Inti DharmaInti Dharma
← Kinh điển
Nguyên Thủy — Pāli Tạng · Luận Tạng

Vb 17Phân Tích Các Tiểu Mục

Tên Pāli / Sanskrit:Khuddakavatthuvibhaṅga

📖29,607 từ · ~118 phút đọc
2

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản →
Diễn giải bởi Inti AI (Tiếng Việt)
🪷 AI diễn giải

– Bộ Phân Tích (The Book of Analysis)

17. Phân Tích Các Tiểu Mục (Analysis of Small Items)

1. Tổng Lược Đơn Phần

PTS cs 832BA 452 PTS vp 345 Ngã mạn về dòng dõi; ngã mạn về gia tộc; ngã mạn về sức khỏe; ngã mạn về tuổi trẻ; ngã mạn về sinh mạng; ngã mạn về lợi lộc; ngã mạn về được cung kính; ngã mạn về được tôn trọng; ngã mạn về địa vị nổi bật; ngã mạn về có quyến thuộc; ngã mạn về tài sản; ngã mạn về dung mạo; ngã mạn về học vấn uyên bác; ngã mạn về trí tuệ; ngã mạn về là bậc thẩm quyền hiểu biết; ngã mạn về là người (thường xuyên) khất thực; ngã mạn về không bị khinh miệt; ngã mạn về tư thế (dáng vẻ); ngã mạn về thành tựu; ngã mạn về được ái mộ; ngã mạn về giới hạnh; ngã mạn về thiền (jhāna); ngã mạn về sự khéo léo; ngã mạn về vóc dáng cao lớn; ngã mạn về (thân) cân đối; ngã mạn về sắc tướng; ngã mạn về (thân) hoàn hảo; ngã mạn (māna); phóng dật (pamāda); (tâm) cứng rắn; sự ganh đua;

ước muốn điều tốt nhất; ước muốn điều nhiều nhất; ác dục; sự phù phiếm; sự tự phụ; thói phù hoa cá nhân; nếp sống bất kính; sự chán nản; sự thờ ơ; sự bồn chồn; sự uể oải sau bữa ăn; sự trì trệ tâm ý; sự xảo trá; lời nói bóng gió mê hoặc; sự ra hiệu; sự phỉ báng; PTS vp 346 việc tìm lợi lộc bằng lợi lộc; ngã mạn rằng, "Ta hơn"; ngã mạn rằng, "Ta bằng"; ngã mạn rằng, "Ta kém"; nơi người hơn, ngã mạn rằng, "Ta hơn"; nơi người hơn, ngã mạn rằng, "Ta bằng"; nơi người hơn, ngã mạn rằng, "Ta kém"; nơi người bằng, ngã mạn rằng, "Ta hơn"; nơi người bằng, ngã mạn rằng, "Ta bằng"; nơi người bằng, ngã mạn rằng, "Ta kém"; nơi người kém, ngã mạn rằng, "Ta hơn"; nơi người kém, ngã mạn rằng, "Ta bằng"; nơi người kém, ngã mạn rằng, "Ta kém"; ngã mạn; ngã mạn quá mức; ngã mạn thái quá; ngã mạn tự khinh;

ngã mạn đánh giá quá cao; tự ngã mạn; ngã mạn sai lầm; suy nghĩ về thân quyến; suy nghĩ về (bản) xứ sở; suy nghĩ về (cách) không chết và/hoặc (kiểu) lươn trườn (biện luận trườn uốn); suy nghĩ liên hệ đến lòng thương cảm với người khác; suy nghĩ liên hệ đến lợi lộc, được cung kính, danh tiếng; suy nghĩ liên hệ đến việc không bị khinh miệt.

(Đến Đây Chấm Dứt) Tổng Lược Đơn Phần

2. Tổng Lược Song Phần

PTS cs 833BA 453 Phẫn nộ và oán hận. Gièm pha và dèm xiểm. Ganh tị và bủn xỉn. Man trá và ngoan cố giả dối. Vô minh và ái đối với hữu. Kiến chấp hữu và kiến chấp phi hữu. Kiến chấp thường hằng và kiến chấp đoạn diệt. Kiến chấp hữu biên và kiến chấp vô biên. Kiến chấp về khởi thủy tối hậu và kiến chấp về chung cục tối hậu. Vô tàm và vô quý. Ngoan cố và có bạn ác. Không ngay thẳng và không nhu hòa. Thiếu kiên nhẫn và vô độ. Thiếu sự mềm mỏng và thiếu hiếu khách. PTS vp 347 Không phòng hộ các cửa căn (giác quan) và không biết chừng mực trong ăn uống. Thất niệm và thiếu tỉnh giác. Sự sa sút về giới và tà kiến sai lạc. Kiết sử nội phần và kiết sử ngoại phần.

(Đến Đây Chấm Dứt) Tổng Lược Song Phần

3. Tổng Lược Tam Phần

PTS cs 834Ba căn bất thiện; ba (loại) tà tư duy; ba (loại) tà tưởng; ba giới bất thiện; ba (loại) tà nghiệp; ba cấu uế; ba kiết sử; ba (loại) ái; ba (loại) ái khác; ba (loại) tầm cầu; ba (loại) ngã mạn tính; ba (loại) sợ hãi; ba (loại) tăm tối; ba nền tảng của tà thuyết; ba (loại) chướng ngại; ba (loại) nhiễm ô; ba (loại) bất tịnh; ba (loại) sai khác; ba (loại) sai khác khác; ba (loại) lửa; ba (loại) gay gắt; ba (loại) gay gắt khác.

Kiến chấp về vị ngọt (thỏa thích), kiến chấp về linh hồn, tà kiến. Chán nản, gây phiền nhiễu, hành vi sai trái. Ngoan cố, có bạn ác, sự sai khác trong tưởng. Xao lãng, biếng nhác, phóng dật. Bất mãn, thiếu tỉnh giác, ước muốn điều nhiều nhất. Vô tàm, vô quý, phóng dật. Sự coi thường, ngoan cố, có bạn ác. Thiếu niềm tin, không biết khẩn cầu, biếng nhác. Xao lãng, thiếu chế ngự, tà giới. Thiếu ước muốn diện kiến bậc Thánh, thiếu ước muốn lắng nghe Chánh Pháp, tâm trạng khiển trách. Thất niệm, thiếu tỉnh giác, tâm dao động. PTS vp 348 Tác ý không như lý, nương tựa vào đường lối sai lầm, và sự trì trệ tâm ý.

(Đến Đây Chấm Dứt) Tổng Lược Tam Phần

4. Tổng Lược Tứ Phần

PTS cs 835BA 454 Bốn cấu uế; bốn phược (ràng buộc); bốn bộc lưu; bốn hệ phược; bốn thủ (chấp thủ); bốn nguồn sanh khởi của ái; bốn cách hành xử theo đường lối sai; bốn điên đảo; bốn (loại) lời nói không cao thượng; bốn (loại) lời nói không cao thượng khác; bốn (loại) tà nghiệp; bốn (loại) tà nghiệp khác; bốn (loại) sợ hãi; bốn (loại) sợ hãi khác; bốn tà kiến.

(Đến Đây Chấm Dứt) Tổng Lược Tứ Phần

5. Tổng Lược Ngũ Phần

PTS cs 836Năm kiết sử thuộc hạ phần (thấp); năm kiết sử thuộc thượng phần (cao); năm (loại) bủn xỉn; năm sự dính mắc; năm mũi tên; năm gai nhọn tâm lý; năm (loại) trói buộc tâm; năm triền cái; năm nghiệp cực trọng cho quả tức thời; năm tà kiến; năm hành vi thù nghịch; năm điều bất hạnh; năm điều bất lợi của sự thiếu kiên nhẫn; năm điều sợ hãi; năm học thuyết về Niết-bàn ngay trong đời hiện tại. PTS vp 349

(Đến Đây Chấm Dứt) Tổng Lược Ngũ Phần

6. Tổng Lược Lục Phần

PTS cs 837Sáu cội rễ của tranh chấp; sáu (loại) ước muốn tham đắm; sáu nền tảng của thù hận; sáu nhóm ái; sáu (loại) khinh miệt; sáu trạng thái thoái đọa; sáu trạng thái thoái đọa khác; sáu (loại) quán sát bằng tâm hỷ; sáu (loại) quán sát bằng tâm ưu; sáu (loại) quán sát bằng tâm xả; sáu (loại) hỷ liên hệ dục lạc; sáu (loại) ưu liên hệ dục lạc; sáu (loại) xả liên hệ dục lạc; sáu tà kiến.

(Đến Đây Chấm Dứt) Tổng Lược Lục Phần

7. Tổng Lược Thất Phần

PTS cs 838Bảy tùy miên; bảy kiết sử; bảy sự tiến triển; bảy trạng thái ô nhiễm; bảy tà nghiệp; bảy (loại) ngã mạn; bảy tà kiến.

(Đến Đây Chấm Dứt) Tổng Lược Thất Phần

8. Tổng Lược Bát Phần

PTS cs 839BA 455 Tám nền tảng của sự đồi bại; tám nền tảng của sự biếng nhác; sự lệch hướng của tâm thức trong tám pháp thế gian; tám (loại) lời nói không cao thượng; tám (loại) giả dối; tám khiếm khuyết của con người; tám học thuyết về sự có tưởng phi tưởng; tám học thuyết về phi tưởng phi phi tưởng.

(Đến Đây Chấm Dứt) Tổng Lược Bát Phần

9. Tổng Lược Cửu Phần

PTS cs 840Chín nền tảng của sự phiền nhiễu; chín uế trược của con người; chín loại ngã mạn; chín trạng thái bắt rễ nơi ái; chín (loại) xáo động; chín (loại) tưởng tượng; chín (loại) bất ổn; chín (loại) ám ảnh; chín (tâm) trạng thái.

(Đến Đây Chấm Dứt) Tổng Lược Cửu Phần

10. Tổng Lược Thập Phần

PTS cs 841Mười nền tảng của sự đồi bại; mười nền tảng của sự phiền nhiễu; mười đường ác nghiệp; mười kiết sử; mười (loại) giả dối; tà kiến có mười nền tảng; kiến chấp cực đoan có mười nền tảng.

(Đến Đây Chấm Dứt) Tổng Lược Thập Phần

PTS cs 842Mười tám sự khởi lên của ái liên hệ nội phần (các uẩn nội tại); mười tám sự khởi lên của ái liên hệ ngoại phần (các uẩn ngoại tại); (gộp) chung lại tất cả và nói vắn tắt thì có ba mươi sáu sự khởi lên của ái; như vậy, ba mươi sáu sự khởi lên của ái thuộc quá khứ; ba mươi sáu sự khởi lên của ái thuộc vị lai; ba mươi sáu sự khởi lên của ái thuộc hiện tại; (gộp) chung lại tất cả và nói vắn tắt thì có một trăm lẻ tám sự khởi lên của ái; lại còn sáu mươi hai tà kiến đã được đức Thế Tôn (Bhagavā) thuyết giảng trong Phạm Võng Kinh (Brahmajāla). PTS vp 350

Tổng Lược (Chấm Dứt)

1. Quảng Diễn Đơn Phần

PTS cs 843Ở đây, thế nào là "ngã mạn về dòng dõi" ? Do nương vào dòng dõi (mà có) ngã mạn, trạng thái ngã mạn, tình trạng ngã mạn, kiêu căng, trạng thái kiêu căng, BA 456 | tình trạng kiêu căng, sự tự cao, sự ngạo mạn, (sự phất) cờ (kiêu hãnh), sự tự nhận, ước muốn của tâm thức đối với một biểu ngữ (khoe khoang). Đây gọi là ngã mạn về dòng dõi.

PTS cs 844Ở đây, thế nào là "ngã mạn về gia tộc" ? Do nương vào gia tộc. Do nương vào sức khỏe. Do nương vào tuổi trẻ. Do nương vào sinh mạng. Do nương vào lợi lộc. Do nương vào được cung kính. Do nương vào được tôn trọng. Do nương vào địa vị nổi bật. Do nương vào có quyến thuộc. Do nương vào tài sản. Do nương vào dung mạo. Do nương vào học vấn uyên bác. Do nương vào trí tuệ. Do nương vào là bậc thẩm quyền hiểu biết. Do nương vào là người (thường xuyên) khất thực. Do nương vào không bị khinh miệt. Do nương vào tư thế. Do nương vào thành tựu. Do nương vào được ái mộ. Do nương vào giới hạnh. Do nương vào thiền (jhāna). Do nương vào sự khéo léo. Do nương vào vóc dáng cao lớn. Do nương vào (thân) cân đối. Do nương vào sắc tướng.* Do nương vào (thân) hoàn hảo (mà có)

ngã mạn, trạng thái ngã mạn, tình trạng ngã mạn, cũng như kiêu căng, trạng thái kiêu căng, tình trạng kiêu căng, sự tự cao, sự ngạo mạn, (sự phất) cờ (kiêu hãnh), sự tự nhận, ước muốn của tâm thức đối với một biểu ngữ.

Đây gọi là ngã mạn về (thân) hoàn hảo.

– Hoàn tất mỗi mục theo ví dụ cuối cùng.

PTS cs 845Ở đây, thế nào là "ngã mạn" ? Cái gì là ngã mạn, trạng thái ngã mạn, tình trạng ngã mạn, kiêu căng, trạng thái kiêu căng, tình trạng kiêu căng, sự tự cao, sự ngạo mạn, (sự phất) cờ (kiêu hãnh), sự tự nhận, ước muốn của tâm thức đối với một biểu ngữ. Đây gọi là ngã mạn.

PTS cs 846Ở đây, thế nào là "phóng dật" ? Hành vi thân sai trái hoặc hành vi khẩu sai trái hoặc hành vi ý sai trái, hoặc sự khuất phục và liên tục khuất phục của tâm thức trước năm dục trưởng dưỡng, hoặc không làm việc cẩn trọng, không làm việc liên tục, làm việc gián đoạn, trì trệ, buông bỏ ước muốn, buông bỏ phận sự, không theo đuổi, không phát triển, không lặp lại, không quyết tâm, không thực hành, phóng dật trong việc phát triển các thiện pháp; cái gì tương tự như vậy, sự phóng dật, trạng thái phóng dật, tình trạng phóng dật. Đây gọi là phóng dật.

PTS cs 847BA 457 Ở đây, thế nào là "(tâm) cứng rắn" ? Cái gì là sự cứng rắn, trạng thái cứng rắn, tình trạng cứng rắn, sự cứng cỏi, sự khắc nghiệt, sự bất khả uốn nắn của tâm thức, sự không mềm dẻo. Đây gọi là (tâm) cứng rắn.

PTS cs 848Ở đây, thế nào là "sự ganh đua" ? Cái gì là sự ganh đua, sự phản ganh đua, hành vi ganh đua, hành vi phản ganh đua, tình trạng phản ganh đua. Đây gọi là sự ganh đua.

PTS cs 849Ở đây, thế nào là "ước muốn điều tốt nhất" ? Sự ham muốn lớn hơn PTS vp 351 của người không thỏa mãn với các vật dụng như y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, dược phẩm trị bệnh, hoặc với năm dục trưởng dưỡng; cái gì tương tự như vậy, sự ước muốn, hành vi ước muốn, ước muốn điều tốt nhất, tham dục, sự say đắm, sự say đắm của tâm thức. Đây gọi là ước muốn điều tốt nhất.

PTS cs 850Ở đây, thế nào là "ước muốn điều nhiều nhất" ? Sự ham muốn lớn hơn của người không thỏa mãn với các vật dụng như y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, dược phẩm trị bệnh, hoặc với năm dục trưởng dưỡng; cái gì tương tự như vậy, sự ước muốn, hành vi ước muốn, ước muốn điều nhiều nhất, tham dục, sự say đắm, sự say đắm của tâm thức. Đây gọi là ước muốn điều nhiều nhất.

PTS cs 851Ở đây, thế nào là "ác dục" ? Ở đây, một người nào đó không có niềm tin, mong ước rằng, mong người ta biết ta là người có niềm tin; là người có giới hạnh sai trái, mong ước rằng, mong người ta biết ta là người có đức hạnh; là người không có học vấn, mong ước rằng, mong người ta biết ta là người rất uyên bác; là người ưa thích hội chúng, mong ước rằng, mong người ta biết ta là người sống viễn ly; là người biếng nhác, mong ước rằng, mong người ta biết ta là người tinh tấn kiên trì; là người thất niệm, mong ước rằng, mong người ta biết ta là người có chánh niệm tỉnh giác; là người không có định, mong ước rằng, mong người ta biết ta là người có định; là người không có trí tuệ, mong ước rằng, mong người ta biết ta là người có trí tuệ;

là người chưa thoát khỏi các lậu hoặc, mong ước rằng, mong người ta biết ta là người đã thoát khỏi các lậu hoặc; cái gì tương tự như vậy, sự ước muốn, hành vi ước muốn, ác dục, tham đắm, sự say đắm, sự say đắm của tâm thức.

Đây gọi là ác dục.

PTS cs 852Ở đây, thế nào là "sự phù phiếm" ? Cái gì là sự phù phiếm, sự thanh lịch, sự khéo léo, tình trạng khéo léo, sự làm dáng, tình trạng làm dáng. Đây gọi là sự phù phiếm.

PTS cs 853BA 458 Ở đây, thế nào là "sự tự phụ" ? Cái gì là sự tự phụ, trạng thái tự phụ, tình trạng tự phụ, sự tự nuông chiều, trạng thái tự nuông chiều, tình trạng tự nuông chiều, sự dao động, ước muốn điều tốt đẹp hơn. Đây gọi là sự tự phụ.

PTS cs 854Ở đây, thế nào là "thói phù hoa cá nhân" ? Sự trang trí y phục, sự trang trí bình bát, sự trang trí chỗ ở; sự trang trí, làm đẹp, tự hào về, tô điểm, lòng tham muốn, tình trạng tham muốn, hành vi phù hoa cá nhân, sự phù hoa cá nhân đối với tấm thân hôi thối này và đối với các vật dụng bên ngoài. Đây gọi là thói phù hoa cá nhân.

PTS cs 855Ở đây, thế nào là "nếp sống bất kính" ? Sự trái ngược, sự bắt bẻ, PTS vp 352 sự coi thường, trạng thái coi thường, sự bất kính, sự không tôn trọng đối với mẹ hoặc cha hoặc bậc trưởng thượng hoặc anh (chị) hoặc các bậc thầy hoặc thầy tế độ hoặc đức Phật hoặc các vị đệ tử hoặc một số người đáng kính khác. Đây gọi là nếp sống bất kính.

PTS cs 856Ở đây, thế nào là "sự chán nản" ? Sự chán nản, có sự chán nản, sự bất mãn, trạng thái bất mãn, sự e ngại đối với những trú xứ xa xôi hoặc một số thiện pháp cao thượng. Đây gọi là sự chán nản.

PTS cs 857Ở đây, thế nào là "sự thờ ơ" ? Cái gì là sự thờ ơ, trạng thái thờ ơ, sự trì trệ tâm ý, sự lười biếng, trạng thái lười biếng, tình trạng lười biếng. Đây gọi là sự thờ ơ.

PTS cs 858Ở đây, thế nào là "sự bồn chồn" ? Cái gì là sự giật mình co giật, sự bồn chồn, sự cúi ra phía trước, sự ngả ra phía sau, sự vặn vẹo, sự vươn người lên cao, sự cựa quậy của thân. Đây gọi là sự bồn chồn.

PTS cs 859Ở đây, thế nào là "sự uể oải sau bữa ăn" ? Cái gì ở người đã ăn xong là sự choáng váng vì thức ăn, sự mệt mỏi vì thức ăn, sự nóng bức vì thức ăn, sự bất ổn về thân thể. Đây gọi là sự uể oải sau bữa ăn.

PTS cs 860Ở đây, thế nào là "sự trì trệ tâm ý" ? Cái gì là sự không sẵn sàng của tâm thức, sự vụng về, sự sa sút, sự chùng xuống, sự trì trệ, trạng thái trì trệ, tình trạng trì trệ, sự lười nhác, trạng thái lười nhác, tình trạng tâm thức lười nhác. Đây gọi là sự trì trệ tâm ý.

PTS cs 861BA 459 Ở đây, thế nào là "sự xảo trá" ? Nơi người nương tựa vào lợi lộc, cung kính và danh tiếng, có ác dục, bị các ước muốn quấy nhiễu: bằng cách gọi là sử dụng các vật dụng, bằng cách nói bóng gió, bằng sự thiết lập hoặc sự sắp đặt hoặc sự sắp đặt đúng đắn về tư thế: có sự nhíu mày, hành vi nhíu mày, sự xảo trá, trạng thái xảo trá, tình trạng xảo trá. Đây gọi là sự xảo trá.

PTS cs 862Ở đây, thế nào là "lời nói bóng gió mê hoặc" ? Nơi người nương tựa vào lợi lộc, cung kính và danh tiếng, có ác dục, bị các ước muốn quấy nhiễu: cái gì đối với người khác là lời nói chào đón, lời nói bóng gió mê hoặc, lời nói mua vui, lời nói tán dương, lời nói xu nịnh, lời nói suy diễn, lời nói suy diễn lặp lại, lời nói dụ dỗ, lời nói dụ dỗ lặp lại, lời nói dễ chịu liên tục, sự nô lệ (trong lời nói), sự (nói) nịnh hót cầu cạnh, thái độ vỗ về (nâng niu). Đây gọi là lời nói bóng gió mê hoặc.

PTS cs 863Ở đây, thế nào là "sự ra hiệu" ? Nơi người nương tựa vào lợi lộc, cung kính và danh tiếng, có ác dục, PTS vp 353 bị các ước muốn quấy nhiễu: cái gì đối với người khác là một dấu hiệu, sự ra hiệu, lời nói ám chỉ, hành vi ám chỉ, lời nói bóng gió, lời nói vòng vo. Đây gọi là sự ra hiệu.

PTS cs 864Ở đây, thế nào là "sự phỉ báng" ? Nơi người nương tựa vào lợi lộc, cung kính và danh tiếng, có ác dục, bị các ước muốn quấy nhiễu: cái gì đối với người khác là sự lăng mạ, sự chửi rủa, sự trách móc, sự chế giễu, sự chế giễu lặp lại, sự nhạo báng, sự nhạo báng lặp lại, sự bôi nhọ, sự bôi nhọ lặp lại, sự ngồi lê đôi mách, sự nói xấu sau lưng. Đây gọi là sự phỉ báng.

PTS cs 865Ở đây, thế nào là "việc tìm lợi lộc bằng lợi lộc" ? Người nương tựa vào lợi lộc, cung kính và danh tiếng, có ác dục, bị các ước muốn quấy nhiễu, lấy những vật chất nhận được ở đây (mang đến nơi khác); mang đến đây những vật chất nhận được ở nơi khác; cái gì tương tự như vậy, sự ước muốn, sự tầm cầu, sự tầm cầu liên tục, hành vi ước muốn, hành vi tầm cầu, hành vi tầm cầu liên tục đối với vật chất. Đây gọi là việc tìm lợi lộc bằng lợi lộc.

PTS cs 866Ở đây, thế nào là ngã mạn rằng, "Ta hơn" ? Ở đây, một người nào đó do dòng dõi hoặc do gia tộc hoặc do gia đình tốt đẹp hoặc do thân hình xinh đẹp hoặc do tài sản hoặc do học vấn hoặc do lĩnh vực công việc hoặc do lĩnh vực nghề nghiệp hoặc do ngành khoa học hoặc do sự học hỏi hoặc do trí tuệ hoặc do một lý do nào đó khác làm khởi sanh ngã mạn; cái gì tương tự như vậy, BA 460 | ngã mạn, trạng thái ngã mạn, tình trạng ngã mạn, sự tự cao, sự ngạo mạn, (sự phất) cờ (kiêu hãnh), sự tự nhận, ước muốn của tâm thức đối với một biểu ngữ. Đây gọi là ngã mạn rằng, "Ta hơn".

PTS cs 867Ở đây, thế nào là ngã mạn rằng, "Ta bằng" ? Ở đây, một người nào đó do dòng dõi hoặc do gia tộc hoặc do gia đình tốt đẹp hoặc do thân hình xinh đẹp hoặc do tài sản hoặc do học vấn hoặc do lĩnh vực công việc hoặc do lĩnh vực nghề nghiệp hoặc do ngành khoa học hoặc do sự học hỏi hoặc do trí tuệ hoặc do một lý do nào đó khác làm khởi sanh ngã mạn; cái gì tương tự như vậy, ngã mạn, trạng thái ngã mạn, tình trạng ngã mạn, sự tự cao, sự ngạo mạn, (sự phất) cờ (kiêu hãnh), sự tự nhận, ước muốn của tâm thức đối với một biểu ngữ. Đây gọi là ngã mạn rằng, "Ta bằng".

PTS cs 868Ở đây, thế nào là ngã mạn rằng, "Ta kém" ? Ở đây, một người nào đó do dòng dõi hoặc do gia tộc hoặc do gia đình tốt đẹp hoặc do thân hình xinh đẹp hoặc do tài sản hoặc do học vấn hoặc do lĩnh vực công việc hoặc do lĩnh vực nghề nghiệp hoặc do ngành khoa học hoặc do sự học hỏi hoặc do trí tuệ hoặc do một lý do nào đó khác làm khởi sanh sự tự khinh; cái gì tương tự như vậy, sự tự khinh, trạng thái tự khinh, tình trạng tự khinh, sự tự chê bai, trạng thái rất tự chê bai, tình trạng rất tự chê bai, sự tự khinh miệt, sự tự xem thường, sự tự khinh rẻ. Đây gọi là ngã mạn rằng, "Ta kém". PTS vp 354

PTS cs 869Ở đây, nơi người hơn, thế nào là ngã mạn rằng, "Ta hơn" ? Ở đây, một người nào đó vốn hơn người do dòng dõi hoặc do gia tộc hoặc do gia đình tốt đẹp hoặc do thân hình xinh đẹp hoặc do tài sản hoặc do học vấn hoặc do lĩnh vực công việc hoặc do lĩnh vực nghề nghiệp hoặc do ngành khoa học hoặc do sự học hỏi hoặc do trí tuệ hoặc do một lý do nào đó khác tự đặt mình hơn người khác; người ấy, nương vào đó, làm khởi sanh ngã mạn; cái gì tương tự như vậy, ngã mạn, trạng thái ngã mạn, tình trạng ngã mạn, sự tự cao, sự ngạo mạn, (sự phất) cờ (kiêu hãnh), sự tự nhận, ước muốn của tâm thức đối với một biểu ngữ. Đây, nơi người hơn, gọi là ngã mạn rằng, "Ta hơn".

PTS cs 870Ở đây, nơi người hơn, thế nào là ngã mạn rằng, "Ta bằng" ? Ở đây, một người nào đó vốn hơn người do dòng dõi hoặc do gia tộc hoặc do gia đình tốt đẹp hoặc do thân hình xinh đẹp hoặc do tài sản hoặc do học vấn hoặc do lĩnh vực công việc hoặc do lĩnh vực nghề nghiệp hoặc do ngành khoa học hoặc do sự học hỏi hoặc do trí tuệ hoặc do một lý do nào đó khác tự đặt mình bằng người khác; người ấy, nương vào đó, làm khởi sanh BA 461 | ngã mạn; cái gì tương tự như vậy, ngã mạn, trạng thái ngã mạn, tình trạng ngã mạn, sự tự cao, sự ngạo mạn, (sự phất) cờ (kiêu hãnh), sự tự nhận, ước muốn của tâm thức đối với một biểu ngữ. Đây, nơi người hơn, gọi là ngã mạn rằng, "Ta bằng".

PTS cs 871Ở đây, nơi người hơn, thế nào là ngã mạn rằng, "Ta kém" ? Ở đây, một người nào đó vốn hơn người do dòng dõi hoặc do gia tộc hoặc do gia đình tốt đẹp hoặc do thân hình xinh đẹp hoặc do tài sản hoặc do học vấn hoặc do lĩnh vực công việc hoặc do lĩnh vực nghề nghiệp hoặc do ngành khoa học hoặc do sự học hỏi hoặc do trí tuệ hoặc do một lý do nào đó khác tự đặt mình kém hơn người khác; người ấy, nương vào đó, làm khởi sanh sự tự khinh; cái gì tương tự như vậy, sự tự khinh, trạng thái tự khinh, tình trạng tự khinh, sự tự chê bai, trạng thái rất tự chê bai, tình trạng rất tự chê bai, sự tự khinh miệt, sự tự xem thường, sự tự khinh rẻ. Đây, nơi người hơn, gọi là ngã mạn rằng, "Ta kém".

PTS cs 872Ở đây, nơi người bằng, thế nào là ngã mạn rằng, "Ta hơn" ? Ở đây, một người nào đó vốn bằng người do dòng dõi hoặc do gia tộc hoặc do gia đình tốt đẹp, hoặc do một lý do nào đó khác tự đặt mình hơn người khác; người ấy, nương vào đó, làm khởi sanh ngã mạn; cái gì tương tự như vậy, ngã mạn, trạng thái ngã mạn, tình trạng ngã mạn, ước muốn của tâm thức đối với một biểu ngữ. Đây, nơi người bằng, gọi là ngã mạn rằng, "Ta hơn".

– Các từ trung gian, xem đoạn 866.

PTS cs 873Ở đây, nơi người bằng, thế nào là ngã mạn rằng, "Ta bằng" ? Ở đây, một người nào đó vốn bằng người do dòng dõi hoặc do gia tộc hoặc do gia đình tốt đẹp,* hoặc do một lý do nào đó khác tự đặt mình bằng người khác; người ấy, nương vào đó, làm khởi sanh ngã mạn; cái gì tương tự như vậy, ngã mạn, trạng thái ngã mạn, tình trạng ngã mạn, sự tự cao, sự ngạo mạn, (sự phất) cờ (kiêu hãnh), sự tự nhận, ước muốn của tâm thức đối với một biểu ngữ. Đây, nơi người bằng, gọi là ngã mạn rằng, "Ta bằng".

– Các từ trung gian, xem đoạn 866.

Ở đây PTS cs 874, nơi người bằng, thế nào là ngã mạn rằng, "Ta kém" ? Ở đây, một người nào đó vốn bằng người do dòng dõi hoặc do gia tộc hoặc do gia đình tốt đẹp,* hoặc do một lý do nào đó khác tự đặt BA 462 | mình kém hơn người khác; người ấy, nương vào đó, làm khởi sanh sự tự khinh; cái gì tương tự như vậy, sự tự khinh, trạng thái tự khinh, tình trạng tự khinh, sự tự chê bai, trạng thái rất tự chê bai, tình trạng rất tự chê bai, sự tự khinh miệt, sự tự xem thường, sự tự khinh rẻ. Đây, nơi người bằng, gọi là ngã mạn rằng, "Ta kém".

– Các từ trung gian, xem đoạn 866.

Ở đây PTS cs 875, nơi người kém, thế nào là ngã mạn rằng, "Ta hơn" ? Ở đây, một người nào đó vốn kém hơn người do dòng dõi hoặc do gia tộc hoặc do gia đình tốt đẹp,* hoặc do một lý do nào đó khác tự đặt mình hơn người khác; người ấy, nương vào đó, làm khởi sanh ngã mạn; cái gì tương tự như vậy, ngã mạn, trạng thái ngã mạn, tình trạng ngã mạn, sự tự cao, sự ngạo mạn, (sự phất) cờ (kiêu hãnh), sự tự nhận, ước muốn của tâm thức đối với một biểu ngữ. Đây, nơi người kém, gọi là ngã mạn rằng, "Ta hơn".

– Các từ trung gian, xem đoạn 866.

PTS cs 876Ở đây, nơi người kém, thế nào là ngã mạn rằng, "Ta bằng" ? Ở đây, một người nào đó vốn kém hơn người do dòng dõi hoặc do gia tộc hoặc do gia đình tốt đẹp,* hoặc do một lý do nào đó khác tự đặt mình bằng người khác; người ấy, nương vào đó, làm khởi sanh ngã mạn; cái gì tương tự như vậy, ngã mạn, trạng thái ngã mạn, tình trạng ngã mạn, sự tự cao, sự ngạo mạn, PTS vp 355 (sự phất) cờ (kiêu hãnh), sự tự nhận, ước muốn của tâm thức đối với một biểu ngữ. Đây, nơi người kém, gọi là ngã mạn rằng, "Ta bằng".

– Các từ trung gian, xem đoạn 866.

PTS cs 877Ở đây, nơi người kém, thế nào là ngã mạn rằng, "Ta kém" ? Ở đây, một người nào đó vốn kém hơn người do dòng dõi hoặc do gia tộc hoặc do gia đình tốt đẹp,* hoặc do một lý do nào đó khác tự đặt mình kém hơn người khác; người ấy, nương vào đó, làm khởi sanh sự tự khinh; cái gì tương tự như vậy, sự tự khinh, trạng thái tự khinh, tình trạng tự khinh, sự tự chê bai, trạng thái rất tự chê bai, tình trạng rất tự chê bai, sự tự khinh miệt, sự tự xem thường, sự tự khinh rẻ. Đây, nơi người kém, gọi là ngã mạn rằng, "Ta kém".

– Các từ trung gian, xem đoạn 866.

PTS cs 878BA 463 Ở đây, thế nào là "ngã mạn" ? Cái gì là ngã mạn, trạng thái ngã mạn, tình trạng ngã mạn, sự tự cao, sự ngạo mạn, (sự phất) cờ (kiêu hãnh), sự tự nhận, ước muốn của tâm thức đối với một biểu ngữ. Đây gọi là ngã mạn.

PTS cs 879Ở đây, thế nào là "ngã mạn quá mức" ? Ở đây, một người nào đó do dòng dõi hoặc do gia tộc hoặc do gia đình tốt đẹp,* hoặc do một lý do nào đó khác tự xem mình vượt trội hơn người khác; cái gì tương tự như vậy, ngã mạn, trạng thái ngã mạn, tình trạng ngã mạn, sự tự cao, sự ngạo mạn, (sự phất) cờ (kiêu hãnh), sự tự nhận, ước muốn của tâm thức đối với một biểu ngữ. Đây gọi là ngã mạn quá mức.

– Các từ trung gian, xem đoạn 866.

PTS cs 880Ở đây, thế nào là "ngã mạn thái quá" ? Ở đây, một người nào đó do dòng dõi hoặc do gia tộc hoặc do gia đình tốt đẹp,* hoặc do một lý do nào đó khác trước tiên tự đặt mình bằng người khác, sau đó tự đặt mình hơn; cái gì tương tự như vậy, ngã mạn, trạng thái ngã mạn, tình trạng ngã mạn, sự tự cao, sự ngạo mạn, (sự phất) cờ (kiêu hãnh), sự tự nhận, ước muốn của tâm thức đối với một biểu ngữ. Đây gọi là ngã mạn thái quá.

– Các từ trung gian, xem đoạn 866.

PTS cs 881Ở đây, thế nào là "ngã mạn tự khinh" ? Ở đây, một người nào đó do dòng dõi hoặc do gia tộc hoặc do gia đình tốt đẹp hoặc do thân hình xinh đẹp hoặc do tài sản hoặc do học vấn hoặc do lĩnh vực công việc hoặc do lĩnh vực nghề nghiệp hoặc do ngành khoa học hoặc do sự học hỏi hoặc do trí tuệ hoặc do một lý do nào đó khác làm khởi sanh sự tự khinh; cái gì tương tự như vậy, sự tự khinh, trạng thái tự khinh, tình trạng tự khinh, sự tự chê bai, trạng thái rất tự chê bai, tình trạng rất tự chê bai, sự tự khinh miệt, sự tự xem thường, sự tự khinh rẻ. Đây gọi là ngã mạn tự khinh.

PTS cs 882Ở đây, thế nào là "ngã mạn đánh giá quá cao" ? Trong khi chưa đạt đến, lại có nhận thức rằng đã đạt đến; trong khi chưa làm, lại có nhận thức rằng đã làm; trong khi chưa chứng đắc, lại có nhận thức rằng đã chứng đắc; trong khi chưa liễu ngộ, lại có nhận thức rằng đã liễu ngộ; cái gì tương tự như vậy, ngã mạn, trạng thái ngã mạn, tình trạng ngã mạn, sự tự cao, sự ngạo mạn, (sự phất) cờ (kiêu hãnh), sự tự nhận, ước muốn của tâm thức đối với một biểu ngữ. Đây gọi là ngã mạn đánh giá quá cao. PTS vp 356

PTS cs 883BA 464 Ở đây, thế nào là "tự ngã mạn" ? Ngã mạn rằng, ta là sắc pháp; ước muốn rằng, ta là (sắc pháp); tùy miên rằng, ta là (sắc pháp); thọ. tưởng. các hành.* ngã mạn rằng, ta là thức; ước muốn rằng, ta là (thức); tùy miên rằng, ta là (thức); cái gì tương tự như vậy, ngã mạn, trạng thái ngã mạn, tình trạng ngã mạn, sự tự cao, sự ngạo mạn, (sự phất) cờ (kiêu hãnh), sự tự nhận, ước muốn của tâm thức đối với một biểu ngữ. Đây gọi là tự ngã mạn.

– Hoàn tất theo hình thức tổng quát của ví dụ cuối cùng.

PTS cs 884Ở đây, thế nào là "ngã mạn sai lầm" ? Ở đây, một người nào đó do lĩnh vực công việc xấu ác hoặc do lĩnh vực nghề nghiệp xấu ác hoặc do ngành khoa học xấu ác hoặc do sự học hỏi xấu ác hoặc do trí tuệ xấu ác hoặc do hành vi xấu ác hoặc do tập quán và thực hành xấu ác hoặc do tà kiến hoặc do một lý do nào đó khác làm khởi sanh ngã mạn; cái gì tương tự như vậy, ngã mạn, trạng thái ngã mạn, tình trạng ngã mạn, sự tự cao, sự ngạo mạn, (sự phất) cờ (kiêu hãnh), sự tự nhận, ước muốn của tâm thức đối với một biểu ngữ. Đây gọi là ngã mạn sai lầm.

PTS cs 885Ở đây, thế nào là "suy nghĩ về thân quyến" ? Sự suy tưởng, sự suy nghĩ, tà tư duy liên hệ đến các sự việc thế gian liên quan đến thân quyến. Đây gọi là suy nghĩ về thân quyến.

PTS cs 886Ở đây, thế nào là "suy nghĩ về (bản) xứ sở" ? Sự suy tưởng, sự suy nghĩ, tà tư duy liên hệ đến các sự việc thế gian liên quan đến (bản) xứ sở. Đây gọi là suy nghĩ về (bản) xứ sở.

PTS cs 887Ở đây, thế nào là "suy nghĩ về (cách) không chết và/hoặc (kiểu) lươn trườn" ? Sự suy tưởng, sự suy nghĩ, tà tư duy liên hệ đến sự khổ hạnh nghiêm khắc, liên hệ đến tà kiến, liên hệ đến các sự việc thế gian. Đây gọi là suy nghĩ về (cách) không chết và/hoặc (kiểu) lươn trườn.

PTS cs 888Ở đây, thế nào là "suy nghĩ liên hệ đến lòng thương cảm với người khác" ? Ở đây, một người nào đó sống gắn bó với các gia chủ, vui cùng họ, buồn cùng họ, hạnh phúc khi họ hạnh phúc, bất hạnh khi họ bất hạnh, khi có công việc phát sanh cần làm thì tự mình ra sức; cái gì trong đó là sự suy tưởng, sự suy nghĩ, tà tư duy liên hệ đến các sự việc BA 465 | thế gian. Đây gọi là suy nghĩ liên hệ đến lòng thương cảm với người khác.

PTS cs 889Ở đây, thế nào là "suy nghĩ liên hệ đến lợi lộc, được cung kính, danh tiếng" ? Sự suy tưởng, sự suy nghĩ, tà tư duy liên hệ đến các sự việc thế gian liên quan đến lợi lộc, cung kính và danh tiếng. Đây gọi là suy nghĩ liên hệ đến lợi lộc, được cung kính, danh tiếng.

PTS cs 890Ở đây, thế nào là "suy nghĩ liên hệ đến việc không bị khinh miệt" ? Ở đây, một người nào đó do dòng dõi hoặc do gia tộc hoặc do gia đình tốt đẹp hoặc do thân hình xinh đẹp hoặc do tài sản hoặc do học vấn hoặc do lĩnh vực công việc hoặc do lĩnh vực nghề nghiệp hoặc do ngành khoa học hoặc do sự học hỏi hoặc do trí tuệ hoặc do một lý do nào đó khác (nghĩ) rằng, "Mong người khác PTS vp 357 đừng khinh miệt ta"; cái gì trong đó là sự suy tưởng, sự suy nghĩ, tà tư duy liên hệ đến các sự việc thế gian. Đây gọi là suy nghĩ liên hệ đến việc không bị khinh miệt.

(Đến Đây Chấm Dứt) Quảng Diễn Đơn Phần

2. Quảng Diễn Song Phần

PTS cs 891Ở đây, thế nào là "phẫn nộ" ? Cái gì là phẫn nộ, trạng thái phẫn nộ, tình trạng phẫn nộ, sự sân hận, trạng thái sân hận, tình trạng sân hận, sự rối loạn, trạng thái rối loạn, tình trạng rối loạn, sự đối kháng, sự thù địch, sự hung dữ, sự đột ngột (thô bạo), sự vắng bặt niềm vui của tâm thức. Đây gọi là phẫn nộ.

Ở đây thế nào là "oán hận" ? Trước tiên có sự phẫn nộ, sau đó là oán hận; cái gì tương tự như vậy, sự oán hận, trạng thái oán hận, tình trạng oán hận, sự duy trì, sự lưu giữ, sự lưu giữ liên tục, tính liên tục, sự ràng buộc kế tiếp nhau, sự củng cố của phẫn nộ. Đây gọi là oán hận. (1)

PTS cs 892Ở đây, thế nào là "gièm pha" ? Cái gì là sự gièm pha, trạng thái gièm pha, tình trạng gièm pha, sự hạ thấp (người khác), hành vi hạ thấp. Đây gọi là gièm pha.

Ở đây thế nào là "dèm xiểm" ? Cái gì là sự dèm xiểm, trạng thái dèm xiểm, tình trạng dèm xiểm, gây tranh cãi, sự ganh đua, không nhượng bộ. Đây gọi là dèm xiểm. (2)

PTS cs 893Ở đây, thế nào là "ganh tị" ? Cái gì đối với lợi lộc, cung kính, được tôn trọng, sự quan tâm, sự chào hỏi kính lễ, sự cúng dường kính lễ dành cho người khác, là BA 466 | sự ganh tị, trạng thái ganh tị, tình trạng ganh tị, sự ghen ghét, trạng thái ghen ghét, tình trạng ghen ghét. Đây gọi là ganh tị.

Ở đây thế nào là "bủn xỉn" ? Năm (loại) bủn xỉn: Bủn xỉn (về) chỗ ở, bủn xỉn (về) gia đình, bủn xỉn (về) lợi lộc, bủn xỉn (về) danh tiếng, bủn xỉn (về) Giáo Pháp. Cái gì tương tự như vậy, sự bủn xỉn, trạng thái bủn xỉn, tình trạng bủn xỉn, sự keo kiệt, sự đê tiện, sự hà tiện, trạng thái tâm eo hẹp. Đây gọi là bủn xỉn. (3)

PTS cs 894Ở đây, thế nào là "man trá" ? Ở đây, một người nào đó đã tạo hành vi sai trái với thân, đã tạo hành vi sai trái với lời nói, đã tạo hành vi sai trái với ý; để che giấu (hành vi) đó liền khởi lên ác dục; người ấy mong ước rằng, "Mong không ai biết ta"; PTS vp 358 người ấy suy nghĩ rằng, "Mong không ai biết ta"; người ấy nói lời rằng, "Mong không ai biết ta"; người ấy cố gắng bằng thân rằng, "Mong không ai biết ta"; cái gì tương tự như vậy, sự man trá, trạng thái man trá, sự tô vẽ che đậy, sự lừa dối, sự lừa gạt, sự làm rối vấn đề, sự né tránh, sự che giấu, sự bí mật, sự ẩn giấu, sự bao che, sự không làm sáng tỏ, sự không làm cho biết, sự che giấu khéo léo, thủ đoạn. Đây gọi là man trá.

Ở đây thế nào là "ngoan cố giả dối" ? Ở đây, một người nào đó là kẻ giả dối, kẻ lừa đảo; cái gì trong đó là sự giả dối, trạng thái giả dối, tình trạng giả dối, sự thô lỗ, trạng thái thô lỗ, sự giả vờ, trạng thái giả vờ. Đây gọi là ngoan cố giả dối. (4)

PTS cs 895Ở đây, thế nào là "vô minh" ? Cái gì là sự vắng bặt tri kiến, sự vắng bặt kiến giải,* chướng ngại của vô minh, căn bất thiện của sự si mê. Đây gọi là vô minh.

– Xem đoạn 180.

Ở đây thế nào là "ái đối với hữu" ? Cái gì liên hệ đến hữu là ước muốn về hữu, tham dục về hữu, đam mê về hữu, ái đối với hữu, sự ưa thích hữu, sự thiêu đốt vì hữu, sự khao khát hữu, sự chấp thủ vào hữu. Đây gọi là ái đối với hữu. (5)

PTS cs 896Ở đây, thế nào là "kiến chấp hữu" ? "Linh hồn, cũng như thế giới, sẽ (tồn tại lại)", như vậy, cái gì tương tự như vậy, tà kiến, sự nương vào tà kiến,* sự nắm giữ điên đảo. Đây gọi là kiến chấp hữu.

– Xem đoạn 249.

Ở đây BA 467 thế nào là "kiến chấp phi hữu" ? "Linh hồn, cũng như thế giới, sẽ không (tồn tại lại)", như vậy, cái gì tương tự như vậy, tà kiến, sự nương vào tà kiến,* sự nắm giữ điên đảo. Đây gọi là kiến chấp phi hữu. (6)

– Xem đoạn 249.

PTS cs 897Ở đây, thế nào là "kiến chấp thường hằng" ? "Linh hồn, cũng như thế giới, là thường hằng", như vậy, cái gì tương tự như vậy, tà kiến, sự nương vào tà kiến,* sự nắm giữ điên đảo. Đây gọi là kiến chấp thường hằng.

– Xem đoạn 249.

Ở đây thế nào là "kiến chấp đoạn diệt" ? "Linh hồn, cũng như thế giới, sẽ đoạn diệt", như vậy, cái gì tương tự như vậy, tà kiến, sự nương vào tà kiến,* sự nắm giữ điên đảo. Đây gọi là kiến chấp đoạn diệt. (7)

– Xem đoạn 249.

PTS cs 898Ở đây, thế nào là "kiến chấp hữu biên" ? "Linh hồn, cũng như thế giới, là hữu biên", như vậy, cái gì tương tự như vậy, tà kiến, sự nương vào tà kiến,* sự nắm giữ điên đảo. Đây gọi là kiến chấp hữu biên. PTS vp 359

– Xem đoạn 249.

Ở đây thế nào là "kiến chấp vô biên" ? "Linh hồn, cũng như thế giới, là vô biên", như vậy, cái gì tương tự như vậy, tà kiến, sự nương vào tà kiến,* sự nắm giữ điên đảo. Đây gọi là kiến chấp vô biên. (8)

– Xem đoạn 249.

PTS cs 899Ở đây, thế nào là "kiến chấp về khởi thủy tối hậu" ? Liên quan đến khởi thủy tối hậu của (các loài hữu tình), cái gì khởi lên là tà kiến, sự nương vào tà kiến,* sự nắm giữ điên đảo. Đây gọi là kiến chấp về khởi thủy tối hậu.

– Xem đoạn 249.

Ở đây thế nào là "kiến chấp về chung cục tối hậu" ? Liên quan đến chung cục tối hậu (của các loài hữu tình), cái gì khởi lên là tà kiến, sự nương vào tà kiến,* sự nắm giữ điên đảo. Đây gọi là kiến chấp về chung cục tối hậu. (9)

– Xem đoạn 249.

PTS cs 900BA 468 Ở đây, thế nào là "vô tàm" ? Cái gì là sự không có sự hổ thẹn nơi đáng phải hổ thẹn, không có sự hổ thẹn khi phạm vào các ác bất thiện pháp. Đây gọi là vô tàm.

Ở đây thế nào là "vô quý" ? Cái gì là sự không có sự sợ hãi tội lỗi nơi đáng phải sợ hãi tội lỗi, không có sự sợ hãi tội lỗi khi phạm vào các ác bất thiện pháp. Đây gọi là vô quý. (10)

PTS cs 901Ở đây, thế nào là "ngoan cố" ? Khi được nói theo đúng với Giáo Pháp mà vẫn có hành vi ngoan cố, trạng thái ngoan cố, sự ngoan cố, sự trái ngược, sự bắt bẻ, sự coi thường, trạng thái coi thường, sự bất kính, sự không tôn trọng. Đây gọi là ngoan cố.

Ở đây thế nào là "có bạn ác" ? Có những người không có niềm tin, có giới hạnh sai trái, không có học vấn, bủn xỉn, không có trí tuệ. Cái gì là sự nương tựa vào, sự nương tựa mạnh mẽ vào, sự nương tựa hoàn toàn vào, sự đến gần, sự đến gần một cách thân mật, sự tận tụy với, sự tận tụy hoàn toàn với, sự vướng mắc với những người ấy. Đây gọi là có bạn ác. (11)

PTS cs 902Ở đây, thế nào là "không ngay thẳng" ? Cái gì là sự không ngay thẳng, sự không thẳng thắn, sự quanh co, sự uốn khúc, sự gian xảo. Đây gọi là không ngay thẳng.

Ở đây thế nào là "không nhu hòa" ? Cái gì là sự không mềm dẻo, sự thiếu nhu hòa, sự cứng cỏi, sự khắc nghiệt, tính cứng rắn, sự cứng nhắc, sự bất khả uốn nắn của tâm thức (tức là) sự không mềm dẻo. Đây gọi là không nhu hòa. (12) PTS vp 360

PTS cs 903Ở đây, thế nào là "thiếu kiên nhẫn" ? Cái gì là sự thiếu kiên nhẫn, trạng thái thiếu kiên nhẫn, sự vắng bặt lòng nhẫn nại, sự hung dữ, sự đột ngột (thô bạo), sự vắng bặt niềm vui của tâm thức. Đây gọi là thiếu kiên nhẫn.

Ở đây thế nào là "vô độ" ? Sự vi phạm về thân, sự vi phạm về lời nói, cả sự vi phạm về thân và lời nói. Đây gọi là vô độ. Cũng vậy, mọi hành vi xấu ác đều là vô độ. (13)

PTS cs 904Ở đây, thế nào là "thiếu sự mềm mỏng" ? Lời nói nào thô ráp, gay gắt, cay đắng đối với người khác, gây khó chịu cho người khác, gần với sự phẫn nộ, không đưa đến định tâm; lời nói được thốt ra tương tự như vậy. Cái gì trong đó là lời nói không trau chuốt, lời nói thiếu sự mềm mỏng, lời nói thô bạo. Đây gọi là thiếu sự mềm mỏng.

Ở đây BA 469 thế nào là "thiếu hiếu khách" ? Hai (loại) hiếu khách: Hiếu khách thế tục và hiếu khách về Giáo Pháp. Ở đây, một người nào đó thiếu hiếu khách đối với hiếu khách thế tục hoặc hiếu khách về Giáo Pháp. Đây gọi là thiếu hiếu khách. (14)

PTS cs 905Ở đây, thế nào là "không phòng hộ các cửa căn (giác quan)" ? Ở đây, một người nào đó, khi thấy một sắc (đối tượng) bằng mắt, nắm giữ tướng chung, nắm giữ tướng riêng. Vì lý do gì mà một người sống không chế ngự căn nhãn, thì tham lam và ưu não, các ác bất thiện pháp có thể (sẽ) theo sau.

Người ấy không thực hành sự chế ngự đối với điều đó; người ấy không phòng hộ căn nhãn; người ấy không thực hiện sự chế ngự nơi căn nhãn. Khi nghe một thanh (đối tượng) bằng tai. Khi ngửi một hương (đối tượng) bằng mũi. Khi nếm một vị (đối tượng) bằng lưỡi. Khi xúc chạm một xúc (đối tượng) bằng thân. Khi nhận thức một pháp (đối tượng ý niệm) bằng ý, nắm giữ tướng chung, nắm giữ tướng riêng. Vì lý do gì mà một người sống không chế ngự căn ý, thì tham lam và ưu não, các ác bất thiện pháp có thể (sẽ) theo sau.

Người ấy không thực hành sự chế ngự đối với điều đó; người ấy không phòng hộ căn ý; người ấy không thực hiện sự chế ngự nơi căn ý. Cái gì trong sáu căn này là sự không phòng hộ, sự không được phòng hộ, sự không bảo hộ, sự không chế ngự. Đây gọi là "không phòng hộ các cửa căn (giác quan)".

– Hoàn tất mỗi mục theo hình thức tổng quát của ví dụ đầu tiên.

Ở đây thế nào là "không biết chừng mực trong ăn uống" ? Ở đây, một người nào đó không quán xét, thọ dụng vật thực một cách không đúng đắn vì mục đích vui chơi, vì kiêu hãnh, vì vẻ đẹp thân thể, vì sự tráng kiện. Cái gì trong đó là sự bất mãn, sự không biết chừng mực, sự không quán xét về vật thực. Đây gọi là "không biết chừng mực trong ăn uống". (15)

PTS cs 906Ở đây, thế nào là "thất niệm" ? Cái gì là sự vắng bặt chánh niệm, sự vắng bặt chánh niệm liên tục, sự vắng bặt sự ghi nhớ, sự vắng bặt chánh niệm, sự vắng bặt hành vi ghi nhớ, sự vắng bặt sự khắc ghi trong tâm, tính hời hợt, sự hay quên. Đây gọi là thất niệm. PTS vp 361

Ở đây thế nào là "thiếu tỉnh giác" ? Cái gì là sự vắng bặt BA 470 | tri kiến, sự vắng bặt kiến giải,* chướng ngại của vô minh, căn bất thiện của sự si mê. Đây gọi là thiếu tỉnh giác. (16)

– Xem đoạn 180.

PTS cs 907Ở đây, thế nào là "sự sa sút về giới" ? Cái gì là sự vi phạm về thân, sự vi phạm về lời nói, cả sự vi phạm về thân và lời nói. Đây gọi là sự sa sút về giới. Cũng vậy, mọi giới hạnh sai trái đều là sự sa sút về giới.

Ở đây thế nào là "tà kiến sai lạc" ? "Không có sự bố thí; không có sự hiến tế, (không có) những người tự mình đã liễu tri hoàn toàn, đã chứng ngộ thế giới này và thế giới sau mà công bố (cho người khác biết)"; cái gì tương tự như vậy, tà kiến, sự nương vào tà kiến,2 sự nắm giữ điên đảo. Đây gọi là tà kiến sai lạc. Cũng vậy, mọi tà kiến đều là tà kiến sai lạc. (17)

– Xem đoạn 971.

*2 Xem đoạn 249.

PTS cs 908Ở đây, thế nào là "kiết sử nội phần" ? Năm kiết sử thuộc hạ phần là kiết sử nội phần; năm kiết sử thuộc thượng phần là kiết sử ngoại phần. (18)

(Đến Đây Chấm Dứt) Quảng Diễn Song Phần

3. Quảng Diễn Tam Phần

PTS cs 909Ở đây, thế nào là "ba căn bất thiện" ? Tham, sân, si.

Ở đây thế nào là tham ? Cái gì là sự tham đắm, sự say đắm, sự quyến rũ, sự thuận theo, tham dục, tham dục say đắm, sự say đắm của tâm thức, sự ước muốn, sự khao khát, sự chấp thủ, lòng tham lam, lòng tham lam vô độ, sự dính mắc, sự nhớp nhúa, sự dụ dỗ, sự lừa dối, mẹ sinh sản (nguồn gốc), mẹ sinh sản trói buộc, người thợ may (khâu vá số phận), kẻ giăng bẫy, dòng sông, sự trải rộng, (sợi) dây câu, sự lan tràn, kẻ xúi giục, người bạn đời, sự thèm khát, người dẫn đường đến hữu, khu rừng, rừng rậm, sự thân mật, sự ưa thích, sự (tham) quan tâm, quyến thuộc, sự thiếu thốn, sự mong muốn, tình trạng mong muốn, sự mong muốn các sắc (đối tượng), sự mong muốn các thanh (đối tượng), sự mong muốn các hương (đối tượng), sự mong muốn các vị (đối tượng), sự mong muốn các xúc (đối tượng),

sự mong muốn lợi lộc, sự mong muốn của cải, sự mong muốn con cái, sự mong muốn sinh mạng, sự lẩm bẩm, sự lẩm bẩm quá mức, hành vi lẩm bẩm, tình trạng lẩm bẩm, sự tự nuông chiều, trạng thái tự nuông chiều, tình trạng tự nuông chiều, sự dao động, ước muốn điều tốt đẹp hơn, dục vọng loạn luân, lòng tham phi pháp, sự mong mỏi, PTS vp 362 hành vi mong mỏi, BA 471 | sự khẩn cầu, sự ưa thích, sự nài xin, ái đối với dục lạc, ái đối với hữu, ái đối với phi hữu, ái đối với sắc, ái đối với vô sắc, ái đối với sự đoạn diệt, ái đối với các sắc (đối tượng), ái đối với các thanh (đối tượng), ái đối với các hương (đối tượng), ái đối với các vị (đối tượng), ái đối với các xúc (đối tượng), ái đối với các pháp (đối tượng ý niệm), bộc lưu, phược, triền, thủ, chướng ngại, triền cái, sự che lấp, sự trói buộc,

sự đồi bại, tùy miên, sự chiếm đoạt, dây leo, lòng tham lam, cội gốc của khổ đau, nguồn gốc của khổ đau, xuất xứ của khổ đau, cạm bẫy của Ma Vương, lưỡi câu của Ma Vương, lãnh địa của Ma Vương, dòng sông ái, lưới ái, dây xích ái, đại dương ái, lòng tham muốn, căn bất thiện của tham.

Đây gọi là tham.

Ở đây thế nào là sân ? "Người này đã làm hại ta", như vậy sự ưu não khởi lên; "Người này đang làm hại ta", như vậy sự ưu não khởi lên; "Người này sẽ làm hại ta", như vậy sự ưu não khởi lên; "Người này đã làm hại người thân yêu và dễ mến đối với ta, đang làm hại, sẽ làm hại", như vậy sự ưu não khởi lên; "Người này đã làm điều tốt cho người không thân yêu và không dễ mến đối với ta, đang làm điều tốt, sẽ làm điều tốt", như vậy sự ưu não khởi lên; hoặc sự ưu não khởi lên một cách vô lý.

Cái gì tương tự như vậy, sự ưu não của tâm thức, sự oán giận, sự chống đối, sự thù địch, sự bực bội, sự phẫn khích, sự tức giận, sự sân hận, sự căm ghét, sự ghê tởm, sự rối loạn tâm ý, sự chán ghét, sự phẫn nộ, trạng thái phẫn nộ, tình trạng phẫn nộ, sự sân hận, trạng thái sân hận, tình trạng sân hận, sự rối loạn, trạng thái rối loạn, sự đối kháng, sự thù địch, sự hung dữ, sự đột ngột (thô bạo), sự vắng bặt niềm vui của tâm thức.

Đây gọi là sân.

– Hoàn tất một cách thích hợp.

Ở đây thế nào là si ? Sự vắng bặt tri kiến về khổ; sự vắng bặt tri kiến về nguyên nhân của khổ; sự vắng bặt tri kiến về sự đoạn diệt khổ; sự vắng bặt tri kiến về con đường đưa đến sự đoạn diệt khổ; sự vắng bặt tri kiến về khởi thủy tối hậu (của các loài hữu tình); sự vắng bặt tri kiến về chung cục tối hậu (của các loài hữu tình); sự vắng bặt tri kiến về cả khởi thủy tối hậu lẫn chung cục tối hậu (của các loài hữu tình); sự vắng bặt tri kiến về tính nhân duyên đặc thù và các pháp duyên sinh; cái gì tương tự như vậy, sự vắng bặt tri kiến, sự vắng bặt kiến giải,* chướng ngại của vô minh, căn bất thiện của si. Đây gọi là si. Đây là ba căn bất thiện. (1)

– Xem đoạn 180.

PTS cs 910BA 472 Ở đây, thế nào là "ba (loại) tà tư duy" ? Tư duy (liên hệ) tham dục, tư duy (liên hệ) sân hận, tư duy (liên hệ) hại (tàn nhẫn).

Ở đây thế nào là tư duy (liên hệ) tham dục ? Sự suy tưởng, sự suy nghĩ, tà tư duy liên hệ đến tham dục. Đây gọi là tư duy (liên hệ) tham dục. PTS vp 363

Ở đây thế nào là tư duy (liên hệ) sân hận ? Sự suy tưởng, sự suy nghĩ, tà tư duy liên hệ đến sân hận. Đây gọi là tư duy (liên hệ) sân hận.

Ở đây thế nào là tư duy (liên hệ) hại ? Sự suy tưởng, sự suy nghĩ, tà tư duy liên hệ đến hại. Đây gọi là tư duy (liên hệ) hại. Đây là ba (loại) tà tư duy. (2)

PTS cs 911Ở đây, thế nào là ba (loại) tà tưởng ? Tưởng (liên hệ) tham dục, tưởng (liên hệ) sân hận, tưởng (liên hệ) hại.

Ở đây thế nào là tưởng (liên hệ) tham dục ? Sự tưởng, hành vi tưởng, trạng thái tưởng liên hệ với tham dục. Đây gọi là tưởng (liên hệ) tham dục.

Ở đây thế nào là tưởng (liên hệ) sân hận ? Sự tưởng, hành vi tưởng, trạng thái tưởng liên hệ với sân hận. Đây gọi là tưởng (liên hệ) sân hận.

Ở đây thế nào là tưởng (liên hệ) hại ? Sự tưởng, hành vi tưởng, trạng thái tưởng liên hệ với hại. Đây gọi là tưởng (liên hệ) hại. Đây là ba (loại) tà tưởng. (3)

PTS cs 912Ở đây, thế nào là "ba giới bất thiện" ? Giới tham dục, giới sân hận, giới hại.

Ở đây thế nào là giới tham dục ? Tư duy (liên hệ) tham dục là giới tham dục; tư duy (liên hệ) sân hận là giới sân hận; tư duy (liên hệ) hại là giới hại.

Ở đây thế nào là tư duy (liên hệ) tham dục ? Sự suy tưởng, sự suy nghĩ, tà tư duy liên hệ đến tham dục. Đây gọi là tư duy (liên hệ) tham dục.

Ở đây thế nào là tư duy (liên hệ) sân hận ? Sự suy tưởng, sự suy nghĩ, tà tư duy liên hệ đến sân hận. Đây gọi là tư duy (liên hệ) sân hận.

Ở đây BA 473 thế nào là tư duy (liên hệ) hại ? Sự suy tưởng, sự suy nghĩ, tà tư duy liên hệ đến hại. Đây gọi là tư duy (liên hệ) hại. Đây là ba giới bất thiện. (4)

PTS cs 913Ở đây, thế nào là ba (loại) tà nghiệp ? Tà thân nghiệp, tà khẩu nghiệp, tà ý nghiệp.

Ở đây thế nào là tà thân nghiệp ? Sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục. Đây gọi là tà thân nghiệp.

Ở đây thế nào là tà khẩu nghiệp ? Vọng ngữ, lời nói vu khống (ly gián), lời nói thô ác, lời nói phù phiếm. Đây gọi là tà khẩu nghiệp.

Ở đây thế nào là tà ý nghiệp ? PTS vp 364 Tham lam, sân hận, tà kiến. Đây gọi là tà ý nghiệp.

Ở đây thế nào là tà thân nghiệp ? Thân nghiệp bất thiện là tà thân nghiệp; khẩu nghiệp bất thiện là tà khẩu nghiệp; ý nghiệp bất thiện là tà ý nghiệp.

Ở đây thế nào là thân nghiệp bất thiện ? Tư (ý chí) bất thiện về thân là thân nghiệp bất thiện; tư bất thiện về khẩu là khẩu nghiệp bất thiện; tư bất thiện về ý là ý nghiệp bất thiện. Đây là ba (loại) tà nghiệp. (5)

PTS cs 914Ở đây, thế nào là "ba cấu uế" ? Cấu uế của dục, cấu uế của hữu, cấu uế của vô minh.

Ở đây thế nào là cấu uế của dục ? Cái gì liên hệ đến dục là ước muốn về dục lạc, tham dục về dục lạc, đam mê về dục lạc, ái đối với dục lạc, sự ưa thích dục lạc, sự thiêu đốt vì dục lạc, sự khao khát dục lạc, sự chấp thủ vào dục lạc. Đây gọi là cấu uế của dục.

Ở đây thế nào là cấu uế của hữu ? Cái gì liên hệ đến hữu là ước muốn về hữu,* sự chấp thủ vào hữu. Đây gọi là cấu uế của hữu.

– Xem đoạn 895.

Ở đây thế nào là cấu uế của vô minh ? Sự vắng bặt tri kiến về khổ,* chướng ngại của vô minh, căn bất thiện của si. Đây gọi là cấu uế của vô minh. Đây là ba cấu uế.

– Xem đoạn 909.

PTS cs 915BA 474 Ở đây, thế nào là "ba kiết sử" ? Thân kiến (kiến chấp về cá thể), hoài nghi, giới cấm thủ (sự chấp thủ tập quán và thực hành).

Ở đây thế nào là thân kiến ? Ở đây, kẻ phàm phu chưa được nghe học, không nhận biết các bậc Thánh, không thông thạo giáo pháp của các bậc Thánh, không được huấn luyện trong giáo pháp của các bậc Thánh; không nhận biết các bậc thiện nhân, không thông thạo giáo pháp của các bậc thiện nhân, không được huấn luyện trong giáo pháp của các bậc thiện nhân; xem sắc pháp là linh hồn; hoặc xem linh hồn như có sắc pháp; hoặc xem sắc pháp (như ở) trong linh hồn; hoặc xem linh hồn (như ở) trong sắc pháp; thọ. tưởng. các hành. xem thức là linh hồn; hoặc xem linh hồn như có thức; hoặc xem thức (như ở) trong linh hồn; hoặc xem linh hồn (như ở) trong thức; cái gì tương tự như vậy, tà kiến, sự nương vào tà kiến,2 sự nắm giữ điên đảo. Đây gọi là thân kiến.

– Hoàn tất mỗi mục theo hình thức tổng quát của ví dụ cuối cùng.

*2 Xem đoạn 249.

Ở đây thế nào là hoài nghi ? Người ta bối rối, hoài nghi về Bậc Đạo Sư; người ta bối rối, hoài nghi về Giáo Pháp; người ta bối rối, hoài nghi về Tăng Đoàn; người ta bối rối, hoài nghi về các học giới; người ta bối rối, hoài nghi về khởi thủy tối hậu (của các loài hữu tình); người ta bối rối, hoài nghi về chung cục tối hậu (của các loài hữu tình); người ta bối rối, hoài nghi về cả khởi thủy tối hậu lẫn chung cục tối hậu (của các loài hữu tình); người ta bối rối, hoài nghi về tính nhân duyên đặc thù và các pháp duyên sinh; cái gì tương tự như vậy, sự bối rối, trạng thái bối rối, tình trạng bối rối, sự cứng rắn của tâm thức, sự chai sạn tâm ý. Đây gọi là hoài nghi.

Ở đây thế nào là giới cấm thủ ? (Niềm tin vào) sự thanh tịnh hóa nhờ tập quán, sự thanh tịnh hóa nhờ thực hành, sự thanh tịnh hóa nhờ cả tập quán lẫn thực hành của các sa-môn và Bà-la-môn ở ngoài (Giáo Pháp) này; cái gì tương tự như vậy, tà kiến, sự nương vào tà kiến,* sự nắm giữ điên đảo. Đây gọi là giới cấm thủ. Đây là ba kiết sử. (7)

– Xem đoạn 249.

PTS cs 916Ở đây, thế nào là "ba (loại) ái" ? Ái đối với dục lạc, ái đối với hữu, ái đối với phi hữu.

Ở đây thế nào là ái đối với hữu ? Sự tham đắm, sự say đắm, sự say đắm của tâm thức đi kèm với kiến chấp hữu. Đây gọi là ái đối với hữu.

Ở đây thế nào là ái đối với phi hữu ? Sự tham đắm, sự say đắm, BA 475 | sự say đắm của tâm thức đi kèm với kiến chấp đoạn diệt. Đây gọi là ái đối với phi hữu. Ái còn lại là ái đối với dục lạc.

Ở đây thế nào là ái đối với dục lạc ? Sự tham đắm, sự say đắm, sự say đắm của tâm thức liên hệ với giới tham dục. Đây gọi là ái đối với dục lạc. Sự tham đắm, sự say đắm, sự say đắm của tâm thức liên hệ với giới sắc và giới vô sắc. Đây gọi là ái đối với hữu. Sự tham đắm, sự say đắm, sự say đắm của tâm thức đi kèm với kiến chấp đoạn diệt. Đây gọi là ái đối với phi hữu. Đây là ba (loại) ái. (8)

PTS cs 917Ở đây, thế nào là "ba (loại) ái khác" ? Ái đối với dục lạc, ái đối với sắc, ái đối với vô sắc.

Ở đây thế nào là ái đối với dục lạc ? Sự tham đắm, sự say đắm, sự say đắm của tâm thức liên hệ với giới tham dục. Đây gọi là ái đối với dục lạc.
PTS vp 366 Ở đây thế nào là ái đối với sắc ? Sự tham đắm, sự say đắm, sự say đắm của tâm thức liên hệ với giới sắc. Đây gọi là ái đối với sắc.

Ở đây thế nào là ái đối với vô sắc ? Sự tham đắm, sự say đắm, sự say đắm của tâm thức liên hệ với giới vô sắc. Đây gọi là ái đối với vô sắc. Đây là ba (loại) ái. (9)

PTS cs 918Ở đây, thế nào là ba (loại) ái khác nữa ? Ái đối với sắc, ái đối với vô sắc, ái đối với sự đoạn diệt.

Ở đây thế nào là ái đối với sắc ? Sự tham đắm, sự say đắm, sự say đắm của tâm thức liên hệ với giới sắc. Đây gọi là ái đối với sắc.

Ở đây thế nào là ái đối với vô sắc ? Sự tham đắm, sự say đắm, sự say đắm của tâm thức liên hệ với giới vô sắc. Đây gọi là ái đối với vô sắc.

Ở đây BA 476 thế nào là ái đối với sự đoạn diệt ? Sự tham đắm, sự say đắm, sự say đắm của tâm thức đi kèm với kiến chấp đoạn diệt. Đây gọi là ái đối với sự đoạn diệt. Đây là ba (loại) ái. (10)

PTS cs 919Ở đây, thế nào là "ba (loại) tầm cầu" ? Tầm cầu dục lạc, tầm cầu hữu, tầm cầu phạm hạnh tối thượng.

Ở đây thế nào là tầm cầu dục lạc ? Cái gì liên hệ đến tham dục là ước muốn về dục lạc,* sự chấp thủ vào dục lạc. Đây gọi là tầm cầu dục lạc.

– Xem đoạn 914.

Ở đây thế nào là tầm cầu hữu ? Cái gì liên hệ đến hữu là ước muốn về hữu,* sự chấp thủ vào hữu. Đây gọi là tầm cầu hữu.

– Xem đoạn 895.

Ở đây thế nào là tầm cầu phạm hạnh tối thượng ? "Thế giới là thường hằng" hoặc "Thế giới là không thường hằng" hoặc, "Một chúng sanh sau khi chết vừa không tồn tại vừa không phải không tồn tại"; cái gì tương tự như vậy, tà kiến, sự nương vào tà kiến,2 sự nắm giữ điên đảo. Đây gọi là tầm cầu phạm hạnh tối thượng.

– Xem đoạn 815.

*2 Xem đoạn 249.

Ở đây thế nào là tầm cầu dục lạc ? Tham dục đối với dục lạc và thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp bất thiện xảy ra cùng với nó. Đây gọi là tầm cầu dục lạc.

Ở đây thế nào là tầm cầu hữu ? Tham dục đối với hữu và thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp bất thiện xảy ra cùng với nó. Đây gọi là tầm cầu hữu. PTS vp 367

Ở đây thế nào là tầm cầu phạm hạnh tối thượng ? Kiến chấp cực đoan và thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp bất thiện xảy ra cùng với nó. Đây gọi là tầm cầu phạm hạnh tối thượng. Đây là ba (loại) tầm cầu. (11)

PTS cs 920Ở đây, thế nào là "ba (loại) ngã mạn tính" ? Ngã mạn tính rằng, "Ta hơn"; ngã mạn tính rằng, "Ta bằng"; ngã mạn tính rằng, "Ta kém". Đây là ba (loại) ngã mạn tính. (12)

PTS cs 921Ở đây, thế nào là ba (loại) sợ hãi ? Sợ hãi sự sanh, sợ hãi sự già, sợ hãi sự chết.

Ở đây BA 477 thế nào là sợ hãi sự sanh ? Sự sợ hãi, trạng thái sợ hãi, sự run rẩy, sự dựng tóc gáy, sự khủng hoảng tâm lý tùy thuộc vào sự sanh. Đây gọi là sợ hãi sự sanh.

Ở đây thế nào là sợ hãi sự già ? Sự sợ hãi, trạng thái sợ hãi, sự run rẩy, sự dựng tóc gáy, sự khủng hoảng tâm lý tùy thuộc vào sự già. Đây gọi là sợ hãi sự già.

Ở đây thế nào là sợ hãi sự chết ? Sự sợ hãi, trạng thái sợ hãi, sự run rẩy, sự dựng tóc gáy, sự khủng hoảng tâm lý tùy thuộc vào sự chết. Đây gọi là sợ hãi sự chết. Đây là ba (loại) sợ hãi. (13)

PTS cs 922Ở đây, thế nào là "ba (loại) tăm tối" ? Liên quan đến thời quá khứ, người ta bối rối, hoài nghi, bất định, không rõ ràng; hoặc liên quan đến thời vị lai, người ta bối rối, hoài nghi, bất định, không rõ ràng; hoặc hiện nay, liên quan đến thời hiện tại, người ta bối rối, hoài nghi, bất định, không rõ ràng. Đây là ba (loại) tăm tối. (14)

PTS cs 923Ở đây, thế nào là "ba nền tảng của tà thuyết" ? Ở đây, một sa-môn hoặc Bà-la-môn nào đó nói như vậy, có quan điểm như vậy, "Bất cứ lạc, khổ, hoặc không khổ không lạc nào mà một người trải nghiệm, tất cả đều do nghiệp quá khứ"; cũng ở đây, một sa-môn hoặc Bà-la-môn nào đó nói như vậy, có quan điểm như vậy, "Bất cứ lạc, khổ, hoặc không khổ không lạc nào mà một người trải nghiệm, tất cả đều do sự tạo tác của một đấng tối cao"; cũng ở đây, một sa-môn hoặc Bà-la-môn nào đó nói như vậy, có quan điểm như vậy, "Bất cứ lạc, khổ, hoặc không khổ không lạc nào mà một người trải nghiệm, PTS vp 368 tất cả đều không có nguyên nhân, không có lý do". Đây là ba nền tảng của tà thuyết. (15)

PTS cs 924Ở đây, thế nào là "ba (loại) chướng ngại" ? Chướng ngại của tham dục; chướng ngại của sân hận; chướng ngại của si. Đây là ba (loại) chướng ngại. (16)

Ở đây, thế nào là "ba (loại) nhiễm ô" ? Nhiễm ô của tham dục; nhiễm ô của sân hận; nhiễm ô của si. Đây là ba (loại) nhiễm ô. (17)

Ở đây, thế nào là "ba (loại) bất tịnh" ? Bất tịnh của tham dục; bất tịnh của sân hận; bất tịnh của si. Đây là ba (loại) bất tịnh. (18)

Ở đây, thế nào là "ba (loại) sai khác" ? Sai khác của tham dục; sai khác của sân hận; sai khác của si. Đây là ba (loại) sai khác. (19)

Ở đây BA 478 thế nào là "ba (loại) sai khác khác" ? Sai khác về (hành vi) thân; sai khác về (hành vi) khẩu; sai khác về (hành vi) ý. Đây là ba (loại) sai khác. (20)

Ở đây thế nào là "ba (loại) lửa" ? Lửa tham dục; lửa sân hận; lửa si. Đây là ba (loại) lửa. (21)

Ở đây thế nào là "ba (loại) gay gắt" ? Sự gay gắt của tham dục; sự gay gắt của sân hận; sự gay gắt của si. Đây là ba (loại) gay gắt. (22)

Ở đây thế nào là "ba (loại) gay gắt khác" ? Sự gay gắt của (hành vi) thân; sự gay gắt của (hành vi) khẩu; sự gay gắt của (hành vi) ý. Đây là ba (loại) gay gắt. (23)

PTS cs 925Ở đây, thế nào là "kiến chấp về vị ngọt (thỏa thích)" ? Ở đây, một sa-môn hoặc Bà-la-môn nào đó nói như vậy, có quan điểm như vậy, "Không có lỗi lầm gì trong các dục lạc"; người ấy đắm chìm vào các dục lạc. Đây gọi là kiến chấp về vị ngọt.

Ở đây thế nào là "kiến chấp về linh hồn" ? Ở đây, kẻ phàm phu chưa được nghe học, không nhận biết các bậc Thánh, không thông thạo giáo pháp của các bậc Thánh, không được huấn luyện trong giáo pháp của các bậc Thánh; không nhận biết các bậc thiện nhân, không thông thạo giáo pháp của các bậc thiện nhân, không được huấn luyện trong giáo pháp của các bậc thiện nhân; xem sắc pháp là linh hồn; hoặc xem linh hồn như có sắc pháp; hoặc xem sắc pháp (như ở) trong linh hồn; hoặc xem linh hồn (như ở) trong sắc pháp; thọ. tưởng. các hành. xem thức là linh hồn; hoặc xem linh hồn như có thức; hoặc xem thức (như ở) trong linh hồn; hoặc xem linh hồn (như ở) trong thức; cái gì tương tự như vậy, tà kiến, sự nương vào tà kiến,2 sự nắm giữ điên đảo. Đây gọi là kiến chấp về linh hồn. PTS vp 369

– Hoàn tất mỗi mục theo hình thức tổng quát của ví dụ cuối cùng.

*2 Xem đoạn 249.

Ở đây thế nào là "tà kiến" ? "Không có sự bố thí; không có sự hiến tế, (không có) những người tự mình đã liễu tri hoàn toàn, đã chứng ngộ thế giới này và thế giới sau mà công bố (cho người khác biết)"; cái gì tương tự như vậy, tà kiến, sự nương vào tà kiến,2 sự nắm giữ điên đảo. Đây gọi là tà kiến, cũng gọi là kiến chấp thường hằng, kiến chấp về vị ngọt, thân kiến, kiến chấp về linh hồn, kiến chấp đoạn diệt, tà kiến.

– Xem đoạn 971.

*2 Xem đoạn 249.

PTS cs 926BA 479 Ở đây, thế nào là "sự chán nản" ? Sự chán nản, có sự chán nản, sự bất mãn, trạng thái bất mãn, sự e ngại đối với những trú xứ xa xôi hoặc một số thiện pháp cao thượng. Đây gọi là sự chán nản.

Ở đây thế nào là "gây phiền nhiễu" ? Ở đây, một người nào đó làm tổn hại (các) chúng sanh khác bằng tay hoặc bằng cục đất hoặc bằng gậy hoặc bằng gươm hoặc bằng dây thừng hoặc bằng vật này hoặc vật khác; cái gì tương tự như vậy, sự quấy nhiễu, sự làm tổn hại, sự làm phiền, sự gây thương tổn, sự khiêu khích, sự làm nổi giận, sự đánh đập người khác. Đây gọi là gây phiền nhiễu.

Ở đây thế nào là "hành vi sai trái" ? Hành vi sai trái, hành vi phi pháp bằng thân; hành vi sai trái, hành vi phi pháp bằng lời nói; hành vi sai trái, hành vi phi pháp bằng ý. Đây gọi là hành vi sai trái. (25)

PTS cs 927Ở đây, thế nào là "ngoan cố" ? Khi được nói theo đúng với Giáo Pháp mà vẫn có hành vi ngoan cố, trạng thái ngoan cố, sự ngoan cố, sự trái ngược, sự bắt bẻ, sự coi thường, trạng thái coi thường, sự bất kính, sự không tôn trọng. Đây gọi là ngoan cố.

Ở đây thế nào là "có bạn ác" ? Có những người không có niềm tin, có giới hạnh sai trái, không có học vấn, bủn xỉn, không có trí tuệ; cái gì là sự nương tựa vào, sự nương tựa mạnh mẽ vào, sự nương tựa hoàn toàn vào, sự đến gần, sự đến gần một cách thân mật, sự tận tụy với, sự tận tụy hoàn toàn với, sự vướng mắc với những người ấy. Đây gọi là có bạn ác.

Ở đây thế nào là "sự sai khác trong tưởng" ? Tưởng (liên hệ) tham dục, tưởng (liên hệ) sân hận, tưởng (liên hệ) hại. Đây gọi là sự sai khác trong tưởng. Mọi tà tưởng đều là sự sai khác trong tưởng. (26)

PTS cs 928Ở đây, thế nào là "sự xao lãng" ? Cái gì là sự xao lãng của tâm thức, sự bất an, sự dao động của tâm ý, sự náo động của tâm thức. Đây gọi là sự xao lãng.

Ở đây thế nào là "sự biếng nhác" ? Hành vi thân sai trái hoặc hành vi khẩu sai trái hoặc hành vi ý sai trái PTS vp 370 hoặc sự khuất phục và liên tục khuất phục của tâm thức trước năm dục trưởng dưỡng, hoặc không làm việc cẩn trọng, không làm việc liên tục, làm việc gián đoạn, trì trệ, buông bỏ ước muốn, buông bỏ phận sự, không theo đuổi, không phát triển, không lặp lại, không quyết tâm, không thực hành, phóng dật trong việc phát triển các thiện pháp. Đây gọi là sự biếng nhác.

Ở đây thế nào là "phóng dật" ? Hành vi thân sai trái hoặc hành vi BA 480 | khẩu sai trái hoặc hành vi ý sai trái, hoặc sự khuất phục và liên tục khuất phục của tâm thức trước năm dục trưởng dưỡng, hoặc không làm việc cẩn trọng, không làm việc liên tục, làm việc gián đoạn, trì trệ, buông bỏ ước muốn, buông bỏ phận sự, không theo đuổi, không phát triển, không lặp lại, không quyết tâm, không thực hành, phóng dật trong việc phát triển các thiện pháp; cái gì tương tự như vậy, sự phóng dật, trạng thái phóng dật, tình trạng phóng dật. Đây gọi là phóng dật. (27)

PTS cs 929Ở đây, thế nào là "sự bất mãn" ? Sự ham muốn lớn hơn của người không thỏa mãn với các vật dụng như y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, dược phẩm trị bệnh, hoặc với năm dục trưởng dưỡng; cái gì tương tự như vậy, sự ước muốn, hành vi ước muốn, sự bất mãn, tham dục, sự say đắm, sự say đắm của tâm thức. Đây gọi là sự bất mãn.

Ở đây thế nào là "thiếu tỉnh giác" ? Cái gì là sự vắng bặt tri kiến, sự vắng bặt kiến giải,* chướng ngại của vô minh, căn bất thiện của si. Đây gọi là thiếu tỉnh giác.

– Xem đoạn 180.

Ở đây thế nào là "ước muốn điều nhiều nhất" ? Sự ham muốn lớn hơn của người không thỏa mãn với các vật dụng như y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, dược phẩm trị bệnh, hoặc với năm dục trưởng dưỡng; cái gì tương tự như vậy, sự ước muốn, hành vi ước muốn, ước muốn điều nhiều nhất, tham dục, sự say đắm, sự say đắm của tâm thức. Đây gọi là ước muốn điều nhiều nhất. (28)

PTS cs 930Ở đây, thế nào là "vô tàm" ? Cái gì là sự không có sự hổ thẹn nơi đáng phải hổ thẹn, không có sự hổ thẹn khi phạm vào các ác bất thiện pháp. Đây gọi là vô tàm.

Ở đây thế nào là "vô quý" ? Cái gì là sự không có sự sợ hãi tội lỗi nơi đáng phải sợ hãi tội lỗi, không có sự sợ hãi tội lỗi khi phạm vào các ác bất thiện pháp. Đây gọi là vô quý.

Ở đây thế nào là "phóng dật" ? Hành vi thân sai trái hoặc hành vi khẩu sai trái hoặc hành vi ý sai trái hoặc sự khuất phục và liên tục khuất phục của tâm thức trước năm dục trưởng dưỡng, hoặc không làm việc cẩn trọng, PTS vp 371 không làm việc liên tục, làm việc gián đoạn, trì trệ, buông bỏ ước muốn, BA 481 | buông bỏ phận sự, không theo đuổi, không phát triển, không lặp lại, không quyết tâm, không thực hành, phóng dật trong việc phát triển các thiện pháp; cái gì tương tự như vậy, sự phóng dật, trạng thái phóng dật, tình trạng phóng dật. Đây gọi là phóng dật. (29)

PTS cs 931Ở đây, thế nào là "sự coi thường" ? Cái gì là sự coi thường, trạng thái coi thường, sự bất kính, sự không tôn trọng, sự vô lễ, trạng thái vô lễ, tình trạng vô lễ, sự thiếu phép tắc, sự vắng bặt sự tôn kính. Đây gọi là sự coi thường.

Ở đây thế nào là "ngoan cố" ? Khi được nói theo đúng với Giáo Pháp mà vẫn có hành vi ngoan cố, trạng thái ngoan cố, sự ngoan cố, sự trái ngược, sự bắt bẻ, sự coi thường, trạng thái coi thường, sự bất kính, sự không tôn trọng. Đây gọi là ngoan cố.

Ở đây thế nào là "có bạn ác" ? Có những người không có niềm tin, có giới hạnh sai trái, không có học vấn, bủn xỉn, không có trí tuệ; cái gì là sự nương tựa vào, sự nương tựa mạnh mẽ vào, sự nương tựa hoàn toàn vào, sự đến gần, sự đến gần một cách thân mật, sự tận tụy với, sự tận tụy hoàn toàn với, sự vướng mắc với những người ấy. Đây gọi là có bạn ác. (30)

PTS cs 932Ở đây, thế nào là "thiếu niềm tin" ? Ở đây, một người nào đó không có niềm tin, không tin vào đức Phật hoặc Giáo Pháp hoặc Tăng Đoàn; cái gì tương tự như vậy, sự thiếu niềm tin, trạng thái thiếu niềm tin, sự không đặt lòng tin vào, sự không có nhiều đức tin. Đây gọi là thiếu niềm tin.

Ở đây thế nào là "không biết khẩn cầu" ? Năm (loại) bủn xỉn: Bủn xỉn (về) chỗ ở, bủn xỉn (về) gia đình, bủn xỉn (về) lợi lộc, bủn xỉn (về) danh tiếng, bủn xỉn (về) Giáo Pháp; cái gì tương tự như vậy, sự bủn xỉn, trạng thái bủn xỉn, tình trạng bủn xỉn, sự keo kiệt, sự đê tiện, sự hà tiện, trạng thái tâm eo hẹp. Đây gọi là không biết khẩn cầu.

Ở đây thế nào là "sự biếng nhác" ? Hành vi thân sai trái hoặc hành vi khẩu sai trái hoặc hành vi ý sai trái hoặc sự khuất phục và liên tục khuất phục của tâm thức trước năm dục trưởng dưỡng, hoặc không làm việc cẩn trọng, không làm việc liên tục, làm việc gián đoạn, trì trệ, PTS vp 372 buông bỏ ước muốn, buông bỏ phận sự, không theo đuổi, không phát triển, không lặp BA 482 | lại, không quyết tâm, không thực hành, phóng dật trong việc phát triển các thiện pháp. Đây gọi là sự biếng nhác. (31)

PTS cs 933Ở đây, thế nào là "sự xao lãng" ? Cái gì là sự xao lãng của tâm thức, sự bất an, sự dao động của tâm ý, sự náo động của tâm thức. Đây gọi là sự xao lãng.

Ở đây thế nào là "thiếu chế ngự" ? Ở đây, một người nào đó, khi thấy một sắc (đối tượng) bằng mắt, nắm giữ tướng chung, nắm giữ tướng riêng. Vì lý do gì mà một người sống không chế ngự căn nhãn, thì tham lam và ưu não, các ác bất thiện pháp có thể (sẽ) theo sau.

Người ấy không thực hành sự chế ngự đối với điều đó; người ấy không phòng hộ căn nhãn; người ấy không thực hiện sự chế ngự nơi căn nhãn. Khi nghe một thanh (đối tượng) bằng tai. Khi ngửi một hương (đối tượng) bằng mũi. Khi nếm một vị (đối tượng) bằng lưỡi. Khi xúc chạm một xúc (đối tượng) bằng thân. Khi nhận thức một pháp (đối tượng ý niệm) bằng ý, nắm giữ tướng chung, nắm giữ tướng riêng. Vì lý do gì mà một người sống không chế ngự căn ý, thì tham lam và ưu não, các ác bất thiện pháp có thể (sẽ) theo sau.

Người ấy không thực hành sự chế ngự đối với điều đó; người ấy không phòng hộ căn ý; người ấy không thực hiện sự chế ngự nơi căn ý. Đây gọi là thiếu chế ngự.

– Hoàn tất mỗi mục theo hình thức tổng quát của ví dụ đầu tiên.

Ở đây thế nào là "tà giới" ? Sự vi phạm về thân, sự vi phạm về lời nói, cả sự vi phạm về thân và lời nói. Đây gọi là tà giới. (32)

PTS cs 934Ở đây, thế nào là "thiếu ước muốn diện kiến bậc Thánh" ? Ở đây, thế nào là các bậc Thánh ? Các đức Phật và các đệ tử của các đức Phật được gọi là các bậc Thánh; cái gì là sự thiếu ước muốn diện kiến, sự thiếu ước muốn nhìn ngắm, sự thiếu ước muốn đến gần, sự thiếu ước muốn hội ngộ cùng các bậc Thánh này. Đây gọi là thiếu ước muốn diện kiến bậc Thánh.

Ở đây thế nào là "thiếu ước muốn lắng nghe Chánh Pháp" ? Ở đây, thế nào là Chánh Pháp ? Bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm căn, năm lực, bảy BA 483 | giác chi, Bát Chánh Đạo; đây gọi là Chánh Pháp. Cái gì là sự thiếu ước muốn lắng nghe, sự thiếu ước muốn chăm chú nghe, sự thiếu ước muốn xiển dương, sự thiếu ước muốn ghi nhớ Chánh Pháp này. Đây gọi là thiếu ước muốn lắng nghe Chánh Pháp.

Ở đây thế nào là "tâm trạng khiển trách" ? PTS vp 373 Ở đây, thế nào là sự khiển trách ? Cái gì là sự khiển trách, sự khiển trách lặp lại, trạng thái khiển trách, trạng thái khiển trách lặp lại, tình trạng khiển trách lặp lại, sự khinh miệt, sự xem thường, sự phỉ báng, sự tìm lỗi. Đây gọi là tâm trạng khiển trách. (33)

PTS cs 935Ở đây, thế nào là "thất niệm" ? Cái gì là sự vắng bặt chánh niệm, sự vắng bặt chánh niệm liên tục, sự vắng bặt sự ghi nhớ, sự vắng bặt chánh niệm, sự vắng bặt hành vi ghi nhớ, sự vắng bặt sự khắc ghi trong tâm, tính hời hợt, sự hay quên. Đây gọi là thất niệm.

Ở đây thế nào là "thiếu tỉnh giác" ? Cái gì là sự vắng bặt tri kiến, sự vắng bặt kiến giải,* chướng ngại của vô minh, căn bất thiện của si. Đây gọi là thiếu tỉnh giác.

– Xem đoạn 180.

Ở đây thế nào là "tâm dao động" ? Cái gì là sự xao lãng của tâm thức, sự bất an, sự dao động của tâm ý, sự náo động của tâm thức. Đây gọi là tâm dao động. (34)

PTS cs 936Ở đây, thế nào là "tác ý không như lý" ? Có tác ý không như lý rằng, "Trong vô thường có sự thường hằng"; có tác ý không như lý rằng, "Trong khổ có lạc"; có tác ý không như lý rằng, "Trong vô ngã có ngã"; có tác ý không như lý rằng, "Trong bất tịnh có tịnh"; hoặc, sự xoay chuyển của tâm ý, sự xoay chuyển lặp lại, sự nhận thức, sự hướng tâm, sự chú tâm đến những gì trái ngược với chân lý. Đây gọi là tác ý không như lý.

Ở đây thế nào là "sự nương tựa vào đường lối sai lầm" ? Ở đây, thế nào là đường lối sai lầm ? Tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định; đây gọi là đường lối sai lầm. Cái gì là sự nương tựa vào, sự nương tựa mạnh mẽ vào, sự nương tựa hoàn toàn vào, sự đến gần, sự đến gần một cách thân mật, sự tận tụy với, sự tận tụy BA 484 | hoàn toàn với, sự vướng mắc với đường lối sai lầm này. Đây gọi là sự nương tựa vào đường lối sai lầm.

Ở đây thế nào là "sự trì trệ tâm ý" ? Cái gì là sự không sẵn sàng của tâm thức, sự vụng về, sự sa sút, sự chùng xuống, sự trì trệ, trạng thái trì trệ, tình trạng trì trệ, sự lười nhác, trạng thái lười nhác, tình trạng tâm thức lười nhác. Đây gọi là sự trì trệ tâm ý. (35)

(Đến Đây Chấm Dứt) Quảng Diễn Tam Phần

4. Quảng Diễn Tứ Phần

PTS cs 937Ở đây, thế nào là "bốn cấu uế" ? Cấu uế của dục, cấu uế của hữu, cấu uế của tà kiến, cấu uế của vô minh.

Ở đây thế nào là cấu uế của dục ? PTS vp 374 Cái gì liên hệ đến dục là ước muốn về dục lạc, tham dục về dục lạc, đam mê về dục lạc, ái đối với dục lạc, sự ưa thích dục lạc, sự thiêu đốt vì dục lạc, sự khao khát dục lạc, sự chấp thủ vào dục lạc. Đây gọi là cấu uế của dục.

Ở đây thế nào là cấu uế của hữu ? Cái gì liên hệ đến hữu là ước muốn về hữu,* sự chấp thủ vào hữu. Đây gọi là cấu uế của hữu.

– Xem đoạn 895.

Ở đây thế nào là cấu uế của tà kiến ? "Thế giới là thường hằng" hoặc "thế giới là không thường hằng", "thế giới là hữu biên" hoặc "thế giới là vô biên", "sinh mạng và thân xác là một" hoặc "sinh mạng và thân xác là khác nhau", "một chúng sanh (bản văn = Như Lai) tồn tại sau khi chết" hoặc "một chúng sanh không tồn tại sau khi chết" hoặc "một chúng sanh vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết" hoặc "một chúng sanh vừa không tồn tại vừa không phải không tồn tại sau khi chết"; cái gì tương tự như vậy, tà kiến, sự nương vào tà kiến,* sự nắm giữ điên đảo. Đây gọi là cấu uế của tà kiến. Cũng vậy, mọi tà kiến đều là cấu uế của tà kiến.

– Xem đoạn 249.

Ở đây thế nào là cấu uế của vô minh ? Sự vắng bặt tri kiến về khổ; sự vắng bặt tri kiến về nguyên nhân của khổ; sự vắng bặt tri kiến về sự đoạn diệt khổ; BA 485 | sự vắng bặt tri kiến về con đường đưa đến sự đoạn diệt khổ; sự vắng bặt tri kiến về khởi thủy tối hậu (của các loài hữu tình); sự vắng bặt tri kiến về chung cục tối hậu (của các loài hữu tình); sự vắng bặt tri kiến về cả khởi thủy tối hậu lẫn chung cục tối hậu (của các loài hữu tình); sự vắng bặt tri kiến về tính nhân duyên đặc thù và các pháp duyên sinh; cái gì tương tự như vậy, sự vắng bặt tri kiến, sự vắng bặt kiến giải,* chướng ngại của vô minh, căn bất thiện của si. Đây gọi là cấu uế của vô minh. Đây là bốn cấu uế. (1)

– Xem đoạn 180.

PTS cs 938Ở đây, thế nào là "bốn phược". "Bốn bộc lưu". PTS vp 375 "Bốn hệ phược".* "Bốn thủ" ? Thủ về dục, thủ về tà kiến, thủ về (tà) tập quán và thực hành, thủ về thuyết linh hồn.

– Xem Dhammasaṅgaṇī đoạn 1140 trở đi.

Ở đây thế nào là thủ về dục ? Cái gì liên hệ đến dục là ước muốn về dục lạc,* sự chấp thủ vào dục lạc. Đây gọi là thủ về dục.

– Xem đoạn 914.

Ở đây thế nào là thủ về tà kiến ? "Không có sự bố thí; không có sự hiến tế, (không có) những người tự mình đã liễu tri hoàn toàn, đã chứng ngộ thế giới này và thế giới sau mà công bố (cho người khác biết)"; cái gì tương tự như vậy, tà kiến, sự nương vào tà kiến,2 sự nắm giữ điên đảo. Đây gọi là thủ về tà kiến. Ngoại trừ thủ về (tà) tập quán và thực hành và thủ về thuyết linh hồn, mọi tà kiến đều là thủ về tà kiến.

– Xem đoạn 971.

*2 Xem đoạn 249.

Ở đây thế nào là thủ về (tà) tập quán và thực hành ? (Niềm tin vào) sự thanh tịnh hóa nhờ nguyên tắc tập quán, sự thanh tịnh hóa nhờ thực hành, sự thanh tịnh hóa nhờ cả tập quán lẫn thực hành của các sa-môn và Bà-la-môn ở ngoài (Giáo Pháp) này; cái gì tương tự như vậy, tà kiến, sự nương vào tà kiến,* sự nắm giữ điên đảo. Đây gọi là thủ về (tà) tập quán và thực hành.

– Xem đoạn 249.

Ở đây BA 486 thế nào là thủ về thuyết linh hồn ? Ở đây, kẻ phàm phu chưa được nghe học, không nhận biết các bậc Thánh, không thông thạo giáo pháp của các bậc Thánh, không được huấn luyện trong giáo pháp của các bậc Thánh; không nhận biết các bậc thiện nhân, không thông thạo giáo pháp của các bậc thiện nhân, không được huấn luyện trong giáo pháp của các bậc thiện nhân; xem sắc pháp là linh hồn; hoặc xem linh hồn như có sắc pháp; hoặc xem sắc pháp (như ở) trong linh hồn; hoặc xem linh hồn (như ở) trong sắc pháp; thọ. tưởng. các hành. xem thức là linh hồn; hoặc xem linh hồn như có thức; hoặc xem thức (như ở) trong linh hồn; hoặc xem linh hồn (như ở) trong thức; cái gì tương tự như vậy, tà kiến, sự nương vào tà kiến,2 sự nắm giữ điên đảo.

Đây gọi là thủ về thuyết linh hồn. Đây là bốn thủ. (5)

– Hoàn tất mỗi mục theo hình thức tổng quát của ví dụ cuối cùng.

*2 Xem đoạn 249.

PTS cs 939Ở đây, thế nào là "bốn nguồn sanh khởi của ái" ? Khi ở nơi một tỳ-khưu, ái sanh khởi do y phục thì phát sanh; khi ở nơi một tỳ-khưu, ái sanh khởi do vật thực thì phát sanh; khi ở nơi một tỳ-khưu, ái sanh khởi do chỗ ở thì phát sanh; khi ở nơi một tỳ-khưu, ái sanh khởi do những điều tuyệt hảo và tuyệt hảo hơn thì phát sanh. Đây là bốn nguồn sanh khởi của ái. (6)

Ở đây thế nào là "bốn cách hành xử theo đường lối sai" ? Người ta hành xử theo đường lối sai của thiên vị; người ta hành xử theo đường lối sai của sân hận; người ta hành xử theo đường lối sai của si mê; người ta hành xử theo đường lối sai của sợ hãi; cái gì tương tự như vậy, đường lối sai, sự hành xử theo đường lối sai, sự hành xử thiên vị, sự hành xử phân loại (thiên lệch), hành xử (như) nước (chảy theo dòng). Đây là bốn cách hành xử theo đường lối sai. (7)

Ở đây thế nào là "bốn điên đảo" ? Tưởng điên đảo, thức điên đảo, kiến điên đảo rằng, "Trong vô thường có sự thường hằng"; tưởng điên đảo, thức điên đảo, kiến điên đảo rằng, "Trong khổ có lạc"; tưởng điên đảo, thức điên đảo, kiến điên đảo rằng, "Trong vô ngã có ngã"; tưởng điên đảo, thức điên đảo, kiến điên đảo rằng, "Trong bất tịnh có tịnh". Đây là bốn điên đảo. (8)

Ở đây thế nào là "bốn (loại) lời nói không cao thượng" ? Không thấy mà nói là đã thấy; không nghe mà nói là đã nghe; không cảm nhận khác mà nói là đã cảm nhận khác; BA 487 | không biết mà nói là biết. Đây là bốn (loại) lời nói không cao thượng. (9)

Ở đây thế nào là "bốn (loại) lời nói không cao thượng khác" ? Đã thấy mà nói là không thấy; đã nghe mà nói là không nghe; đã cảm nhận khác mà nói là không cảm nhận khác; đã biết mà nói là không biết. Đây là bốn (loại) lời nói không cao thượng. (10)

Ở đây thế nào là "bốn (loại) tà nghiệp" ? Sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, vọng ngữ. Đây là bốn (loại) tà nghiệp. (11)

Ở đây thế nào là "bốn (loại) tà nghiệp khác" ? Vọng ngữ, lời nói vu khống, lời nói thô ác, lời nói phù phiếm. Đây là bốn (loại) tà nghiệp. (12)

Ở đây thế nào là "bốn (loại) sợ hãi" ? Sợ hãi sự sanh, sợ hãi sự già, sợ hãi sự suy tàn, sợ hãi sự chết. Đây là bốn (loại) sợ hãi. (13)

Ở đây thế nào là "bốn (loại) sợ hãi khác" ? Sợ hãi vua chúa, sợ hãi trộm cướp, sợ hãi lửa, sợ hãi nước. Đây là bốn (loại) sợ hãi. (14)

Ở đây thế nào là "bốn (loại) sợ hãi khác nữa" ? Sợ hãi sóng, sợ hãi cá sấu, sợ hãi xoáy nước, sợ hãi cá dữ. Đây là bốn (loại) sợ hãi. (15)

Ở đây thế nào là "bốn (loại) sợ hãi khác nữa" ? Sợ hãi sự tự trách mình, sợ hãi sự bị người khác trách, sợ hãi sự trừng phạt, sợ hãi các cảnh giới khổ đau. Đây là bốn (loại) sợ hãi. (16)

Ở đây thế nào là "bốn tà kiến" ? Tà kiến khởi lên kiên cố như chân lý rằng, "Lạc và khổ do tự ngã tạo ra"; tà kiến khởi lên kiên cố như chân lý rằng, PTS vp 377 "Lạc và khổ do (nguyên nhân) khác tạo ra"; tà kiến khởi lên kiên cố như chân lý rằng, "Lạc và khổ do tự ngã tạo ra và do (nguyên nhân) khác tạo ra"; tà kiến khởi lên kiên cố như chân lý rằng, "Lạc và khổ không do tự ngã tạo ra, không do (nguyên nhân) khác tạo ra, mà khởi lên không nguyên nhân". Đây là bốn tà kiến. (17)

(Đến Đây Chấm Dứt) Quảng Diễn Tứ Phần

5. Quảng Diễn Ngũ Phần

PTS cs 940Ở đây, thế nào là "năm kiết sử thuộc hạ phần (thấp)" ? Thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, BA 488 | ước muốn dục lạc, sân hận. Đây là năm kiết sử thuộc hạ phần. (1)

Ở đây thế nào là "năm kiết sử thuộc thượng phần (cao)" ? Ái đối với sắc, ái đối với vô sắc, ngã mạn, xao lãng, vô minh. Đây là năm kiết sử thuộc thượng phần. (2)

Ở đây thế nào là "năm (loại) bủn xỉn" ? Bủn xỉn (về) chỗ ở, bủn xỉn (về) gia đình, bủn xỉn (về) lợi lộc, bủn xỉn (về) danh tiếng, bủn xỉn (về) Giáo Pháp. Đây là năm (loại) bủn xỉn. (3)

Ở đây thế nào là "năm sự dính mắc" ? Sự dính mắc của tham dục, sự dính mắc của sân hận, sự dính mắc của si, sự dính mắc của ngã mạn, sự dính mắc của tà kiến. Đây là năm sự dính mắc. (4)

Ở đây thế nào là "năm mũi tên" ? Mũi tên tham dục, mũi tên sân hận, mũi tên si, mũi tên ngã mạn, mũi tên tà kiến. Đây là năm mũi tên. (5)

PTS cs 941Ở đây, thế nào là "năm gai nhọn tâm lý" ? Người ta bối rối, hoài nghi, bất định, không rõ ràng về Bậc Đạo Sư; người ta bối rối, hoài nghi, bất định, không rõ ràng về Giáo Pháp; người ta bối rối, hoài nghi, bất định, không rõ ràng về Tăng Đoàn; người ta bối rối, hoài nghi, bất định, không rõ ràng về các học giới; người ta xúc phạm, làm phật lòng, gây phiền não tâm ý, trở thành gai nhọn đối với các bạn đồng tu. Đây là năm gai nhọn tâm lý. (6)

Ở đây thế nào là "năm (loại) trói buộc tâm" ? Người ta chưa thoát khỏi tham dục, chưa thoát khỏi ước muốn, chưa thoát khỏi luyến ái, chưa thoát khỏi sự khao khát, chưa thoát khỏi sự thiêu đốt, chưa thoát khỏi ái đối với dục lạc; người ta chưa thoát khỏi tham dục đối với thân; người ta chưa thoát khỏi tham dục đối với sắc tướng (của người khác). PTS vp 378 Sau khi ăn no đến mức đầy bụng, người ta sống buông thả trong lạc thú giường chiếu, trong lạc thú nằm lười, trong lạc thú giấc ngủ. Người ta thực hành đời sống phạm hạnh mà cầu mong được sanh về một cõi chư thiên nào đó rằng, "Nhờ giới hạnh này hoặc nhờ sự thực hành này hoặc nhờ khổ hạnh này hoặc nhờ đời sống phạm hạnh này mà mong ta trở thành một vị (cao) thiên hoặc loại chư thiên khác". Đây là năm (loại) trói buộc tâm. (7)

Ở đây thế nào là "năm triền cái" ? Triền cái ước muốn dục lạc, triền cái sân hận, triền cái hôn trầm thụy miên, triền cái trạo hối, triền cái hoài nghi. Đây là năm triền cái. (8)

Ở đây thế nào là "năm nghiệp cực trọng cho quả tức thời" ? Tước đoạt sinh mạng của mẹ, tước đoạt sinh mạng của cha, tước đoạt sinh mạng của một vị A-la-hán, với tâm ác độc làm cho máu của BA 489 | đức Như Lai chảy ra, chia rẽ Tăng Đoàn. Đây là năm nghiệp cực trọng cho quả tức thời. (9)

Ở đây thế nào là "năm tà kiến" ? Có người tuyên bố rằng, "Linh hồn có tưởng và không hoại diệt sau khi chết"; có người tuyên bố rằng, "Linh hồn không có tưởng và không hoại diệt sau khi chết"; có người tuyên bố rằng, "Linh hồn vừa không có vừa không phải không có tưởng và không hoại diệt sau khi chết"; (một số) công bố sự đoạn diệt, sự hủy hoại, sự phi hữu của chúng sanh đang tồn tại (sau khi chết) hoặc một số người tuyên bố Niết-bàn ngay trong đời hiện tại. Đây là năm tà kiến. (10)

PTS cs 942Ở đây, thế nào là "năm hành vi thù nghịch" ? Sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, vọng ngữ, (uống) các loại rượu ủ men, rượu cất, rượu mạnh gây ra phóng dật. Đây là năm hành vi thù nghịch. (11)

Ở đây thế nào là "năm điều bất hạnh" ? Bất hạnh qua thân quyến, bất hạnh qua tài sản, bất hạnh qua bệnh tật, bất hạnh qua giới hạnh (bị hư hoại), bất hạnh qua tà kiến. Đây là năm điều bất hạnh. (12)

Ở đây thế nào là "năm điều bất lợi của sự thiếu kiên nhẫn" ? Người ta không được nhiều người yêu mến, không được ưa thích; người ta là kẻ thù của nhiều người và có nhiều lỗi lầm; người ta chết trong sự mê loạn; khi thân hoại PTS vp 379 sau khi chết người ta tái sanh vào cảnh giới khổ đau, bất hạnh, đọa lạc, địa ngục. Đây là năm điều bất lợi của sự thiếu kiên nhẫn. (13)

Ở đây thế nào là "năm điều sợ hãi" ? Sợ hãi (về) sinh kế, sợ hãi sự chê trách, sợ hãi (là) sự rụt rè trong hội chúng, sợ hãi sự chết, sợ hãi (sự) tái sanh bất hạnh. Đây là năm điều sợ hãi. (14)

PTS cs 943Ở đây, thế nào là "năm học thuyết về Niết-bàn ngay trong đời hiện tại" ? Ở đây, một sa-môn hoặc Bà-la-môn nào đó nói như vậy, có quan điểm như vậy, "Này bạn, bởi vì linh hồn này bị ảnh hưởng bởi, sở hữu năm dục trưởng dưỡng, hưởng thụ; do đó, này bạn, linh hồn này đạt được Niết-bàn tối thượng ngay trong đời hiện tại"; như vậy một số người công bố Niết-bàn tối thượng của chúng sanh đang tồn tại ngay trong đời hiện tại.

Người khác nói với (người) đó rằng, "Này bạn, linh hồn này quả thật tồn tại, bạn nói như vậy, tôi không nói rằng nó không tồn tại. Quả thật, này bạn, linh hồn này ngay cả với chừng đó cũng không đạt được Niết-bàn tối thượng trong BA 490 | đời hiện tại, vì sao vậy? Này bạn, các dục lạc quả thật là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại; trong chúng có các trạng thái biến đổi khác nhau khởi lên, (cũng như) sầu, bi, khổ (thân), ưu (tâm), não. Bởi vì, này bạn, linh hồn này, viễn ly các dục lạc,* chứng đạt và an trú vào sơ thiền, do đó, này bạn, linh hồn này quả thật đạt được Niết-bàn tối thượng ngay trong đời hiện tại"; như vậy một số người công bố Niết-bàn tối thượng của chúng sanh đang tồn tại ngay trong đời hiện tại.

– Xem đoạn 205.

Người khác nói với (người) đó rằng, "Này bạn, linh hồn này quả thật tồn tại, bạn nói như vậy, tôi không nói rằng nó không tồn tại. Quả thật, này bạn, linh hồn này ngay cả với chừng đó cũng không đạt được Niết-bàn tối thượng trong đời hiện tại, vì sao vậy? Trong đó, cái gì là tầm và tứ, chừng đó dường như còn thô. Bởi vì, này bạn, linh hồn này, chế ngự tầm và tứ,* chứng đạt và an trú vào nhị thiền, do đó, này bạn, linh hồn này quả thật đạt được Niết-bàn tối thượng ngay trong đời hiện tại"; như vậy một số người công bố Niết-bàn tối thượng của chúng sanh đang tồn tại ngay trong đời hiện tại.

– Xem đoạn 205.

Người khác nói với (người) đó rằng, "Này bạn, linh hồn này quả thật tồn tại, bạn nói như vậy, tôi không nói rằng nó không tồn tại. Quả thật, này bạn, linh hồn này ngay cả với chừng đó cũng không đạt được Niết-bàn tối thượng trong đời hiện tại, vì sao vậy? Trong đó, cái gì là sự hân hoan hỷ lạc của tâm, chừng đó dường như còn thô. Bởi vì, này bạn, linh hồn này, không còn ham muốn hỷ,* chứng đạt và an trú vào tam thiền, do đó, này bạn, linh hồn này quả thật đạt được PTS vp 380 Niết-bàn tối thượng ngay trong đời hiện tại"; như vậy một số người công bố Niết-bàn tối thượng của chúng sanh đang tồn tại ngay trong đời hiện tại.

– Xem đoạn 205.

Người khác nói với (người) đó rằng, "Này bạn, linh hồn này quả thật tồn tại, bạn nói như vậy, tôi không nói rằng nó không tồn tại. Quả thật, này bạn, linh hồn này ngay cả với chừng đó cũng không đạt được Niết-bàn tối thượng trong đời hiện tại, vì sao vậy? Trong đó, cái gì là lạc hỷ, được nhận biết bởi tâm ý, chừng đó dường như còn thô. Bởi vì, này bạn, linh hồn này, do sự từ bỏ lạc,* chứng đạt và an trú vào tứ thiền, do đó, này bạn, linh hồn này quả thật đạt được BA 491 | Niết-bàn tối thượng ngay trong đời hiện tại"; như vậy một số người công bố Niết-bàn tối thượng của chúng sanh đang tồn tại ngay trong đời hiện tại. Đây là năm học thuyết về Niết-bàn ngay trong đời hiện tại. (15)

– Xem đoạn 205.

(Đến Đây Chấm Dứt) Quảng Diễn Ngũ Phần

6. Quảng Diễn Lục Phần

PTS cs 944Ở đây, thế nào là "sáu cội rễ của tranh chấp" ? Phẫn nộ, gièm pha, ganh tị, ngoan cố giả dối, ác dục, sự cố chấp. Đây là sáu cội rễ của tranh chấp. (1)

Ở đây thế nào là "sáu (loại) ước muốn tham đắm" ? Các trạng thái ước muốn tham đắm liên hệ dục lạc, (tức là) tham dục, sự say đắm, sự say đắm của tâm thức liên hệ dục lạc đối với các sắc (đối tượng) khả ái; đối với các thanh (đối tượng) khả ái. Đối với các hương (đối tượng) khả ái. Đối với các vị (đối tượng) khả ái. Đối với các xúc (đối tượng) khả ái. Tham dục, sự say đắm, sự say đắm của tâm thức liên hệ dục lạc đối với các pháp (đối tượng ý niệm) khả ái. Đây là sáu (loại) ước muốn tham đắm. (2)

– Hoàn tất mỗi mục theo hình thức tổng quát của ví dụ cuối cùng.

Ở đây thế nào là "sáu nền tảng của thù hận" ? Sự ưu não của tâm thức, sự oán giận, sự thù địch, sự đột ngột (thô bạo), sự vắng bặt niềm vui của tâm thức đối với các sắc (đối tượng) không khả ái; đối với các thanh (đối tượng) không khả ái. Đối với các hương (đối tượng) không khả ái. Đối với các vị (đối tượng) không khả ái. Đối với các xúc (đối tượng) không khả ái. Sự ưu não của tâm thức, sự oán giận, sự thù địch, sự đột ngột, sự vắng bặt niềm vui của tâm thức đối với các pháp (đối tượng ý niệm) không khả ái. Đây là sáu nền tảng của thù hận. (3)

– Hoàn tất mỗi mục theo hình thức tổng quát của ví dụ cuối cùng.

Ở đây thế nào là "sáu nhóm ái" ? Ái đối với các sắc (đối tượng), ái đối với các thanh (đối tượng), ái đối với các hương (đối tượng), ái đối với các vị (đối tượng), ái đối với các xúc (đối tượng), ái đối với các pháp (đối tượng ý niệm). Đây là sáu nhóm ái. (4) PTS vp 381

PTS cs 945Ở đây, thế nào là "sáu (loại) khinh miệt" ? Người ta sống thiếu tôn kính, thiếu tôn trọng đối với Bậc Đạo Sư; người ta sống thiếu tôn kính, thiếu tôn trọng đối với Giáo Pháp; người ta sống BA 492 | thiếu tôn kính, thiếu tôn trọng đối với Tăng Đoàn; người ta sống thiếu tôn kính, thiếu tôn trọng đối với các học giới; người ta sống thiếu tôn kính, thiếu tôn trọng đối với sự không phóng dật; người ta sống thiếu tôn kính, thiếu tôn trọng đối với sự hiếu khách. Đây là sáu (loại) khinh miệt. (5)

Ở đây thế nào là "sáu trạng thái thoái đọa" ? Ưa thích hành động, ưa thích nói chuyện, ưa thích ngủ nghỉ, ưa thích hội chúng, ưa thích giao du, ưa thích các ám ảnh (chướng ngại). Đây là sáu trạng thái thoái đọa. (6)

PTS cs 946Ở đây, thế nào là "sáu trạng thái thoái đọa khác" ? Ưa thích hành động, ưa thích nói chuyện, ưa thích ngủ nghỉ, ưa thích hội chúng, ngoan cố, có bạn ác. Đây là sáu trạng thái thoái đọa. (7)

Ở đây thế nào là "sáu (loại) quán sát bằng tâm hỷ" ? Khi thấy một sắc (đối tượng) bằng mắt, người ta quán sát sắc (đối tượng) ấy vốn là nguyên nhân của tâm hỷ; khi nghe một thanh (đối tượng) bằng tai. Khi ngửi một hương (đối tượng) bằng mũi. Khi nếm một vị (đối tượng) bằng lưỡi. Khi xúc chạm một xúc (đối tượng) bằng thân. Khi nhận thức một pháp (đối tượng ý niệm) bằng ý, người ta quán sát pháp (đối tượng ý niệm) ấy vốn là nguyên nhân của tâm hỷ. Đây là sáu (loại) quán sát bằng tâm hỷ. (8)

– Hoàn tất mỗi mục theo hình thức tổng quát của ví dụ cuối cùng.

Ở đây thế nào là "sáu (loại) quán sát bằng tâm ưu" ? Khi thấy một sắc (đối tượng) bằng mắt, người ta quán sát sắc (đối tượng) ấy vốn là nguyên nhân của tâm ưu; khi nghe một thanh (đối tượng) bằng tai. Khi ngửi một hương (đối tượng) bằng mũi. Khi nếm một vị (đối tượng) bằng lưỡi. Khi xúc chạm một xúc (đối tượng) bằng thân. Khi nhận thức một pháp (đối tượng ý niệm) bằng ý, người ta quán sát pháp (đối tượng ý niệm) ấy vốn là nguyên nhân của tâm ưu. Đây là sáu (loại) quán sát bằng tâm ưu. (9)

– Hoàn tất mỗi mục theo hình thức tổng quát của ví dụ cuối cùng.

Ở đây thế nào là "sáu (loại) quán sát bằng tâm xả" ? Khi thấy một sắc (đối tượng) bằng mắt, người ta quán sát sắc (đối tượng) ấy vốn là nguyên nhân của tâm xả; khi nghe một thanh (đối tượng) bằng tai. Khi ngửi một hương (đối tượng) bằng mũi. Khi nếm một vị (đối tượng) bằng lưỡi. Khi xúc chạm một xúc (đối tượng) bằng thân. Khi nhận thức một pháp (đối tượng ý niệm) BA 493 | bằng ý, người ta quán sát pháp (đối tượng ý niệm) ấy vốn là nguyên nhân của tâm xả. Đây là sáu (loại) quán sát bằng tâm xả. (10)

– Hoàn tất mỗi mục theo hình thức tổng quát của ví dụ cuối cùng.

PTS cs 947Ở đây, thế nào là "sáu (loại) hỷ liên hệ dục lạc" ? Sự dễ chịu của tâm, sự vui thích của tâm, cảm giác lạc dễ chịu sanh khởi từ ý xúc, cảm thọ lạc dễ chịu sanh khởi từ ý xúc liên hệ dục lạc đối với các sắc (đối tượng) khả ái; đối với các thanh (đối tượng) khả ái. Đối với các hương (đối tượng) khả ái. Đối với các vị (đối tượng) khả ái. Đối với các xúc (đối tượng) khả ái. Sự dễ chịu của tâm, sự vui thích của tâm, cảm giác lạc dễ chịu sanh khởi từ ý xúc, cảm thọ lạc PTS vp 382 dễ chịu sanh khởi từ ý xúc liên hệ dục lạc đối với các pháp (đối tượng ý niệm) khả ái. Đây là sáu (loại) hỷ liên hệ dục lạc. (11)

– Hoàn tất mỗi mục theo hình thức tổng quát của ví dụ cuối cùng.

Ở đây thế nào là "sáu (loại) ưu liên hệ dục lạc" ? Sự khó chịu của tâm, sự khổ đau của tâm, cảm giác khổ khó chịu sanh khởi từ ý xúc, cảm thọ khổ khó chịu sanh khởi từ ý xúc liên hệ dục lạc đối với các sắc (đối tượng) không khả ái; đối với các thanh (đối tượng) không khả ái. Đối với các hương (đối tượng) không khả ái. Đối với các vị (đối tượng) không khả ái. Đối với các xúc (đối tượng) không khả ái. Sự khó chịu của tâm, sự khổ đau của tâm, cảm giác khổ khó chịu sanh khởi từ ý xúc, cảm thọ khổ khó chịu sanh khởi từ ý xúc liên hệ dục lạc đối với các pháp (đối tượng ý niệm) không khả ái. Đây là sáu (loại) ưu liên hệ dục lạc. (12)

– Hoàn tất mỗi mục theo hình thức tổng quát của ví dụ cuối cùng.

Ở đây thế nào là "sáu (loại) xả liên hệ dục lạc" ? Không phải sự dễ chịu của tâm cũng không phải sự khó chịu của tâm, cảm giác không khổ không lạc sanh khởi từ ý xúc, cảm thọ không khổ không lạc sanh khởi từ ý xúc liên hệ dục lạc đối với các sắc (đối tượng) vốn là nguyên nhân của tâm xả; đối với các thanh (đối tượng) vốn là nguyên nhân của tâm xả. Đối với các hương (đối tượng) vốn là nguyên nhân của tâm xả. Đối với các vị (đối tượng) vốn là nguyên nhân của tâm xả. Đối với các xúc (đối tượng) vốn là nguyên nhân của tâm xả. Không phải sự dễ chịu BA 494 | của tâm cũng không phải sự khó chịu của tâm, cảm giác không khổ không lạc sanh khởi từ ý xúc, cảm thọ không khổ không lạc sanh khởi từ ý xúc liên hệ dục lạc đối với các pháp (đối tượng ý niệm) vốn là nguyên nhân của tâm xả.

Đây là sáu (loại) xả liên hệ dục lạc. (13)

– Hoàn tất mỗi mục theo hình thức tổng quát của ví dụ cuối cùng.

PTS cs 948Ở đây, thế nào là "sáu tà kiến" ? Tà kiến khởi lên nơi người ấy kiên cố như chân lý rằng, "Có một linh hồn trong ta"; hoặc tà kiến khởi lên nơi người ấy kiên cố như chân lý rằng, "Không có linh hồn trong ta"; hoặc tà kiến khởi lên nơi người ấy kiên cố như chân lý rằng, "Ta, linh hồn, nhận biết một linh hồn"; hoặc tà kiến khởi lên nơi người ấy kiên cố như chân lý rằng, "Ta, linh hồn, không nhận biết linh hồn"; hoặc tà kiến khởi lên nơi người ấy kiên cố như chân lý rằng, "Ta, không có linh hồn, nhận biết một linh hồn"; hoặc, quả thật, tà kiến ở nơi người ấy rằng, "Linh hồn này trong ta nói năng và cảm nhận; trong một thời gian dài, trong hữu này và hữu kia, nó trải nghiệm quả báo của các nghiệp thiện và ác; linh hồn (này) không sanh ra và chưa từng có;

linh hồn (này) không sanh ra và sẽ không bao giờ có; linh hồn (này) là thường hằng, bền vững, vĩnh cửu, không chịu sự biến đổi"; như vậy tà kiến khởi lên nơi người ấy kiên cố như chân lý.

Đây là sáu tà kiến. (14) PTS vp 383

(Đến Đây Chấm Dứt) Quảng Diễn Lục Phần

7. Quảng Diễn Thất Phần

PTS cs 949Ở đây, thế nào là "bảy tùy miên" ? Tùy miên tham dục, tùy miên phản kháng (sân), tùy miên ngã mạn, tùy miên tà kiến, tùy miên hoài nghi, tùy miên tham hữu, tùy miên vô minh. Đây là bảy tùy miên. (1)

Ở đây thế nào là "bảy kiết sử" ? Kiết sử tham dục, kiết sử phản kháng, kiết sử ngã mạn, kiết sử tà kiến, kiết sử hoài nghi, kiết sử tham hữu, kiết sử vô minh. Đây là bảy kiết sử. (2)

Ở đây thế nào là "bảy sự tiến triển" ? Sự tiến triển của tham dục, sự tiến triển của phản kháng, sự tiến triển của ngã mạn, sự tiến triển của tà kiến, sự tiến triển của hoài nghi, sự tiến triển của tham hữu, sự tiến triển của vô minh. Đây là bảy sự tiến triển. (3)

PTS cs 950BA 495 Ở đây, thế nào là "bảy trạng thái ô nhiễm" ? Người ta không có niềm tin; người ta vô tàm; người ta vô quý; người ta không có học vấn; người ta biếng nhác; người ta thất niệm; người ta không có trí tuệ. Đây là bảy trạng thái ô nhiễm. (4)

Ở đây thế nào là "bảy tà nghiệp" ? Sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, vọng ngữ, lời nói vu khống, lời nói thô ác, lời nói phù phiếm. Đây là bảy tà nghiệp. (5)

Ở đây thế nào là "bảy (loại) ngã mạn" ? Ngã mạn, ngã mạn quá mức, ngã mạn thái quá, ngã mạn tự khinh, ngã mạn đánh giá quá cao, tự ngã mạn, ngã mạn sai lầm. Đây là bảy (loại) ngã mạn. (6)

PTS cs 951Ở đây, thế nào là "bảy tà kiến" ? Ở đây, một sa-môn hoặc Bà-la-môn nào đó nói như vậy, có quan điểm như vậy, "Này bạn, bởi vì linh hồn này có sắc, liên kết với bốn đại chủng, được sanh ra từ noãn và tinh của cha mẹ, khi thân hoại thì bị đoạn diệt, bị hủy hoại, không tồn tại sau khi chết; do đó, này bạn, linh hồn này quả thật bị đoạn diệt hoàn toàn"; như vậy một số người công bố sự đoạn diệt, sự hủy hoại, sự phi hữu của chúng sanh đang tồn tại. (7) (1)

Người khác nói với (người) đó rằng, "Này bạn, linh hồn này quả thật tồn tại, bạn nói như vậy, tôi không nói rằng nó không tồn tại. Quả thật, này bạn, linh hồn này ngay cả với chừng đó cũng không bị đoạn diệt hoàn toàn. Quả thật, này bạn, có một linh hồn khác thuộc về chư thiên có sắc, mang đặc tính của cõi dục, ăn phần dinh dưỡng (của thức ăn); PTS vp 384 điều này bạn không biết, không thấy; điều này tôi biết, tôi thấy; bởi vì, này bạn, linh hồn đó khi thân hoại thì bị đoạn diệt, bị hủy hoại, không tồn tại sau khi chết; do đó, này bạn, linh hồn này quả thật bị đoạn diệt hoàn toàn"; như vậy một số người công bố sự đoạn diệt, sự hủy hoại, sự phi hữu của chúng sanh đang tồn tại. (7) (2)

Người khác nói với (người) đó rằng, "Này bạn, linh hồn này quả thật tồn tại, bạn nói như vậy, tôi không nói rằng nó không tồn tại. Quả thật, này bạn, linh hồn này ngay cả với chừng đó cũng không bị đoạn diệt hoàn toàn. Quả thật, này bạn, có một linh hồn khác thuộc về chư thiên có sắc, do tâm tạo thành, có đầy đủ các chi phần lớn nhỏ, không thiếu các căn; điều này bạn không biết, không thấy; điều này tôi biết, tôi thấy; bởi vì, này bạn, linh hồn đó khi thân hoại thì bị đoạn diệt, bị hủy hoại, không tồn tại sau khi chết; do đó, này bạn, BA 496 | linh hồn này quả thật bị đoạn diệt hoàn toàn"; như vậy một số người công bố sự đoạn diệt, sự hủy hoại, sự phi hữu của chúng sanh đang tồn tại. (7) (3)

Người khác nói với (người) đó rằng, "Này bạn, linh hồn này quả thật tồn tại, bạn nói như vậy, tôi không nói rằng nó không tồn tại. Quả thật, này bạn, linh hồn này ngay cả với chừng đó cũng không bị đoạn diệt hoàn toàn. Quả thật, này bạn, có một linh hồn khác vốn, sau khi đã hoàn toàn vượt qua các tưởng về sắc, do đoạn trừ các tưởng về (sự) xúc chạm (đối ngại), do không tác ý đến sự sai khác của các tưởng, (tập trung) rằng, 'Hư không là vô biên', đạt đến trạng thái không vô biên xứ; điều này bạn không biết, không thấy; điều này tôi biết, tôi thấy; bởi vì, này bạn, linh hồn đó khi thân hoại thì bị đoạn diệt, bị hủy hoại, không tồn tại sau khi chết; do đó, này bạn, linh hồn này quả thật bị đoạn diệt hoàn toàn";

như vậy một số người công bố sự đoạn diệt, sự hủy hoại, sự phi hữu của chúng sanh đang tồn tại. (7) (4)

Người khác nói với (người) đó rằng, "Này bạn, linh hồn này quả thật tồn tại, bạn nói như vậy, tôi không nói rằng nó không tồn tại. Quả thật, này bạn, linh hồn này ngay cả với chừng đó cũng không bị đoạn diệt hoàn toàn. Quả thật, này bạn, có một linh hồn khác vốn, sau khi đã hoàn toàn vượt qua trạng thái không vô biên xứ, (tập trung) rằng, 'Thức là vô biên', đạt đến trạng thái thức vô biên xứ; điều này bạn không biết, không thấy; điều này tôi biết, tôi thấy; bởi vì, này bạn, linh hồn đó khi thân hoại thì bị đoạn diệt, bị hủy hoại, không tồn tại sau khi chết; do đó, này bạn, linh hồn này quả thật bị đoạn diệt hoàn toàn"; như vậy một số người công bố sự đoạn diệt, sự hủy hoại, sự phi hữu của chúng sanh đang tồn tại. (7) (5)

Người khác nói với (người) đó rằng, "Này bạn, linh hồn này quả thật tồn tại, bạn nói như vậy, tôi không nói rằng nó không tồn tại. Quả thật, này bạn, linh hồn này ngay cả với chừng đó cũng không bị đoạn diệt hoàn toàn. Quả thật, này bạn, có một linh hồn khác vốn, sau khi đã hoàn toàn vượt qua trạng thái thức vô biên xứ, (tập trung) rằng, 'Không có gì cả', đạt đến trạng thái vô sở hữu xứ; điều này bạn không biết, không thấy; PTS vp 385 điều này tôi biết, tôi thấy; bởi vì, này bạn, linh hồn đó khi thân hoại thì bị đoạn diệt, bị hủy hoại, không tồn tại sau khi chết; do đó, này bạn, linh hồn này quả thật bị đoạn diệt hoàn toàn"; như vậy một số người công bố sự đoạn diệt, sự hủy hoại, sự phi hữu của chúng sanh đang tồn tại. (7) (6)

Người khác nói với (người) đó rằng, "Linh hồn này quả thật tồn tại, bạn nói như vậy, tôi không nói rằng nó không tồn tại. Quả thật, này bạn, linh hồn này BA 497 | ngay cả với chừng đó cũng không bị đoạn diệt hoàn toàn. Quả thật, này bạn, có một linh hồn khác vốn, sau khi đã hoàn toàn vượt qua trạng thái vô sở hữu xứ, đạt đến trạng thái phi tưởng phi phi tưởng xứ; điều này bạn không biết, không thấy; điều này tôi biết, tôi thấy; bởi vì, này bạn, linh hồn đó khi thân hoại thì bị đoạn diệt, bị hủy hoại, không tồn tại sau khi chết; do đó, này bạn, linh hồn này quả thật bị đoạn diệt hoàn toàn"; như vậy một số người công bố sự đoạn diệt, sự hủy hoại, sự phi hữu của chúng sanh đang tồn tại. Đây là bảy tà kiến. (7) (7)

(Đến Đây Chấm Dứt) Quảng Diễn Thất Phần

8. Quảng Diễn Bát Phần

PTS cs 952Ở đây, thế nào là "tám nền tảng của sự đồi bại" ? Tham, sân, si, ngã mạn, tà kiến, hoài nghi, hôn trầm, xao lãng. Đây là tám nền tảng của sự đồi bại.

PTS cs 953Ở đây, thế nào là "tám nền tảng của sự biếng nhác" ? Ở đây, có công việc cần phải làm bởi một tỳ-khưu; (ý nghĩ) của vị ấy là như vầy, "Quả thật sẽ có công việc cần phải làm bởi ta, nhưng khi làm công việc thân ta sẽ trở nên mệt mỏi; thôi, ta sẽ nằm nghỉ". Vị ấy nằm nghỉ, không phát khởi tinh tấn để đạt được điều chưa đạt được, để có được điều chưa có được, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ. Đây là nền tảng thứ nhất của sự biếng nhác.

Và lại nữa, công việc đã được làm bởi tỳ-khưu, (ý nghĩ) của vị ấy là như vầy, "Quả thật ta đã làm công việc, nhưng khi làm công việc thân ta đã trở nên mệt mỏi; thôi, ta sẽ nằm nghỉ". Vị ấy nằm nghỉ, không phát khởi tinh tấn để đạt được điều chưa đạt được, để có được điều chưa có được, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ. Đây là nền tảng thứ hai của sự biếng nhác.

Và lại nữa, có một cuộc hành trình cần phải thực hiện bởi tỳ-khưu, PTS vp 386 (ý nghĩ) của vị ấy là như vầy, "Quả thật sẽ có một cuộc hành trình cần phải thực hiện bởi ta, nhưng trong khi thực hiện cuộc hành trình thân ta sẽ trở nên mệt mỏi; thôi, ta sẽ nằm nghỉ". Vị ấy nằm nghỉ, không phát khởi tinh tấn để đạt được điều chưa đạt được, để có được điều chưa có được, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ. Đây là nền tảng thứ ba của sự biếng nhác.

Và lại nữa, một cuộc hành trình đã được thực hiện bởi tỳ-khưu, (ý nghĩ) của vị ấy là như vầy, "Quả thật ta đã thực hiện cuộc hành trình, nhưng khi thực hiện cuộc hành trình BA 498 | thân ta đã trở nên mệt mỏi; thôi, ta sẽ nằm nghỉ". Vị ấy nằm nghỉ, không phát khởi tinh tấn để đạt được điều chưa đạt được, để có được điều chưa có được, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ. Đây là nền tảng thứ tư của sự biếng nhác.

Và lại nữa, tỳ-khưu đi khất thực qua làng mạc hay thị trấn không nhận được đầy đủ hoặc thích đáng vật thực thô hoặc mịn, (ý nghĩ) của vị ấy là như vầy, "Quả thật, ta, đi khất thực qua làng mạc hay thị trấn, đã không nhận được đầy đủ hoặc thích đáng vật thực thô hoặc mịn, thân này của ta đã trở nên mệt mỏi, không thích hợp cho công việc; thôi, ta sẽ nằm nghỉ". Vị ấy nằm nghỉ, không phát khởi tinh tấn để đạt được điều chưa đạt được, để có được điều chưa có được, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ. Đây là nền tảng thứ năm của sự biếng nhác.

Và lại nữa, tỳ-khưu đi khất thực qua làng mạc hay thị trấn nhận được đầy đủ và thích đáng vật thực thô hoặc mịn, (ý nghĩ) của vị ấy là như vầy, "Quả thật, ta, đi khất thực qua làng mạc hay thị trấn, đã nhận được đầy đủ và thích đáng vật thực thô hoặc mịn, thân này của ta đã trở nên mệt mỏi, không thích hợp cho công việc, giống như hạt đậu đã ngâm nước; thôi, ta sẽ nằm nghỉ". Vị ấy nằm nghỉ, không phát khởi tinh tấn để đạt được điều chưa đạt được, để có được điều chưa có được, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ. Đây là nền tảng thứ sáu của sự biếng nhác.

Và lại nữa, nơi tỳ-khưu khởi lên một chứng bệnh nhẹ, (ý nghĩ) của vị ấy là như vầy, "Chứng bệnh nhẹ này đã khởi lên nơi ta, thật thích hợp để nằm nghỉ; thôi, ta sẽ nằm nghỉ". Vị ấy nằm nghỉ, không phát khởi tinh tấn để đạt được điều chưa đạt được, để có được điều chưa có được, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ. Đây là nền tảng thứ bảy của sự biếng nhác.

Và lại nữa, tỳ-khưu đã bình phục khỏi bệnh, mới vừa bình phục khỏi bệnh, (ý nghĩ) của vị ấy là như vầy, "Quả thật, ta đã bình phục khỏi bệnh, mới vừa bình phục khỏi bệnh, thân này của ta còn yếu, không thích hợp cho công việc; thôi, ta sẽ nằm nghỉ". Vị ấy nằm nghỉ, không phát khởi tinh tấn để đạt được điều chưa đạt được, để có được điều chưa có được, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ; đây là nền tảng thứ tám của sự biếng nhác. Đây là tám nền tảng của sự biếng nhác. PTS vp 387

PTS cs 954Ở đây, trong tám pháp thế gian nào có sự lệch hướng của tâm thức ? Say đắm với lợi lộc, thù nghịch với sự thiếu lợi lộc, say đắm với danh tiếng, thù nghịch với sự thiếu danh tiếng, say đắm với lời khen, thù nghịch với lời chê, say đắm với lạc, thù nghịch với khổ. Trong tám pháp thế gian này có sự lệch hướng của tâm thức.

PTS cs 955BA 499 Ở đây, thế nào là "tám (loại) lời nói không cao thượng" ? Không thấy mà nói là đã thấy; không nghe mà nói là đã nghe; không cảm nhận khác mà nói là đã cảm nhận khác; không biết mà nói là biết; đã thấy mà nói là không thấy; đã nghe mà nói là không nghe; đã cảm nhận khác mà nói là không cảm nhận khác; đã biết mà nói là không biết. Đây là tám (loại) lời nói không cao thượng.

PTS cs 956Ở đây, thế nào là "tám (loại) giả dối" ? Tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định. Đây là tám (loại) giả dối.

PTS cs 957Ở đây, thế nào là "tám khiếm khuyết của con người" ? Ở đây, các tỳ-khưu buộc tội một tỳ-khưu về một tội; tỳ-khưu đó bị các tỳ-khưu buộc tội về một tội, với sự vắng bặt chánh niệm, nói lảng tránh rằng, "Tôi không nhớ, tôi không nhớ". Đây là khiếm khuyết thứ nhất của con người.

Và lại nữa, các tỳ-khưu buộc tội một tỳ-khưu về một tội; tỳ-khưu đó bị các tỳ-khưu buộc tội về một tội, phản bác lại chính người buộc tội rằng, "Nói chuyện với một kẻ ngu dốt bất tài như ông có ích gì, ông nghĩ rằng một người như ông đáng để nói với tôi sao"? Đây là khiếm khuyết thứ hai của con người.

Và lại nữa, các tỳ-khưu buộc tội một tỳ-khưu về một tội; tỳ-khưu đó bị các tỳ-khưu buộc tội về một tội, phản buộc tội lại chính người buộc tội rằng, "Ông cũng đã phạm vào một tội như thế này, trước hết ông hãy sửa sai đi". Đây là khiếm khuyết thứ ba của con người.

Và lại nữa, các tỳ-khưu buộc tội một tỳ-khưu về một tội; tỳ-khưu đó bị các tỳ-khưu buộc tội về một tội, né tránh bằng cách này hay cách khác, đưa câu chuyện ra ngoài (chủ đề), tỏ ra giận dữ, sân hận, hờn dỗi. Đây là khiếm khuyết thứ tư của con người.

Và lại nữa, các tỳ-khưu buộc tội một tỳ-khưu về một tội; PTS vp 388 tỳ-khưu đó bị các tỳ-khưu buộc tội về một tội, nói giữa hội chúng tỳ-khưu, khoa tay múa chân vô nghĩa. Đây là khiếm khuyết thứ năm của con người.

Và lại nữa, các tỳ-khưu buộc tội một tỳ-khưu về một tội; tỳ-khưu đó bị các tỳ-khưu buộc tội về một tội (nói) rằng, "Tôi không phạm vào cũng không phải là không phạm vào (tội)", và làm phiền BA 500 | hội chúng tỳ-khưu bằng cách im lặng. Đây là khiếm khuyết thứ sáu của con người.

Và lại nữa, các tỳ-khưu buộc tội một tỳ-khưu về một tội; tỳ-khưu đó bị các tỳ-khưu buộc tội về một tội, coi thường hội chúng tỳ-khưu, coi thường người buộc tội, dù có tội vẫn bỏ đi tùy ý mình. Đây là khiếm khuyết thứ bảy của con người.

Và lại nữa, các tỳ-khưu buộc tội một tỳ-khưu về một tội; tỳ-khưu đó bị các tỳ-khưu buộc tội về một tội nói rằng, "Tại sao các ngài lo lắng về tôi nhiều như vậy, bây giờ tôi xin từ bỏ các học giới và trở về đời sống thế tục"? Vị ấy từ bỏ sự tu tập và trở về đời sống thế tục, nói rằng, "Bây giờ, quả thật, kính bạch các ngài, xin hãy hoan hỷ". Đây là khiếm khuyết thứ tám của con người. Đây là tám khiếm khuyết của con người.

PTS cs 958Ở đây, thế nào là "tám học thuyết về sự có tưởng phi tưởng" (thuyết cho là không có tưởng) ? Linh hồn có sắc, không hoại diệt sau khi chết, như vậy một số người công bố điều này là "không có tưởng"; linh hồn không có sắc. Có sắc và không sắc. Không có sắc cũng không phải không sắc.* Linh hồn là hữu biên, không hoại diệt sau khi chết, như vậy một số người công bố điều này là "không có tưởng"; linh hồn là vô biên, không hoại diệt sau khi chết, như vậy một số người công bố điều này là "không có tưởng"; PTS vp 389 linh hồn là hữu biên và vô biên, không hoại diệt sau khi chết, như vậy một số người công bố điều này là "không có tưởng"; linh hồn vừa không hữu biên vừa không vô biên, không hoại diệt sau khi chết, như vậy một số người công bố điều này là "không có tưởng".

Đây là tám học thuyết về sự có tưởng phi tưởng (không có tưởng).

– Hoàn tất mỗi mục theo hình thức tổng quát của ví dụ cuối cùng.

PTS cs 959Ở đây, thế nào là "tám học thuyết về phi tưởng phi phi tưởng" ? Linh hồn có sắc, không hoại diệt sau khi chết, như vậy một số người công bố điều này là "phi tưởng phi phi tưởng"; linh hồn không có sắc, không hoại diệt sau khi chết, như vậy một số người công bố điều này là "phi tưởng phi phi tưởng"; linh hồn có sắc và không sắc, không hoại diệt sau khi chết, như vậy một số người công bố điều này là "phi tưởng phi phi tưởng"; linh hồn không có sắc cũng không phải không sắc, không hoại diệt sau khi chết, như vậy một số người công bố điều này là "phi tưởng phi phi tưởng"; linh hồn là hữu biên, không hoại diệt sau khi chết, như vậy một số người công bố điều này là "phi tưởng phi phi tưởng";

BA 501 | linh hồn là vô biên, không hoại diệt sau khi chết, như vậy một số người công bố điều này là "phi tưởng phi phi tưởng"; linh hồn là hữu biên và vô biên, không hoại diệt sau khi chết, như vậy một số người công bố điều này là "phi tưởng phi phi tưởng"; linh hồn vừa không hữu biên vừa không vô biên, không hoại diệt sau khi chết, như vậy một số người công bố điều này là "phi tưởng phi phi tưởng".

Đây là tám học thuyết về phi tưởng phi phi tưởng.

(Đến Đây Chấm Dứt) Quảng Diễn Bát Phần

9. Quảng Diễn Cửu Phần

PTS cs 960Ở đây, thế nào là "chín nền tảng của sự phiền nhiễu" ? "Người này đã làm hại ta", như vậy sự phiền nhiễu khởi lên; "Người này đang làm hại ta", như vậy sự phiền nhiễu khởi lên; "Người này sẽ làm hại ta", như vậy sự phiền nhiễu khởi lên; "Người này đã làm hại người thân yêu và dễ mến đối với ta, đang làm hại, sẽ làm hại", như vậy sự phiền nhiễu khởi lên; "Người này đã làm điều tốt cho người không thân yêu và không dễ mến đối với ta, đang làm điều tốt, sẽ làm điều tốt", như vậy sự phiền nhiễu khởi lên. Đây là chín nền tảng của sự phiền nhiễu.

– Hoàn tất một cách thích hợp.

PTS cs 961Ở đây, thế nào là "chín uế trược của con người" ? Phẫn nộ, gièm pha, ganh tị, bủn xỉn, man trá, ngoan cố giả dối, vọng ngữ, ác dục, tà kiến. Đây là chín uế trược của con người.

PTS cs 962Ở đây, thế nào là "chín loại ngã mạn" ? Nơi người hơn, ngã mạn rằng, "Ta hơn"; PTS vp 390 nơi người hơn, ngã mạn rằng, "Ta bằng"; nơi người hơn, ngã mạn rằng, "Ta kém"; nơi người bằng, ngã mạn rằng, "Ta hơn"; nơi người bằng, ngã mạn rằng, "Ta bằng"; nơi người bằng, ngã mạn rằng, "Ta kém"; nơi người kém, ngã mạn rằng, "Ta hơn"; nơi người kém, ngã mạn rằng, "Ta bằng"; nơi người kém, ngã mạn rằng, "Ta kém". Đây là chín loại ngã mạn.

PTS cs 963Ở đây, thế nào là "chín trạng thái bắt rễ nơi ái" ? Nương vào ái mà có sự tầm cầu liên tục; nương vào sự tầm cầu liên tục mà có sự đạt được; nương vào sự đạt được mà có sự phán đoán; nương vào sự phán đoán mà có ước muốn tham đắm; nương vào ước muốn BA 502 | tham đắm mà có sự dính mắc; nương vào sự dính mắc mà có sự chiếm hữu; nương vào sự chiếm hữu mà có sự bủn xỉn; nương vào sự bủn xỉn mà có sự phòng vệ; do sự phòng vệ mà — cầm gậy, cầm khí giới, cãi cọ, tranh luận, tranh chấp, (gọi nhau) "mày, mày", vu khống, vọng ngữ và nhiều ác bất thiện pháp khởi lên. Đây là chín trạng thái bắt rễ nơi ái.

PTS cs 964Ở đây, thế nào là "chín (loại) xáo động" ? "(Ta) là", đây là một sự xáo động; "Ta là", đây là một sự xáo động; "Ta, người (này), là", đây là một sự xáo động; "Ta sẽ là", đây là một sự xáo động; "Ta sẽ có sắc", đây là một sự xáo động; "Ta sẽ không có sắc", đây là một sự xáo động; "Ta sẽ có tưởng", đây là một sự xáo động; "Ta sẽ không có tưởng", đây là một sự xáo động; "Ta sẽ không có tưởng cũng không phải không có tưởng", đây là một sự xáo động. Đây là chín (loại) xáo động.

PTS cs 965Ở đây, thế nào là "chín (loại) tưởng tượng, chín (loại) bất ổn, chín (loại) ám ảnh, chín (tâm) trạng thái" ? "(Ta) là", đây là một (tâm) trạng thái; "Ta là", đây là một (tâm) trạng thái; "Ta, người (này), là", đây là một (tâm) trạng thái; PTS vp 391 "Ta sẽ là", đây là một (tâm) trạng thái; "Ta sẽ có sắc", đây là một (tâm) trạng thái; "Ta sẽ không có sắc", đây là một (tâm) trạng thái; "Ta sẽ có tưởng", đây là một (tâm) trạng thái; "Ta sẽ không có tưởng", đây là một (tâm) trạng thái; "Ta sẽ không có tưởng cũng không phải không có tưởng", đây là một (tâm) trạng thái. Đây là chín (tâm) trạng thái.

(Đến Đây Chấm Dứt) Quảng Diễn Cửu Phần

10. Quảng Diễn Thập Phần

PTS cs 966Ở đây, thế nào là "mười nền tảng của sự đồi bại" ? Tham, sân, si, ngã mạn, tà kiến, hoài nghi, hôn trầm, xao lãng, vô tàm, vô quý. Đây là mười nền tảng của sự đồi bại.

PTS cs 967Ở đây, thế nào là "mười nền tảng của sự phiền nhiễu" ? "Người này đã làm hại ta", như vậy sự phiền nhiễu khởi lên; "Người này đang làm hại ta", như vậy sự phiền nhiễu khởi lên; "Người này sẽ làm hại ta", như vậy sự phiền nhiễu khởi lên; "Người này đã làm BA 503 | hại người thân yêu và dễ mến đối với ta, đang làm hại, sẽ làm hại", như vậy sự phiền nhiễu khởi lên; "Người này đã làm điều tốt cho người không thân yêu và không dễ mến đối với ta, đang làm điều tốt, sẽ làm điều tốt", như vậy sự phiền nhiễu khởi lên; hoặc sự phiền nhiễu khởi lên một cách vô lý. Đây là mười nền tảng của sự phiền nhiễu.

– Hoàn tất một cách thích hợp.

PTS cs 968Ở đây, thế nào là "mười đường ác nghiệp" ? Sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, vọng ngữ, lời nói vu khống, lời nói thô ác, lời nói phù phiếm, tham lam, sân hận, tà kiến. Đây là mười đường ác nghiệp.

PTS cs 969Ở đây, thế nào là "mười kiết sử" ? Kiết sử tham dục, kiết sử phản kháng, kiết sử ngã mạn, kiết sử tà kiến, kiết sử hoài nghi, kiết sử giới cấm thủ, kiết sử tham hữu, kiết sử ganh tị, kiết sử bủn xỉn, kiết sử vô minh. Đây là mười kiết sử.

PTS cs 970Ở đây, thế nào là "mười (loại) giả dối" ? Tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, PTS vp 392 tà định, tà trí, tà giải thoát. Đây là mười (loại) giả dối.

PTS cs 971Ở đây, thế nào là "tà kiến có mười nền tảng" ? "Không có sự bố thí; không có sự hiến tế; không có sự cúng dường; không có quả hoặc kết quả của các hành vi được làm đúng và được làm sai; không có thế giới này; không có thế giới sau; không có mẹ; không có cha; không có các chúng sanh hóa sanh; không có trên đời các sa-môn và Bà-la-môn đã đạt đến điểm tối cao, những vị được huấn luyện tốt; những vị tự mình đã liễu tri hoàn toàn, đã chứng ngộ thế giới này và thế giới sau mà công bố (cho người khác biết)". Đây là tà kiến có mười nền tảng.

PTS cs 972Ở đây, thế nào là "kiến chấp cực đoan có mười nền tảng" ? "Thế giới là thường hằng" hoặc "thế giới là không thường hằng", "thế giới là hữu biên" hoặc "thế giới là vô biên", "sinh mạng và thân xác là một" hoặc "sinh mạng và thân xác là khác nhau", "một chúng sanh (bản văn = Như Lai) tồn tại sau khi chết" hoặc "một chúng sanh không tồn tại sau khi chết" hoặc "một chúng sanh vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết" hoặc "một chúng sanh vừa không tồn tại vừa không phải không tồn tại sau khi chết". Đây là kiến chấp cực đoan có mười nền tảng.

(Đến Đây Chấm Dứt) Quảng Diễn Thập Phần

Quảng Diễn về Các Sự Khởi Lên của Ái

PTS cs 973BA 504 Ở đây, thế nào là "mười tám sự khởi lên của ái liên hệ nội phần (các uẩn nội tại)" ? Có, "Ta là"; có, "Ta là người như thế này"; có, "Ta cũng là"; có, "Ta là khác đi"; có, "Ta sẽ là"; có, "Ta sẽ là người như thế này"; có, "Ta cũng sẽ là"; có, "Ta sẽ là khác đi"; có, "Ta là thường hằng"; có, "Ta là không thường hằng"; có, "Mong rằng ta có thể là"; có, "Mong rằng ta có thể là người như thế này"; có, "Mong rằng ta cũng có thể là"; có, "Mong rằng ta có thể là khác đi"; có, "Ước gì ta có thể là"; có, "Ước gì ta có thể là người như thế này"; có, "Ước gì ta cũng có thể là"; có, "Ước gì ta có thể là khác đi". PTS vp 393

PTS cs 974Và làm thế nào có "Ta là" ? Không phân biệt đối với bất kỳ trạng thái nào (dù là) sắc pháp, thọ, tưởng, các hành (hay) thức, người ta có được ước muốn, "Ta là"; người ta có được ngã mạn, "Ta là"; người ta có được tà kiến, "Ta là"; khi điều này xảy ra thì có các ám ảnh này, "Ta là người như thế này" hoặc "Ta cũng là" hoặc "Ta là khác đi". (1)

Và làm thế nào có "Ta là người như thế này" ? "Ta là bậc vua chúa" hoặc "Ta là người Bà-la-môn" hoặc "Ta là thương nhân" hoặc "Ta là người thợ thủ công" hoặc "Ta là gia chủ" hoặc "Ta là bậc khổ hạnh" hoặc "Ta là chư thiên" hoặc "Ta là con người" hoặc "Ta có sắc" hoặc "Ta không có sắc" hoặc "Ta có tưởng" hoặc "Ta không có tưởng" hoặc "Ta có 'phi tưởng phi phi tưởng'". Như vậy có, "Ta là người như thế này". (2)

Và làm thế nào có "Ta cũng là" ? So sánh người khác (với chính mình), "Như người ấy là bậc vua chúa, cũng vậy ta cũng là bậc vua chúa" hoặc "như người ấy là người Bà-la-môn, cũng vậy ta cũng là người Bà-la-môn" hoặc "như người ấy là thương nhân, cũng vậy ta cũng là thương nhân" hoặc "như người ấy là người thợ thủ công, cũng vậy ta cũng là người thợ thủ công" hoặc "như người ấy là gia chủ, cũng vậy ta cũng là gia chủ" hoặc "như người ấy là bậc khổ hạnh, cũng vậy ta cũng là bậc khổ hạnh" hoặc "như người ấy là chư thiên, cũng vậy ta cũng là chư thiên" hoặc "như người ấy là con người, cũng vậy ta cũng là con người" hoặc "như người ấy có sắc, cũng vậy ta cũng có sắc" hoặc "như người ấy không có sắc, cũng vậy ta cũng không có sắc" hoặc "như người ấy có tưởng,

cũng vậy ta cũng có tưởng" hoặc "như người ấy không có tưởng, cũng vậy ta cũng không có tưởng" hoặc "như người ấy có 'phi tưởng phi phi tưởng', cũng vậy ta cũng có 'phi tưởng phi phi tưởng'".

Như vậy có, "Ta cũng là". (3)

Và làm thế nào có "Ta là khác đi" ? So sánh người khác BA 505 | (với chính mình), "Như người ấy là bậc vua chúa, ta không phải là bậc vua chúa theo cách như vậy" hoặc "như người ấy là người Bà-la-môn, ta không phải là người Bà-la-môn theo cách như vậy" hoặc "như người ấy là thương nhân, ta không phải là thương nhân theo cách như vậy" hoặc "như người ấy là người thợ thủ công, ta không phải là người thợ thủ công theo cách như vậy" hoặc "như người ấy là gia chủ, ta không phải là gia chủ theo cách như vậy" hoặc "như người ấy là bậc khổ hạnh, ta không phải là bậc khổ hạnh theo cách như vậy" hoặc "như người ấy là chư thiên, ta không phải là chư thiên theo cách như vậy" hoặc "như người ấy là con người, ta không phải là con người theo cách như vậy" hoặc PTS vp 394 "như người ấy có sắc,

ta không có sắc theo cách như vậy" hoặc "như người ấy 'không có sắc', ta không 'không có sắc' theo cách như vậy" hoặc "như người ấy có tưởng, ta không có tưởng theo cách như vậy" hoặc "như người ấy không có tưởng, ta không phải không có tưởng theo cách như vậy" hoặc "như người ấy có 'phi tưởng phi phi tưởng', ta không có 'phi tưởng phi phi tưởng' theo cách như vậy".

Như vậy có, "Ta là khác đi". (4)

Và làm thế nào có "Ta sẽ là" ? Không phân biệt đối với bất kỳ trạng thái nào (dù là) sắc pháp, thọ, tưởng, các hành (hay) thức, người ta có được ước muốn, "Ta sẽ là"; người ta có được ngã mạn, "Ta sẽ là"; người ta có được tà kiến, "Ta sẽ là"; khi điều này xảy ra thì có các ám ảnh này, "Ta sẽ là người như thế này" hoặc "Ta cũng sẽ là" hoặc "Ta sẽ là khác đi". (5)

Và làm thế nào có "Ta sẽ là người như thế này" ? "Ta sẽ là bậc vua chúa" hoặc "Ta sẽ là người Bà-la-môn" hoặc "Ta sẽ là thương nhân" hoặc "Ta sẽ là người thợ thủ công" hoặc "Ta sẽ là gia chủ" hoặc "Ta sẽ là bậc khổ hạnh" hoặc "Ta sẽ là chư thiên" hoặc "Ta sẽ là con người" hoặc "Ta sẽ có sắc" hoặc "Ta sẽ không có sắc" hoặc "Ta sẽ có tưởng" hoặc "Ta sẽ không có tưởng" hoặc "Ta sẽ có 'phi tưởng phi phi tưởng'". Như vậy có, "Ta sẽ là khác đi". (6)

Và làm thế nào có "Ta cũng sẽ là" ? So sánh người khác (với chính mình), "Như người ấy sẽ là bậc vua chúa, cũng vậy ta cũng sẽ là bậc vua chúa" hoặc "như người ấy sẽ là người Bà-la-môn, cũng vậy ta cũng sẽ là người Bà-la-môn" hoặc* "như người ấy sẽ có 'phi tưởng phi phi tưởng', cũng vậy ta cũng sẽ có 'phi tưởng phi phi tưởng'". Như vậy có, "Ta cũng sẽ là". (7)

– Các mục trung gian như trước.

Và làm thế nào có "Ta sẽ là khác đi" ? So sánh người khác (với chính mình), "Như người ấy sẽ là bậc vua chúa, ta sẽ không phải là bậc vua chúa theo cách như vậy" hoặc "như người ấy sẽ là người BA 506 | Bà-la-môn, ta sẽ không phải là người Bà-la-môn theo cách như vậy" hoặc* "như người ấy sẽ có 'phi tưởng phi phi tưởng', ta sẽ không có 'phi tưởng phi phi tưởng' theo cách như vậy". Như vậy có, "Ta sẽ là khác đi". (8)

– Các mục trung gian như trước.

Và làm thế nào có "Ta là thường hằng" ? Không phân biệt đối với bất kỳ trạng thái nào (dù là) sắc pháp, thọ, tưởng, các hành (hay) thức, (có), "Ta là thường trụ, ta là bền vững, ta là vĩnh cửu, ta không chịu sự biến đổi". Như vậy có, "Ta là thường hằng". (9) PTS vp 395

Và làm thế nào có "Ta là không thường hằng" ? Không phân biệt đối với bất kỳ trạng thái nào (dù là) sắc pháp, thọ, tưởng, các hành (hay) thức, (có), "Ta sẽ bị đoạn diệt, ta sẽ bị hủy hoại, ta sẽ không còn tồn tại". Như vậy có, "Ta là không thường hằng". (10)

Và làm thế nào có "Mong rằng ta có thể là" ? Không phân biệt đối với bất kỳ trạng thái nào (dù là) sắc pháp, thọ, tưởng, các hành (hay) thức, người ta có được ước muốn, "Mong rằng ta có thể là"; người ta có được ngã mạn, "Mong rằng ta có thể là"; người ta có được tà kiến, "Mong rằng ta có thể là"; khi điều này xảy ra thì có các ám ảnh này, "Mong rằng ta có thể là người như thế này" hoặc "Mong rằng ta cũng có thể là" hoặc "Mong rằng ta có thể là khác đi". (11)

Và làm thế nào có "Mong rằng ta có thể là người như thế này" ? "Mong rằng ta có thể là bậc vua chúa" hoặc "Mong rằng ta có thể là người Bà-la-môn" hoặc "Mong rằng ta có thể là thương nhân" hoặc "Mong rằng ta có thể là người thợ thủ công" hoặc "Mong rằng ta có thể là gia chủ" hoặc "Mong rằng ta có thể là bậc khổ hạnh" hoặc "Mong rằng ta có thể là chư thiên" hoặc "Mong rằng ta có thể là con người" hoặc "Mong rằng ta có thể có sắc" hoặc "Mong rằng ta có thể không có sắc" hoặc "Mong rằng ta có thể có tưởng" hoặc "Mong rằng ta có thể không có tưởng" hoặc "Mong rằng ta có thể có 'phi tưởng phi phi tưởng'". Như vậy có, "Mong rằng ta có thể là người như thế này". (12)

Và làm thế nào có "Mong rằng ta cũng có thể là" ? So sánh người khác (với chính mình), "Như người ấy có thể trở thành bậc vua chúa, cũng vậy ta cũng có thể trở thành bậc vua chúa" hoặc "như người ấy có thể trở thành người Bà-la-môn, cũng vậy ta cũng có thể trở thành người Bà-la-môn" hoặc* "như người ấy có thể có 'phi tưởng phi phi tưởng', cũng vậy ta cũng có thể có 'phi tưởng phi phi tưởng'". Như vậy có, "Mong rằng ta cũng có thể là". (13)

– Các mục trung gian như trước.

Và làm thế nào có "Mong rằng ta có thể là khác đi" ? So sánh người khác (với chính mình), "Nếu người ấy là bậc vua chúa, ta có lẽ không phải là bậc vua chúa BA 507 | theo cách như vậy" hoặc "nếu người ấy là người Bà-la-môn, ta có lẽ không phải là người Bà-la-môn theo cách như vậy" hoặc* "nếu người ấy có 'phi tưởng phi phi tưởng', ta có lẽ không có 'phi tưởng phi phi tưởng' theo cách như vậy". Như vậy có, "Mong rằng ta có thể là khác đi". (14)

– Các mục trung gian như trước.

Và làm thế nào có "Ước gì ta có thể là" ? Không phân biệt đối với bất kỳ trạng thái nào (dù là) sắc pháp, thọ, tưởng, các hành (hay) thức, người ta có được ước muốn, "Ước gì ta có thể là"; người ta có được ngã mạn, "ước gì ta có thể là"; người ta có được tà kiến, "ước gì ta có thể là"; khi điều này xảy ra thì có các ám ảnh này, "ước gì ta có thể là người như thế này" hoặc "ước gì ta cũng có thể là" hoặc "ước gì ta có thể là khác đi". (15)

Và làm thế nào có "Ước gì ta có thể là người như thế này" ? "Ước gì ta có thể là bậc vua chúa" hoặc "ước gì ta có thể là người Bà-la-môn" hoặc "ước gì ta có thể là thương nhân" hoặc "ước gì ta có thể là người thợ thủ công" hoặc "ước gì ta có thể là gia chủ" hoặc "ước gì ta có thể là bậc khổ hạnh" PTS vp 396 hoặc "ước gì ta có thể là chư thiên" hoặc "ước gì ta có thể là con người" hoặc "ước gì ta có thể có sắc" hoặc "ước gì ta có thể không có sắc" hoặc "ước gì ta có thể có tưởng" hoặc "ước gì ta có thể không có tưởng" hoặc "ước gì ta có thể có 'phi tưởng phi phi tưởng'". Như vậy có, "Ước gì ta có thể là người như thế này". (16)

Và làm thế nào có "Ước gì ta cũng có thể là" ? So sánh người khác (với chính mình), "Như người ấy có thể trở thành bậc vua chúa, ước gì ta cũng có thể trở thành bậc vua chúa" hoặc "như người ấy có thể trở thành người Bà-la-môn, ước gì ta cũng có thể trở thành người Bà-la-môn" hoặc* "như người ấy có thể có 'phi tưởng phi phi tưởng', ước gì ta cũng có thể có 'phi tưởng phi phi tưởng'". Như vậy có, "Ước gì ta cũng có thể là". (17)

– Các mục trung gian như trước.

Và làm thế nào có "Ước gì ta có thể là khác đi" ? So sánh người khác (với chính mình), "Như người ấy có thể trở thành bậc vua chúa, ước gì ta có thể không trở thành bậc vua chúa BA 508 | theo cách như vậy" hoặc "như người ấy có thể trở thành người Bà-la-môn, ước gì ta có thể không trở thành người Bà-la-môn theo cách như vậy" hoặc* "như người ấy có thể có 'phi tưởng phi phi tưởng', ước gì ta có thể không có 'phi tưởng phi phi tưởng' theo cách như vậy". Như vậy có, "Ước gì ta có thể là khác đi". (18)

– Các mục trung gian như trước.

Đây là mười tám sự khởi lên của ái liên hệ nội phần (các uẩn nội tại).

PTS cs 975Ở đây, thế nào là "mười tám sự khởi lên của ái liên hệ ngoại phần (các uẩn ngoại tại)" ? Có, "Nhờ cái này ta là"; có, "nhờ cái này ta là người như thế này"; có, "nhờ cái này ta cũng là"; có, "nhờ cái này ta là khác đi"; có, "nhờ cái này ta sẽ là"; có, "nhờ cái này ta sẽ là người như thế này"; có, "nhờ cái này ta cũng sẽ là"; có, "nhờ cái này ta sẽ là khác đi"; có, "nhờ cái này ta là thường hằng"; có, "nhờ cái này ta là không thường hằng"; có, "nhờ cái này, mong rằng ta có thể là"; có, "nhờ cái này, mong rằng ta có thể là người như thế này"; có, "nhờ cái này, mong rằng ta cũng có thể là"; có, "nhờ cái này, mong rằng ta có thể là khác đi"; có, "nhờ cái này, ước gì ta có thể là"; có, "nhờ cái này, ước gì ta có thể là người như thế này"; có, "nhờ cái này, ước gì ta cũng có thể là";

có, "nhờ cái này, ước gì ta có thể là khác đi".

PTS cs 976Và làm thế nào có "Nhờ cái này ta là" ? PTS vp 397 Có sự phân biệt đối với một trạng thái nhất định nào đó (dù là) sắc pháp, thọ, tưởng, các hành (hay) thức, người ta có được ước muốn, "Nhờ cái này ta là"; người ta có được ngã mạn, "nhờ cái này ta là"; người ta có được tà kiến, "nhờ cái này ta là"; khi điều này xảy ra thì có các ám ảnh này, "nhờ cái này ta là người như thế này" hoặc "nhờ cái này ta cũng là" hoặc "nhờ cái này ta là khác đi". (1)

Và làm thế nào có "Nhờ cái này ta là người như thế này" ? "Nhờ cái này ta là bậc vua chúa" hoặc "nhờ cái này ta là người Bà-la-môn" hoặc "nhờ cái này ta là thương nhân" hoặc "nhờ cái này ta là người thợ thủ công" hoặc "nhờ cái này ta là gia chủ" hoặc "nhờ cái này ta là bậc khổ hạnh" hoặc "nhờ cái này ta là chư thiên" hoặc "nhờ cái này ta là con người" hoặc "nhờ cái này ta có sắc" hoặc "nhờ cái này ta không có sắc" hoặc "nhờ cái này ta có tưởng" hoặc "nhờ cái này ta không có tưởng" hoặc "nhờ cái này ta có 'phi BA 509 | tưởng phi phi tưởng'". Như vậy có, "Nhờ cái này ta là người như thế này". (2)

Và làm thế nào có "Nhờ cái này ta cũng là" ? So sánh người khác (với chính mình), "Như người ấy là bậc vua chúa, thì nhờ cái này ta cũng là bậc vua chúa" hoặc "như người ấy là người Bà-la-môn, thì nhờ cái này ta cũng là người Bà-la-môn" hoặc* "như người ấy có 'phi tưởng phi phi tưởng', thì nhờ cái này ta cũng có 'phi tưởng phi phi tưởng'". Như vậy có, "Nhờ cái này ta cũng là". (3)

– Các mục trung gian như trước.

Và làm thế nào có "Nhờ cái này ta là khác đi" ? So sánh người khác (với chính mình), "Như người ấy là bậc vua chúa, nhờ cái này ta không phải là bậc vua chúa theo cách như vậy" hoặc "như người ấy là người Bà-la-môn, nhờ cái này ta không phải là người Bà-la-môn theo cách như vậy" hoặc* "như người ấy có 'phi tưởng phi phi tưởng', nhờ cái này ta không có 'phi tưởng phi phi tưởng' theo cách như vậy". Như vậy có, "Nhờ cái này ta là khác đi". (4)

– Các mục trung gian như trước.

Và làm thế nào có "Nhờ cái này ta sẽ là" ? Có sự phân biệt đối với một trạng thái nhất định nào đó (dù là) sắc pháp, thọ, tưởng, các hành (hay) thức, người ta có được ước muốn, "Nhờ cái này ta sẽ là"; người ta có được ngã mạn, "nhờ cái này ta sẽ là"; người ta có được tà kiến, "nhờ cái này ta sẽ là"; khi điều này xảy ra thì có các ám ảnh này, "nhờ cái này ta sẽ là người như thế này" hoặc "nhờ cái này ta cũng sẽ là" hoặc "nhờ cái này ta sẽ là khác đi". (5)

Và làm thế nào có "Nhờ cái này ta sẽ là người như thế này" ? "Nhờ cái này ta sẽ là bậc vua chúa" hoặc* PTS vp 398 "nhờ cái này ta sẽ không có sắc" hoặc "nhờ cái này ta sẽ có tưởng" hoặc "nhờ cái này ta sẽ không có tưởng" hoặc "nhờ cái này ta sẽ có 'phi tưởng phi phi tưởng'". Như vậy có, "Nhờ cái này ta sẽ là người như thế này". (6)

– Các mục trung gian như trước.

Và làm thế nào có "Nhờ cái này ta cũng sẽ là" ? So sánh người khác (với chính mình), "Như người ấy sẽ là bậc vua chúa, thì nhờ cái này ta cũng sẽ là bậc vua chúa" hoặc "như người ấy sẽ là người Bà-la-môn, thì nhờ cái này ta cũng sẽ là người Bà-la-môn" hoặc* "như người ấy sẽ có 'phi tưởng phi phi tưởng', thì nhờ cái này ta cũng BA 510 | sẽ có 'phi tưởng phi phi tưởng'". Như vậy có, "Nhờ cái này ta cũng sẽ là". (7)

– Các mục trung gian như trước.

Và làm thế nào có "Nhờ cái này ta sẽ là khác đi" ? So sánh người khác (với chính mình), "Như người ấy sẽ là bậc vua chúa, nhờ cái này ta sẽ không phải là bậc vua chúa theo cách như vậy" hoặc "như người ấy sẽ là người Bà-la-môn, nhờ cái này ta sẽ không phải là người Bà-la-môn theo cách như vậy" hoặc* "như người ấy sẽ có 'phi tưởng phi phi tưởng', nhờ cái này ta sẽ không có 'phi tưởng phi phi tưởng' theo cách như vậy". Như vậy có, "Nhờ cái này ta sẽ là khác đi". (8)

– Các mục trung gian như trước.

Và làm thế nào có "Nhờ cái này ta là thường hằng" ? Có sự phân biệt đối với một trạng thái nhất định nào đó (dù là) sắc pháp, thọ, tưởng, các hành (hay) thức, (có), "Nhờ cái này ta là thường trụ, ta là bền vững, ta là vĩnh cửu, ta không chịu sự biến đổi". Như vậy có, "Nhờ cái này ta là thường hằng". (9)

Và làm thế nào có "Nhờ cái này ta là không thường hằng" ? Có sự phân biệt đối với một trạng thái nhất định nào đó (dù là) sắc pháp, thọ, tưởng, các hành (hay) thức, (có), "Nhờ cái này ta sẽ bị đoạn diệt, ta sẽ bị hủy hoại, ta sẽ không còn tồn tại". Như vậy có, "Nhờ cái này ta là không thường hằng". (10)

Và làm thế nào có "Nhờ cái này ta có thể là" ? Có sự phân biệt đối với một trạng thái nhất định nào đó (dù là) sắc pháp, thọ, tưởng, các hành (hay) thức, người ta có được ước muốn, "Nhờ cái này ta có thể là"; người ta có được ngã mạn, "nhờ cái này ta có thể là"; người ta có được tà kiến, "nhờ cái này ta có thể là"; khi điều này xảy ra thì có các ám ảnh này, "nhờ cái này ta có thể là người như thế này" hoặc "nhờ cái này ta cũng có thể là" hoặc "nhờ cái này ta có thể là khác đi". (11)

Và làm thế nào có "Nhờ cái này ta có thể là người như thế này" ? "Nhờ cái này ta có thể là bậc vua chúa" hoặc "nhờ cái này ta có thể là người Bà-la-môn" hoặc "nhờ cái này ta có thể là thương nhân" hoặc "nhờ cái này ta có thể là người thợ thủ công" hoặc "nhờ cái này ta có thể là gia chủ" hoặc "nhờ cái này ta có thể là bậc khổ hạnh" hoặc "nhờ cái này ta có thể là chư thiên" hoặc "nhờ cái này ta có thể BA 511 | là con người" hoặc "nhờ cái này ta có thể có sắc" hoặc "nhờ cái này ta có thể không có sắc" hoặc "nhờ cái này PTS vp 399 ta có thể có tưởng" hoặc "nhờ cái này ta có thể không có tưởng" hoặc "nhờ cái này ta có thể có 'phi tưởng phi phi tưởng'". Như vậy có, "Nhờ cái này ta có thể là người như thế này". (12)

Và làm thế nào có "Nhờ cái này ta cũng có thể là" ? So sánh người khác (với chính mình), "Như người ấy có thể trở thành bậc vua chúa, thì nhờ cái này ta cũng có thể trở thành bậc vua chúa" hoặc "như người ấy có thể trở thành người Bà-la-môn, thì nhờ cái này ta cũng có thể trở thành người Bà-la-môn" hoặc* "như người ấy có thể có 'phi tưởng phi phi tưởng', thì nhờ cái này ta cũng có thể có 'phi tưởng phi phi tưởng'". Như vậy có, "Nhờ cái này ta cũng có thể là". (13)

– Các mục trung gian như trước.

Và làm thế nào có "Nhờ cái này ta có thể là khác đi" ? So sánh người khác (với chính mình), "Nếu người ấy là bậc vua chúa, nhờ cái này ta có lẽ không phải là bậc vua chúa theo cách như vậy" hoặc "nếu người ấy là người Bà-la-môn, nhờ cái này ta có lẽ không phải là người Bà-la-môn theo cách như vậy" hoặc* "như người ấy có thể có 'phi tưởng phi phi tưởng', nhờ cái này ta có lẽ không có 'phi tưởng phi phi tưởng' theo cách như vậy". Như vậy có, "Nhờ cái này ta có thể là khác đi". (14)

– Các mục trung gian như trước.

Và làm thế nào có "Nhờ cái này, ước gì ta có thể là" ? Có sự phân biệt đối với một trạng thái nhất định nào đó (dù là) sắc pháp, thọ, tưởng, các hành (hay) thức, người ta có được ước muốn, "Nhờ cái này, ước gì ta có thể là"; người ta có được ngã mạn, "nhờ cái này, ước gì ta có thể là"; người ta có được tà kiến, "nhờ cái này, ước gì ta có thể là"; khi điều này xảy ra thì có các ám ảnh này, "nhờ cái này, ước gì ta có thể là người như thế này" hoặc "nhờ cái này, ước gì ta cũng có thể là" hoặc "nhờ cái này, ước gì ta có thể là khác đi". (15)

Và làm thế nào có "Nhờ cái này, ước gì ta có thể là người như thế này" ? "Nhờ cái này, ước gì ta có thể là bậc vua chúa" hoặc "nhờ cái này, ước gì ta có thể là người Bà-la-môn" hoặc "nhờ cái này, ước gì ta có thể là thương nhân" hoặc "nhờ cái này, ước gì ta có thể là người thợ thủ công" hoặc "nhờ cái này, ước gì BA 512 | ta có thể là gia chủ" hoặc "nhờ cái này, ước gì ta có thể là bậc khổ hạnh" hoặc "nhờ cái này, ước gì ta có thể là chư thiên" hoặc "nhờ cái này, ước gì ta có thể là con người" hoặc "nhờ cái này, ước gì ta có thể có sắc" hoặc "nhờ cái này, ước gì ta có thể không có sắc" hoặc "nhờ cái này, ước gì ta có thể có tưởng" hoặc "nhờ cái này, ước gì ta có thể không có tưởng" hoặc "nhờ cái này, ước gì ta có thể có 'phi tưởng phi phi tưởng'".

Như vậy có, "Nhờ cái này, ước gì ta có thể là người như thế này". (16)

Và làm thế nào có "Nhờ cái này, ước gì ta cũng có thể là" ? So sánh người khác (với chính mình), "Như người ấy có thể trở thành bậc vua chúa, nhờ cái này, ước gì ta cũng có thể trở thành bậc vua chúa" hoặc "như người ấy có thể trở thành người Bà-la-môn, nhờ cái này, ước gì ta cũng có thể trở thành người Bà-la-môn" hoặc* "như người ấy có thể có 'phi tưởng phi phi tưởng', nhờ cái này, ước gì ta cũng có thể có 'phi tưởng phi phi tưởng'". Như vậy có, "Nhờ cái này, ước gì ta cũng có thể là". (17)

– Các mục trung gian như trước.

Và làm thế nào có "Nhờ cái này, ước gì ta có thể là khác đi" ? PTS vp 400 So sánh người khác (với chính mình), "Như người ấy có thể trở thành bậc vua chúa, nhờ cái này, ước gì ta có thể không trở thành bậc vua chúa theo cách như vậy" hoặc "như người ấy có thể trở thành người Bà-la-môn, nhờ cái này, ước gì ta có thể không trở thành người Bà-la-môn theo cách như vậy" hoặc* "như người ấy có thể có 'phi tưởng phi phi tưởng', nhờ cái này, ước gì ta có thể không có 'phi tưởng phi phi tưởng' theo cách như vậy". Như vậy có, "Nhờ cái này, ước gì ta có thể là khác đi". (18)

Đây là mười tám sự khởi lên của ái liên hệ ngoại phần (các uẩn ngoại tại).

Như vậy mười tám sự khởi lên của ái liên hệ nội phần này; mười tám sự khởi lên của ái liên hệ ngoại phần này; (gộp) chung lại tất cả và nói vắn tắt thì có ba mươi sáu sự khởi lên của ái. Như vậy tương tự có ba mươi sáu sự khởi lên của ái thuộc quá khứ; ba mươi sáu sự khởi lên của ái thuộc vị lai; ba mươi sáu sự khởi lên của ái thuộc hiện tại; (gộp) chung lại tất cả và nói vắn tắt thì có một trăm lẻ tám sự khởi lên của ái.

PTS cs 977BA 513 Ở đây, thế nào là "sáu mươi hai tà kiến đã được đức Thế Tôn (Bhagavā) thuyết giảng trong Phạm Võng Kinh (Brahmajāla)" ? Bốn học thuyết thường hằng luận; bốn học thuyết thường hằng luận từng phần; bốn học thuyết hữu biên và vô biên; bốn học thuyết ngụy biện trườn uốn (như lươn); hai học thuyết (về sự khởi lên) không nguyên nhân; mười sáu học thuyết về sự có tưởng; tám học thuyết về sự có tưởng phi tưởng (không có tưởng); tám học thuyết về "phi tưởng phi phi tưởng"; bảy học thuyết đoạn diệt luận; năm học thuyết về Niết-bàn ngay trong đời hiện tại. Đây là sáu mươi hai tà kiến đã được đức Thế Tôn thuyết giảng trong Phạm Võng Kinh.

Phân Tích Các Tiểu Mục Chấm Dứt

---

Bộ Phân Tích (The Book of Analysis), bản dịch tiếng Anh của tạng Vi Diệu Pháp Pāli — Vibhaṅga. Dịch giả: Paṭhamkyaw Ashin Thiṭṭila (Seiṭṭhila). Xuất bản bởi Pali Text Society, 1969.

Ấn bản SuttaCentral này được biên soạn bởi Manfred Wierich và Đại đức Vimala, hiệu đính bởi Ariya Baumann. Một số thay đổi đã được đưa vào:

– Các liên kết nội bộ và bên ngoài đã được thêm vào, để độc giả có thể dễ dàng nhấp vào các tham chiếu.

– Một số từ viết tắt đã được mở rộng.

– Các sơ suất và lỗi hiển nhiên đã được sửa chữa, tất cả đều là những lỗi nhỏ.

Cách phân trang của bản in gốc PTS có thể được tìm thấy ở lề trang. Trừ khi chỗ ngắt trang bắt đầu một đoạn mới, một vạch đứng biểu thị điểm bắt đầu của trang mới.

Phiên bản điện tử này được xuất bản theo các điều khoản của giấy phép Creative Commons Attribution Non-Commercial 3.0 (CC BY-NC 3.0) như được tìm thấy tại đây: http://creativecommons.org/licenses/by-nc/3.0/

Toàn bộ bản quyền thuộc về Pali Text Society. Xem thêm tuyên bố tại http://www.palitext.com/ → Publications → Copyright Announcement. Chỉ dành cho mục đích phi thương mại.

🌏Vì sao bài kinh này do Inti AI tóm lược?

Bản ngôn ngữ bạn đang xem do Inti AI chuyển ngữ trung thực theo đúng truyền thống. Bạn có thể chuyển sang tab ngôn ngữ còn lại để đọc bản dịch của người.

🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →
Nguồn bản dịch: Diễn giải / dịch bởi AIGiấy phép: EN: U Thittila (qua SuttaCentral) · VI: bản dịch AI, chờ đối chiếu🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch bằng AI do Inti biên soạn: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến