Inti DharmaInti Dharma
← Kinh điển
Nguyên Thủy — Pāli Tạng · Luận Tạng

Vb 3Phân Tích Giới (Dhātuvibhaṅga) — Phân Tích Bộ (Vibhaṅga), Chương 3

Tên Pāli / Sanskrit:Dhātuvibhaṅga

📖9,384 từ · ~38 phút đọc
2

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản →
Diễn giải bởi Inti AI (Tiếng Việt)
🪷 AI diễn giải

– Phân Tích Bộ (Vibhaṅga)

3. Phân Tích Các Giới (Dhātuvibhaṅga)

1. Phân Tích Theo Kinh Điển (Suttantabhājanīya)

PTS cs 172 BA 107 PTS vp 82 Sáu giới là: Địa giới (pathavīdhātu), Thuỷ giới (āpodhātu), Hoả giới (tejodhātu), Phong giới (vāyodhātu), Không giới (ākāsadhātu), Thức giới (viññāṇadhātu).

PTS cs 173 Trong đó, Địa giới là gì? Địa giới có hai loại: nội phần và ngoại phần. Trong đó, Địa giới nội phần là gì? Đó là những gì thuộc về tự thân, tự ngã sở thâu, cứng rắn, thô nháp, tính chất cứng rắn, trạng thái cứng rắn, thuộc nội phần, được thủ chấp (bởi ái và tà kiến). Ví dụ như: tóc đầu, lông thân, móng tay, răng, da; thịt, gân, xương, tuỷ xương, thận; tim, gan, màng cơ, lách, phổi; ruột già, màng ruột, thức ăn chưa tiêu hoá, phân; hoặc bất kỳ thứ gì khác thuộc về tự thân, tự ngã sở thâu, cứng rắn, thô nháp, tính chất cứng rắn, trạng thái cứng rắn, thuộc nội phần, được thủ chấp. Đó gọi là Địa giới nội phần.

Trong đó, Địa giới ngoại phần là gì? Đó là những gì thuộc ngoại phần, cứng rắn, thô nháp, tính chất cứng rắn, trạng thái cứng rắn, thuộc ngoại phần, không được thủ chấp. Ví dụ như: sắt, đồng, thiếc, chì, bạc, ngọc trai, đá quý, mắt mèo, vỏ ốc, đá, san hô, tiền bạc, vàng, hồng ngọc, đá quý nhiều sắc; cỏ, gỗ, sỏi, mảnh vỡ gốm, đất, đá tảng, núi; hoặc bất kỳ thứ gì khác thuộc ngoại phần, cứng rắn, thô nháp, tính chất cứng rắn, trạng thái cứng rắn, thuộc ngoại phần, không được thủ chấp. Đó gọi là Địa giới ngoại phần. Địa giới nội phần và Địa giới ngoại phần, gộp chung lại và nói tóm tắt, gọi là Địa giới. (1) PTS vp 83

PTS cs 174 Trong đó, Thuỷ giới là gì? Thuỷ giới có hai loại: nội phần và ngoại phần. Trong đó, Thuỷ giới nội phần là gì? Đó là những gì thuộc về tự thân, tự ngã sở thâu, nước, lỏng, nhầy, nhớt, tính gắn kết của vật chất, thuộc nội phần, được thủ chấp. Ví dụ như: mật, đờm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, bạch huyết, nước bọt, nước mũi, dịch khớp, nước tiểu; BA 108 | hoặc bất kỳ thứ gì khác thuộc về tự thân, tự ngã sở thâu, nước, lỏng, nhầy, nhớt, tính gắn kết của vật chất, thuộc nội phần, được thủ chấp. Đó gọi là Thuỷ giới nội phần.

Trong đó, Thuỷ giới ngoại phần là gì? Đó là những gì thuộc ngoại phần, nước, lỏng, nhầy, nhớt, tính gắn kết của vật chất, thuộc ngoại phần, không được thủ chấp. Ví dụ như: nước rễ cây, nước thân cây, nước vỏ cây, nước lá cây, nước hoa, nước quả, sữa, sữa đông mềm, bơ tinh luyện, bơ tươi, dầu, mật ong, mật đường, nước từ đất hoặc trời; hoặc bất kỳ thứ gì khác thuộc ngoại phần, nước, lỏng, nhầy, nhớt, tính gắn kết của vật chất, thuộc ngoại phần, không được thủ chấp. Đó gọi là Thuỷ giới ngoại phần. Thuỷ giới nội phần và Thuỷ giới ngoại phần, gộp chung lại và nói tóm tắt, gọi là Thuỷ giới. (2)

PTS cs 175 Trong đó, Hoả giới là gì? Hoả giới có hai loại: nội phần và ngoại phần. Trong đó, Hoả giới nội phần là gì? Đó là những gì thuộc về tự thân, tự ngã sở thâu, lửa, có tính lửa, nhiệt, nóng, ấm áp, trạng thái ấm nóng, thuộc nội phần, được thủ chấp. Ví dụ như: cái làm cho (thân) được sưởi ấm; cái làm cho (thân) bị suy tàn; cái làm cho (thân) bị thiêu đốt; cái làm cho đồ ăn, đồ uống, đồ nhai, đồ nếm được tiêu hoá hoàn toàn; hoặc bất kỳ thứ gì khác thuộc về tự thân, tự ngã sở thâu, lửa, có tính lửa, nhiệt, nóng, ấm áp, trạng thái ấm nóng, thuộc nội phần, được thủ chấp. Đó gọi là Hoả giới nội phần.

Trong đó, Hoả giới ngoại phần là gì? Đó là những gì thuộc ngoại phần, lửa, có tính lửa, nhiệt, nóng, ấm áp, trạng thái ấm nóng, thuộc ngoại phần, không được thủ chấp. Ví dụ như: lửa củi, lửa rơm, lửa cỏ, lửa phân bò, lửa trấu, lửa rác, lửa sét (tức sét), nhiệt lửa, nhiệt mặt trời, nhiệt sinh ra từ đống củi, nhiệt sinh ra từ đống cỏ, nhiệt sinh ra từ đống lúa, nhiệt sinh ra từ đống hàng hoá; hoặc bất kỳ thứ gì khác thuộc ngoại phần, lửa, có tính lửa, nhiệt, nóng, ấm áp, trạng thái ấm nóng, thuộc ngoại phần, không được thủ chấp. Đó gọi là Hoả giới ngoại phần. PTS vp 84 Hoả giới nội phần và Hoả giới ngoại phần, gộp chung lại và nói tóm tắt, gọi là Hoả giới. (3)

PTS cs 176 Trong đó, Phong giới là gì? Phong giới có hai loại: nội phần và ngoại phần. Trong đó, Phong giới nội phần là gì? Đó là những gì thuộc về tự thân, tự ngã sở thâu, khí, có tính khí, sự căng phồng của vật chất, thuộc nội phần, được thủ chấp. Ví dụ như: gió đi lên; gió đi xuống; gió bụng; BA 109 | gió ruột; gió lưu thông trong các chi; gió dao; gió dao cạo; gió xé; hơi thở vào hay hơi thở ra; hoặc bất kỳ thứ gì khác thuộc về tự thân, tự ngã sở thâu, khí, có tính khí, sự căng phồng của vật chất, thuộc nội phần, được thủ chấp. Đó gọi là Phong giới nội phần.

Trong đó, Phong giới ngoại phần là gì? Đó là những gì thuộc ngoại phần, khí, có tính khí, sự căng phồng của vật chất, thuộc ngoại phần, không được thủ chấp. Ví dụ như: gió đông; gió tây; gió bắc; gió nam; gió bụi; gió không bụi; gió lạnh; gió nóng; gió nhẹ; gió mạnh; gió đen (tức gió đi kèm mây đen); gió tầng cao; gió cánh (tức chuyển động không khí do cánh chim); gió supaṇṇa (tức chuyển động không khí do chim garuḷa thần thoại); gió từ quạt lá cọ tròn; gió từ quạt; hoặc bất kỳ thứ gì khác thuộc ngoại phần, khí, có tính khí, sự căng phồng của vật chất, thuộc ngoại phần, không được thủ chấp. Đó gọi là Phong giới ngoại phần. Phong giới nội phần và Phong giới ngoại phần, gộp chung lại và nói tóm tắt, gọi là Phong giới. (4)

PTS cs 177 Trong đó, Không giới là gì? Không giới có hai loại: nội phần và ngoại phần. Trong đó, Không giới nội phần là gì? Đó là những gì thuộc về tự thân, tự ngã sở thâu, không gian, có tính không gian, rỗng không, tính rỗng không, kẽ hở, tính kẽ hở, không tiếp xúc với thịt hay máu, thuộc nội phần, được thủ chấp. Ví dụ như: ống tai, ống mũi, cửa miệng; thứ mà qua đó đồ ăn, đồ uống, đồ nhai, đồ nếm được nuốt vào; thứ mà trong đó đồ ăn, đồ uống, đồ nhai, đồ nếm lưu lại; thứ mà qua đó đồ ăn, đồ uống, đồ nhai, đồ nếm đi ra phía dưới; hoặc bất kỳ thứ gì khác thuộc về tự thân, tự ngã sở thâu, không gian, có tính không gian, rỗng không, tính rỗng không, kẽ hở, tính kẽ hở, không tiếp xúc với thịt hay máu, thuộc nội phần, được thủ chấp. Đó gọi là Không giới nội phần.

Trong đó, Không giới ngoại phần là gì? Đó là những gì thuộc ngoại phần, không gian, có tính không gian, rỗng không, tính rỗng không, kẽ hở, PTS vp 85 tính kẽ hở, không tiếp xúc với bốn đại chủng, thuộc ngoại phần, không được thủ chấp. Đó gọi là Không giới ngoại phần. Không giới nội phần và Không giới ngoại phần, gộp chung lại và nói tóm tắt, gọi là Không giới. (5)

PTS cs 178 Trong đó, Thức giới là gì? Nhãn thức giới, nhĩ thức giới, tỷ thức giới, BA 110 | thiệt thức giới, thân thức giới, ý thức giới. Đó gọi là Thức giới. (6)

Đây là Sáu Giới.

PTS cs 179 Sáu giới khác là: Lạc giới (thân thể), Khổ giới (thân thể), Hỷ giới, Ưu giới, Xả giới, Vô minh giới.

PTS cs 180 Trong đó, Lạc giới là gì? Đó là sự dễ chịu của thân, lạc của thân, kinh nghiệm an lạc dễ chịu sinh từ thân xúc, cảm thọ an lạc dễ chịu sinh từ thân xúc. Đó gọi là Lạc giới. (1)

Trong đó, Khổ giới là gì? Đó là sự khó chịu của thân, khổ của thân, kinh nghiệm khó chịu đau khổ sinh từ thân xúc, cảm thọ khó chịu đau khổ sinh từ thân xúc. Đó gọi là Khổ giới. (2)

Trong đó, Hỷ giới là gì? Đó là sự dễ chịu của tâm, lạc của tâm, kinh nghiệm an lạc dễ chịu sinh từ ý xúc, cảm thọ an lạc dễ chịu sinh từ ý xúc. Đó gọi là Hỷ giới. (3)

Trong đó, Ưu giới là gì? Đó là sự khó chịu của tâm, khổ của tâm, kinh nghiệm khó chịu đau khổ sinh từ ý xúc, cảm thọ khó chịu đau khổ sinh từ ý xúc. Đó gọi là Ưu giới. (4)

Trong đó, Xả giới là gì? Đó là sự không dễ chịu cũng không khó chịu của tâm, kinh nghiệm không khổ không lạc sinh từ ý xúc, cảm thọ không khổ không lạc sinh từ ý xúc. Đó gọi là Xả giới. (5)

Trong đó, Vô minh giới là gì? Đó là sự vắng mặt của tri kiến, vắng mặt của tuệ nhãn, vắng mặt của hiểu biết, vắng mặt của tỉnh thức, vắng mặt của giác ngộ, vắng mặt của thông suốt, vắng mặt của thấu hiểu, vắng mặt của thẩm xét, vắng mặt của phân biệt, vắng mặt của quán chiếu, vắng mặt của trí bén; si mê, ngu xuẩn, vắng mặt của nhận thức, đần độn, dày đặc, tê liệt, vô minh, bộc lưu vô minh, kiết sử vô minh, BA 111 | tuỳ miên vô minh, PTS vp 86 hiện hành vô minh; chướng ngại của vô minh, bất thiện căn là hôn ám. Đó gọi là Vô minh giới. (6)

Đây là Sáu Giới.

PTS cs 181 Sáu giới khác là: Dục giới, Sân giới, Hại giới, Xuất ly giới, Vô sân giới, Vô hại giới.

PTS cs 182 Trong đó, Dục giới là gì? Sự suy tư, tư duy, ý nghĩ, sự cố định, sự tập trú, sự hướng tâm, tà tư duy, tương ưng với dục. Đó gọi là Dục giới. Lấy địa ngục đông đúc làm giới hạn dưới, lấy thiên giới Tha Hoá Tự Tại (Paranimmitavasavattī) làm giới hạn trên tính trọn, bất cứ thứ gì nằm trong phạm vi này, xảy ra ở đó, được bao gồm ở đó, các uẩn, các giới, các xứ, các sắc pháp, thọ, tưởng, hành, thức. Đó gọi là Dục giới. (1)

Trong đó, Sân giới là gì? Sự suy tư, tư duy,* tà tư duy, tương ưng với sân. Đó gọi là Sân giới. Hoặc là sự não loạn của tâm thức trong mười nguyên nhân gây não loạn, oán hận, xua đuổi, thù nghịch, kích thích, bực bội, phẫn nộ, căm thù, ác cảm, ghê sợ, rối loạn tâm thức, khinh ghét, tức giận, trạng thái tức giận, trạng thái tức giận, thù hận, trạng thái thù hận, trạng thái thù hận, rối loạn, trạng thái rối loạn, đối lập, thù địch, hung hăng, thô lỗ, vắng mặt của hỷ lạc tâm thức. Đó gọi là Sân giới. (2)

– Xem trên.

Trong đó, Hại giới là gì? Sự suy tư, tư duy,* tà tư duy, tương ưng với hại. Đó gọi là Hại giới. Ở đây, một người nào đó gây thương tổn (cho) chúng sinh bằng tay, hoặc bằng đất, hoặc bằng gậy, hoặc bằng kiếm, hoặc bằng dây thừng, hoặc bằng thứ này hay thứ khác; thứ tương tự, quấy nhiễu, gây thương tổn, làm phiền não, gây thương hại, khiêu khích, khích tức, đánh đập người khác. Đó gọi là Hại giới. (3)

– Xem trên.

Trong đó, Xuất ly giới là gì? Sự suy tư, tư duy,* chánh tư duy, tương ưng với xuất ly. Đó gọi là Xuất ly giới. BA 112 | Và tất cả thiện pháp đều là Xuất ly giới. (4)

– Xem trên.

Trong đó, Vô sân giới là gì? Sự suy tư, tư duy,* chánh tư duy, tương ưng với vô sân. Đó gọi là Vô sân giới. Đó là những gì trong chúng sinh là yêu thương, hành động từ ái, trạng thái từ ái, từ ái là sự giải thoát tâm (khỏi sân). Đó gọi là Vô sân giới. (5)

– Xem trên.

Trong đó, Vô hại giới là gì? Sự suy tư, tư duy, ý nghĩ, sự cố định, PTS vp 87 sự tập trú, sự hướng tâm, chánh tư duy, tương ưng với vô hại. Đó gọi là Vô hại giới. Đó là những gì trong chúng sinh là bi mẫn, trạng thái bi mẫn, bi là sự giải thoát tâm (khỏi hại). Đó gọi là Vô hại giới. (6)

Đây là Sáu Giới.

Như vậy, gộp ba nhóm sáu này lại và nói tóm tắt, có mười tám giới.

(Kết thúc) Phân Tích Theo Kinh Điển.

2. Phân Tích Theo Vi Diệu Pháp (Abhidhammabhājanīya)

PTS cs 183 Mười tám giới là: Nhãn giới, sắc giới, nhãn thức giới, nhĩ giới, thanh giới, nhĩ thức giới, tỷ giới, hương giới, tỷ thức giới, thiệt giới, vị giới, thiệt thức giới, thân giới, xúc giới, thân thức giới, ý giới, pháp giới, ý thức giới.

PTS cs 184 Trong đó, Nhãn giới là gì? Con mắt nương vào bốn đại chủng, là mặt thần kinh nhạy cảm,* đây là làng trống. Đó gọi là Nhãn giới. (1)

– Xem đoạn 156.

Trong đó, BA 113 Sắc giới là gì? Đối tượng hữu hình nương vào bốn đại chủng, có tướng chiếu sáng,* đây là sắc giới. Đó gọi là Sắc giới. (2)

– Xem đoạn 162.

Trong đó, Nhãn thức giới là gì? Nương vào mắt và nương vào sắc (đối tượng) mà sinh khởi tâm thức, tâm, ý, tâm (tức thức), quang minh (tức thức), tâm, tâm căn, tâm căn chủ, thức, thức uẩn; và nương vào những gì nêu trên, nhãn thức giới. Đó gọi là Nhãn thức giới. (3)

Trong đó, Nhĩ giới là gì? Cái tai nương vào bốn đại chủng, là mặt thần kinh nhạy cảm,* đây là làng trống. Đó gọi là Nhĩ giới. (4)

– Xem đoạn 157.

Trong đó, Thanh giới là gì? Đối tượng âm thanh nương vào bốn đại chủng, không hữu hình, có kháng lực (đối chạm),* đây là thanh giới. Đó gọi là Thanh giới. (5)

– Xem đoạn 163.

Trong đó, Nhĩ thức giới là gì? Nương vào tai và nương vào thanh (đối tượng) mà sinh khởi tâm thức, tâm, ý, tâm, quang minh, tâm, tâm căn, tâm căn chủ, thức, thức uẩn; và nương vào những gì nêu trên, nhĩ thức giới. Đó gọi là Nhĩ thức giới. (6)

Trong đó, Tỷ giới là gì? PTS vp 88 Cái mũi nương vào bốn đại chủng, là mặt thần kinh nhạy cảm,* đây là làng trống. Đó gọi là Tỷ giới. (7)

– Xem đoạn 158.

Trong đó, Hương giới là gì? Đối tượng mùi hương nương vào bốn đại chủng, không hữu hình, có kháng lực (đối chạm),* đây là hương giới. Đó gọi là Hương giới. (8)

– Xem đoạn 164.

Trong đó, Tỷ thức giới là gì? Nương vào mũi và nương vào hương (đối tượng) mà sinh khởi tâm thức, tâm, ý, tâm, quang minh, tâm, tâm căn, tâm căn chủ, thức, thức uẩn; và nương BA 114 | vào những gì nêu trên, tỷ thức giới. Đó gọi là Tỷ thức giới. (9)

Trong đó, Thiệt giới là gì? Cái lưỡi nương vào bốn đại chủng, là mặt thần kinh nhạy cảm,* đây là làng trống. Đó gọi là Thiệt giới. (10)

– Xem đoạn 159.

Trong đó, Vị giới là gì? Đối tượng vị nương vào bốn đại chủng, không hữu hình, có kháng lực (đối chạm),* đây là vị giới. Đó gọi là Vị giới. (11)

– Xem đoạn 165.

Trong đó, Thiệt thức giới là gì? Nương vào lưỡi và nương vào vị (đối tượng) mà sinh khởi tâm thức, tâm, ý, tâm, quang minh, tâm, tâm căn, tâm căn chủ, thức, thức uẩn; và nương vào những gì nêu trên, thiệt thức giới. Đó gọi là Thiệt thức giới. (12)

Trong đó, Thân giới là gì? Thân nương vào bốn đại chủng, là mặt thần kinh nhạy cảm,* đây là làng trống. Đó gọi là Thân giới. (13)

– Xem đoạn 160.

Trong đó, Xúc giới là gì? Địa giới,* đây là xúc giới. Đó gọi là Xúc giới. (14)

– Xem đoạn 166.

Trong đó, Thân thức giới là gì? Nương vào thân và nương vào xúc (đối tượng) mà sinh khởi tâm thức, tâm, ý, tâm, quang minh, tâm, tâm căn, tâm căn chủ, thức, thức uẩn; và nương vào những gì nêu trên, thân thức giới. (15)

Trong đó, Ý giới là gì? Ngay sau khi nhãn thức giới đã sinh khởi diệt đi, liền sinh khởi tâm thức, tâm, ý, tâm, quang minh, tâm, tâm căn, tâm căn chủ, thức, thức uẩn; và nương vào những gì nêu trên, ý giới. Nhĩ thức giới. Tỷ thức giới. Thiệt thức giới.* Ngay sau khi thân thức giới đã sinh khởi diệt đi, liền sinh khởi tâm thức, tâm, ý, tâm, quang minh, tâm, tâm căn, BA 115 | tâm căn chủ, thức, thức uẩn; PTS vp 89 và nương vào những gì nêu trên, ý giới; cũng (ở thời điểm) hướng tâm đầu tiên trong tất cả trạng thái, sinh khởi tâm thức, tâm, ý, tâm, quang minh, tâm, tâm căn, tâm căn chủ, thức, thức uẩn; và nương vào những gì nêu trên, ý giới. Đó gọi là Ý giới. (16)

– Hoàn chỉnh mỗi mục theo ví dụ đầu tiên.

Trong đó, Pháp giới là gì? Thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và sắc pháp không hữu hình không kháng lực được bao gồm trong pháp xứ; vô vi giới.

Trong đó, Thọ uẩn là gì? Thọ uẩn theo phân chia một: Tương ưng với xúc. Thọ uẩn theo phân chia hai: Có căn đi kèm; không có căn đi kèm. Thọ uẩn theo phân chia ba: Thiện; bất thiện; vô ký. Thọ uẩn theo phân chia mười. 2 Thọ uẩn theo phân chia đa dạng. Đó gọi là Thọ uẩn. (1)

– Xem đoạn 34.

– 2 Xem các đoạn 35–61 liên tục.

Trong đó, Tưởng uẩn là gì? Tưởng uẩn theo phân chia một: Tương ưng với xúc. Tưởng uẩn theo phân chia hai: Có căn đi kèm; không có căn đi kèm. Tưởng uẩn theo phân chia ba: Thiện; bất thiện; vô ký. Tưởng uẩn theo phân chia mười. 2 Tưởng uẩn theo phân chia đa dạng. Đó gọi là Tưởng uẩn. (2)

– Xem đoạn 62.

– 2 Xem các đoạn 63–91 liên tục.

Trong đó, Hành uẩn là gì? Hành uẩn theo phân chia một: Tương ưng với tâm thức. Hành uẩn theo phân chia hai: Là căn; không là căn. Hành uẩn theo phân chia ba: Thiện; bất thiện; vô ký. Hành uẩn theo phân chia mười. 2 Hành uẩn BA 116 | theo phân chia đa dạng. Đó gọi là Hành uẩn. (3)

– Xem đoạn 92.

– 2 Xem các đoạn 93–120 liên tục.

Trong đó, sắc pháp không hữu hình không kháng lực được bao gồm trong pháp xứ là gì? Căn quyền nữ tính,* dưỡng tố trong thức ăn. Đó gọi là sắc pháp không hữu hình không kháng lực được bao gồm trong pháp xứ. (4)

– Xem Dhammasaṅgaṇī đoạn 595.

Trong đó, vô vi giới là gì? Sự diệt tận của tham, sự diệt tận của sân, sự diệt tận của si. Đó gọi là vô vi giới. Đó gọi là Pháp giới. (5) (17)

Trong đó, Ý thức giới là gì? Ngay sau khi nhãn thức giới đã sinh khởi diệt đi, có ý giới sinh khởi; ngay sau khi ý giới đã sinh khởi diệt đi, PTS vp 90 liền sinh khởi tâm thức, tâm, ý, và nương vào những gì nêu trên, ý thức giới. Nhĩ thức giới. 2 Tỷ thức giới. 2 Thiệt thức giới. 2 Ngay sau khi thân thức giới đã sinh khởi diệt đi, có ý giới sinh khởi; ngay sau khi ý giới đã sinh khởi diệt đi, liền sinh khởi tâm thức, tâm, ý,* và nương vào những gì nêu trên, ý thức giới. Nương vào ý và nương vào pháp (đối tượng) mà sinh khởi tâm thức, tâm, ý, tâm, quang minh, tâm, tâm căn, tâm căn chủ, thức, thức uẩn; và nương vào những gì nêu trên, ý thức giới. Đó gọi là Ý thức giới. (18)

– Hoàn chỉnh theo ví dụ cuối.

– 2 Hoàn chỉnh mỗi mục theo ví dụ đầu tiên.

(Kết thúc) Phân Tích Theo Vi Diệu Pháp.

3. Phần Vấn Đáp (Pañhāpucchaka)

PTS cs 185 Mười tám giới là: Nhãn giới, sắc giới, nhãn thức giới, nhĩ giới, thanh giới, nhĩ thức giới, tỷ giới, BA 117 | hương giới, tỷ thức giới, thiệt giới, vị giới, thiệt thức giới, thân giới, xúc giới, thân thức giới, ý giới, pháp giới, ý thức giới.

PTS cs 186 Trong mười tám giới, bao nhiêu giới là thiện; bao nhiêu giới là bất thiện; bao nhiêu giới là vô ký.* Bao nhiêu giới có nhân sầu muộn; bao nhiêu giới không có nhân sầu muộn?

– Phần còn lại theo các tam đề và nhị đề thích hợp.

1. Các Tam Đề (Tikā)

PTS cs 187 Mười sáu giới là vô ký. Hai giới đôi khi là thiện; đôi khi là bất thiện; đôi khi là vô ký. Mười giới không thể nói là tương ưng với lạc thọ; tương ưng với khổ thọ hay tương ưng với bất khổ bất lạc thọ. Năm giới tương ưng với bất khổ bất lạc thọ. Thân thức giới đôi khi tương ưng với lạc thọ; đôi khi tương ưng với khổ thọ. Ý thức giới đôi khi tương ưng với lạc thọ; đôi khi tương ưng với khổ thọ; đôi khi tương ưng với bất khổ bất lạc thọ. Pháp giới đôi khi tương ưng với lạc thọ; đôi khi tương ưng với khổ thọ; đôi khi tương ưng với bất khổ bất lạc thọ; đôi khi không thể nói là tương ưng với lạc thọ; tương ưng với khổ thọ hay tương ưng với bất khổ bất lạc thọ.

Mười giới không phải quả dị thục cũng không sinh quả dị thục. PTS vp 91 Năm giới là quả dị thục. Ý giới đôi khi là quả dị thục; đôi khi không phải quả dị thục cũng không sinh quả dị thục. Hai giới đôi khi là quả dị thục; đôi khi sinh quả dị thục; đôi khi không phải quả dị thục cũng không sinh quả dị thục.

Mười giới bị thủ chấp (bởi ái và tà kiến), là đối tượng của chấp thủ. Thanh giới không bị thủ chấp, là đối tượng của chấp thủ. Năm giới đôi khi bị thủ chấp, là đối tượng của chấp thủ; đôi khi không bị thủ chấp, là đối tượng của chấp thủ. Hai giới đôi khi bị thủ chấp, là đối tượng BA 118 | của chấp thủ; đôi khi không bị thủ chấp, là đối tượng của chấp thủ; đôi khi không bị thủ chấp, không là đối tượng của chấp thủ.

Mười sáu giới không bị phiền não, là đối tượng của phiền não. Hai giới đôi khi bị phiền não, là đối tượng của phiền não; đôi khi không bị phiền não, là đối tượng của phiền não; đôi khi không bị phiền não, không là đối tượng của phiền não. Mười lăm giới không có tầm, không có tứ.

Ý giới có tầm, có tứ. Ý thức giới đôi khi có tầm, có tứ; đôi khi không tầm, chỉ tứ; đôi khi không tầm, không tứ. Pháp giới đôi khi có tầm, có tứ; đôi khi không tầm, chỉ tứ; đôi khi không tầm, không tứ; đôi khi không thể nói là có tầm, có tứ; không tầm, chỉ tứ hay không tầm, không tứ.

Mười giới không thể nói là tương ưng với hỷ; tương ưng với lạc hay tương ưng với xả. Năm giới tương ưng với xả. Thân thức giới không tương ưng với hỷ; đôi khi tương ưng với lạc; không tương ưng với xả; đôi khi không thể nói là tương ưng với lạc.

Hai giới đôi khi tương ưng với hỷ; đôi khi tương ưng với lạc; đôi khi tương ưng với xả; đôi khi không thể nói là tương ưng với hỷ; tương ưng với lạc hay tương ưng với xả.

Mười sáu giới không cần đoạn trừ bằng đạo đầu tiên hay bằng các đạo tiếp theo. Hai giới đôi khi cần đoạn trừ bằng đạo đầu tiên; đôi khi cần đoạn trừ bằng các đạo tiếp theo; đôi khi không cần đoạn trừ bằng đạo đầu tiên hay bằng các đạo tiếp theo. Mười sáu giới không có căn cần đoạn trừ bằng đạo đầu tiên hay bằng các đạo tiếp theo.

Hai giới đôi khi có căn cần đoạn trừ bằng đạo đầu tiên; đôi khi có căn cần đoạn trừ bằng các đạo tiếp theo; đôi khi không có căn cần đoạn trừ bằng đạo đầu tiên hay bằng BA 119 | các đạo tiếp theo. Mười sáu giới không thuận hữu (tích luỹ) cũng không nghịch hữu (phân tán) (của sự tái sanh liên tục và tử biệt). Hai giới đôi khi thuận hữu; đôi khi nghịch hữu; đôi khi không thuận hữu cũng không nghịch hữu.

Mười sáu giới không thuộc bảy giai đoạn siêu thế hay giai đoạn siêu thế cuối cùng. Hai giới đôi khi thuộc bảy giai đoạn siêu thế; đôi khi thuộc giai đoạn siêu thế cuối cùng; đôi khi không thuộc bảy giai đoạn siêu thế hay giai đoạn siêu thế cuối cùng.

Mười sáu giới thấp hèn. Hai giới đôi khi thấp hèn; đôi khi cao thượng; đôi khi vô lượng. PTS vp 92 Mười giới không có đối tượng. Sáu giới có đối tượng thấp hèn. Hai giới đôi khi có đối tượng thấp hèn; đôi khi có đối tượng cao thượng; đôi khi có đối tượng vô lượng; đôi khi không thể nói là có đối tượng thấp hèn; cao thượng hay vô lượng. Mười sáu giới là bậc trung. Hai giới đôi khi thấp kém; đôi khi bậc trung; đôi khi thượng đẳng. Mười sáu giới không định thời (dị thục). Hai giới đôi khi là pháp tà định (kiến); đôi khi là pháp chánh định (kiến); đôi khi không định thời (dị thục).

Mười giới không có đối tượng. Sáu giới không thể nói là có đạo làm đối tượng; có đạo làm nhân hay có đạo làm tăng thượng duyên. Hai giới đôi khi có đạo làm đối tượng; đôi khi có đạo làm nhân; đôi khi có đạo làm tăng thượng duyên; đôi khi không thể nói là có đạo làm đối tượng; có đạo làm nhân hay có đạo làm tăng thượng duyên. Mười giới đôi khi đã sinh khởi; đôi khi nhất định sẽ sinh khởi; không thể nói là chưa sinh khởi. Thanh giới đôi khi đã sinh khởi; đôi khi chưa sinh khởi; không thể nói là nhất định sẽ sinh khởi. Sáu giới đôi khi đã sinh khởi; đôi khi chưa sinh khởi; đôi khi nhất định sẽ sinh khởi. Pháp giới đôi khi đã sinh khởi; đôi khi chưa sinh khởi; đôi khi nhất định sẽ sinh khởi; đôi khi không thể nói là đã sinh khởi; chưa sinh khởi hay nhất định sẽ sinh khởi.

Mười bảy giới đôi khi thuộc quá khứ; đôi khi thuộc vị lai; đôi khi thuộc hiện tại. Pháp giới đôi khi thuộc quá khứ; đôi khi thuộc vị lai; đôi khi thuộc hiện tại; đôi khi không thể nói là thuộc quá khứ; vị lai hay hiện tại. Mười giới không có đối tượng. Sáu giới có đối tượng hiện tại. Hai giới đôi BA 120 | khi có đối tượng quá khứ; đôi khi có đối tượng vị lai; đôi khi có đối tượng hiện tại; đôi khi không thể nói là có đối tượng quá khứ; vị lai hay hiện tại. (Tất cả các giới) Đôi khi là nội phần; đôi khi là ngoại phần; đôi khi là cả nội phần và ngoại phần.

Mười giới không có đối tượng. Sáu giới đôi khi có đối tượng nội phần; đôi khi có đối tượng ngoại phần; đôi khi có đối tượng cả nội phần và ngoại phần. Hai giới đôi khi có đối tượng nội phần; đôi khi có đối tượng ngoại phần; đôi khi có đối tượng cả nội phần và ngoại phần; đôi khi không thể nói là có đối tượng nội phần; ngoại phần hay cả nội phần và ngoại phần. Sắc giới hữu hình, có kháng lực. Chín giới vô hình, có kháng lực. Tám giới vô hình, không có kháng lực.

2. Các Nhị Đề (Duka)

PTS cs 188 Mười bảy giới không phải căn. Pháp giới đôi khi là căn; đôi khi không phải căn. Mười sáu giới không câu hành với căn.

Hai giới đôi khi câu hành với căn; đôi khi không câu hành với căn. Mười sáu giới không tương ưng với căn. PTS vp 93 Hai giới đôi khi tương ưng với căn; đôi khi không tương ưng với căn.

Mười sáu giới không thể nói là vừa là căn vừa câu hành với căn, hay câu hành với căn nhưng không phải căn. Ý thức giới không thể nói là vừa là căn vừa câu hành với căn; (nó) đôi khi câu hành với căn nhưng không phải căn; đôi khi không thể nói là câu hành với căn nhưng không phải căn. Pháp giới đôi khi vừa là căn vừa câu hành với căn; đôi khi câu hành với căn nhưng không phải căn; đôi khi không thể nói là vừa là căn vừa câu hành với căn hay câu hành với căn nhưng không phải căn.

Mười sáu giới không thể nói là vừa là căn vừa tương ưng với căn, hay tương ưng với căn nhưng không phải căn. Ý thức giới không thể nói là vừa là căn vừa tương ưng với căn; (nó) đôi khi tương ưng với căn nhưng không phải căn; đôi khi không thể nói là tương ưng với căn nhưng không phải căn. Pháp giới đôi khi vừa là căn vừa tương ưng với căn; đôi khi tương ưng với căn nhưng không phải căn; đôi khi không thể nói là vừa là căn vừa tương ưng với căn hay tương ưng với căn nhưng không phải căn.

Mười sáu giới BA 121 | không phải căn, không câu hành với căn. Ý thức giới đôi khi không phải căn, câu hành với căn; đôi khi không phải căn, không câu hành với căn. Pháp giới đôi khi không phải căn, câu hành với căn; đôi khi không phải căn, không câu hành với căn; đôi khi không thể nói là không phải căn, câu hành với căn hay không phải căn, không câu hành với căn. (1)

Mười bảy giới có nhân. Pháp giới đôi khi có nhân; đôi khi không có nhân. Mười bảy giới là hữu vi. Pháp giới đôi khi là hữu vi; đôi khi là vô vi. Sắc giới hữu hình. Mười bảy giới vô hình. Mười giới có kháng lực. Tám giới không có kháng lực. Mười giới là vật chất. Bảy giới không phải vật chất. Pháp giới đôi khi là vật chất; đôi khi không phải vật chất. Mười sáu giới là pháp thế gian. Hai giới đôi khi là pháp thế gian; đôi khi là pháp xuất thế. (Tất cả các giới) Có thể nhận biết theo một cách; không thể nhận biết theo cách khác. (2)

Mười bảy giới không phải triền cái. Pháp giới đôi khi là triền cái; đôi khi không phải triền cái. Mười sáu giới là đối tượng của triền cái.

Hai giới đôi khi là đối tượng của triền cái; đôi khi không là đối tượng của triền cái. Mười sáu giới không tương ưng với triền cái. Hai giới đôi khi tương ưng với triền cái; đôi khi không tương ưng với triền cái.

Mười sáu giới không thể nói là vừa là triền cái vừa là đối tượng của triền cái; PTS vp 94 (chúng) là đối tượng của triền cái nhưng không phải triền cái. Ý thức giới không thể nói là vừa là triền cái vừa là đối tượng của triền cái; (nó) đôi khi là đối tượng của triền cái nhưng không phải triền cái; đôi khi không thể nói là đối tượng của triền cái nhưng không phải triền cái. Pháp giới đôi khi vừa là triền cái vừa là đối tượng của triền cái; đôi khi là đối tượng của triền cái nhưng không phải triền cái; đôi khi không thể nói là vừa là triền cái vừa là đối tượng của triền cái hay là đối tượng của triền cái nhưng không phải triền cái.

Mười sáu giới không thể nói là vừa là triền cái vừa tương ưng với triền cái hay tương ưng với triền cái nhưng không phải triền cái. Ý thức giới không thể nói là vừa là triền cái vừa tương ưng với triền cái; (nó) BA 122 | đôi khi tương ưng với triền cái nhưng không phải triền cái; đôi khi không thể nói là tương ưng với triền cái nhưng không phải triền cái. Pháp giới đôi khi vừa là triền cái vừa tương ưng với triền cái; đôi khi tương ưng với triền cái nhưng không phải triền cái; đôi khi không thể nói là vừa là triền cái vừa tương ưng với triền cái hay tương ưng với triền cái nhưng không phải triền cái.

Mười sáu giới không tương ưng với triền cái, là đối tượng của triền cái. Hai giới đôi khi không tương ưng với triền cái, là đối tượng của triền cái; đôi khi không tương ưng với triền cái, không là đối tượng của triền cái; đôi khi không thể nói là không tương ưng với triền cái, là đối tượng của triền cái hay không tương ưng với triền cái, không là đối tượng của triền cái. (3)

Mười bảy giới không phải kiết sử. Pháp giới đôi khi là kiết sử; đôi khi không phải kiết sử. Mười sáu giới là đối tượng của kiết sử.

Hai giới đôi khi là đối tượng của kiết sử; đôi khi không là đối tượng của kiết sử. Mười sáu giới không tương ưng với kiết sử. Hai giới đôi khi tương ưng với kiết sử; đôi khi không tương ưng với kiết sử.

Mười sáu giới không thể nói là vừa là kiết sử vừa là đối tượng của kiết sử; (chúng) là đối tượng của kiết sử nhưng không phải kiết sử. Ý thức giới không thể nói là vừa là kiết sử vừa là đối tượng của kiết sử; (nó) đôi khi là đối tượng của kiết sử nhưng không phải kiết sử; đôi khi không thể nói là đối tượng của kiết sử nhưng không phải kiết sử. Pháp giới đôi khi vừa là kiết sử vừa là đối tượng của kiết sử; đôi khi là đối tượng của kiết sử nhưng không phải kiết sử; đôi khi không thể nói là vừa là kiết sử vừa là đối tượng của kiết sử hay là đối tượng của kiết sử nhưng không phải kiết sử.

Mười sáu giới không thể nói là vừa là kiết sử vừa tương ưng với kiết sử hay tương ưng với kiết sử nhưng không phải kiết sử. Ý thức giới không thể nói là vừa là kiết sử vừa tương ưng với kiết sử; (nó) đôi khi tương ưng với kiết sử nhưng không phải kiết sử; đôi khi không thể nói là tương ưng với kiết sử nhưng không phải kiết sử. Pháp giới đôi khi vừa là kiết sử vừa tương ưng với kiết sử; đôi khi tương ưng với kiết sử nhưng không phải kiết sử; đôi khi không thể nói là vừa là kiết sử vừa tương ưng với kiết sử hay tương ưng với kiết sử nhưng không phải kiết sử.

Mười sáu giới không tương ưng với kiết sử, là đối tượng của kiết sử. PTS vp 95 Hai giới đôi BA 123 | khi không tương ưng với kiết sử, là đối tượng của kiết sử; đôi khi không tương ưng với kiết sử, không là đối tượng của kiết sử; đôi khi không thể nói là không tương ưng với kiết sử, là đối tượng của kiết sử hay không tương ưng với kiết sử, không là đối tượng của kiết sử. (4)

Mười bảy giới không phải phược. Pháp giới đôi khi là phược; đôi khi không phải phược. Mười sáu giới là đối tượng của phược.

Hai giới đôi khi là đối tượng của phược; đôi khi không là đối tượng của phược. Mười sáu giới không tương ưng với phược. Hai giới đôi khi tương ưng với phược; đôi khi không tương ưng với phược.

Mười sáu giới không thể nói là vừa là phược vừa là đối tượng của phược; (chúng) là đối tượng của phược nhưng không phải phược. Ý thức giới không thể nói là vừa là phược vừa là đối tượng của phược; (nó) đôi khi là đối tượng của phược nhưng không phải phược; đôi khi không thể nói là đối tượng của phược nhưng không phải phược. Pháp giới đôi khi vừa là phược vừa là đối tượng của phược; đôi khi là đối tượng của phược nhưng không phải phược; đôi khi không thể nói là vừa là phược vừa là đối tượng của phược hay là đối tượng của phược nhưng không phải phược.

Mười sáu giới không thể nói là vừa là phược vừa tương ưng với phược hay tương ưng với phược nhưng không phải phược. Ý thức giới không thể nói là vừa là phược vừa tương ưng với phược; (nó) đôi khi tương ưng với phược nhưng không phải phược; đôi khi không thể nói là tương ưng với phược nhưng không phải phược. Pháp giới đôi khi vừa là phược vừa tương ưng với phược; đôi khi tương ưng với phược nhưng không phải phược; đôi khi không thể nói là vừa là phược vừa tương ưng với phược hay tương ưng với phược nhưng không phải phược.

Mười sáu giới không tương ưng với phược, là đối tượng của phược. Hai giới đôi khi không tương ưng với phược, là đối tượng của phược; đôi khi không tương ưng với phược, không là đối tượng của phược; đôi khi không thể nói là không tương ưng với phược, là đối tượng của phược hay không tương ưng với phược, không là đối tượng của phược. (5)

Mười bảy giới không phải bộc lưu. Không phải ách. Không phải triền cái. Pháp giới đôi khi là triền cái; đôi khi không phải triền cái. Mười sáu giới là đối tượng của triền cái.

Hai giới đôi khi là đối tượng của triền cái; đôi khi không là đối tượng của triền cái. Mười sáu giới không tương ưng với triền cái. Hai giới đôi khi tương ưng với triền cái; đôi khi không tương ưng với BA 124 | triền cái.

Mười sáu giới không thể nói là vừa là triền cái vừa là đối tượng của triền cái; (chúng) là đối tượng của triền cái nhưng không phải triền cái. Ý thức giới không thể nói là vừa là triền cái vừa là đối tượng của triền cái; (nó) đôi khi là đối tượng của triền cái nhưng không phải triền cái; đôi khi không thể nói là đối tượng của triền cái nhưng không phải triền cái. Pháp giới đôi khi vừa là triền cái vừa là đối tượng của triền cái; đôi khi là đối tượng của triền cái nhưng không phải triền cái; đôi khi không thể nói là vừa là triền cái vừa là đối tượng của triền cái hay là đối tượng của triền cái nhưng không phải triền cái.

Mười sáu giới không thể nói là vừa là triền cái vừa tương ưng với triền cái hay tương ưng với triền cái nhưng không phải triền cái. Ý thức giới không thể nói là vừa là triền cái vừa tương ưng với triền cái; (nó) đôi khi tương ưng với triền cái nhưng không phải triền cái; đôi khi không thể nói là tương ưng với triền cái nhưng không phải triền cái. Pháp giới đôi khi vừa là triền cái vừa tương ưng với triền cái; đôi khi tương ưng với triền cái nhưng không phải triền cái; đôi khi không thể nói là vừa là triền cái vừa tương ưng với triền cái hay tương ưng với triền cái nhưng không phải triền cái.

Mười sáu giới không tương ưng với triền cái, là đối tượng của triền cái. Hai giới đôi khi không tương ưng với triền cái, là đối tượng của triền cái; đôi khi không tương ưng với triền cái, không là đối tượng của triền cái; đôi khi không thể nói là không tương ưng với triền cái, là đối tượng của triền cái hay không tương ưng với triền cái, không là đối tượng của triền cái. (8)

– Hoàn chỉnh như đối với phần triền cái.

Mười bảy giới không phải điên đảo. Pháp giới đôi khi là điên đảo; đôi khi không phải điên đảo. Mười sáu giới là đối tượng của điên đảo.

Hai giới đôi khi là đối tượng của điên đảo; đôi khi không là đối tượng của điên đảo. Mười sáu giới không tương ưng với điên đảo. Ý thức giới đôi khi tương ưng với điên đảo; đôi khi không tương ưng với điên đảo.

Pháp giới đôi khi tương ưng với điên đảo; đôi khi không tương ưng với điên đảo; đôi khi không thể nói là tương ưng với điên đảo BA 125 | hay không tương ưng với điên đảo. Mười sáu giới không thể nói là vừa là điên đảo vừa là đối tượng của điên đảo; (chúng) là đối tượng của điên đảo nhưng không phải điên đảo. Ý thức giới không thể nói là vừa là điên đảo vừa là đối tượng của điên đảo; (nó) đôi khi là đối tượng của điên đảo nhưng không phải điên đảo; đôi khi không thể nói là đối tượng của điên đảo nhưng không phải điên đảo.

Pháp giới đôi khi vừa là điên đảo vừa là đối tượng của điên đảo; đôi khi là đối tượng của điên đảo nhưng không phải điên đảo; đôi khi không thể nói là vừa là điên đảo vừa là đối tượng của điên đảo hay là đối tượng của điên đảo nhưng không phải điên đảo. Mười sáu giới không tương ưng với điên đảo, là đối tượng của điên đảo. Hai giới đôi khi không tương ưng với điên đảo, là đối tượng của điên đảo; đôi khi không tương ưng với điên đảo, không là đối tượng của điên đảo; đôi khi không thể nói là không tương ưng với điên đảo, là đối tượng của điên đảo hay không tương ưng với điên đảo, không là đối tượng của điên đảo. (9)

Mười giới không có đối tượng. Bảy giới có đối tượng. Pháp giới đôi khi có đối tượng; đôi khi không có đối tượng. Bảy giới là thức. Mười một giới không phải thức. Mười bảy giới không phải tâm sở. Pháp giới đôi khi là tâm sở; đôi khi không phải tâm sở. Mười giới không tương ưng với tâm. Pháp giới đôi khi tương ưng với tâm; đôi khi không tương ưng với tâm. Bảy giới không thể nói là tương ưng với tâm hay không tương ưng với tâm. Mười giới cùng sinh với tâm. Pháp giới đôi khi cùng sinh với tâm; đôi khi không cùng sinh với tâm. Bảy giới không thể nói là cùng sinh với tâm hay không cùng sinh với tâm.

Mười hai giới không được tâm sinh ra. Sáu giới đôi khi được tâm sinh ra; đôi khi không được tâm sinh ra. PTS vp 96 Mười bảy giới không đồng tồn với tâm.

Pháp giới đôi khi đồng tồn với tâm; đôi khi không đồng tồn với tâm. Mười bảy giới không đi theo tâm. Pháp giới đôi khi đi theo tâm; BA 126 | đôi khi không đi theo tâm.

Mười bảy giới không tương ưng với, không được tâm sinh ra. Pháp giới đôi khi tương ưng với, được tâm sinh ra; đôi khi không tương ưng với, không được tâm sinh ra. Mười bảy giới không tương ưng với, không được tâm sinh ra, không đồng tồn với tâm.

Pháp giới đôi khi tương ưng với, được tâm sinh ra, đồng tồn với tâm; đôi khi không tương ưng với, được tâm sinh ra, đồng tồn với tâm. Mười bảy giới không tương ưng với, không được tâm sinh ra, không đi theo tâm. Pháp giới đôi khi tương ưng với, được tâm sinh ra, đi theo tâm; đôi khi không tương ưng với, không được tâm sinh ra, không đi theo tâm.

Mười hai giới là nội phần. Sáu giới là ngoại phần. (10)

Chín giới là sở tạo. Tám giới không phải sở tạo. Pháp giới đôi khi là sở tạo; đôi khi không phải sở tạo.

Mười giới bị thủ chấp (bởi ái và tà kiến). Thanh giới không bị thủ chấp. Bảy giới đôi khi bị thủ chấp; đôi khi không bị thủ chấp.

Mười bảy giới không phải chấp thủ. Pháp giới đôi khi là chấp thủ; đôi khi không phải chấp thủ. Mười sáu giới là đối tượng của chấp thủ.

Hai giới đôi khi là đối tượng của chấp thủ; đôi khi không là đối tượng của chấp thủ. Mười sáu giới không tương ưng với chấp thủ. Hai giới đôi khi tương ưng với chấp thủ; đôi khi không tương ưng với chấp thủ.

Mười sáu giới không thể nói là vừa là chấp thủ vừa là đối tượng của chấp thủ; (chúng) là đối tượng của chấp thủ nhưng không phải chấp thủ. Ý thức giới không thể nói là vừa là chấp thủ vừa là đối tượng của chấp thủ; (nó) đôi khi là đối tượng của chấp thủ nhưng không phải chấp thủ; đôi khi không thể nói là đối tượng của chấp thủ nhưng không phải chấp thủ. Pháp giới đôi khi vừa là chấp thủ vừa là đối tượng của chấp thủ; đôi khi là đối tượng của chấp thủ nhưng không phải chấp thủ; đôi khi không thể nói là vừa là chấp thủ vừa là đối tượng của chấp thủ hay là đối tượng của chấp thủ nhưng không phải chấp thủ.

Mười sáu giới không thể nói là vừa là chấp thủ vừa tương ưng với chấp thủ hay tương ưng với chấp thủ nhưng không phải chấp thủ. Ý thức giới không thể nói là vừa là chấp thủ vừa tương ưng với chấp thủ; (nó) BA 127 | đôi khi tương ưng với chấp thủ nhưng không phải chấp thủ; đôi khi không thể nói là tương ưng với chấp thủ nhưng không phải chấp thủ. Pháp giới đôi khi vừa là chấp thủ vừa tương ưng với chấp thủ; đôi khi tương ưng với chấp thủ nhưng không phải chấp thủ; đôi khi không thể nói là vừa là chấp thủ vừa tương ưng với chấp thủ hay tương ưng với chấp thủ nhưng không phải chấp thủ.

Mười sáu giới không tương ưng với chấp thủ, là đối tượng của chấp thủ. Hai giới đôi khi không tương ưng với chấp thủ, là đối tượng của chấp thủ; đôi khi không tương ưng với chấp thủ, không là đối tượng của chấp thủ; đôi khi không thể nói là không tương ưng với chấp thủ, là đối tượng của chấp thủ hay không tương ưng với chấp thủ, không là đối tượng của chấp thủ. (11)

Mười bảy giới không phải tuỳ miên. Pháp giới đôi khi là tuỳ miên; đôi khi không phải tuỳ miên. Mười sáu giới là đối tượng của tuỳ miên.

Hai giới đôi khi là đối tượng của tuỳ miên; đôi khi không là đối tượng của tuỳ miên. Mười sáu giới không bị tuỳ miên. Hai giới đôi khi bị tuỳ miên; đôi khi không bị tuỳ miên.

Mười sáu giới không tương ưng với tuỳ miên. Hai giới đôi khi tương ưng với tuỳ miên; đôi khi không tương ưng với tuỳ miên. Mười sáu giới không thể nói là vừa là tuỳ miên vừa là đối tượng của tuỳ miên; (chúng) là đối tượng của tuỳ miên nhưng không phải tuỳ miên.

Ý thức giới không thể nói là vừa là tuỳ miên vừa là đối tượng của tuỳ miên; (nó) đôi khi là đối tượng của tuỳ miên nhưng không phải tuỳ miên; đôi khi không thể nói là đối tượng của tuỳ miên nhưng không phải tuỳ miên. Pháp giới đôi khi vừa là tuỳ miên vừa là đối tượng của tuỳ miên; đôi khi là đối tượng của tuỳ miên nhưng không phải tuỳ miên; đôi khi không thể nói là vừa là tuỳ miên vừa là đối tượng của tuỳ miên hay là đối tượng của tuỳ miên nhưng không phải tuỳ miên.

Mười sáu giới không thể nói là vừa là tuỳ miên vừa bị tuỳ miên hay bị tuỳ miên nhưng không phải tuỳ miên. Ý thức giới không thể nói là vừa là tuỳ miên vừa bị tuỳ miên; (nó) đôi khi bị tuỳ miên nhưng không phải tuỳ miên; đôi khi không thể nói là bị tuỳ miên nhưng không phải tuỳ miên. Pháp giới BA 128 | đôi khi vừa là tuỳ miên vừa bị tuỳ miên; đôi khi bị tuỳ miên nhưng không phải tuỳ miên; đôi khi không thể nói là vừa là tuỳ miên vừa bị tuỳ miên hay bị tuỳ miên nhưng không phải tuỳ miên.

Mười sáu giới không thể nói là vừa là tuỳ miên vừa tương ưng với tuỳ miên hay tương ưng với tuỳ miên nhưng không phải tuỳ miên. PTS vp 97 Ý thức giới không thể nói là vừa là tuỳ miên vừa tương ưng với tuỳ miên; (nó) đôi khi tương ưng với tuỳ miên nhưng không phải tuỳ miên; đôi khi không thể nói là tương ưng với tuỳ miên nhưng không phải tuỳ miên. Pháp giới đôi khi vừa là tuỳ miên vừa tương ưng với tuỳ miên; đôi khi tương ưng với tuỳ miên nhưng không phải tuỳ miên; đôi khi không thể nói là vừa là tuỳ miên vừa tương ưng với tuỳ miên hay tương ưng với tuỳ miên nhưng không phải tuỳ miên.

Mười sáu giới không tương ưng với tuỳ miên, là đối tượng của tuỳ miên. Hai giới đôi khi không tương ưng với tuỳ miên, là đối tượng của tuỳ miên; đôi khi không tương ưng với tuỳ miên, không là đối tượng của tuỳ miên; đôi khi không thể nói là không tương ưng với tuỳ miên, là đối tượng của tuỳ miên hay không tương ưng với tuỳ miên, không là đối tượng của tuỳ miên. (12)

Mười sáu giới không cần đoạn trừ bằng đạo đầu tiên. Hai giới đôi khi cần đoạn trừ bằng đạo đầu tiên; đôi khi không cần đoạn trừ bằng đạo đầu tiên. Mười sáu giới không cần đoạn trừ bằng các đạo tiếp theo. Hai giới đôi khi cần đoạn trừ bằng các đạo tiếp theo; đôi khi không cần đoạn trừ bằng các đạo tiếp theo. Mười sáu giới không có căn cần đoạn trừ bằng đạo đầu tiên. Hai giới đôi khi có căn cần đoạn trừ bằng đạo đầu tiên; đôi khi không có căn cần đoạn trừ bằng đạo đầu tiên. Mười sáu giới không có căn cần đoạn trừ bằng các đạo tiếp theo. Hai giới đôi khi có căn cần đoạn trừ bằng các đạo tiếp theo; đôi khi không có căn cần đoạn trừ bằng các đạo tiếp theo.

Mười lăm giới không có tầm. Ý giới có tầm. Hai giới đôi khi có tầm; đôi khi không có tầm. Mười lăm giới không có tứ. Ý giới có tứ. Hai giới đôi khi có tứ; đôi khi không có tứ. BA 129 | Mười sáu giới không có hỷ. Hai giới đôi khi có hỷ; đôi khi không có hỷ. Mười sáu giới không câu hành với hỷ. Hai giới đôi khi câu hành với hỷ; đôi khi không câu hành với hỷ. Mười lăm giới không câu hành với lạc. Ba giới đôi khi câu hành với lạc; đôi khi không câu hành với lạc. Mười một giới không câu hành với xả. Năm giới câu hành với xả. Hai giới đôi khi câu hành với xả; đôi khi không câu hành với xả.

Mười sáu giới thuộc cõi dục giới. Hai giới đôi khi thuộc cõi dục giới; đôi khi không thuộc cõi dục giới. Mười sáu giới không thuộc cõi sắc giới.

Hai giới đôi khi thuộc cõi sắc giới; đôi khi không thuộc cõi sắc giới. Mười sáu giới không thuộc cõi vô sắc giới. Hai giới đôi khi thuộc cõi vô sắc giới; đôi khi không thuộc cõi vô sắc giới.

Mười sáu giới bị bao gồm (tức là pháp thế gian). Hai giới đôi khi bị bao gồm (tức là pháp thế gian); đôi khi không bị bao gồm (tức là pháp xuất thế). Mười sáu giới không hướng đến giải thoát.

Hai giới đôi khi hướng đến giải thoát. Mười sáu giới không định thời (dị thục). Hai giới đôi khi là định thời (dị thục); đôi khi không định thời (dị thục).

Mười sáu giới có thể vượt qua. Hai giới đôi khi có thể vượt qua; đôi khi không thể vượt qua. PTS vp 98 Mười sáu giới không có nhân sầu muộn.

Hai giới đôi khi có nhân sầu muộn; đôi khi không có nhân sầu muộn. (13)

(Kết thúc mục) Phần Vấn Đáp.

Phân Tích Các Giới Kết Thúc.

---

Phân Tích Bộ (Vibhaṅga), dịch tiếng Anh từ Pāli Abhidhamma. Bản dịch của Paṭhamkyaw Ashin Thiṭṭila (Seiṭṭhila). Xuất bản bởi Pali Text Society, 1969.

Ấn bản SuttaCentral do Manfred Wierich và Tỳ-kheo Vimala chuẩn bị, hiệu đính bởi Ariya Baumann.

Ấn bản điện tử này được xuất bản theo giấy phép Creative Commons Attribution Non-Commercial 3.0 (CC BY-NC 3.0). Mọi bản quyền thuộc về Pali Text Society. Chỉ dùng cho mục đích phi thương mại.

🌏Vì sao bài kinh này do Inti AI tóm lược?

Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.

🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →
Nguồn bản dịch: Diễn giải / dịch bởi AIGiấy phép: CC0-1.0 (Sujato) · personal-use (Minh Châu) · VI: bản dịch AI, chờ đối chiếu🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch bằng AI do Inti biên soạn: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến