiến, chánh tư duy, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Đây gọi là con đường đưa đến sự diệt Khổ; (cũng như vậy là) các pháp còn lại tương ưng với con đường đưa đến sự diệt Khổ.

– Xem đoạn 205.

PTS cs 213 Bốn đế là: Khổ, nhân sinh Khổ, sự diệt Khổ, con đường đưa đến sự diệt Khổ.

Ở đây, thế nào là nhân sinh Khổ? Ái. Đây gọi là nhân sinh Khổ.

Ở đây, thế nào là Khổ? Các phiền não còn lại, các pháp bất thiện còn lại, ba thiện căn làm đối tượng của các phiền não, các pháp thiện còn lại làm đối tượng của các phiền não, các quả của các pháp thiện và bất thiện làm đối tượng của các phiền não, phàm những pháp duy tác nào không thiện không bất thiện cũng không phải là quả của nghiệp, và tất cả các sắc pháp. Đây gọi là Khổ.

Ở đây, thế nào là sự diệt Khổ? Sự đoạn trừ ái. Đây gọi là sự diệt Khổ.

Ở đây, thế nào là con đường đưa đến sự diệt Khổ? BA 146 | Ở đây, vào lúc vị tỳ-khưu tu tập thiền na siêu thế PTS vp 112 hướng đến sự giải thoát, có tác dụng làm tiêu tán sự tiếp diễn của tái sinh và tử vong; vị ấy, vì sự đoạn trừ tà kiến, vì sự bước vào giai đoạn đầu tiên, ly các dục lạc, chứng đắc và an trú sơ thiền — là pháp hành khó khăn và trí tuệ chậm đạt được; vào lúc ấy có xúc, 2 có sự không dao động. Đây gọi là con đường đưa đến sự diệt Khổ.

– Xem đoạn 205.

– 2 Xem Pháp Tụ (Dhammasaṅgaṇī) đoạn 277.

PTS cs 214 Ở đây, thế nào là nhân sinh Khổ? Ái, các phiền não còn lại, các pháp bất thiện còn lại, ba thiện căn làm đối tượng của các phiền não, các pháp thiện còn lại làm đối tượng của các phiền não. Đây gọi là nhân sinh Khổ.

Ở đây, thế nào là Khổ? Các quả của các pháp thiện và bất thiện làm đối tượng của các phiền não, phàm những pháp duy tác nào không thiện không bất thiện cũng không phải là quả của nghiệp, và tất cả các sắc pháp. Đây gọi là Khổ.

Ở đây, thế nào là sự diệt Khổ? Sự đoạn trừ ái và các phiền não còn lại và các pháp bất thiện còn lại và ba thiện căn làm đối tượng của các phiền não và các pháp thiện còn lại làm đối tượng của các phiền não. Đây gọi là sự diệt Khổ.

Ở đây, thế nào là con đường đưa đến sự diệt Khổ? Ở đây, vào lúc vị tỳ-khưu tu tập thiền na siêu thế hướng đến sự giải thoát, có tác dụng làm tiêu tán sự tiếp diễn của tái sinh và tử vong; vị ấy, vì sự đoạn trừ tà kiến, vì sự bước vào giai đoạn đầu tiên, ly các dục lạc, chứng đắc và an trú sơ thiền — là pháp hành khó khăn và trí tuệ chậm đạt được; vào lúc ấy có xúc, 2 có sự không dao động. Đây gọi là con đường đưa đến sự diệt Khổ.

– Xem đoạn 205.

– 2 Pháp Tụ (Dhammasaṅgaṇī) đoạn 277.

(Đến Đây Kết Thúc) Phần Phân Tích Theo Vi Diệu Pháp

3. Phần Vấn Đáp

PTS cs 215 Tứ Thánh Đế là: Thánh Đế về Khổ, Thánh Đế về nhân sinh Khổ, Thánh Đế về BA 147 | sự diệt Khổ, Thánh Đế về con đường đưa đến sự diệt Khổ.

PTS cs 216 Trong bốn Thánh Đế, có bao nhiêu đế là thiện; bao nhiêu là bất thiện; bao nhiêu là không thiện không bất thiện.* Bao nhiêu có nguyên nhân đáng than khóc; bao nhiêu không có nguyên nhân đáng than khóc?

– Các tam đề và nhị đề thích hợp còn lại.

1. Các Tam Đề

PTS cs 217 Tập đế (đế về nhân) là bất thiện. Đạo đế là thiện. Diệt đế là không thiện không bất thiện.

Khổ đế đôi khi là thiện; đôi khi là bất thiện; đôi khi là không thiện không bất thiện. Hai đế đôi khi tương ưng với lạc thọ; PTS vp 113 đôi khi tương ưng với thọ không khổ không lạc. Diệt đế không nên nói là, tương ưng với lạc thọ; tương ưng với khổ thọ hoặc tương ưng với thọ không khổ không lạc.

Khổ đế đôi khi tương ưng với lạc thọ; đôi khi tương ưng với khổ thọ; đôi khi tương ưng với thọ không khổ không lạc; đôi khi không nên nói là, tương ưng với lạc thọ; tương ưng với khổ thọ hoặc tương ưng với thọ không khổ không lạc. Hai đế là có khả năng tạo quả. Diệt đế không phải là quả cũng không phải có khả năng tạo quả.

Khổ đế đôi khi là quả; đôi khi có khả năng tạo quả; đôi khi không phải là quả cũng không phải có khả năng tạo quả. Tập đế không bị chấp thủ (bởi ái và tà kiến), là đối tượng của các thủ. Hai đế không bị chấp thủ, không phải là đối tượng của các thủ.

Khổ đế đôi khi bị chấp thủ, là đối tượng của các thủ; đôi khi không bị chấp thủ, là đối tượng của các thủ.

Tập đế là ô nhiễm, là đối tượng của các phiền não. Hai đế không ô nhiễm, không phải là đối tượng của các phiền não. Khổ đế đôi khi ô nhiễm, là đối tượng của các phiền não; đôi khi không ô nhiễm, là đối tượng của các phiền não.

Tập đế có tầm, có tứ. Diệt đế không có tầm, không có tứ. Đạo đế BA 148 | đôi khi có tầm, có tứ; đôi khi không có tầm, chỉ có tứ; đôi khi không có tầm, không có tứ.

Khổ đế đôi khi có tầm, có tứ; đôi khi không có tầm, chỉ có tứ; đôi khi không có tầm, không có tứ; đôi khi không nên nói là, có tầm, có tứ; không có tầm, chỉ có tứ hoặc không có tầm, không có tứ. Hai đế đôi khi đi kèm với hỷ; đôi khi đi kèm với lạc; đôi khi đi kèm với xả. Diệt đế không nên nói là, đi kèm với hỷ; đi kèm với lạc hoặc đi kèm với xả.

Khổ đế đôi khi đi kèm với hỷ; đôi khi đi kèm với lạc; đôi khi đi kèm với xả; đôi khi không nên nói là, đi kèm với hỷ; đi kèm với lạc hoặc đi kèm với xả.

Hai đế không bị đoạn trừ bởi đạo đầu tiên cũng không bởi các đạo tiếp theo. Tập đế đôi khi bị đoạn trừ bởi đạo đầu tiên; đôi khi bị đoạn trừ bởi các đạo tiếp theo. Khổ đế đôi khi bị đoạn trừ bởi đạo đầu tiên; đôi khi bị đoạn trừ bởi các đạo tiếp theo; đôi khi không bị đoạn trừ bởi đạo đầu tiên cũng không bởi các đạo tiếp theo.

Hai đế không có căn (gốc) bị đoạn trừ bởi đạo đầu tiên cũng không bởi các đạo tiếp theo. Tập đế đôi khi có căn bị đoạn trừ bởi đạo đầu tiên; đôi khi có căn bị đoạn trừ bởi các đạo tiếp theo. Khổ đế đôi khi có căn bị đoạn trừ bởi đạo đầu tiên; đôi khi có căn bị đoạn trừ bởi các đạo tiếp theo; đôi khi không có căn bị đoạn trừ bởi đạo đầu tiên cũng không bởi các đạo tiếp theo.

Tập đế là tích lũy (sự tiếp diễn của tái sinh và tử vong). Đạo đế là tiêu tán. Diệt đế không phải là tích lũy cũng không phải là tiêu tán.

Khổ đế đôi khi là tích lũy; đôi khi không phải là tích lũy cũng không phải là tiêu tán. Đạo đế thuộc bảy giai đoạn siêu thế. Ba đế không thuộc bảy giai đoạn siêu thế cũng không thuộc giai đoạn siêu thế cuối cùng.

BA 149 | Tập đế là hạ liệt. Hai đế là vô lượng. Khổ đế đôi khi là hạ liệt; đôi khi là cao thượng.

Diệt đế không có đối tượng. Đạo đế có đối tượng vô lượng. Tập đế đôi khi có đối tượng hạ liệt; đôi khi có đối tượng cao thượng; không có đối tượng vô lượng; đôi khi không nên nói là có đối tượng hạ liệt hoặc đối tượng cao thượng.

Khổ đế đôi khi có đối tượng hạ liệt; đôi khi có đối tượng cao thượng; đôi khi có đối tượng vô lượng; đôi khi không nên nói là, có đối tượng hạ liệt; đối tượng cao thượng hoặc đối tượng vô lượng.

Tập đế là hạ liệt (thấp kém). Hai đế là cao thượng. Khổ đế đôi khi là hạ liệt; đôi khi là trung gian.

Diệt đế không có (thời gian tạo quả) cố định. Đạo đế là (pháp) chân chính (có thời gian) tạo quả cố định. Hai đế đôi khi là (pháp) tà (có thời gian) tạo quả cố định; đôi khi không có (thời gian tạo quả) cố định.

Diệt đế không có đối tượng. Tập đế không nên nói là có đạo làm đối tượng; đạo làm nhân hoặc đạo làm nhân tố chi phối. Đạo đế không có đạo làm đối tượng; có đạo làm nhân; đôi khi có đạo làm nhân tố chi phối; đôi khi không nên nói là có đạo làm nhân tố chi phối.

Khổ đế đôi khi có đạo làm đối tượng; không có đạo làm nhân; đôi khi có đạo làm nhân tố chi phối; đôi khi không nên nói là có đạo làm đối tượng hoặc đạo làm nhân tố chi phối. Hai đế đôi khi đã sinh khởi; đôi khi chưa sinh khởi; không nên nói là chắc chắn sẽ sinh khởi. Diệt đế không nên nói là, đã sinh khởi; chưa sinh khởi hoặc chắc chắn sẽ sinh khởi.

Khổ đế đôi khi đã sinh khởi; đôi khi chưa sinh khởi; đôi khi chắc chắn sẽ sinh khởi. Ba đế đôi khi thuộc quá khứ; đôi khi thuộc vị lai; đôi khi thuộc hiện tại. Diệt đế không nên nói là, thuộc quá khứ; thuộc vị lai hoặc thuộc hiện tại.

Diệt đế không có đối tượng. Đạo đế không nên nói là có đối tượng quá khứ; đối tượng vị lai hoặc đối tượng hiện tại. Hai đế đôi khi có đối tượng quá khứ; đôi khi có đối tượng vị lai; đôi khi có đối tượng hiện tại; đôi khi không nên nói là có đối tượng quá khứ; đối tượng vị lai hoặc đối tượng hiện tại.

PTS vp 115 Diệt đế là ngoại phần. Ba đế đôi khi là nội phần; đôi khi là ngoại phần; đôi khi vừa là nội phần vừa là ngoại phần. Diệt đế không có đối tượng.

Đạo đế có đối tượng ngoại phần. Tập đế đôi khi có đối tượng nội phần; BA 150 | đôi khi có đối tượng ngoại phần; đôi khi có đối tượng vừa nội phần vừa ngoại phần. Khổ đế đôi khi có đối tượng nội phần; đôi khi có đối tượng ngoại phần; đôi khi có đối tượng vừa nội phần vừa ngoại phần; đôi khi không nên nói là có đối tượng nội phần; đối tượng ngoại phần hoặc đối tượng vừa nội phần vừa ngoại phần.

Ba đế là bất khả kiến, là vô đối chiếu. Khổ đế đôi khi là khả kiến, là hữu đối chiếu; đôi khi là bất khả kiến, là hữu đối chiếu; đôi khi là bất khả kiến, là vô đối chiếu.

2. Các Nhị Đề

PTS cs 218 Tập đế là căn (nhân). Diệt đế không phải là căn. Hai đế đôi khi là căn; đôi khi không phải là căn.

Hai đế đi kèm với căn. Diệt đế không đi kèm với căn. Khổ đế đôi khi đi kèm với căn; đôi khi không đi kèm với căn.

Hai đế tương ưng với các căn. Diệt đế không tương ưng với căn. Khổ đế đôi khi tương ưng với căn; đôi khi không tương ưng với căn.

Tập đế vừa là căn vừa đi kèm với căn. Diệt đế không nên nói là, vừa là căn vừa đi kèm với căn hoặc đi kèm với căn nhưng không phải là căn. Đạo đế đôi khi vừa là căn vừa đi kèm với căn; đôi khi đi kèm với căn nhưng không phải là căn.

Khổ đế đôi khi vừa là căn vừa đi kèm với căn; đôi khi đi kèm với căn nhưng không phải là căn; đôi khi không nên nói là, vừa là căn vừa đi kèm với căn hoặc đi kèm với căn nhưng không phải là căn. Tập đế vừa là căn vừa tương ưng với căn. Diệt đế không nên nói là, vừa là căn vừa tương ưng với căn hoặc tương ưng với căn nhưng không phải là căn.

Đạo đế đôi khi vừa là căn vừa tương ưng với căn; đôi khi tương ưng với căn nhưng không phải là căn. Khổ đế đôi khi vừa là căn vừa tương ưng với căn; đôi khi tương ưng với căn nhưng không phải là căn; đôi khi không nên nói là, vừa là căn vừa tương ưng với căn hoặc tương ưng với căn nhưng không phải là căn. Diệt đế không phải là căn, không đi kèm với căn.

Tập đế không nên nói là, không phải căn, đi kèm với căn hoặc không phải căn, không đi kèm với căn. Đạo đế đôi khi không phải căn, đi kèm với căn; đôi khi không nên nói là, không phải căn, đi kèm với căn (hoặc không phải căn, không BA 151 | đi kèm với căn). Khổ đế đôi khi không phải căn, đi kèm với căn; đôi khi không phải căn, không đi kèm với căn; đôi khi không nên nói là, không phải căn, đi kèm với căn hoặc không phải căn, không đi kèm với căn. (1) PTS vp 116

Ba đế là có nhân. Diệt đế là vô nhân. Ba đế là hữu vi (do duyên tạo thành). Diệt đế là vô vi. Ba đế là bất khả kiến. Khổ đế đôi khi là khả kiến; đôi khi là bất khả kiến. Ba đế là vô đối chiếu. Khổ đế đôi khi là hữu đối chiếu; đôi khi là vô đối chiếu. Ba đế là phi sắc pháp. Khổ đế đôi khi là sắc pháp; đôi khi là phi sắc pháp. Hai đế là hiệp thế. Hai đế là siêu thế. (Tất cả các đế) Có thể nhận biết bằng một phương thức; không thể nhận biết bằng phương thức khác. (2)

Tập đế là phiền não. Hai đế không phải là phiền não. Khổ đế đôi khi là phiền não; đôi khi không phải là phiền não.

Hai đế là đối tượng của các phiền não. Hai đế không phải là đối tượng của các phiền não. Tập đế tương ưng với các phiền não.

Hai đế không tương ưng với các phiền não. Khổ đế đôi khi tương ưng với các phiền não; đôi khi không tương ưng với các phiền não. Tập đế vừa là phiền não vừa là đối tượng của các phiền não.

Hai đế không nên nói là, vừa là phiền não vừa là đối tượng của các phiền não hoặc là đối tượng của các phiền não nhưng không phải là phiền não. Khổ đế đôi khi vừa là phiền não vừa là đối tượng của các phiền não; đôi khi là đối tượng của các phiền não nhưng không phải là phiền não. Tập đế vừa là phiền não vừa tương ưng với các phiền não.

Hai đế không nên nói là, vừa là phiền não vừa tương ưng với các phiền não hoặc tương ưng với các phiền não nhưng không phải là phiền não. Khổ đế đôi khi vừa là phiền não vừa tương ưng với các phiền não; đôi khi tương ưng với các phiền não nhưng không phải là phiền não; đôi khi không nên nói là, vừa là phiền não vừa tương ưng với các phiền não hoặc tương ưng với các phiền não nhưng không phải là phiền não. Hai đế không tương ưng với các phiền não, không phải là đối tượng của các phiền não.

Tập đế không nên nói là, không tương ưng với các phiền não, là đối tượng của các phiền não hoặc không tương ưng với các phiền não, không phải là đối tượng BA 152 | của các phiền não. Khổ đế đôi khi không tương ưng với các phiền não, là đối tượng của các phiền não; đôi khi không nên nói là, không tương ưng với các phiền não, là đối tượng của các phiền não (hoặc không tương ưng với các phiền não, không phải là đối tượng của các phiền não). (3)

Tập đế là kiết sử. Hai đế không phải là kiết sử. Khổ đế đôi khi là kiết sử; đôi khi không phải là kiết sử.

Hai đế là đối tượng của các kiết sử. Hai đế không phải là đối tượng của các kiết sử. Tập đế tương ưng với các kiết sử.

Hai đế không tương ưng với các kiết sử. Khổ đế đôi khi tương ưng với các kiết sử; đôi khi không tương ưng với các kiết sử. Tập đế vừa là kiết sử vừa là đối tượng của các kiết sử.

Hai đế không nên nói là, vừa là kiết sử vừa là đối tượng của các kiết sử hoặc là đối tượng của các kiết sử nhưng không phải là kiết sử. Khổ đế đôi khi vừa là kiết sử vừa là đối tượng của các kiết sử; đôi khi là đối tượng của các kiết sử nhưng không phải là kiết sử. Tập đế vừa là kiết sử vừa tương ưng với các kiết sử.

PTS vp 117 Hai đế không nên nói là, vừa là kiết sử vừa tương ưng với các kiết sử hoặc tương ưng với các kiết sử nhưng không phải là kiết sử. Khổ đế đôi khi vừa là kiết sử vừa tương ưng với các kiết sử; đôi khi tương ưng với các kiết sử nhưng không phải là kiết sử; đôi khi không nên nói là, vừa là kiết sử vừa tương ưng với các kiết sử hoặc tương ưng với các kiết sử nhưng không phải là kiết sử. Hai đế không tương ưng với các kiết sử, không phải là đối tượng của các kiết sử.

Tập đế không nên nói là, không tương ưng với các kiết sử, là đối tượng của các kiết sử hoặc không tương ưng với các kiết sử, không phải là đối tượng của các kiết sử. Khổ đế đôi khi không tương ưng với các kiết sử, là đối tượng của các kiết sử; đôi khi không nên nói là, không tương ưng với các kiết sử, là đối tượng của các kiết sử (hoặc không tương ưng với các kiết sử, không phải là đối tượng của các kiết sử). (4)

Tập đế là hệ phược (trói buộc). Hai đế không phải là hệ phược. Khổ đế đôi khi là hệ phược; đôi khi không phải là hệ phược.

Hai đế là đối tượng của các hệ phược. Hai đế không phải là đối tượng của các hệ phược. Hai đế không tương ưng với các hệ phược.

Hai đế đôi khi tương ưng với các hệ phược; đôi khi không tương ưng với các hệ phược. Tập đế vừa là hệ phược vừa là đối tượng của các hệ phược. Hai đế không nên BA 153 | nói là, vừa là hệ phược vừa là đối tượng của các hệ phược hoặc là đối tượng của các hệ phược nhưng không phải là hệ phược.

Khổ đế đôi khi vừa là hệ phược vừa là đối tượng của các hệ phược; đôi khi là đối tượng của các hệ phược nhưng không phải là hệ phược. Tập đế vừa là hệ phược vừa tương ưng với các hệ phược; đôi khi không nên nói là, vừa là hệ phược vừa tương ưng với các hệ phược (hoặc tương ưng với các hệ phược nhưng không phải là hệ phược). Hai đế không nên nói là, vừa là hệ phược vừa tương ưng với các hệ phược hoặc tương ưng với các hệ phược nhưng không phải là hệ phược.

Khổ đế đôi khi vừa là hệ phược vừa tương ưng với các hệ phược; đôi khi tương ưng với các hệ phược nhưng không phải là hệ phược; đôi khi không nên nói là, vừa là hệ phược vừa tương ưng với các hệ phược hoặc tương ưng với các hệ phược nhưng không phải là hệ phược. Hai đế không tương ưng với các hệ phược, không phải là đối tượng của các hệ phược. Hai đế đôi khi không tương ưng với các hệ phược, là đối tượng của các hệ phược; đôi khi không nên nói là, không tương ưng với các hệ phược, là đối tượng của các hệ phược (hoặc không tương ưng với các hệ phược, không phải là đối tượng của các hệ phược). (5)

Tập đế là bộc lưu (ogha). Là phối (yoga). Là cái (nīvaraṇa, chướng ngại). Hai đế không phải là cái. Khổ đế đôi khi là cái; đôi khi không phải là cái.

Hai đế là đối tượng của các cái. Hai đế không phải là đối tượng của các cái. Tập đế tương ưng với các cái.

Hai đế không tương ưng với các cái. Khổ đế đôi khi tương ưng với các cái; đôi khi không tương ưng với các cái. PTS vp 118 Tập đế vừa là cái vừa là đối tượng của các cái.

Hai đế không nên nói là, vừa là cái vừa là đối tượng của các cái hoặc là đối tượng của các cái nhưng không phải là cái. Khổ đế đôi khi vừa là cái vừa là đối tượng của các cái; đôi khi là đối tượng của các cái nhưng không phải là cái. Tập đế vừa là cái vừa tương ưng với các cái.

Hai đế không nên nói là, vừa là cái vừa tương ưng với các cái hoặc tương ưng với các cái nhưng không phải là cái. Khổ đế đôi khi vừa là cái vừa tương ưng với các cái; đôi khi tương ưng với các cái nhưng không phải là cái; đôi khi không nên nói là, vừa là cái vừa tương ưng với các cái hoặc tương ưng với các cái nhưng không phải là cái. Hai đế không tương ưng với các cái, không phải là đối tượng của các cái.

Tập đế không nên nói là, không tương ưng với các cái, là đối tượng của các BA 154 | cái hoặc không tương ưng với các cái, không phải là đối tượng của các cái. Khổ đế đôi khi không tương ưng với các cái, là đối tượng của các cái; đôi khi không nên nói là, không tương ưng với các cái, là đối tượng của các cái (hoặc không tương ưng với các cái, không phải là đối tượng của các cái). (8)

– Hoàn tất tương tự như phần về các cái.

Ba đế không phải là điên đảo (vipallāsa, sự sai lệch, đảo lộn nhận thức). Khổ đế đôi khi là điên đảo; đôi khi không phải là điên đảo. Hai đế là đối tượng của các điên đảo.

Hai đế không phải là đối tượng của các điên đảo. Hai đế không tương ưng với các điên đảo. Tập đế đôi khi tương ưng với các điên đảo; đôi khi không tương ưng với các điên đảo.

Khổ đế đôi khi tương ưng với các điên đảo; đôi khi không tương ưng với các điên đảo; đôi khi không nên nói là, tương ưng với các điên đảo hoặc không tương ưng với các điên đảo. Tập đế không nên nói là, vừa là điên đảo vừa là đối tượng của các điên đảo; (nó) là đối tượng của các điên đảo nhưng không phải là điên đảo. Hai đế không nên nói là, vừa là điên đảo vừa là đối tượng của các điên đảo hoặc là đối tượng của các điên đảo nhưng không phải là điên đảo.

Khổ đế đôi khi vừa là điên đảo vừa là đối tượng của các điên đảo; đôi khi là đối tượng của các điên đảo nhưng không phải là điên đảo. Hai đế không tương ưng với các điên đảo, không phải là đối tượng của các điên đảo. Hai đế đôi khi không tương ưng với các điên đảo, là đối tượng của các điên đảo; đôi khi không nên nói là, không tương ưng với các điên đảo, là đối tượng của các điên đảo (hoặc không tương ưng với các điên đảo, không phải là đối tượng của các điên đảo). (9)

Hai đế có đối tượng. Diệt đế không có đối tượng. Khổ đế đôi khi có đối tượng; đôi khi không có đối tượng.

Ba đế không phải là tâm. Khổ đế đôi khi là tâm; đôi khi không phải là tâm. Hai đế là tâm sở.

Diệt đế không phải là tâm sở. Khổ đế đôi khi là tâm sở; đôi khi không phải là tâm sở. Hai đế PTS vp 119 BA 155 | tương ưng với tâm.

Diệt đế không tương ưng với tâm. Khổ đế đôi khi tương ưng với tâm; đôi khi không tương ưng với tâm; đôi khi không nên nói là, tương ưng với tâm hoặc không tương ưng với tâm. Hai đế kết hợp với tâm.

Diệt đế không kết hợp với tâm. Khổ đế đôi khi kết hợp với tâm; đôi khi không kết hợp với tâm; đôi khi không nên nói là, kết hợp với tâm hoặc không kết hợp với tâm. Hai đế sinh khởi từ tâm.

Diệt đế không sinh khởi từ tâm. Khổ đế đôi khi sinh khởi từ tâm; đôi khi không sinh khởi từ tâm. Hai đế cùng tồn tại với tâm.

Diệt đế không cùng tồn tại với tâm. Khổ đế đôi khi cùng tồn tại với tâm; đôi khi không cùng tồn tại với tâm. Hai đế tùy chuyển theo tâm.

Diệt đế không tùy chuyển theo tâm. Khổ đế đôi khi tùy chuyển theo tâm; đôi khi không tùy chuyển theo tâm. Hai đế kết hợp với, sinh khởi từ tâm.

Diệt đế không kết hợp với, không sinh khởi từ tâm. Khổ đế đôi khi kết hợp với, sinh khởi từ tâm; đôi khi không kết hợp với, không sinh khởi từ tâm. Hai đế kết hợp với, sinh khởi từ, cùng tồn tại với tâm.

Diệt đế không kết hợp với, không sinh khởi từ, không cùng tồn tại với tâm. Khổ đế đôi khi kết hợp với, sinh khởi từ, cùng tồn tại với tâm; đôi khi không kết hợp với, không sinh khởi từ, không cùng tồn tại với tâm. Hai đế kết hợp với, sinh khởi từ, tùy chuyển theo tâm.

Diệt đế không kết hợp với, không sinh khởi từ, không tùy chuyển theo tâm. Khổ đế đôi khi kết hợp với, sinh khởi từ, tùy chuyển theo tâm; đôi khi không kết hợp với, không sinh khởi từ, không tùy chuyển theo tâm. Ba đế là ngoại phần.

Khổ đế đôi khi là nội phần; đôi khi là ngoại phần. (10)

Ba đế không phải là sở tạo (upādā, do các đại chủng tạo thành). Khổ đế đôi khi là sở tạo; đôi khi không phải là sở tạo. Ba đế không bị chấp thủ (bởi ái và tà kiến).

Khổ đế đôi khi bị chấp thủ; BA 156 | đôi khi không bị chấp thủ. Tập đế là thủ (upādāna, sự bám chấp). Hai đế không phải là thủ.

Khổ đế đôi khi là thủ; đôi khi không phải là thủ. Hai đế là đối tượng của các thủ. Hai đế không phải là đối tượng của các thủ.

Hai đế không tương ưng với các thủ. Hai đế đôi khi tương ưng với các thủ; đôi khi không tương ưng với các thủ. Tập đế vừa là thủ vừa là đối tượng của các thủ.

Hai đế không nên nói là, vừa là thủ vừa là đối tượng của các thủ hoặc là đối tượng của các thủ nhưng không phải là thủ. Khổ đế đôi khi vừa là thủ vừa là đối tượng của các thủ; đôi khi là đối tượng của các thủ nhưng không phải là thủ. Tập đế đôi khi vừa là thủ vừa tương ưng với các thủ; đôi khi không nên nói là, PTS vp 120 vừa là thủ vừa tương ưng với các thủ (hoặc tương ưng với các thủ nhưng không phải là thủ).

Hai đế không nên nói là, vừa là thủ vừa tương ưng với các thủ hoặc tương ưng với các thủ nhưng không phải là thủ. Khổ đế đôi khi vừa là thủ vừa tương ưng với các thủ; đôi khi tương ưng với các thủ nhưng không phải là thủ; đôi khi không nên nói là, vừa là thủ vừa tương ưng với các thủ hoặc tương ưng với các thủ nhưng không phải là thủ. Hai đế không tương ưng với các thủ, không phải là đối tượng của các thủ.

Hai đế đôi khi không tương ưng với các thủ, là đối tượng của các thủ; đôi khi không nên nói là, không tương ưng với các thủ, là đối tượng của các thủ (hoặc không tương ưng với các thủ, không phải là đối tượng của các thủ). (11)

Tập đế là phiền não (kilesa, cấu uế). Hai đế không phải là phiền não. Khổ đế đôi khi là phiền não; đôi khi không phải là phiền não.

Hai đế là đối tượng của các phiền não. Hai đế không phải là đối tượng của các phiền não. Tập đế là ô nhiễm.

Hai đế không ô nhiễm. Khổ đế đôi khi ô nhiễm; đôi khi không ô nhiễm. Tập đế tương ưng với các phiền não.

Hai đế không tương ưng với các phiền não. Khổ đế đôi khi tương ưng với các phiền não; đôi khi không tương ưng với các phiền não. Tập đế vừa là phiền não vừa là đối tượng của các phiền BA 157 | não.

Hai đế không nên nói là, vừa là phiền não vừa là đối tượng của các phiền não hoặc là đối tượng của các phiền não nhưng không phải là phiền não. Khổ đế đôi khi vừa là phiền não vừa là đối tượng của các phiền não; đôi khi là đối tượng của các phiền não nhưng không phải là phiền não. Tập đế vừa là phiền não vừa ô nhiễm.

Hai đế không nên nói là, vừa là phiền não vừa ô nhiễm hoặc ô nhiễm nhưng không phải là phiền não. Khổ đế đôi khi vừa là phiền não vừa ô nhiễm; đôi khi ô nhiễm nhưng không phải là phiền não; đôi khi không nên nói là, vừa là phiền não vừa ô nhiễm hoặc ô nhiễm nhưng không phải là phiền não. Tập đế vừa là phiền não vừa tương ưng với các phiền não.

Hai đế không nên nói là, vừa là phiền não vừa tương ưng với các phiền não hoặc tương ưng với các phiền não nhưng không phải là phiền não. Khổ đế đôi khi vừa là phiền não vừa tương ưng với các phiền não; đôi khi tương ưng với các phiền não nhưng không phải là phiền não; đôi khi không nên nói là, vừa là phiền não vừa tương ưng với các phiền não hoặc tương ưng với các phiền não nhưng không phải là phiền não. Hai đế không tương ưng với các phiền não, không phải là đối tượng của các phiền não.

Tập đế không nên nói là, không tương ưng với các phiền não, là đối tượng của các phiền não hoặc không tương ưng với các phiền não, không phải là đối tượng của các phiền não. Khổ đế đôi khi không tương ưng với các phiền não, là đối tượng của các phiền não; đôi khi không nên nói là, không tương ưng với các phiền não, là đối tượng của các phiền não (hoặc không tương ưng với các phiền não, không phải là đối tượng của các phiền não). (12) PTS vp 121

Hai đế không bị đoạn trừ bởi đạo đầu tiên. Hai đế đôi khi bị đoạn trừ bởi đạo đầu tiên; đôi khi không bị đoạn trừ bởi đạo đầu tiên. Hai đế không bị đoạn trừ bởi các đạo tiếp theo.

Hai đế đôi khi bị đoạn trừ bởi các đạo tiếp theo; đôi khi không bị đoạn trừ bởi các đạo tiếp theo. Hai đế không có căn bị đoạn trừ bởi đạo đầu tiên. Hai đế đôi khi có căn bị đoạn trừ bởi đạo đầu tiên; đôi khi không có căn bị đoạn trừ bởi đạo đầu tiên.

Hai đế không có căn bị đoạn trừ bởi các đạo tiếp theo. Hai đế đôi khi có căn bị đoạn trừ bởi các đạo tiếp theo; đôi khi không có căn bị đoạn trừ bởi các đạo tiếp theo. Tập đế có tầm.

Diệt đế không có tầm. Hai đế đôi khi có tầm; đôi khi không có tầm. Tập đế BA 158 | có tứ.

Diệt đế không có tứ. Hai đế đôi khi có tứ; đôi khi không có tứ. Diệt đế không có hỷ.

Ba đế đôi khi có hỷ; đôi khi không có hỷ. Diệt đế không đi kèm với hỷ. Ba đế đôi khi đi kèm với hỷ; đôi khi không đi kèm với hỷ.

Diệt đế không đi kèm với lạc. Ba đế đôi khi đi kèm với lạc; đôi khi không đi kèm với lạc. Diệt đế không đi kèm với xả.

Ba đế đôi khi đi kèm với xả; đôi khi không đi kèm với xả.

Tập đế thuộc tính chất của cõi dục. Hai đế không thuộc tính chất của cõi dục. Khổ đế đôi khi thuộc tính chất của cõi dục; đôi khi không thuộc tính chất của cõi dục.

Ba đế không thuộc tính chất của cõi sắc. Khổ đế đôi khi thuộc tính chất của cõi sắc; đôi khi không thuộc tính chất của cõi sắc. Ba đế không thuộc tính chất của cõi vô sắc.

Khổ đế đôi khi thuộc tính chất của cõi vô sắc; đôi khi không thuộc tính chất của cõi vô sắc. Hai đế được thâu nhiếp (tức là hiệp thế). Hai đế không được thâu nhiếp (tức là siêu thế).

Đạo đế hướng đến sự giải thoát. Ba đế không hướng đến sự giải thoát. Đạo đế có (thời gian tạo quả) cố định.

Diệt đế không có (thời gian tạo quả) cố định. Hai đế đôi khi có (thời gian tạo quả) cố định; đôi khi không có (thời gian tạo quả) cố định. Hai đế là có thể vượt qua (bị vượt trội).

Hai đế là không thể vượt qua. Tập đế có nguyên nhân đáng than khóc. Hai đế không có nguyên nhân đáng than khóc.

Khổ đế đôi khi có nguyên nhân đáng than khóc; đôi khi không có nguyên nhân đáng than khóc. (13)

(Đến Đây Kết Thúc Phần) Vấn Đáp

Phân Tích Các Đế Đã Kết Thúc

Bộ Phân Tích (The Book of Analysis), bản dịch tiếng Anh của Vi Diệu Pháp Phân Tích (Pali Abhidhamma Vibhaṅga). Dịch bởi Paṭhamkyaw Ashin Thiṭṭila (Seiṭṭhila). Xuất bản bởi Hội Pali Text Society, 1969.

Ấn bản SuttaCentral này được biên soạn bởi Manfred Wierich và Đại đức Vimala, và được hiệu đính bởi Ariya Baumann. Một số thay đổi đã được thực hiện:

– Các liên kết nội bộ và bên ngoài đã được thêm vào, để độc giả có thể dễ dàng nhấp vào các tham chiếu.

– Một số từ viết tắt đã được mở rộng đầy đủ.

– Các sơ suất và lỗi rõ ràng đã được sửa chữa, tất cả đều là những lỗi nhỏ.

Việc phân trang của ấn bản PTS gốc có thể được tìm thấy ở lề trang. Trừ khi việc ngắt trang bắt đầu một đoạn mới, một vạch đứng biểu thị sự bắt đầu của trang mới.

Ấn bản điện tử này được xuất bản theo các điều khoản của giấy phép Creative Commons Attribution Non-Commercial 3.0 (CC BY-NC 3.0) như được tìm thấy tại: http://creativecommons.org/licenses/by-nc/3.0/

Toàn bộ bản quyền thuộc về Hội Pali Text Society. Xem thêm tuyên bố tại http://www.palitext.com/ → Publications → Copyright Announcement. Chỉ dành cho mục đích phi thương mại.

🌏Vì sao bài kinh này do Inti AI tóm lược?

Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.

🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →
Nguồn bản dịch: Diễn giải / dịch bởi AIGiấy phép: CC0-1.0 (Sujato) · personal-use (Minh Châu) · VI: bản dịch AI, chờ đối chiếu🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch bằng AI do Inti biên soạn: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến