Inti DharmaInti Dharma
← Kinh điển
Đại Thừa — Tạng Bắc Truyền · Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Việt dịch)

Trì Tâm Phạm Thiên Sở Vấn Kinh quyển 4

Tên chữ Hán:持心梵天所問經

📖9,583 từ · ~38 phút đọc
2

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản →
Bản dịch đầy đủ (Tiếng Việt)

Phẩm 15: THỌ KÝ THIÊN TỬ HIỆN BẤT THOÁI CHUYỂN

Bấy giờ, trời Đế Thích bạch Phật:

-Bạch Thế Tôn! Ví như ở nơi nào có ngọc báu thì mọi người ở nơi ấy đều thấy được ánh sáng của nó.

Bạch Thế Tôn! Các bậc Chánh sĩ thực hành đầy đủ các pháp không thể nghĩ bàn cũng như vậy. Bất cứ ở đâu, chư vị cũng đều được tự tại, dùng ánh sáng quý báu của pháp để chiếu soi đầy đủ, ngay khi tu tập liền đạt được bản tế, luôn dùng biện tài tự tại để diễn nói pháp. Chư vị tự tại đối với các pháp nên không có đối tượng duyên dựa, không chấp vào ngã và ngã sở.

Chư vị được biện tài vô ngại nên không thể bị hỏi vặn cũng chẳng điên đảo, luôn được tự tại.

Người biện tài vô ngại nên thanh tịnh đối với quá khứ, không thủ đắc ở vị lai, cũng chẳng thấy có hiện tại.

Người biện tài vô ngại khiến cho người chưa từng có lòng tin phát khởi lòng tin, người chưa được giải thoát liền được giải thoát.

Người biện tài vô ngại phá trừ các kiêu mạn, giáo hóa cho những người ngã mạn, khiến họ trừ sạch tâm ấy.

Người biện tài vô ngại thì các ma không thể quấy phá, làm cho người nghe pháp tỉnh thức, thoát khỏi những việc của ma.

Người biện tài vô ngại khuyến khích cho người chưa phát khởi các pháp lành được sinh khởi, người đã sinh khởi pháp lành khiến được tăng trưởng, không hề bỏ mất nếu có các phiền não thì khiến họ đoạn trừ sạch, phiền não chưa sinh khởi khiến không sinh khởi.

Người biện tài vô ngại làm cho hàng Bồ-tát chưa mặc áo giáp oai đức khiến được mặc, người đã mặc thì không hề thoái lui.

Người biện tài vô ngại không đoạn trừ chánh pháp mà luôn hộ trì chánh pháp.

Người nào được biện tài như vậy thì có thể hàng phục tất cả ngoại đạo. Vì sao? Vì các loài thú nhỏ không thể chịu nổi tiếng gầm của sư tử, thấy sư tử thì không dám bước tới huống nữa là dám vào hang hoặc ở dưới gốc cây.

Bạch Thê Tôn! Cũng vậy, tất cả các hàng ngoại đạo không thể chịu nổi tiếng gầm của bậc Sư tử vô thượng.

Bấy giờ, Thiên tử Hiện Bất Thoái Chuyển hỏi trời Đế Thích:

-Thưa Nhân giả Câu-dực! Vừa rồi Nhân giả nói về tiếng gầm ấy, vậy thế nào là tiếng gầm của Sư tử?

Trời Đế Thích đáp:

-Nếu đối với các pháp mà không chấp giữ cũng chẳng có ngôn thuyết, đây gọi là tiếng gầm của sư tử, Vì không có đối tượng duyên dựa nên gọi là tịch tĩnh. Nếu có sự chấp giữ để thực hành theo tịch tĩnh thì không phải là tiếng gầm của sư tử, mà là tiếng kêu của loài cáo, vì còn chấp vào nẻo bình đẳng và có đôi tượng được thuyết pháp.

Này Thiên tử! Thiên tử nên nói lại, thế nào là tiếng gầm của sư tử?

Thiên tử đáp:

-Thưa Nhân giả Câu-dực! Nếu không tham chấp đối với Đức Như Lai, cũng chẳng có ngôn thuyết, huống nữa là các pháp khác, đó gọi là giảng pháp như tiếng gầm của sư tử. Thực hành theo lời dạy bình đẳng, gọi là tiếng gầm của sư tử. Giảng nói về nhất phẩm gọi là tiếng gầm của sư tử. Nghe những điều đã giảng nói mà không sợ hãi, gọi là tiếng gầm của sư tử. Nếu giảng nói kinh pháp mà không thấy có sinh khởi, hoại diệt, cũng chẳng chấp vào thật tánh, gọi là tiếng gầm của sư tử. Nếu ở trong phiền não mà không bị trói buộc, không có hòa hợp cũng chẳng tan hoại, người thuyết pháp như vậy gọi là tiếng gầm của sư tử.

Gọi là tiếng gầm của sư tử vì luôn chuyên chú, không chấp có người, chẳng có ngã và ngã sở, tất cả các pháp chỉ là tạm nêu bày. Gọi là tiếng gầm của sư tử vì dùng nhất tâm để xiển dương pháp không. Gọi là tiếng gầm của sư tử vì miệng thường giảng nói chánh pháp. Gọi là tiếng gầm của sư tử vì diệt trừ sạch tất cả khổ não cho chúng sinh, khiến họ sẽ thành tựu quả vị Phật và giảng nói giáo pháp. Gọi là tiếng gầm của sư tử vì đối với các tài sản luôn thanh tịnh hoàn toàn, thường biết đủ và khen ngợi giáo pháp. Gọi là tiếng gầm của sư tử vì luôn ở trụ xứ vắng lặng, không chọn lựa các pháp hành.

Bậc dẫn đầu về cội nguồn của hạnh bố thí gọi là tiếng gầm của sư tử. Không xả bỏ giới cấm là tiếng gầm của sư tử. Bình đẳng đối với kẻ oán người thân là tiếng gầm của sư tử. Giảng nói không hề chọn lựa, không thấy có xa, gần gọi là tiếng gầm của sư tử. Đoạn trừ các phiền não là tiếng gầm của sư tử. Bình đẳng dùng trí tuệ quan sát là tiếng gầm của sư tử.

Khi Thiên tử thuyết giảng về tiếng gầm của sư tử, thì cả tam thiên đại thiên thế giới đều chấn động sáu cách, trăm ngàn nhạc cụ không tấu mà tự kêu, ánh sáng lớn ấy chiếu khắp cả thế gian và cung điện của chư Thiên, trăm ngàn chư Thiên và loài người cùng thưa:

-Chúng con đã được nghe Thiên tử giảng pháp nói về tiếng gầm của sư tử, như ở cõi Diêm-phù-đề lại thấy chuyển pháp luân.

Lúc ấy, Đức Thế Tôn liền mỉm cười. Theo pháp của chư Phật thì lúc Ngài mỉm cười, có vô số hào quang đủ màu sắc như xanh, vàng, đỏ, trắng, đen, tía, hồng... từ nơi kim khẩu phát ra, chiếu soi khắp vô lương thế giới của chư Phật không thể tính kể, trên thì đến tận cõi trời Phạm thiên, che khuất ánh sáng của mặt trời, mặt trăng, trở lại nhiễu quanh thân Đức Phật ba vòng, rồi thu tướng ấy vào đỉnh đầu. Phạm thiên Trì Tâm liền đứng dậy, chắp tay hướng về Phật dùng kệ khen ngợi:

Bậc thông tuệ thù thắng

Biết rõ khắp các cõi

Phân biệt, thông đạt hết

Hành chúng sinh ba đời.

Tùy theo tâm tín kính

Dùng tuệ giải thoát họ

Tâm Ngài vượt mọi loài

Thọ ký khắp tất cả.

Chẳng phải là quả vị

Hàng Thanh văn, Duyên giác

Tuệ Phật là như vậy

Vô lượng, không giới hạn.

Hiểu rõ tâm chúng sinh

Nên giảng nói pháp gì

Để giải thoát cho họ

Bậc thù thắng khó sánh.

Tùy ý thường an lạc

Khéo léo trừ cấu uế

Hào quang Ngài phóng ra

Che nhật nguyệt cõi trời.

Soi đến núi Thiết vi

Ứ vạn núi Tu-di

Xin Ngài giảng nói nghĩa

Nhân duyên việc mỉm cười.

Bậc Năng Nhân tịch tĩnh

Trừ sạch mọi giận dữ

Từ bi quán sát khắp

Chư Thiên và thế gian.

Chiêm ngưỡng Ngài không chán

Thảy đều được an lạc

Xin giảng nhân mỉm cười

Hiểu rõ hết ý nghĩa.

Lựa chọn, quán các pháp

Tự tại như hư không

Mây, mù, điện, dợn nắng

Giả tạm như bọt, huyễn.

Thấy tất cả như mộng

Và như trăng đáy nước

Lành thay Ngài giảng nói

Nhân duyên gì mỉm cười?

Trừ hết thảy kiến chấp

Bậc Năng Nhân hiểu không

Các thông tuệ, trừ uế

Luôn lìa tưởng chấp giữ.

Chẳng có ba nẻo nguyện

Trụ thiền định, bình đẳng

Vì sao phóng hào quang

Xin thương phân biệt nói.

Chẳng văn tự; ngôn từ

Không chấp vào âm thanh

An trụ giảng nói kinh

Không thích pháp chúng sinh.

Hiểu rõ cả chúng hội

Khiến họ được tuệ Phật

Biết thần thông, căn, lực

Bậc tối thắng khéo giảng.

Phật là Bậc Y Vương

Trừ sạch tất cả khổ

Dũng mãnh đạt an lạc

Cứu chúng sinh buông lung.

Thoát khỏi mọi trói buộc

Khiến họ đều quy ỵ

Xin Đấng Thần Tôn giảng

Nhân hào quang, mỉm cười?

Đức Phật bảo Phạm thiên Trì Tâm:

-Ông thấy Thiên tử Hiện Bất Thoái Chuyển chăng?

Phạm thiên Trì Tâm đáp:

-Bạch Thế Tôn, con đã thấy!

Đức Phật dạy:

-Này Phạm thiên! Thiên tử Hiện Bất Thoái Chuyển này trong ba mươi hai a-tăng-kỳ kiếp không thể lường xét nữa sẽ được thành Phật, hiệu là Tu-di Đăng Vương đủ mười tôn hiệu: Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn, quốc độ tên là Thiện hóa, kiếp tên Tịnh thán. Cõi Phật đó dùng hai loại báu là lưu ly xanh biếc và vàng kim cương làm đất, toàn là chúng Bồ-tát, hàng phục hết các thứ ma oán; nhà cửa, y phục, thức ăn đều giống như cõi trời thứ sáu là Tha hóa tự tại. Đức Như Lai ấy luôn ân cần giáo hóa chúng sinh.

Bấy giờ, Phạm thiên Trì Tâm nói với Thiên tử Hiện Bất Thoái Chuyển:

-Thưa Nhân giả! Hôm nay, Đức Như Lai đã thọ ký cho Nhân giả.

Thiên tử nói:

-Đức Như Lai đã thọ ký cho tôi, giống với Như không có nguồn gốc thì việc thọ ký và pháp tánh cũng không có nguồn gốc, việc thọ ký cho tôi cũng vậy.

Phạm thiên nói:

-Do Như cùng với pháp tánh không có nguồn gốc nên không có sự thọ ký.

Thiên tử nói:

-Như không có nguồn gốc, pháp tánh cũng không có nguồn gốc, nếu cho là có thọ ký thì không thể có việc ấy, tất cả hàng Bồ-tát cũng vậy.

Phạm thiên hỏi:

-Nhân giả không an trụ nơi quả vị Chánh giác, tu phạm hạnh, phân biệt, hiểu rõ giống như Đức Phật đã thọ ký chăng?

Thiên tử đáp:

-Thưa Phạm thiên! Nếu không có đối tượng được tu tập, bình đẳng đối với tất cả, mới gọi là tu tập phạm hạnh.

Phạm thiên hỏi:

-Thế nào là không có đối tượng được tu tập mới là tu phạm hạnh?

Thiên tử đáp:

-Những ai không tu tập nơi cõi Dục, cõi sắc và cõi Vô sắc thì những người ấy chính là tu phạm hạnh.

Lại nữa, thưa Phạm thiên! Không trụ nơi đối tượng được tu tập, không trụ vào ngã, không tu tập theo nhân, không tu tập theo tuổi thọ cũng không tu tập nơi mạng sống, đấy gọi là tu phạm hạnh. Nói tóm lại, nếu đối với các pháp mà không tu tập theo các pháp, đấy gọi là tu hành phạm hạnh.

Phạm thiên hỏi:

-Thế nào là tu hành phạm hạnh?

Thiên tử đáp:

-Không trụ nơi nẻo nhị biên gọi là tu hành phạm hạnh.

Phạm thiên hỏi:

-Không trụ vào nẻo nhị biên thì kiến lập điều gì?

Thiên tử đáp:

-Không trụ vào nẻo nhị biên là kiến lập tất cả các pháp. Vì sao? Vì sự tu hành của bậc Hiền thánh mà không có đốì tượng kiến lập thì được giải thoát.

Phạm thiên hỏi:

-Làm thế nào để tu đạo?

Phạm thiên đáp:

-Tu đạo là không chấp vào sự thực hành, cũng không bỏ sự thực hành, không thực hành các pháp cũng chẳng xa lìa các pháp, đó gọi là tu đạo, tinh tấn thuận hợp với Như.

Phạm thiên hỏi:

-Dùng những hạnh gì để tu đạo?

Phạm thiên đáp:

-Không thấy, không nghe, không nhớ, không biết, không giáo hóa, không thủ đắc, không chứng quả, đối với tất cả các pháp đều không thấy có đối tượng được thực hành, đó gọi là tu đạo.

Phạm thiên hỏi:

-Thế nào là Bồ-tát tinh tấn vững mạnh?

Thiên tử đáp:

-Nếu Bồ-tát không thấy có một pháp để thực hành, cũng không thấy có nhiều pháp để thực hành, đó gọi là Bồ-tát tinh tấn vững mạnh, mặc áo giáp giới đức, đối với pháp tánh không hề hủy hoại, đã không hủy hoại nên cũng chẳng gần gũi, không xa lìa các pháp, cũng không chống trái, không thấy có phiền não, cũng không có kết sử. Đó gọi là Bồ-tát thực hành tinh tấn bậc nhất, đối với tất cả các pháp không thấy có cao, thấp mà luôn tu hành tinh tấn.

Thưa Phạm thiên! Không duyên theo thân, không duyên theo miệng, không duyên theo tâm, đó là thực hành tinh tấn bậc nhất.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn khen ngợi Thiên tử Hiện Bất Thoái Chuyển:

-Lành thay, lành thay! Đúng như lời ông nói.

Đức Phật lại bảo Phạm thiên Trì Tâm:

-Này Phạm thiên! Như lời Thiên tử vừa nói, Bồ-tát không thực hành nơi thân, không thực hành nơi miệng;, không thực hành nơi tâm, đó là thực hành tinh tấn bậc nhất.

Này Phạm thiên! Nhớ lại thuở xưa, về thời quá khứ cách đây nhiều kiếp, Như Lai đối với tất cả các đức hạnh đều hoàn toàn tịch tĩnh, siêng tu tinh tấn, cung kính cúng dường, ở nơi vắng vẻ để học rộng nghe nhiều, thực hành Từ bi đối với tất cả chúng sinh, dù đã tu theo tất cả các hạnh, tinh tấn khổ nhọc nhưng Như Lai vẫn không được thọ ký thành tựu đạo quả Yô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Vì sao? Vì lúc nào cũng chấp nơi thân, miệng, ý.

Này Phạm thiên! Tu hành tinh tấn theo các hình sắc như vậy thì đầy đủ các hạnh này. Như lời Thiên tử vừa nói, về đời sau, Như Lai mới được Đức Phật Định Quang thọ ký: “Đời sau, ông sẽ thành Phật hiệu là Năng Nhân gồm đủ mười tôn hiệu: Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thê Tôn.” Vì thế, này Phạm thiên! Giả sử Bồ-tát muốn mau được thọ ký thì nên tu hành tinh tấn như vậy, nhận biêt các pháp mà không có đối tượng được thực hành.

Phạm thiên thưa:

-Bạch Thế Tôn! Thế nào là không có đối tượng được thực hành?

Đức Thế Tôn đáp:

-Bình đẳng rốt ráo, thảy đều rỗng lặng gọi là tinh tấn.

Phạm thiên thưa:

-Thế nào là bình đẳng rốt ráo, thảy đều rỗng lặng mà gọi là tinh tấn?

Đức Thế Tôn đáp:

-Tâm quá khứ đã diệt, tâm vị lai chưa đến, tâm hiện tại không trụ, những gì diệt tận thì không phát sinh trở lại. Giả sử đạt được tướng không sinh khởi thì trụ như vậy gọi là thường, là không có chỗ trụ. Pháp ấy là chánh pháp đều bình đẳng nên không sinh khởi, vì không sinh khởi nên không có quá khứ, vị lai, hiện tại. Nếu không có quá khứ, vị lai, hiện tại thì vốn thanh tịnh, không sinh khởi.

Này Phạm thiên! Đó là bình đẳng rốt ráo, thảy đều rỗng lặng, gọi là tinh tấn. Như vậy, Bồ-tát muốn mau được thọ ký thì phải đạt được pháp nhẫn, đầy đủ các hạnh.

Này Phạm thiên! Nếu Bồ-tát đối với tất cả các pháp mà không thấy có đối tượng được tu tập thì gọi là bố thí, không chấp giữ tất cả các pháp gọi là trì giới, không nhớ nghĩ về tất cả các pháp gọi là nhẫn nhục, đốì với các pháp không có đối tượng được duyên dựa gọi là tinh tấn, bình đẳng đối với tất cả các pháp gọi là thiền định, đối với tất cả các pháp không khởi tưởng gọi là trí tuệ. Đây gọi là không tăng thêm cũng không giảm bớt, không tạo tác cũng chẳng phải tạo tác, thường thực hành bố thí nhưng không mong cầu, hành trì giới cấm nhưng không chấp giữ, tu theo nhẫn nhục nhưng trong ngoài đều thanh tịnh, thực hành tinh tấn mà thành tựu trọn vẹn, nhất tâm thiền định hoàn toàn không vướng mắc, tôn dùng trí tuệ nhưng không khởi tưởng.

Bồ-tát thực hành đầy đủ các hạnh nhẫn nhục như vậy, tuy thực hành, thị hiện khắp tất cả các hạnh nhưng không hề chấp giữ, do không chấp giữ nên bình đẵng đối với pháp thế gian, được lợi không vui mừng, không lợi ích, cũng chẳng lo lắng, nếu gặp những sự bàn luận, chê bai, khen ngợi, hoan hỷ, khổ đau... đều khổng lay động, không tăng, không giảm, không thích, không lo, vì đã vượt trên pháp hữu vi của thế gian. Vì không còn khổ đau, không phiền não cũng không khiếp sợ, không nhớ nghĩ cũng chẳng phải không nhớ nghĩ nên không có hai tướng, xa lìa các duyên nên đạt được pháp bất nhị, vì chúng sinh bị rơi vào hai kiến chấp nên khởi tâm đại Bi, dấy khởi tâm của mình để giáo hóa họ.

Này Phạm thiên! Đó là tinh tấn bậc nhất, vì đạt được nhẫn vô ngã nên đối với chúng sinh mà khởi tâm đại Bi, dù ở nơi nào cũng đều dẫn dắt, cứu giúp họ.

Khi Đức Phật thuyết giảng về hạnh tinh tấn này, tám ngàn Bồ-tát đạt được pháp Nhẫn vô sinh, Đức Phật thọ ký cho chư vị sẽ thành tựu đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác đều đồng một danh hiệu là Kiên Cường Tinh Tấn, gồm đủ mười tôn hiệu Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn, mỗi vị đều ở nơi mỗi cõi Phật khác nhau.

Bấy giờ, Tôn giả Đại Ca-diếp bạch Phật:

-Bạch Thế Tôn! Ví như các đại Long vương, khi muốn tuôn mưa thì mưa xuống biển cả. Các Bồ-tát này cũng vậy, Đấng Thiên Trung Thiên giống như biển cả, hiện ra hình tượng này để tuôn mưa pháp lớn. Các Đại Bồ-tát cũng như biển cả, tâm của chư vị cũng như vậy, dùng tánh chân thật để tuôn mưa chánh pháp.

Phật bảo Bồ-tát Ca-diếp:

-Như lời Tôn giả nói, các đại Long vương này không phải vì tham tiếc mà không rưới mưa xuống cõi Diêm-phù-đề, mà do đất ở cõi ấy không thể chịu nổi những trận mưa lớn như vậy.

Này Tôn giả Ca-diếp! Những vị đại Long vương này khi tuôn mưa xuống thiên hạ thì những cõi nước, thành ấp, núi non, khe suối... ở cõi Diêm-phù-đề đều bị cuốn sạch như cuốn trôi những chiêc lá cây. Do đó, những vị đại Long vương không tuôn cơn mưa lớn xuống cối Diêm-phù-đề.

Này Tôn giả Ca-diếp! Các Bồ-tát ấy không vì tham tiếc mưa pháp mà không tuôn mưa pháp khiến cho tât cả chúng sinh được thấm nhuần.

Lại nữa, này Tôn giả Ca-diếp! Nếu chúng sinh có đủ khả năng để lãnh thọ Phật pháp thì các Bồ-tát sẽ biết rõ tâm ý của họ, sẽ rưới tuôn mưa pháp như tâm chúng sinh đang suy nghĩ, vì tâm của chư vị như biển cả.

Này Tôn giả Ca-diếp! Ví như khi các Long vương trút các trận mưa dữ dội xuống thì biển cá đều chứa hết mà không cho là đủ, cũng chẳng tràn đầy. Các bậc Bồ-tát ấy cũng vậy. Nếu trong một kiếp hoặc trăm ngàn kiếp được nghe thuyết giảng về pháp này, lại đối với các pháp không đều tăng, không giảm, cũng chẳng cho là đủ.

Này Tôn giả Ca-diếp! Lại như biển cả, do các dòng sông khắp nơi đổ về, nhưng đều có một vị mặn như muối. Các Bồ-tát này cũng vậy, dù nghe vô số âm thanh, diễn nói những giáo pháp khác nhau nhưng khi nghe pháp, chư vị đều hiểu rõ tất cả đều quy về một nghĩa, đó là vị “giải thoát”, là vị “không”.

Này Tôn giả Ca-diếp! Ví như trong biển cả, luôn trong sạch, không nhơ uế, dù có chứa bất cứ dòng nước nào cũng chẳng cấu bẩn. Các Bồ-tát này cũng như vậy, chư vị luôn thanh tịnh, không cấu uế, không có các sự nhơ uế như: kết sử, biếng nhác, sân hận... Này Tôn giả Ca-diếp! Ví như biển cả sâu thẳm không đáy, khó có thể biết được giới hạn. Các Bồ-tát này cũng như vậy, hiểu rõ về trí tuệ thâm diệu của bậc Thánh, tâm hội nhập vào pháp sâu xa uyên áo khó có thể lường xét, hàng Thanh văn, Duyên giác không thể sánh bằng.

Này Tôn giả Ca-diếp! Ví như trong biển cả chứa vô lượng vô sô nước không thể lường tính. Các Bồ-tát này cũng vậy, chứa nhóm, gieo trồng các pháp Trí tuệ ba-la-mật không có giới hạn, nên dụ cho biển cả, chư vị đầy đủ các sắc tướng như vậy, nên gọi là Bồ-tát.

Này Tôn giả Ca-diếp! Ví như trong biển cả chứa nhóm vô lượng các loại báu. Các Bồ-tát này cũng vậy, dùng vô lượng pháp để giáo hóa, nên vô số pháp báu tự nhiên tràn đầy.

Này Tôn giả Ca-diếp! Như trong biển cả có ba loại báu: báu chân thân, báu thanh thủy, báu tài nghiệp. Các Bồ-tát này cũng vậy, khi giảng nói kinh pháp đều theo căn cơ và sự ứng hợp của chúng sinh nhằm khiến họ được giải thoát, hoặc đạt được thừa Thanh văn, thừa Duyên giác, hay Đại thừa.

Này Tôn giả Ca-diếp! Như trong biển cả, các dòng nước lớn nhỏ đều đổ vào thì dần dần trở thành sâu rộng. Các Bồ-tát này cũng vậy, chí nguyện nơi các thông tuệ, thực hành các thông tuệ, dần dần thành tựu đạo quả của bậc Thánh.

Này Tôn giả Ca-diếp! Như trong biển cả, không chứa thây chết, các bậc Chánh sĩ này cũng vậy, không chấp nhận tâm Thanh văn, Duyên giác, cũng không cùng chí hướng với chư vị ấy, không chấp nhận tâm tham lam, ganh ghét, phá giới, kết sử, biếng nhác, sân hận; không chấp nhận tâm tán loạn và trí ác, không dung chứa ngã và ngã sở, nhân, thọ mạng và kiến chấp.

Này Tôn giả Ca-diếp! Nếu gặp vào thời kỳ tai nạn thiêu đốt thì các dòng sông, sông lớn, ao hồ... đều khô cạn trước, sau đó biển cả mới bị khô cạn.

Này Tôn giả Ca-diếp! Bồ-tát lưu truyền chánh pháp đến khắp các cõi cũng vậy, trước dùng hạnh bố thí để tu tập chánh pháp, sau đó mới ban khắp sự giác ngộ đến các biển tâm, rồi chánh pháp lại trở về nơi các bậc Chánh sĩ.

Lại nữa, này Tôn giả Ca-diếp! Các bậc Chánh sĩ ấy thà mất thân mạng chứ không xả bỏ chánh pháp. Tôn giả cho rằng các bậc Chánh sĩ này bỏ mất chánh pháp chăng? Chớ nghĩ như vậy. Như trong biển lớn có ngọc như ý tên là Kim cang, là sự tích tập của các thứ báu, khi lửa nổi lên bảy ngày, trên lên tới cõi Phạm thiên thiêu hết các châu báu, cùng các cõi Phật trong tam thiên đại thiên thê giới, kể cả các phương khác cũng đều bị cháy rụi.

Này Tôn giả Ca-diếp! Ngọc báu như ý kia đi đến thế giới khác mà bị thiêu hủy thì không có điều ấy.

Này Tôn giả Ca-diếp! Các Bồ-tát ấy cũng vậy, khi tất cả các pháp diệt tận, thì bảy loại pháp xuất hiện, các Bồ-tát là chánh pháp cho thế gian nương tựa, lại có thể dời đến cõi Phật ở phương khác. Những gì là bảy? Đó là học thuyết ngoại đạo, gần gũi bạn ác, rơi vào tà kiến, luôn phá hoại nhau, hành theo các kiến chấp, hủy hoại các cội gốc công đức, không thể chứng đắc đạo. Đó là bảy loại pháp xuất hiện. Đối với bảy pháp này, các Bồ-tát đều biết rõ, thấy chúng sinh ở các cõi Phật khác không rời chư Phật, thường được giác ngộ, thích nghe kinh điển, chư vị liền giáo hóa cho họ, gieo trồng cội gốc công đức.

Này Tôn giả Ca-diếp! Ví như vô số loài chúng sinh nương vào biển cả và ở trong ấy. Các Bồ-tát cũng vậy, vô số chúng sinh đều đến trong chúng hội để nương tựa nơi chư vị ấy, hết thảy đều ở và trở về ba nẻo. Những gì la ba? Đó là, được sinh lên cõi trời, ở cõi người giàu có và đạt được diệt độ.

Này Tôn giả Ca-diếp! Như trong biển cả, các loài rồng, A-tu-la đều tự tại, các Bồ-tát ấy cũng thế, hàng phục tất cả các ma.

Bấy giờ, Trưởng lão Đại Ca-diếp bạch Phật:

-Bạch Thế Tôn! Giới hạn của biển cả còn có thể lường xét được, còn các vị Bồ-tát này thì không thể lường xét được.

Đức Phật bảo:

-Này Tôn giả Ca-diếp! Nếu muôn biết số bụi trần trong tam thiên đại thiên thế giới thì còn có thể biết được, nhưng các hạnh chân thật và nơi hướng đến của các Bồ-tát này thì không thể biết.

Khi ấy, Đức Thế Tôn nói bài kệ:

Ví như biển cả

Dung nạp hết thảy

Tất cả dòng nước

Nhưng vẫn không đầy,

Người cầu chánh pháp

Cũng lại như vậy

Ưa thích chánh pháp

Không cho là đủ.

Giống như biển cả

Vô lượng dòng nước

Thảy đều đổ về

Biển đều chứa hết,

Bồ-tát thông đạt

Cũng lại như vậy

Không nương trí tuệ

Mà cho là đủ.

Biển cả không nhơ

Không ngập, ô nhiễm

Các dòng nước sạch

Cũng đều đổ về,

Hành giả tu tập

Cũng lại như vậy

Không nhận phiền não

Và các nhơ uế.

Giống như biển cả

Không thể lường xét

Rộng lớn không bờ

Chẳng thể biết được,

Biển đức trí tuệ

Cũng lại như vậy

Cứu giúp chúng sinh

Không thể tính kể.

Ở trong biển cả

Có vô số dòng

Hàng vạn con sông

Hợp làm một vị,

Vô số hạng người

Đồng đến nghe pháp

Đều về một thừa

Nghĩa lý kinh điển

Chẳng phải một loại

Nên gọi là biển.

Trước khi kiến lập

Thành biển cả đức

Không hề sợ hãi

Chí nguyện như vậy

Trùm khắp chúng sinh D

ấy khởi tâm đạo.

Ví như biển cả

Tích chứa các báu

Dù ở chỗ nào

Cũng không vướng mắc,

Các chúng Bồ-tát

Như chứa châu báu

Nhờ đó phát sinh

Thành ba loại báu.

Giống như sông, biển

Có ba loại báu

Như sông, biển ấy

Cũng không phân biệt,

Bậc Thánh thông tuệ

Thuyết pháp như vậy

Cũng dùng ba thừa

Dẫn dắt chúng sinh.

Giống như biển cả

Dẫn thành rộng lớn

Các dòng đổ về

Đều được trần đầy,

Các chúng Bồ-tát

Đạt các thông tuệ

Độ khắp chúng sinh

Siêng năng tu hành.

Giống như biển cả

Không chứa thây chết

Pháp như biển ấy

Cũng lại như thế,

Bồ-tát lập chí

Cầu đạo cũng vậy

Không chấp nhân ngã

Cũng chẳng thuận dòng.

Giống như trong biển

Phát sinh các báu

Đều là quý báu

Ở nơi vững chắc,

Khi kiếp thiêu khởi

Không thể đốt cháy

Liền được đem đến

Nơi cõi Phật khác.

Lúc chánh pháp diệt

Cũng lại như vậy

Người luôn tinh tấn

Giữ gìn chánh pháp,

Nhờ quan sát thấy

Không thể giữ gìn

Lập tức đem đến

Cõi Phật phương khác.

Sông, suối, ao hồ

Thảy đều khô cạn

Sau đó nước biển

Mới dần cạn khô,

Lúc kiếp thiêu khởi

Cũng lại như vậy

Đại thiên thế giới

Đều bị hủy hoại.

Chúng sinh phàm phu

Ở trong cõi nước

Giả sử chánh pháp

Đều đả diệt hết,

Những người dũng mãnh

Giữ pháp cũng vậy

Xã bỏ thân mạng

Không hề tham tiếc.

Do biết chánh pháp

Sẽ bị tiêu diệt

Giác ngộ hiện tại

Hoặc sau diệt độ,

Những người chí nguyện

Thanh tịnh như vậy

Là kiến lập pháp

Vô số chúng sinh,

Đều nên tu theo

Nương nhờ nơi biển

Chẳng phải một loại

Làm được điều ấy,

Bậc đại danh xưng

Chí nguyện như vậy

Đến khắp chúng sinh

Đều được giải thoát.

Còn có giới hạn

Phân biệt biết rõ

Đối với cõi Phật

Và các biển cả,

Sự hành hóa ấy

Không thể biết được

Các chúng Duyên giác

Và hàng Thanh văn

Không ai sánh bằng

Huống lại hơn hẳn

Hạnh các Bồ-tát

Tinh tấn vững mạnh.

Tâm chư vị ấy

Phải nên đảnh lễ

Sẽ được thành Phật

Giáo hóa chúng sinh.

Chư vị là báu

Giống như biển cả

Hãy nên cúng dường

Luôn lã ruộng phước,

Chính là đất tốt

Y vương tối thượng

Trị lành hết thảy

Mọi thứ bệnh tật.

Lại vì cứu giúp

Quay về giải thoát

Đem đèn đuốc sáng

Hiển hiện chiếu soi

Thế gian tăm tối

Được mắt sáng tỏ

Người có mắt ấy

Mau được cam lồ.

Làm vị đế vương

Thường gọi vua pháp

Đây là vua trời

Tạo nhiều lợi ích,

Cũng là vua Phạm

Tư duy bốn Thiền

Liền vận chuyển được

Bánh xe chánh pháp.

Đây là Đạo sư

Mở bày đường lớn

Nơi chốn tranh cãi

Hiện rõ lối đi,

Là bậc dũng mãnh

Hàng phục tất cả

Trừ hết phiền não

Làm tịnh cõi nước.

Tu pháp thanh tịnh

Như ánh trăng rằm

Phóng ánh sáng khắp

Như mặt trời mọc.

Trí tuệ vượt bậc

Như núi Tu-di

Ở trong ba cõi

Rưới mưa cam lộ.

Chư vị khó sánh

Giống như sư tử

Tâm ấy nhu hòa

Giống như voi hiền,

Hoặc như đại địa

Chở các núi non

Hàng phục tất cả

Luận thuyết ngoại đạo.

Hạnh thường thanh khiết

Ví dụ như nước

Uy, sáng khó lường

Vị ấy như lửa

Không hề chướng ngại

Cũng giống như gió

Xa lìa biếng nhác

Lại giống như đất

Trừ hết kiêu mạn

Nhổ sạch sân hận.

Ví như cây thuốc

Không hề phân biệt

Giới tịnh, không chấp

Giống như hoa sen

Không hề nương tựa

Tám pháp ở đời.

Hành hóa ví như

Hoa Ưu-bát-la

Vô số ức kiếp

Âm thanh khó đạt,

Đối bậc Tôn kính

Thường hay báo ân

Theo lời Phật dạy

Không lìa chánh pháp.

Chí nguyện kiên cố

Cố lòng Từ bi

Tâm từ vững chắc

Hỷ xả siêu tuyệt,

Cứu giúp chúng sinh

Đối với năm dục

Khéo biết duyên hợp

Tài sản quý báu

Thường đem bố thí

Giữ gìn giới cấm

Rất là thù thắng

Không ai sánh bằng.

Dùng lực nhẫn nhục

Giữ tâm dũng mãnh

Đạt đến tinh tấn

Thường không mệt mỏi,

Đủ các thiền định

Thần thông, trí tuệ

Đi đến vô lượng

Vô số cõi Phật

Được gặp chư Phật

Và nghe kinh điển

Như điều đã nghe

Mà tu tập theo.

Thảy đều thông đạt

Hạnh của chúng sinh

Tùy sự ứng hợp

Lòng tín, các căn,

An ổn, chân thật

Dùng phương tiện khéo

Vì các ngoại đạo

Hiển bày ánh sáng

Khiến họ thông đạt

Hết thảy các pháp

An nhiên, hòa đồng

Phân biệt báo ứng.

Thảy đều hiểu rõ

Nhân duyên pháp luật

Lìa ngã, ngã sở

Thường trụ bình đẳng,

Liền quán xét theo

Như pháp thích hợp

Chư vị đã từng

Xuất gia tu học.

Quá khứ thường gặp

Tất cả các pháp

Nhờ trụ nơi pháp

Mà rõ pháp giới,

Biết rõ thông tuệ

Chẳng có hình tướng

Có thể dấy khởi

Lòng thương thù thắng

Để cứu giúp khắp

Chúng sinh siêng năng

Tu tập giải thoát

Lại chấp vào pháp

Có ngã, ngã sở

Mà khởi vọng tưởng

Làm theo ngu si

Tà kiến, buông lung

Tu hành như vậy

Là pháp hư giả.

Chư vị giảng nói

Trừ hết kiến chấp

Vô thường là thường

Không, cho là thật,

Lấy khổ làm vui

Không thân chấp có

Phàm phu như vậy

Chấp giữ điên đảo,

Không phân biệt được

Giới hạn sinh tử

Nếu biết chánh lý

Trừ nguồn điên đảo.

Biết là không người

Không thọ, không mạng

Có thể tịnh tu

Theo hạnh bình đẳng

Hiểu rõ vô thường

Khổ không, vô ngã.

Ca-diếp Bậc ấy

Tiếng khen công đức

Từ nơi các cõi

Vang đến khắp chốn

Vô lượng người nghe

Tuệ không giới hạn

Có thể tu hành

Bồ-tát cũng vậy

Giả sử biến khắp

Ba ngàn thế giới

Thảy đều kính ngưỡng

Kiến lập Bồ-tát

Cúng dường La-hán

Gấp bội số ấy

Cũng không sánh bằng

Ta cũng kiến lập

Chí nguyện Bồ-tát

Hết thảy các bậc

Chánh giác quá khứ

Vị lai cũng vậy

Và ngay hiện tại

Thánh tôn mười phương

Thảy đều lập chí

Muốn được thành Phật.

Phẩm 16: KIẾN LẬP PHÁP

Bấy giờ, Phạm thiên Trì Tâm nói với Bồ-tát Phổ Thủ:

-Cúi xin Nhân giả thỉnh Đức Như Lai Chí Chân Đẳng Chánh Giác, kiến lập, lưu truyền kinh này trong đời năm trược, mạt pháp.

Bồ-tát Phổ Thủ đáp:

-Ý ông nghĩ sao? Đức Như Lai đã chẳng tuyên nói pháp này đó sao? Ông muốn Đức Như Lai kiến lập pháp sao?

Phạm thiên đáp:

-Thưa không!

Bồ-tát Phổ Thủ nói:

-Này Phạm thiên! Tất cả các pháp là không thể kiến lập, không thể nhớ nghĩ cũng chẳng có ngôn thuyết, cho nên không thể lưu truyền cũng không thể giữ gìn. Người nào muốn kiến lập kinh điển này tức là muốn tạo lập hư không. Nếu Bồ-tát muốn hội nhập vào kinh điển này thì chẳng phải là thuận theo pháp. Bồ-tát thể nhập vào tất cả kinh điển thì không còn tranh luận.

Lại nữa, đối với chúng hội, Bồ-tát chỉ tạm mượn danh dự mà thôi. Người giảng nói kinh pháp phải nên như vậy, chẳng phải vì nghe nhận kinh điển. Vì sao? Vì không có đối tượng để nghe mới chính là nghe nhận kinh điển.

Phạm thiên hỏi:

-Thưa Nhân giả! Thế nào gọi là không có đối tượng để nghe mới chính là nghe nhận kinh điển?

Bồ-tát Phổ Thủ đáp:

-Mắt, tai, mũi, miệng, thân và ý không có đối tượng để nghe mới chính là nghe kinh. Người nào các căn nhiễm ô thì không gọi là nghe, nếu trụ chấp vào sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp thì người nghe kinh như vậy gọi là hư vọng.

Bấy giờ, trong chúng hội có các Thiên tử, ba vạn hai ngàn Tỳ-kheo, năm trăm Tỳ-kheo-ni, ba trăm Ưu-bà-tắc, tám trăm ưu- bà-di... tất cả đều được nghe Bồ-tát Phổ Thủ thuyết pháp. Ngay lúc ấy, hết thảy đều chứng đắc pháp Nhẫn vô sinh, cùng nói kệ khen ngợi:

Nhân giả Phổ Thủ

Đúng như lời ấy

Không đối tượng nghe

Mới chính nghe kinh.

Phạm thiên Trì Tâm hỏi các Bồ-tát vừa chứng đắc pháp nhẫn:

-Thưa chư vị! Chư vị đã chẳng được nghe kinh này rồi sao?

-Thưa Phạm thiên! Chúng tôi đã nghe nhưng không có đối tượng để nghe.

Lại hỏi:

-Chư Hiền giả làm thế nào mà hiểu rõ kinh điển ấy?

Đáp:

-Nếu không thấy có đối tượng nhận biết thì biết tất cả.

Lại hỏi:

-Chư Hiền giả làm thế nào để đạt được pháp nhẫn?

Đáp:

-Là kiến lập tất cả các pháp.

Hỏi:

-Do nhân duyên gì để được hội nhập vào các pháp?

-Không có đối tượng đạt đến thì được hội nhập vào các pháp.

Hỏi:

-Hiện tại, chư Hiền giả thấy rõ các pháp không?

-Thưa Phạm thiên! Đối với tất cả các pháp trong hiện tại, thân mình, chúng sinh và chí nguyện vốn đều thanh tịnh.

Lúc ấy, trong chúng hội có một Thiên tử tên là Ly cấu Anh nói với Phạm thiên Trì Tâm:

-Thưa Phạm thiên! Nếu lãnh hội kinh pháp này thì được Đức Như Lai thọ ký không?

Phạm thiên đáp:

-Chắc chắn sẽ được thọ ký và chứng quả Vô thượng Bồ-đề.

Thiên tử nói:

-Vì sao? Vì kinh này không diệt mất quả báo, tích chứa pháp công đức của hết thảy chúng sinh, hàng phục các ma và oán thù. Kinh điển này xa lìa hết thảy sự tranh luận về tham dục, giáo hóa tất cả khiến được hoan hỷ. Người nào tin ưa kinh điển này, tâm luôn vui mừng, nghe nhận, thọ trì thì đạt được sự bình đẳng rốt ráo của bậc Hiền thánh. Nếu thọ trì kinh điển này thì được chư Phật gia hộ. Nếu chư Thiên, loài người, A-tu-la chuyên nhớ nghĩ đến kinh ấy thì đạt được quả vị không thoái chuyển, không bị các thứ xấu ác phá hoại.

Lại nữa, nếu vì kinh ấy mà đến đạo tràng, bố thí, tu tập theo pháp Phật thì chấm dứt hẵn sự ít học, vận chuyển bánh xe chánh pháp.

Lại nữa, kinh pháp này khiến dứt hẳn nghi ngờ, đạt đến đạo của bậc Hiền thánh. Nhờ nghe kinh điển này nên đạt được giải thoát. Thọ trì kinh điển này là nhằm thành tựu đạo quả. Giảng nói kinh điển này là đồng với phước đức. Khéo giữ gìn kinh điển này là thích thuận theo pháp. Nhờ kinh điển này nên được an ổn, đạt được diệt độ. Không hủy hoại kinh điển nên phá trừ ma quân, ngoại đạo. Hiểu rõ kinh điển này nên là Bậc Chúng Hựu Vô Trước. Hoan hỷ với kinh điển ấy, nên thông đạt các pháp. Vui mừng đối với kinh điển ấy thì đạt được trí tuệ thông suốt. Kinh điển ấy giúp cho người thọ trì đạt được âm thanh trí tuệ, diệt trừ tất cả kiến chấp là nơi quay về.

Kinh điển ấy dẫn dắt đến nẻo trí tuệ, phá tan ngu si.

Kinh điển ấy có thể khéo ứng hợp, vì thuận theo sự thể nhập.

Kinh điển ấy khiến thành tựu rốt ráo về thứ lớp ngôn từ khéo léo.

Kinh điển ấy làm cho mọi người hiểu rõ nghĩa lý, giảng nói bậc nhất, không bỏ nghĩa lý của kinh, đạt được trí tuệ bậc Thánh.

Kinh điển ấy chính là kho tàng, ban phát hết thảy mà không hề phiền não, cứu giúp khắp chúng sinh, đem đến cho họ thức ăn bình đẳng, khiến họ tu theo tâm Từ, ưa thích thiền định, luôn tinh tấn, trừ mọi biếng nhác, nương vào thiền định để cứu giúp chúng sinh tán loạn, dùng ánh sáng rực rỡ chiếu đến các thứ trí tà.

Phạm thiên nên biết! Người nào thọ trì kinh điển ấy thì được hết thảy chư Phật che chở.

Khi Thiên tử giảng nói về công đức của kinh này xong, thì cả tam thiên đại thiên thế giới đều chấn động. Đức Thế Tôn khen ngợi Thiên tử:

-Lành thay, lành thay! Đúng như lời ông nói.

Bấy giờ, Phạm thiên Trì Tâm bạch Phật:

-Bạch Thế Tôn! Thuở xưa, vị Thiên tử này đã từng được nghe kinh điển ấy và đã được chư Phật thọ ký rồi chăng?

Đức Phật dạy:

-Thiên tử ấy đã được nghe kinh này từ sáu mươi bốn ức chư Phật. Thiên tử Ly cấu Anh đó trải qua bốn mươi vạn kiếp nữa sẽ thành Phật, hiệu là Bảo Hiểm Như Lai Chí Chân Đẳng Chánh Giác, thế giới tên là Bảo tích. Trong khoảng thời gian ấy có chư Phật xuất hiện, Thiên tử ấy đều cúng dường, lại được nghe kinh điển này.

Phạm thiên nên biết! Các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, Trời, Rồng, Quỷ thần, Càn-thạt-bà... nghe kinh điển này thì đạt được pháp nhẫn và được sinh về cõi nước Bảo hiểm của Đức Phật kia, ở thế giới Bảo tích.

Khi ấy, Thiên tử Ly cấu Anh bạch Phật:

-Bạch Thế Tôn! Nay, con không mong cầu đạo quả xa vời, cũng không phát nguyện nơi đạo. Con không ưa thích quả vị Phật, không nương tựa, không muốn chứng đạo cũng không nhớ nghĩ đến thì sao Đức Thế Tôn lại thọ ký cho con?

Đức Phật dạy:

-Thiên tử nên biết! Như đem cỏ, cây, cành nhánh, hoa lá ném vào trong lửa rồi nói: “Đừng đốt cháy chúng! ” mà khiến cho lửa không thể đốt cháy thì điều đó không thể có. Vì chẳng phải do lời nói của người ấy mà lửa không thể đốt cháy.

Cũng vậy, này Thiên tử! Nếu Bồ-tát không ưa thích đạo, không nương tựa, cũng chẳng kiến lập chí nguyện, không lập nguyện đối với tất cả chư Phật thì vị ấy được thọ ký.

Này Thiên tử! Nếu Bồ-tát không ưa thích đạo, không có đối tượng nương tựa, không có đối tượng để kiến lập, không có đối tượng mong cầu cũng chẳng thủ đắc, thì Bồ-tát ấy mới được Như Lai thọ ký sẽ chứng đắc đạo quả Vô thượng Bồ-đề.

Bấy giờ, trong chúng hội có năm trăm Bồ-tát cùng bạch Phật:

-Bạch Thế Tôn! Chúng con không kiến lập nơi đạo, không có chí nguyện, cũng chẳng thủ đắc, không vui mừng cũng chẳng nương tựa, không có đốì tượng nhớ nghĩ, cũng chẳng chấp vào sự nhớ nghĩ.

Khi ấy, các Bồ-tát nương vào thần lực của Phật, liền nhìn khắp trong hư không, thấy tám vạn bốn ngàn Đức Phật ở phương trên thọ ký cho chư vị ấy sẽ đạt được đạo quả Vô thượng Bồ-đề.

Các Bồ-tát bạch Phật:

-Bạch Thế Tôn! Thật là điều chưa từng có, sự thuyết pháp của Như Lai thật là hoàn hảo. Những ai đối với đạo pháp mà không có đối tượng để ưa thích, không có sự nương tựa, cũng chẳng kiến lập, không có chí nguyện cũng chẳng thủ đắc mới được Như Lai thọ ký.

Bạch Thế Tôn! Hôm nay, chúng con được tám vạn bốn ngàn chư Phật ở cõi nước phương trên thọ ký sẽ chứng đắc đạo quả Vô thượng Bồ-đề.

Phẩm 17: CHƯ THIÊN KHEN NGỢI

Bấy giờ, Bồ-tát Phổ Thủ bạch Phật:

-Bạch Thế Tôn! Cúi xin Đức Như Lai hộ niệm pháp này, khiến vào đời năm trược về sau, kinh ấy sẽ được lưu truyền khắp thiên hạ ở cõi Diêm-phù-đề, khiến cho tất cả đều được mặc áo giáp công đức lớn, dùng ba phẩm để nghe pháp. Nếu thiện nam, thiện nữ nào khởi lên nhân duyên nơi ma, nhưng không theo lời sai khiến của ma thì người ấy không thể bị ma và quyến thuộc của chúng làm hại, vì có thể thọ trì kinh điển cốt yếu này nên không thoái chuyển đối với đạo quả Vô thượng Bồ-đề.

Đức Phật bảo Bồ-tát Phổ Thủ:

-Hãy khéo tư duy về kinh điển ấy, thì kinh đó sẽ được tồn tại lâu dài, lại được các hàng trời, rồng, quỷ thần, Càn-thát-bà ủng hộ. Lại có thần chú tên là Tuyển Trạch, ta sẽ giảng nói rõ về ý nghĩa của thần chú này. Nhờ thần chú ấy nên các Pháp sư, thiện nam, thiện nữ đều được chư Thiên, Rồng, Quỷ thần, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Chiên-đà-la, Ma-hầu-la-già hộ trì. Nếu chư vị ấy đang đi trên đường, ở chỗ vắng, ở trong nhà, hoặc ở trong phòng mà kinh hành tư duy, hoặc ở trong chúng hội thuận theo nghĩa lý mà quan sát, thì các vị thần sẽ hộ trì làm tăng thêm biện tài, tùy theo phương tiện, uy lực và sự dũng mãnh mà ủng hộ, khiến chư vị vượt qua các nạn oán thù, trộm cướp... Nhờ vậy, chư vị ấy mới kinh hành tịch tĩnh, nằm ngồi đều an ổn.

Này Bồ-tát Phổ Thủ! Thần chú ấy như vầy:

-Ưu đầu lê, đầu đầu lê, mạt tri, già tri, di ly thế ly thế, lệ di lệ hầu lâu, hầu lâu âm, hầu lưu y bạt tri, vu bạt tri, khưu khưu ly khư la kỳ, a na đề, yết đề sơ vãng chí, ma ế lệ ma na di ma nhĩ, bão hiền đề, tát phi lâu, cách phi sa yết đề, tân đầu lệ, nam mô Phật-đàn già lật đề, nam mô đàm nật kệ, nam mô tăng phi ế đa thiện bạt phiến đà, tát phi ba phi, di đa la di phù đề thọ, tát già ni đà la, bạt la ma na ba thế đa, lê di ba, thế đa a trí thiền đề, tát đà phù đà, ca la ha, nam mô Phật-đà tất thiền đề mạn đà bát.

Phật nói chú này xong, bảo Bồ-tát Phổ Thủ:

-Đây là văn tự của thần chú. Bồ-tát nào tu hành theo kinh điển ấy thì sẽ được an ổn và được hộ trì, không bị quấy nhiễu và loạn tâm, luôn thực hành thanh tịnh theo thứ lớp, luôn biết đủ, nằm ngồi yên lặng, ưa thích tịch tĩnh, không thích ồn ào, thân tâm thanh tịnh, hành theo Từ bi, dùng pháp làm niềm vui, kinh ấy chân lý, không bị phá hoại, thường ở chỗ vắng lặng, siêng năng giảng nói pháp, luôn tư duy về ý nghĩa của đạo, bỏ hết ý niệm phi nghĩa, lấy sự yên ổn làm niềm vui, đem sự hiểu biết của mình giảng nói cho người khác, tu tập theo pháp môn từ đầu đến cuối, tâm bình đẳng đối với kẻ oán người thân, bỏ hết nhớ nghĩ, không tiếc thân mạng, quán xét hết thảy các nghiệp, hành hóa đầy đủ, thích giữ gìn giới cấm, siêng tu lực nhẫn nhục, không nói lời thô, dung mạo tươi vui, hiền hòa,

thân sắc đẹp đẽ, luôn thưa hỏi, cung kính mọi người, trừ bỏ ganh ghét, ưa thích dịu dàng, ở nơi an ổn.

Ông đã thành tựu hạnh nguyện này. Thiện nam và Pháp sư nào đọc tụng thần chú ấy thì đời hiện tại được mười Lực. Những gì là mười?

1. Đạt được diệu lực nơi tâm không bao giờ quên mất.

2. Đạt được diệu lực của ý, hiểu rõ các ý niệm.

3. Đạt được năng lực thể nhập vào kinh điển, hiểu rõ tất cả.

4. Đạt được năng lực kiên cố, hành hóa trong sinh tử.

5. Đạt được năng lực của sự hổ thẹn, hộ trì tất cả mọi người.

6. Đạt được năng lực hiểu biết rộng, đầy đủ trí tuệ.

7. Đạt được năng lực của pháp Đà-la-ni, thông suốt hết những điều được nghe.

8. Đạt được năng lực biện tài, được chư Phật ủng hộ.

9. Đạt được diệu lực của pháp sâu xa, đạt được năm thần thông.

10. Thành tựu diệu lực của pháp Nhẫn vô sinh, đầy đủ các thông tuệ.

Này Bồ-tát Phổ Thủ! Pháp sư nào an trú, đọc tụng, hành trì theo pháp ấy thì sẽ đạt được mười năng lực này.

Khi Đức Phật giảng nói về diệu lực của thần chú này, bốn vị Thiên vương vô cùng kinh sợ, cùng với vô số trăm ngàn quyến thuộc, quỷ thần vây quanh, đi đến chỗ Đức Phật, cúi đầu đảnh lễ nơi chân, thưa:

-Bạch Thế Tôn! Chúng con cùng quyến thuộc sẽ vâng theo lời Phật dạy, ủng hộ, lưu truyền kinh ấy. Nếu thiện nam, thiện nữ hoặc Pháp sư nào có giảng nói, thực hành, thọ trì, đọc tụng pháp ấy thì chúng con cùng quyến thuộc sẽ đến nơi đó để hộ trì, khiến chư vị luôn được thanh tịnh. Nếu ở thành ấp, cõi nước, đô thị có người tại gia hoặc xuất gia nào tu hành theo kinh này thì chúng con cùng quyến thuộc sẽ đến cúng dường, phụng sự, khiến chư vị ấy đều được an ổn, không bị nguy hiểm, mọi sự dò xét đều không thể được. Nếu kinh điển này được lưu truyền đến đâu thì chúng con sẽ bảo vệ cách bốn mươi dặm, chúng Trời, Rồng, Thần, Cưu-bàn-trà... và hết thảy quyến thuộc của họ đều không thể làm hại.

Bấy giờ, Đại thiên vương Duy-lâu-lặc-xoa Hộ Oán nói bài kệ:

Con và các quyến thuộc

Các con và thân tộc

Có thể đảm nhận được

Việc cúng dường kinh này.

Khi ấy, Đại thiên vương Duy-lâu-bác (Vô Oán) nói bài kệ:

Con là Pháp vương tử

Dùng pháp dạy cho người

Cúng dường các Phật tử

Tu hành theo tâm đạo.

Đại thiên vương Đề-đầu-lại (Kiên Quận) nói bài kệ:

Con sẽ luôn hộ trì

Khắp tất cả mười phương

Những ai trì kinh này

Phật Chánh giác đã nói.

Đại thiên vương Duy-sa-mạn (Tức Ý) nói bài kệ:

Nếu kiến lập tâm đạo

Cúng dường người tu học

Cúng dường cho chúng sinh

Không mong được báo đáp.

Bấy giờ, thái tử Đế Nhan, con của Đại thiên vương Tức Ý, cầm lọng bảy báu che trên Đức Như Lai, rồi nói bài kệ:

Nay con sẽ thọ trì

Kinh điển của Như Lai

Cũng vì người khác nói

Chí nguyện con như thế.

Thế Tôn biết tâm con

Hiểu hạnh nghiệp đời trước

Tâm con đã kiến lập

Cho đến khi thành Phật.

Dâng lọng lên Như Lai

Mong diện kiến tôn nhan

Nguyện con được giống như

Tướng Ngài - vô kiến đảnh.

Chiêm ngưỡng Bậc Chánh Giác

Thế Tôn rủ lòng thương

Mắt thanh tịnh quán xét

Mắt từ nhìn chúng sinh.

Thế Tôn thọ ký con

Có trí tuệ vượt bờ

Sau khi mạng chung rồi

Sẽ sinh trời Đâu-suất

Từ Đầu-suất hạ sinh

Gặp Đức Phật Di-lặc

Trong khoảng hai vạn năm

Luôn cúng dường chư Phật

Sau khi xuất gia rồi

Tu các hạnh thanh tịnh

Liền thất khắp chư Phật

Trong tất cả Hiền kiếp.

Cúng dường hết thảy Phật

Siêng năng tu phạm hạnh

Trải sáu mươi ức kiếp

Sẽ thành Bậc Chánh Giác.

Tôn hiệu là Bảo Cái

Cõi Phật tên TrangNghiêm

Toàn là chúng Bồ-tát

Luôn luôn giảng diệu pháp.

Thọ mạng trọn một kiếp

Sau khi Phật diệt độ

Chánh pháp trụ nửa kiếp

Vì thương tưởng chúng sinh.

Bấy giờ, Thích Đề-hoàn Nhân cùng với vô số trăm ngàn chư Thiên quyến thuộc vây quanh, bạch Phật:

-Bạch Thế Tôn! Con sẽ ủng hộ vị Pháp sư này. Những ai thọ trì kinh điển này thì con sẽ cung dường, phụng sự thuận theo ý của vị ấy. Những ai đọc tụng, giảng nói kinh này thì con sẽ đến để thưa hỏi, lãnh thọ giáo pháp và giúp cho Pháp sơ có uy lực mạnh mẽ, biện tài theo thứ lớp, giảng nói trôi chảy, không có các chướng ngại và không hề quên sót.

Khi ấy, thái tử Địch Hoặc, con của Thiên vương Thích Đề-hoàn Nhân, cầm chuỗi ngọc bảy báu đến cúng dường Đức Như Lai và nói kệ:

Thế Tôn! Con thấy rõ

Sự hành hóa của Ngài

Con cũng sẽ tu theo

Chí nguyện cầu tuệ Phật.

Hành hóa ở đời trước

Bố thí không mong cầu

Con sẽ học hạnh này

Bố thí mọi sở hữu.

Cũng thọ trì kinh ấy

Từ nơi đấng Pháp vương

Giảng thuyết khắp tất cả

Để bấo ân Đạo sư.

Những ai muốn giải thoát

Cùng tu theo kinh này

Con sẽ dâng thực phẩm

Vì hộ trì Phật đạo.

Hàng Thanh văn không thể

Hộ trí kinh pháp này

Con sẽ hộ chánh pháp

Lưu truyền ở đời sau.

Thế Tôn an ủi con

Đoạn nghi của chư Thiên

Còn khoảng bao lâu nữa

Con được thành Chánh giác?

Phật đạt các thông tuệ

Liền thọ ký cho con:

Sau sẽ dược thành Phật

Giống Như Lai hiện nay.

Hành hóa ức ngàm kiếp

Hoặc hơn trăm ức kiếp

Làm ánh sáng cho đời

Hiệu là Tuệ Thành Tựu.

Bấy giờ, trời Phạm Nhẫn bạch Phật:

-Bạch Thế Tôn! Con sẽ xả thiền định, đi đến nơi những thiện nam, thiện nữ nào có thể thuyết pháp để lắng nghe. Những ai giảng nói kinh này thì đều thu phụ được chư Thiên như Đế Thích, Phạm thiên..., con sẽ xin cúng dường phụng sự. Thiện nam này sẽ được chư Thiên và loài người cùng quy kính, cúng dường. Khi ấy, trời Phạm Nhẫn nói bài kệ:

Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni

Cùng nam, nữ cư sĩ

Nếu thọ trì kinh này

Tất sẽ cứu giúp đời.

Người tu theo kinh này

Hoặc khen ngợi, tôn kính

Con sẽ vì người ấy

Giảng nói về kinh này.

Trải tòa hoa cao vút

Lên đến trời Phạm thiên

Ngồi ở trên tòa ấy

Giảng kinh pháp cho họ.

Người nào giảng nói kinh

Nên khen ngợi: Lành thay!

Nếu người ở đời sau

Thọ trì kinh điển ấy.

Giả sử ức cõi nước

Chìm nhập trong biển lửa

Cũng nên đến chỗ ấy

Cầu xin nghe kinh này.

Chứa báu như Tu-di

Để cúng dường vị ấy

Mong được nghe kinh này

Nghiêm tịnh ngàn cõi Phật.

Phẩm 18: CHÚC LỤY

Bấy giờ, Đức Thế Tôn phát ra ánh sáng nơi đảnh đầu, thị hiện thần thông khiến ma Ba-tuần cùng các binh chúng đều đến chỗ Phật, thưa:

-Bạch Thế Tôn! Con và quyến thuộc ở trước Đức Như Lai xin phát nguyện: “Bất cứ chỗ nào có lưu truyền kinh này, hoặc có Pháp sư nào giảng nói kinh điển này ở pháp hội, chúng con sẽ phát nguyện bảo hộ, khiến chư vị giảng nổi luôn thông suốt, không gặp phải nguy hiểm, bị hại”.

Khi ấy, Đức Thế Tôn phóng ra ánh sáng vàng ròng chiếu khắp cõi Phật, rồi bảo Bồ-tát Phổ Thủ:

-Như Lai sẽ kiến lập và hộ trì cho người giảng nói kinh pháp này, nhằm khiến chánh pháp được lưu truyền khắp thiên hạ nơi cõi Diêm-phù-đề, không bị hủy diệt.

Lúc này, chư vị trong chúng hội dùng tất cả loại hoa, tất cả hương thơm tung rải lên chỗ Đức Phật, thưa:

-Bạch Thế Tôn! Xin Đức Thế Tôn khiến cho kinh này được trụ lâu ở cõi Diêm-phù-đề và được giảng thuyết, lưu truyền khắp nơi.

Khi ấy, Đức Thế Tôn bảo Tôn giả A-nan:

-Tôn giả nên thọ trì kinh này.

Tôn giả A-nan đáp:

-Bạch Thế Tôn! Con xin thọ trì.

Đức Phật dạy:

-Này A-nan! Kinh này được lưu truyền lên đến cõi trời. Ông nên thọ trì, rồi giảng nói rõ ràng cho chúng hội.

Tôn giả A-nan bạch Phật:

-Bạch Thế Tôn! Nếu thọ trì, đọc tụng và giảng nói kinh này cho người khác thì phước đức đạt được như thế nào?

Đức Phật dạy:

-Giả sử dùng bảy báu đầy khắp hư không để bố thí, so với việc dùng văn chương, câu cú đã giảng nói ở trong kinh này để cúng dường Như Lai Chí Chân và hết thảy Thánh chúng, thì phước đức của phần sau nhiều hơn. Nếu lại có người thọ trì kinh điển này, biên chép trên thẻ tre, trên lụa để cúng dường thì hiện tại, người ấy được mười kho tàng công đức. Những gì là mười?

1. Thấy được tạng Phật vì đạt được Thiên nhãn.

2. Nghe được tạng pháp vì đạt được Thiên nhĩ.

3. Gặp được tạng Thánh chúng vì không hề thoái chuyển.

4. Được tạng báu vô tận của Bồ-tát và Hiền thánh vì có được bàn tay báu.

5. Được tạng sắc tượng vì đầy đủ tướng tốt.

6. Được tạng quyến thuộc vì quyến thuộc không thể tan lìa.

7. Được tạng chưa từng nghe vì được các pháp Đà-la-ni, có tạng nhớ nghĩ vì đạt được biện tài.

8. Được tạng không sợ hãi vì thâu tóm hết các luận thuyết ngoại đạo.

9. Có tạng công đức vì cứu giúp chúng sinh.

10. Đạt tạng trí tuệ bậc Thánh vì thấu tỏ được tất cả pháp của chư Phật.

Khi Đức Phật thuyết giảng kinh này, có bảy mươi hai ức chư Thiên đạt được pháp nhẫn, vô lượng chúng sinh phát tâm Bồ-đề, vô số chúng sinh dứt sạch mọi thứ lậu hoặc, được giải thoát.

Tôn giả A-nan bạch Phật:

-Bạch Thế Tôn! Kinh này tên gọi là gì và thọ trì như thế nào?

Đức Phật dạy:

-Kinh này tên là Đẳng Ngự Chư Pháp, nên theo đó mà thọ trì. Lại gọi là Trang Nghiêm Phật Pháp, lại gọi là Trì Tâm Phạm Thiên Sở Vấn, Phổ Thủ Sở Sướng, nên theo đó mà phụng trì.

Khi Đức Phật giảng nói như vậy, Bồ-tát Phổ Thủ, Phạm thiên Trì Tâm, Bồ-tát Phổ Hạnh, Hiền giả Đại Ca-diếp, Hiền giả A-nan, chư Thiên, loài người, A-tu-la... nghe lời Phật dạy đều vô cùng hoan hỷ.

Nguồn bản dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng KinhGiấy phép: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Việt dịch) · nguồn: rongmotamhon.net (Liên Phật Hội) · EN: AI translation from Vietnamese source, awaiting source English🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch bằng AI do Inti biên soạn: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến