Inti DharmaInti Dharma
← Kinh điển
Đại Thừa — Tạng Bắc Truyền · Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Việt dịch)

Phật Thuyết Độn Chơn Đà La Sở Vấn Như Lai Tam Muội Kinh quyển 3

Tên chữ Hán:佛說伅真陀羅所問如來三昧經

📖10,118 từ · ~40 phút đọc
2

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản →
Bản dịch đầy đủ (Tiếng Việt)

PHẬT THUYẾT ĐỘN CHƠN ĐÀ LA SỞ VẤN NHƯ LAI TAM MUỘI KINH - QUYỂN 3

KINH THUẢN-CHÂN-ĐÀ-LA SỞ VẤN NHƯLAI TAM-MUỘIQUYÊN HẠKhi nghe pháp này, các con của Thuần-chân-đà-la được Hoan hỷ tín nhẫn. Mọi người đều cởicác thứ châu báu đeo nơi thân dâng lên cúngdường Đức Phật rồi cùng nhau nói:-Chúng ta nhờ đem tất cả tài vật cúng dườngPhật nên nay được nghe pháp.Tât cả bạch Phật:— Thật kỳ lạ thay: Những â âm thanh của các kỹnhạc đã hỏi như vậy, các hóa Bồ-tát đều giải nghĩcác vẫn nạn ấy. Trong chúng hội không ai cònnghi ngờ gì cả. Chúng con đã xóa tan vô sô tămtôi, lại được sáng suôt. Vậy ai đã làm cho các âmthanh kỹ nhạc có những vấn nạn và các hóa Bồ-tát đều giải nghi cho chúng?Phật dạy:Đó là do Như Lai làm ra. Ta làm hư khôngcó các âm thanh còn có thê được, huỗng chi kỹnhạc, cây Phật. Cho nên việc làm của Như Laikhông thể tính kê.Các con của Thuân-chân-đà-la thưa:-Chúng con muốn tât cả mọi người đều giỗngnhư Như LaI.Tám vạn bốn ngàn phu nhân của Thuân-chân-đà-la đều đem châu ngọc trời dâng cúng ĐứcPhật. Những châu ngọc ây được rải phía trên đỉnhđầu Đức Phật và chúng hóa thành tám vạn bốnngàn tâm trướng xen nhau. Ở giữa có lườngDăng ngọc báu và có tua rèm băng lụa trời. Giữacác tâm trướng có Đức Phật an tọa đây đủ bamươi hai tướng, tốt và tám mươi vẻ đẹp.Thây sự biến hóa Ấy, tám vạn bôn ngàn phunhân rât vui mừng và đều phát tâm Vô thượngBỏ-đề. Với lòng vui mừng vô bờ bến, tật cả đôngthanh khen ngợi Như Lai:“Ngài là Bậc tự mình thanh tịnh và làm thanhtịnh người khác, tự trừ khử sạch sẽ không còn cầubần, không còn chấp trước, không ô nhiễm; ánhsáng rất đẹp, mắt như hoa Ưu- bát.Nay xin tự quay về với Bậc sáng suốt như ánhtrắng răm. Niêm vui mừng lớn không gì bằngthây Phật. Phật đã dùng phương tiện làm chochúng sinh đoạn trừ phiên não, nghĩa là ai nghelời nói của Ngài cũng đều vui vẻ, ưa thích nơithanh vắng, dùng các châu báu họp lại làm khocất giữ Pháp bảo.Nay xIn tự quay về với Bậc vượt qua tất cảmọi nơi, như vượt biến đến bờ bên kia, đánh bạingoại đạo, thu phục các tà kiến, trong sạch hơnhoa sen, lây không để giáo hóa, lấy sự thật đểhướng dẫn.Nay xim tự quay về với Bậc hoan hỷ, vượt quabốn hang sâu, lấy Tứ đề để chỉ dạy mọi người,làm con mắt dẫn đường đi trong thế gian, dướibàn chân có bánh xe ngàn căm tốt đẹp.Nay tự quay về với Bậc có âm thanh vui vẻ,thân cao hơn người, giảng nói chánh pháp chochúng sinh. Phật không ai sánh bằng.Nay tự quay về với Bậc đây đủ mười Lực,đoạn trừ tham dục; được không vui, mất khôngbuôn; làm người khai sáng cho kẻ mù ở thê gian.Ví như ngọn đuốc sảng trong chỗ tối tăm, đã kềmchế tâm, đạt được mười Lực, bố thí, tự mình anvui, thân thanh tịnh và giải thoát.Nay tự quay về với Bậc không ai sánh bằng.Thân tướng Ngải rất thù thắng, trong tất cả loàingười không ai bằng. Vì chúng sinh, Ngài thị hiệnlàm cho tất cả đều đạt được bản thể của mình, lâynhẫn và từ để tự VUI,Nay tự quay về với Bậc được tôn quý, cungkính, như người lái thuyên vượt qua tât cả mọinơi. Phật là Đắng Chí Tôn, thiêu đốt ba độc, phátan những tăm tối. Tất cả kẻ ngu si đều nhờ ânđức của Ngài, aI nây đều đến cúng dường.Nay tự quay vê với Bậc tịch tĩnh đã diệt tậncác ác. Ánh sáng của “Ngài xa bảy thước, màuvàng TÒN. Âm thanh tất to nhưng trong trẻo, làmngười đứng đầu trong loài người nên gọi là tônquý.Nay tự quay về với Bậc làm nên tảng chochúng sinh. Ngài đã phá trừ những tánh cao ngạovà các ngu s1, cứu độ chúng sinh, tự giữ minhđúng với đạo, làm người dẫn đường cho chúngsinh. Lời nói chắc chắn hoàn toàn chân thật.Nay tự quay về với Bậc làm ánh sáng chiềukhắp nơi tăm tỐI. Chúng sinh phụng sự Ngài rấtthành kính, tiếng tăm vang khắp, tất cả đều nghepháp. Lời nói của Ngài đúng như pháp, ngườinghe đêu hiểu rõ.Nay tự quay về với Bậc hoan hỷ, đã an trụ vàocảnh giới của mình, chiến thắng tâm tự cao, sửdụng mà không vướng mặc, nên biết rất chí tôn.Nay tự quay về với Bậc thoát khỏi những hammuôn của con người. Âm thanh của Ngài rất hay,nghe như tiếng Phạm thiên, biết rõ tội. phước, diệttrừ tâm câu bản cho chúng sinh, hiểu biết nămuân, làm việc rất cân thận, chú trọng, không aisánh bằng.Nay tự quay về với Bậc dứt sạch các câu bắn.Tâm Ngài bình đăng, luôn ủng hộ chúng sinh,làm chủ tâm mình. Sự hiểu biết của Ngài thônghiểu tất cả mọi vẫn đề, an trụ vào đạo, việc làmchân chánh, chỉ dạy rất vững chắc, ai nấy đượcgiải thoát.Nay tự quay về với Bậc biết thời cơ để chỉ dạyngười. Đức của Ngài hiển dịu, nghe âm thanh củaNgài aI cũng hiểu rõ ràng. Dù chúng ma nhiêuđến đâu, cũng không thê chiến thăng được, đãvượt qua tất cả những tự cao.Nay tự quay về với Bậc đã trừ sạch các điềuác. Những người lân cận, ai nấy đều tu theo lờidạy bảo và cung kính đến cúng dường. Đức Phậtrất khó gặp, có trí tuệ vi điệu, mọi người đếnthăm hỏi, ai nây rất hoan hỷ.Nay tự quay về với Bậc có đức độ không aibằng. Với năng lực, tâm Ngài hiểu rõ tất cả. Dùđẹp hay xấu, tâm Ngài đều bình đăng, đã trụ vàocảnh giới của mình một cách kiên cô, không a1 cóthể lay động được.Nay tự quay về với Bậc nắm giữ các lực. Kẽtay, chân của Ngài có màng lưới mỏng; dưới bànchân có nồi dấu bánh xe. Đã thoát khỏi sinh, già,bệnh, chết, là bậc thù thắng tất cả.Nay tự quay về với Bậc có phước đức như bâutrời bao trùm tất cả mọi nơi.Sau khi khen ngợi Như Lai xong, các phunhân của Thuân-chân-đà-la thưa Phật:Mặc dù phát tâm Vô thượng Bồ-đề rất khó,vậy người nữ làm sao đề tự đạt được Vô thượngBồ-đề?Phật dạy:-Nhờ một việc để xa lìa thân nữ, mau đượcthành thân nam, tự đạt đến Vô thượng Bồ-đề. Mộtviệc đó là gì? Nghĩa là nhờ phát tâm đạt Nhấtthiết trí, tạo vô lượng công đức không sai lầm. Đólà một việc.Lại có hai việc thân nữ mau thành thân namđể tự đạt được Vô thượng Bồ-đê. Hai việc đó làøì?l. Lời nói đi đôi với việc làm, không tôn thờchư Thiên.2. Chỉ quy y Phật, việc làm chân chánh, khôngtin theo tà đạo.Đó là hai việc.Lại có ba việc thân nữ mau thành thân nam, tựđạt đên Vô thượng Bồ-đề. Ba việc đó là gì?1. Giữ gìn ba nghiệp thuộc thân.2. Giữ gìn bốn nghiệp thuộc miệng.3. CG1Iữ gìn ba nghiệp thuộc ý.Đó là ba việc.Lại có bỗn việc thân nữ mau thành thân nam,tự đạt đến Vô thượng Bồ-đề. Bốn việc đó là gì?1. Bồ thí không dua nịnh.2. GIữ giới không dua nịnh.3. Thường tự bảo hộ không dua nịỊnh.4. Được nghe pháp không dua nịnh.Đó bốn là việc.Lại có năm việc thân nữ mau thành thân nam,tự đạt đến Vô thượng Bồ-đề. Năm việc đó là gì?1. Sông với chánh pháp.2. Việc làm đúng với pháp.3. Không thích thân nữ.4. Nghe pháp rất chuyên chú.5. Luôn nghĩ mình là thân nam.Đó là năm việc.Lại có sáu việc thân nữ mau thành thân nam,tự đạt đến Vô thượng Bồ-đề. Sáu việc đó là gì?1. Không biếng nhác.2. Làm việc gì đều không quên.3. Tâm nhu hòa.4. Chất phác, thật thà, không dua nịnh.5. Không phóng túng.6. Chí thành tha thiết trong việc làm.Đó sáu là việc.Lại có bảy việc thân nữ mau được làm thânnam để tự đạt đến Vô thượng Bồ-đê. Bảy việc đólà gì?1. Luôn nghĩ nhớ đến Phật để được Pháp thân.2. Luôn nghĩ nhớ đến Pháp đề được trí tuệ củaPhật.3. Luôn nghĩ nhớ đến Tăng vì muốn dự vảoTăng SỐ.4. Luôn nghĩ đến giới vì muốn chỗ mong câuđược thanh tịnh.5. Luôn nghĩ đến bố thí để khử trừ câu bấnphiên não.6. Luôn nghĩ đến chư Thiên vì muốn tâm nhưBồ-tát.7. Luôn nhớ nghĩ loài người vì muốn họ độthoát sinh tử.Đó là bảy việc.Lại có tám việc thân nữ mau thành thân namđể tự đạt đến Vô thượng Bô-để. Tám việc đó làgì?I. Không lây việc ăn uông để tự vui.2. Không lây bông hoa để tự vui.3. Không dùng hương thơm.4. Không dùng những màu sắc sặc SỠ.5. Không đến nhà người để trò chuyện.6. Không ca hát để mua vui.7. Không ca múa.Q_@k)Đó là tám việc.Lại có chín việc thân nữ mau thành thân namđể tự đạt đến Vô thượng Bôồ-đề. Chín việc đó làgì?. Không chấp đoạn.. Không chấp thường.Không nghĩ có ngã.Không nghĩ có nhân.Không nghĩ có thọ.. Không nghĩ có mạng.. Không nghĩ có chỗ sinh.. Không nghĩ không có chỗ sinh..- Tin nhân duyên.Đó là chín việc.Lại có mười việc thân nữ mau thành thânnam, tự đạt đến Vô thượng Bôồ-đề. Mười việc đólà gì?l. Thương yêu chúng sinh.2. Không tham câu lợi tất cả vật.3. Không nghĩ đến người đàn ông khác. Trọnđời không dối gạt mọi người.4. Không nói lời hai lưỡi, không nhục mạ.5. Không nói dối.6. Không ca hát, kỹ nhạc.*Đ 00 SƠ Ơi 0 Bị

– Bản Hán thiếu.

7. Tâm không lấy đó làm vui.S. Không vọng niệm.9. Không giữ lòng oán hận.10. Không hiểu biết bằng phước tội của tảđạo.Đó là mười viỆc.Người nữ có thê làm thân nam đề mau chứngVô thượng Bồ-đè. Khi người nữ có tâm thí, cótâm pháp, thây các sắc giông như đồng bọt nước;với sắc không tự cao; dù vui hay khô đều thấynhư bong bóng nước trong mưa. Nêu được vuikhông ham thích, còn bị khổ đau thì không ghéthận. Với an ôn không mừng, với đau khô khôngbuôn, quán tưởng như sóng nắng. Tâm ây khôngthuộc người nam, không thuộc người nữ mà là tấtcả.Sinh tử giống như cây chuỗi. Nêu biết sinh tửlà không thì có thể ở trong sinh tử, mà khôngniệm hữu, không niệm vô. Thức ví như huyền,quán tâm ý như hóa. Nếu huyền thì không có gìkhác, không vướng mắc vào các pháp, biết tất cảbốn đại: địa, thủy, hỏa, phong.Nêu làm nhà phải nhờ ba việc mới thành tựu,đó là: có cỏ, có đất và có cây. Con người cũngvậy, không phải ngã, không phải ngã sở, khôngphải mạng tạo ra, việc làm không bị chướng ngại.Đó là con mắt vốn thấy một cách tự nhiên. Mắtnhư bong Đóng nước, chỉ nương vào thịt nhưngbên trong nó rỗng không, vôn nó rỗng khôngnhưng thanh tịnh. Tai, mũi, miệng, thân, ý cũngvậy.Quán thân như bóng ảnh, quản âm thanh nhưtiếng vang, biết tâm như huyễn. Ai biết như vậythì mau lhìa thân nữ, được làm thân nam, tự đạtđến Vô thượng Bồ-đề.Sau khi Đức Phật dạy như vậy, các phu nhânrất vui mừng và lạy sát chân Phật. Khi ây, Phậtmỉm cười, từ trong miệng Ngài phóng ra ánh sángvới vô lượng màu sắc chiếu khắp mười phương,rôi thu lại bao quanh thân Ngài ba vòng và nhậpvào đỉnh đâu.Tôn giả A-nan đứng dậy, sửa pháp phục, quythăng khen ngợi Phật:-Săc diện Ngài sáng như trăng rắm, rất thùthăng. Màu ánh sáng như vàng trong lửa. NayNgài mỉm cười là nguyên nhân gì? Con muônđược nghe. Đây là điều con muôn thưa hỏi.Thâu nhiếp các trí tuệ thù thắng làm nên tảngcho tật cả chúng sinh. Nhân địa của Ngài, ai cũngcung kính. Ngải mỉm cười, chắc có điêu chi hoanhỷ? Đây là điêu con muốn thưa hỏi.Lấy pháp thí đề tự vui, với giới thanh tịnh, sứcnhãn nhục. Nay Ngài mỉm cười là sự việc gì? Đâylà điều con muôn hỏi,Tinh tấn thì năng lực của căn được thành tựu,lây việc thiên định để tự vui, trí tuệ như bâu trờiche trùm tất cả. Nay Ngài mỉm cười là sự việc gì?Đây là điều con muốn hỏi.Luôn luôn có lòng Từ bị, yêu thương che chởcho họ, bình đăng như nhau, không thiên vị. NayNgài mỉm cười là sự việc gì? Đây là điều conmuốn hỏi.Đã đoạn trừ ba độc nên chứng tam nhãn, phápnói ra như cam lô. Nay Ngài mỉm cười là sự việcgì? Đây là điêu con muốn hỏi.Thu phục quân ma, đuổi các ngoại đạo, chỉdạy bằng bốn Đề. Nay ngải mỉm cười là sự việcgì? Đây là điều con muốn hỏi.Băng mười Lực, Thế Tôn quyết đoán các nghingờ. Đức ây vô lượng. Nay ngài mỉm cười là sựviệc øì? Đây là điều con muốn hỏi.Đức Phật dạy Tôn giả A-nan:-Ông có thây các phu nhân cùng quyền thuộccủa Thuân-chân-đà-la đang đảnh lề Ta không?Tôn giả A-nan thưa:-Bạch Thê Tôn! Con đã thấy.Phật dạy Tôn giả A-nan:-Các phu nhân nhờ sự hoan hỷ đánh lễ ta vàtự phát tâm chứa nhóm các công đức. Sau khi quađời, thân nữ sẽ được làm thân nam, sinh vào cõitrời Đâu-suất, gặp đức Di-lặc đang giảng nói cácviệc làm của Bồ-tát, sẽ cúng dường Phật Di-lặc.Qua vô số kiếp sẽ thành Phật. Chúng sinh đều đếncúng dường. Ở trong kiếp ấy, từ từ sẽ thành Bồ-tát đạo. Thuân-chân-đả-la được thành Phật, còncác phu nhân sẽ sinh vào cõi Phật ây và hành đạoBồ-tát.Thuân-chân-đà-la bạch Phật:-Chúng con sẽ thực hành giống như Đức Phật.Sinh tử đã đoạn tận, chỉ trụ vào cõi người và cõitrời. Đã trụ vào Phật đạo, đây đủ pháp tạng, trụvào tuệ địa, trụ vào công đức, hiện quán Đê đạo,đã dùng phương tiện thiện xảo, đã xây dựng tâmBỏ- tát, giảng nói các pháp rõ ràng.Theo lời nói, ai nây đều hoan hỷ. Khi nghepháp, chúng hội và các Bô-tát đêu nghĩ: “Thuân-chân-đà-la lâu xa về sau sẽ thành Phật, hiệu là gì?Cõi ây có chúng Bô-tát cùng sự hành hóa như thếnào?”Biết tâm niệm của các Bồ-tát, Đức Phật ØỌITôn giả A-nan, dạy:-Qua bảy vạn bốn ngàn tám trăm kiếp về sau,vua Thuân-chân-đà-la sẽ được thành Phật, hiệu làQuân-ma-la-da-ba-phisa (Hán dịch là ĐứcVương Minh). Cõi ấy tên Chiên-đả-duy-ma-la(Hán dịch Nguyệt minh), kiếp tên La-đa-na-tam-phi (Hán dịch Bảo đăng hữu), đất bằng phẳng,trong suốt như lưu ly. Ánh sáng của đất â ây giôngnhư mặt trời và đất rât sạch sẽ, không có bụi dơ.Hư không có những tâm trướng xen nhau, đềubăng các châu báu và có chư Bồ-tát ngôi trong đó.Trên đường đi, thây Phật các Bồ-tát nghĩ:“Đúng với những gì ta đã thây. Đức Phật sẽ khaigiải những, điều nghi ngờ của các hóa Bồ-tát, làmcho các vị ây đêu sẽ đắc pháp Nhẫn vô sinh.”Khi ấy, quốc độ không có thành quách, xómlàng, huyện â ập của vua. Tất cả mọi người đêu Ởtrong những tâm trướng xen nhau, không thây cóngười nữ, không nghe tiếng người nữ. AI vãngsinh về đó đêu được ngôi tòa Sư tử trong hoa sen.Chúng Bỏ-tát vui với thiên định, ăn bằng pháplạc, không có đạo khác, không nghe tiếng đạokhác, chỉ có Bô-tát là hàng Đại thừa, không có tảđạo, không có người không tin Phật, cũng khôngcó chúng ma, không có dân ma, không có ngườicầu, không có người khô. Vì đó là kho tàng quýbáu, lây dâu â ân “không” để niêm phong.Ö đó nghe chư Thiên và người bình đănggiông như nhau, đêu chỉ là danh từ. Phật â ây sốngmười tiêu kiếp, có vô lượng chúng Bồ-tát làmTăng và đã được thiền định chắng thê nghĩ bàn.Khi Đức Phật â ây sắp Niết- bàn, trước tiên sẽ thọký cho Bô-tát. Bồ-tát tên Âu-đa-duy-thọ, sauđược làm Phật hiệu Ma-ha-duy-thọ (Hản dịch làĐại Nghiêm). Kiếp tên La-đa-na- -tam-phi, vì đôivới Phật, Pháp, Tăng không bao giờ đoạn tận chonên gọi là La-đa-na-tam-phI.Ở trước Phật, Thuân-chân-đà-la được thọ ký,ông ta rất vui mừng sung sướng và bay lên khỏimặt đất cách một trăm bôn mươi trượng, làm chotật cả chúng hội rất hoan hý. Với công đức củamình và nhờ oai thần của Phật, Thuần-chân-đà-laCa ngỢI:-Các pháp vốn thanh tịnh như hư không, tựnhiên không có. Vì tự nhiên nên không câu bản.Ai biết như vậy là trưởng tử của Phật.Như cảnh thây trong mộng, không thể có thật,nên không thể câm gIỮ, vì nó như hư không. AIbiết các pháp như mộng thì không còn cho sinh tửlà đau khô. Như những, gì nhà ảo thuật hóa hiện,trong đó không có sở đặc. Năm ấm như huyễn thìsắc như bọt nước, thọ như bong bóng trong nước,tưởng như sóng năng, như cây chuối, không CÓ SỞđặc, sinh tử không thể đặc. Những gì mà tâm ýbiết được chỉ có danh từ mà thôi.Phật dạy:-Nêu như huyền thì biết năm âm vốn như hưkhông, đối với sinh tử không cho là khô, vì bônđại bình đẳng như nhau, xem như rắn độc; sáutrần như đồng trống, giữ gìn đúng pháp là nhờ OaI1thân của Phật.Những øì cất giấu, lấy đem bồ thí cho người,làm như vậy thì được an vui. Nếu đã thanh tịnhthì đó là giới. Vọng tưởng đã được đoạn tận, đó lànhẫn nhục. Tự chê phục tâm mình để tịch tĩnh làtinh tấn. Chú tâm trong việc làm, không thay đồi,đó là thiền. Sở duyên không bị chướng ngại, đó làtuệ. Thọ trì môn học này là Ba-la-mật.Không ngã, không nhân là Từ bình đẳng.Thanh tịnh đó là BI. Tịch tĩnh là Hý, Xã.Ai làm được hạnh ây thì được sinh lên cõi trờiPhạm thiên.Lây bốn sự để bố thí, chịu nhẫn như Phật,không giận dữ, tham lam; đã vượt qua, không cósở hữu, không có ngã, thọ mạng cũng vậy. Biếtsáu trân là không nên đều tịch tĩnh. Ai biết nhưvậy, đó là Bồ-tát.Bỏ-tát thì không mong câu, không tưởng, hữunhân vô nhân, không tưởng hữu ngã, vô ngã. Vìkhông có hai tâm nên không chấp trước. Vì phápkhông có sở hữu nên không có chỗ nương tựa.Nếu đi thì không có chỗ đến, còn đến thì không từđầu, trụ vào Pháp thân không bị chướng ngại.Chân như và Phật đồng đắng, không có, cũngkhông, không. Do nhân duyên hợp lại mà có, vínhư sâm chớp hiện lên thì diệt ngay, tâm cũngnhư vậy, đi trong sinh tử mà tâm không thể nàothây được.Tâm như gió, không bị vướng mắc.Tâm vốn thanh tịnh, đã biết tâm vốn thanhtịnh thì ở trong sinh tử không bị ô nhiễm. Nhưtường vách nhờ có đất cỏ hợp lại mà thành, cònthần ây vô tri. Ví như sự yên lặng của gỗ đá. Vớithân không thể mong câu vì nó như gió, khôngthể đắc, âm thanh cũng vậy.Nếu trong núi có tiếng vang của kỹ nhạc thìbiết tiếng ày cũng tịnh lặng, không ham muốntiếng vang ây. Như hư không, không TỚt xuống vìkhông có chỗ trụ, không có xứ sở, biết rõ cácpháp như hư không, không có chỗ trụ, không cóchỗ dừng. AI biết như vậy là đã trụ bình đăng.Nếu có lửa dữ cũng không thể đốt cháy hưkhông. Vậy, biết các pháp thanh tịnh cũng như hưkhông. Nếu có lửa dữ ở các cõi khác đến đốt thìcũng không thể nào làm hại được. Vậy, biết cácpháp ây không bị núi Tu-di, núi Già-ca-hòa làmchướng ngại. Ai biết như vậy thì có thể đi khắpcác cÕi.Vậy, bốn đại: địa, thủy, hỏa, phong đều bìnhđăng, vì như hư không. Ai biết như vậy thì có thêđi đến ức ức cõi.Ở trong ba cõi nhưng vẫn có âm thanhthượng, trung, hạ.Ở trong trăm ức kiếp cũng có âm thanh, nókhông cùng tận, vì nó vôn tự nhiên.Sắc-tâm của Phật bình đăng như nhau và rất vidiệu vì thanh tịnh. Chư Phật bình đăng như nhau,Bỏ-tát tu hành tích chứa vô số công đức, do biếttâm thiện và các pháp đêu bình đăng, sau đó liênđược thọ ký.Bồ-tát là nơi cảnh giới của mình với pháp thânrất thanh tịnh. Ai biết như vậy, sau mới được thọký.Không tưởng sắc, không tưởng với tưởng,cũng không tưởng thọ, tưởng, sinh tử, thức; vìnhờ pháp mà được thọ ký, chứ chăng phải thọ kýbăng năm âm bốn đại; cho nên hư không đều bìnhđăng như nhau. AI biết như vậy là đăc pháp Nhẫnvô sinh, sau đó mới được thọ ký.Tận là không thê tự biết, bất tận là không thểtự biết tận. Ai hướng đến tận là đắc các phápnhãn, sau đó mới được thọ ký.Vô tưởng là đi thắng đến đạo chân chánh, hữutưởng là đi vào tà đạo, không chấp trước vào cácpháp, đã vượt qua ba đời. Ai biết được như vậythì được thọ ký.Tự biết ngã là tự nhiên, các pháp đều tự nhiên,vô ngã cũng lại tự nhiên, hư không cũng tự nhiên.Hư không là tự nhiên vì không sở hữu. Biết ba cáitâm bình đăng như hư không, cho nên gọi là hưkhông. Người biết thọ Ký thì không nên cho làbiết, vì có tâm mong câu. Người không có tâm,không có ý về thọ ký, đó là được thọ ký.Thuân-chân-đà-la nói:-Nếu bình đăng, các chúng hội đứng trên mặtđất, còn tôi thì ở trên hư không. Vậy biết răngtrên đất và hư không tâm đều bình đăng, hànhkhắp ba đời mà không vướng mắc.Khen ngợi như vậy xong, Thuân-chân-đà-la từhư không hạ xuÔng, đến trước Phật thưa:-Đức Phật vì con nên hiện ra nơi đời. Ngài đãnói rõ cho con từ vô số a-tăng- kỳ, kiếp, connguyện hành đạo Bỏ- tát, không làm mất các côngđức. Hôm nay con muốn được nghe điều đó.Khi ấy, các Bỏồ-tát trong hội đều nghĩ:“Thuân-chân- đà-la quá khứ đã phát tâm với ĐứcPhật nào?” Biết tâm niệm của các Bỏ- tát, muốngiải nghi nên Đức Phật nói với Bô-tát Đề-vô-ly:—Trải qua vô số a-tăng-kỳ kiếp, không thể tínhđếm, về đời quá khứ xa xưa có Đức Phật hiệu La-đà-na-kỳ-đầu (Hán dịch: Bảo Anh), cõi ây tênThủ-ha (Hán dịch: Tịnh mạo), kiếp tên Ba-la-lâm(Hản dịch: Thanh tịnh mạo). Như Lai ây có mườihai ức Bô-tát rất tinh tấn và đặc pháp Nhẫn, đềulà Nhất thiết trí. Phật ây thọ sáu mươi ức năm.Cõi ấy trang nghiêm, bằng phẳng, đất bằng lưu ly,không trông lúa gạo. Nếu có đói hay khát thì tựnhiên có thức ăn uông hiện ra trước mặt. Cõi â âykhông có đạo nảo khác, tật cả đều là hàng Đạithừa. Thuở ấy có Chuyển luân vương tên Ni-di-đà-la cai trị bỗn thiên hạ. Vua Chuyên luân âycúng dường Đức Phật và sáu mươi ức Bồ-tát cảmười ức vạn năm. Vua đã tạo ra vô số công đức,có tám vạn bốn ngàn phu nhân, một ngản ngườicon và tám vạn bôn ngàn bê tôi của ma đều pháttâm câu đạt đạo quả Vô thượng Bỏ-đề, và cũngphát tâm cúng dường Phật ức vạn năm. Sau đóvua nhường ngôi lại cho Thái tử tên Hòa-đà-ba-lợi-lâm, rôi làm Sa-môn. Thái tử ây lên làm vuacũng cúng dường Phật giống như đã nói ở trước.Sau đó, thái tử lập con mình lên làm vua và cũngtừ bỏ để làm Sa-môn. Như vậy, họ lần lượt truyềnngôi cho nhau như trước, cho đến Phật hết tuổithọ. Sau khi Phật Bát-niễt-bàn, vị vua cuỗi cùnggiữ gìn chánh pháp.Phật dạy Bô-tát Đê-vô-ly:-Ông biết vua Chuyến luân Ni-di-đà-la thuởây là ai không? Chính là Thuân-chân-đà-la đó.Bồ-tát Đê-vô-ly thưa:-Lành thay, lành thay! Từ lâu xa không thểnghĩ bàn, vậy mà trí tuệ của Phật vẫn còn nhớ rõ,nói ra như thế.Phật dạy:Trí tuệ ấy chưa đủ đề nói đâu. Vì sao? Vì cònbiết về chốn hành hóa của tâm ở quá khứ, vị laivà hiện tại có nhân hay không có nhân, có côngđức hay không có công đức, nên trí tuệ của NhưLai không có chướng ngại.Khi Đức Phật nói đến không chướng ngại thìcó tám vạn bốn ngàn người phát tâm Vô thượngBồ-đề.Sau khi Thuân-chân-đà-la cùng quyên thuộccúng dường Phật bảy ngày xong, ông ta đem tâtcả những thứ hiện có của đất nước dâng cúng làmsở hữu của Như Lai và luôn luôn mời thỉnh ThếTôn đến đây sử dụng vì lòng Từ bi yêu thương tấtcả.Thái tử của Thuân-chân-đả-la tên Di-ma-la-niết lây chuỗi hạt châu ma-ni dâng cúng dườngPhật và thưa:-Thuân-chân-đà-la con rất thích kỹ nhạc. Cúixin Như Lai chỉ dạy cho con phương pháp dứt bỏtâm ham muôn kỹ nhạc ấy.Phật dạy:Từ nay trở đi, ta sẽ ủng hộ ông. Khi có âmthanh kỹ nhạc sẽ làm cho nghe về sáu mươi bốntiếng pháp để hướng đến đạo. Sáu mươi bốn phápđó là gì? Chỉ nghe tiếng vô thường, tiếng khô,tiếng không, tiếng vô ngã, tiếng tịch tĩnh, tiếngthanh tịnh, tiếng không sinh tử, tiếng bản tịnh,tiếng không từ đâu sinh, "tiếng đúng VỚI bồn thểcủa nó, tiếng bản tế, tiếng bản vô, tiếng Phápthân, tiếng Như Lai, tiếng không CÓ TEƯỜI, tiếngkhông có thọ, tiếng không có mạng, tiếng khôngđến, tiếng không có vị lai, tiếng không có quákhứ, tiếng không có hiện tại, tiếng không có xứSỞ, tiếng VÔ SỞ đặc, tiêng không gì cao hơn, tiếngBộ thí, tiếng Ciới thanh tịnh, tiếng Nhẫn nhục,tiếng Tĩnh tân, tiếng Nhất tâm, tiếng Trí tuệ, tiếngTừ, tiếng Bị, tiếng. Hộ, tiếng bình đăng, tiếngPhật, tiếng Pháp, tiếng Tăng, tiếng không quênBồ- tát, tiếng. Ý chỉ, tiếng Ý đoạn, tiếng Thân Túc,tiếng Căn, tiếng Lực, tiếng CIác ý, tiếng vào Đạo,tiếng vọng lại, tiếng quán, tiếng phương tiện thiệnxảo, tiếng đem tứ sự bố thí, tiếng dạy chúng sinh,tiếng hộ trì chánh pháp, tiếng thu phục quân ma,tiếng huyễn, tiêng như thây trong mộng, tiếng ánhsáng như mặt trời, tiếng vọng lại, tiếng như bongbóng trong nước, tiếng Pháp thân không hoại,tiếng mười Lực, tiếng bốn Vô sở ủy, tiếng mưƯỜItám pháp Bất cộng, tiếng Vô thượng Bô-đê, tiếngNhất thiết trí, tiếng trang nghiêm quôc độ.Đó là sáu mươi bôn thứ tiếng. Nếu là tiếngcủa kỹ nhạc thì Phật dùng oal thân làm cho nghethành tiêng pháp. Ai đã thể nhập vào điều này thìđạt được ba mươi bảy phẩm trợ đạo.Khi â ấy, trong chúng hội ai nấy rất vui mừng,lạy sát đất và thưa:-Bô-tát là bậc rất tôn quý, là người đã trụ vàopháp và được Phật ủng hộ.Phật dạy:Đúng như các vị đã nói. Bồ-tát đã trụ vàopháp thì đều được Phật ủng hộ. Vì sao? Vì ủng hộBồ-tát là ủng hộ tật cả chúng sinh. Vì sao? Vì Bồ-tát phát tâm vì tật cả chúng sinh, nên gọi là lời thệnguyện ủng hộ kẻ ngu sĩ tắm tối, thoát khỏi sinhtử để đạt đên Nê-hoàn.Phật dạy:-Ai biết ủng hộ Bô-tát là người đã ủng hộ tấtcả chúng sinh, đem những vật sở hữu, y, bát...cúng dường Bỏ-tát hay bố thí cho mọi người, Vìsao? Vì Bô-tát nhờ hơi thở vô ra mà được sông.Như con người nhờ có hơi thở ra vào mà đượcsông an ôn đây đủ, vì muôn làm lợi ích cho tất cả.Khi ấy, tất cả chúng hội: Thiên tử cõi Dục,Thiên tử cõi Sắc, tiên tử cõi thanh tịnh, Chân- đà-la, Kiền-đà-la, Ma-hưu-lặc... đều khen ngợi, phânchân làm theo lời Phật đạy. Tất cả đem các loạihoa rải cúng dường Phật.Thuân-chân-đà-la suy nghĩ: “Từ các Ty-kheo,Bỏ-tát lên đến Phật đều sắp trở về.”Thuân-chân-đà-la dùng Thân túc trở lại làmxe hoa ngang đài ba trăm dặm bằng các ngọc báu,dùng vô sô châu báu làm cây. Ông ta làm tòa Sưtử cao bốn trượng Dảy thước cho Như Lai, lấy lụatrời vô số mảu Sắc, CÓ viên rèm trải trên các tòa.Các Tỳ-kheo và Bỏ-tát cùng đến ngôi. Còn cácĐề Thích, bốn đại Thiên vương thì làm tòa nhưtòa ở CỐI trỜI.Làm đâu đó xong, Thuân-chân-đà-la bạchPhật:Xin Ngài từ bi đến an tọa.Đức Phật và các Ty-kheo cùng các Bỏ- tát đềuđến ngồi xe của Thuân-chân-đà-la. Khi ẤY, nhờThân túc của Thuân-chân-đà-la, chiếc xe rời khỏicách mặt đất một trăm bỗn mươi trượng. Xe ấybay trên hư không, có tám ngàn Thiên tử, cácThuân-chân-đà-la, Kiển-đảà-la đi theo. Thuần-chân-đà-la lây vàng làm dây rôi cùng quyến thuộcđi trước, kéo xe đến đạo tràng.Đức Phật phóng ánh sáng chiếu thâu tam thiênđại thiên thế giới. Vua A-xà- -thế cùng quân thân,Tỳ-kheo, Tỳ-kheo- ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di thâyánh sáng nên biết Đức Phật sắp đến. Tất cả đemlọng lụa, cờ, hoa, hương ra khỏi thành La-duyệtđể nghênh đón. Tám vạn bốn ngàn kỹ nhạc củaThuân-chân-đà-la vừa đi vừa ca hát, đánh đàn,nghe âm thanh ấy đi trước. Con và quyến thuộccủa Thuân-chân-đà-la kéo xe đưa Phật đã đến núiKỷ-xà-quật. Đức Phật xuông xe và đến chỗ ngôi,còn các Tỳ-kheo, Bồ-tát đều đứng phía trước.Vua A-xà-thế, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Uu-bà-tắc, Ưu-bà-di, tất cả các vị tôn quý và các vua nhỏcủa vua A-xà-thê đem long lụa, hương hoa đếncúng dường và lạy Phật rôi thưa;-Bạch Như Lai! Bồ- tát Đề-vô-ly hỏi Phật:Thuân-chân-đà-la cùng quyên thuộc đem xe đónPhật đến đây. Vậy họ được công đức gì?Phật dạy:-Thuân-chân- đà-la cùng quyên thuộc đều pháttâm Vô thượng Bỏ-đề. Nhờ công đức này màchứng đắc năm thiên chi, cho đến thành Phật vẫnkhông mất. Đi từ cõi này đến cối khác cúngdường chư Phật. Ai nghe pháp ây cũng cúngdường, gân gũi các Ty-kheo Tăng và đêu biệtkiếp trước. Tât cả sẽ thành tựu với lòng đại Bi vôcực, sẽ hộ trì chánh pháp, sẽ giáo hóa chúng sinh.Vua A-xà-thế nói với Thuần-chân-đả-la:Lành thay! Nhân giả được Phật khen ngợi.Vua A-xà-thế nói tiếp:“Công đức do Nhân giả tạo ra, xIn hãy chiacho tôi một ít để tôi được công đức ây.Thuân-chân-đà-la trả lời:-Nêu vua đồng ý nhận giữ công đức ấy thì tôisẽ cùng chia cho tất cả. Vì sao? Vì công đức củaBồ-tát tạo ra đều vì chúng sinh nên không hammuốn. Hơn nữa, những công đức tạo ra đó khôngnghĩ do riêng mình làm. Tât cả chúng sinh chorăng việc làm của Bồ- tát là vì tật cả nên được sựcứu giúp. Vì sao? Vì Bồ-tát là nhân duyên của tấtcả chúng sinh, nhờ sự tu tập nên làm lợi ích chomỌi người.Thuân-chân-đà-la nói với A-xà-thế:Lành thay! Nhân giả đã có hai vị Thiện trithức. Hai vị đó là Đức Phật và Văn-thù-sư-lợi.Nhờ ân đức này mà được giải trừ tất cả việc làmphi pháp và các điều nghi ngờ.Vua A-xà-thế nói:-Hành vi của Bô-tát rât hoàn hảo, lấy tâm làmpháp khí. AI nghe pháp này sẽ không còn hô nghị,không nhớ, cũng không quên.Bô-tát Đề-vô-ly thưa Phật:-Bạch Thế Tôn! Vì sao nói rằng Bô-tát có thểlàm pháp khí?Phật dạy:-Lây ba mươi hai việc làm pháp khí. Ba mươihai việc ây là gì?1. Bồ-tát trụ yên ôn được Phật hộ trì. Đó làpháp khí.9) Không dua nịnh, lời nói chắc thật khônghai, tin có công đức. Đó là pháp khí.3. Tu tập hạnh Bồ-tát. Đó là pháp khí.4. Nghe rôi suy nghĩ, Đó là pháp khí.5. Thâm nhập vào tâm, từ từ đạt được đạo. Đólà pháp khí.6. Biết rõ các căn bản. Đó là pháp khí.7. Bồ thí được giàu sang. Đó là pháp khí.§. Giới thể thanh tịnh, thệ nguyện viên mãn.Đó là pháp khí.9. Nhẫn nhục được ba mươi hai tướng tốt. Đólà pháp khí.10. Tinh tấn đối với tất cả pháp của chư Phật.Đó là pháp khí.11. Nhất tâm điều trị bệnh của mình. Đó làpháp khí.12. Trí tuệ không chướng ngại. Đó là phápkhí.13. Từ là bình đắng với mọi người. Đó là phápkhí.14. Bi là cứu giúp người nghèo khổ. Đó làpháp khí.15. Hộ là thương xót chúng sinh. Đó là phápkhí.1ó. Tâm bình đăng là: với tất cả chúng sinhkhông có tâm riêng biệt. Đó là pháp khí.L7. Làm Thiện tri thức cho người. Đó là phápkhí của tất cả các công đức.18. Nghe không nhàm chán. Đó là pháp khícủa Bát-nhã ba-la-mật.19. Làm Sa-môn, dù xa cha mẹ quyến thuộcnhưng tâm không đau khổ. Đó là pháp khí.20. Thích một mình ở trong núi, tâm chuyênnhất. Đó là pháp khí.21. Thích ở nơi thanh vắng để đạt thiền định.Đó là pháp khí.22. Đem những øì mình có cho người khôngcó, rôi chỉ dạy họ vào đạo. Đó là pháp khí.23. Giữ gìn, bảo hộ các pháp để cho kẻ tăm tốiđược sáng. suốt. Đó là pháp khí.24. Biết Đà-la-ni, hiểu rõ nghĩa nó, rôi đemgiảng dạy cho người. Đó là pháp khí.25. Những gì mình ưa thích là vì mọi người,giải nghị cho họ. Đó là pháp khí.26. Ai nghĩ nhớ đến Phật thì mau được thâyPhật. Đó là pháp khí.27. Không sân giận, không hối hận, công đứcây không biết hết được. Đó là pháp khí.28. Vì biết các pháp là không, nên khôngluyên tiếc. Đó là pháp khi.29. Hiểu rõ mười hai nhân duyên, vượt quachấp đoạn chấp thường. Đó là pháp khí.30. Được pháp nhẫn. Đó là pháp khí.31. Không bao lâu được thọ ký. Đó là phápkhí.32. Đối với bậc Nhất sinh bồ xứ, nhờ năng lựcở trước nên không động chuyên. Đó là pháp khí.Trên đây là ba mươi hai pháp khí của Bô-tát.Khi Đức Phật nói pháp nảy có một vạn ngườiphát tâm Vô thượng Bô-đê, tật cả cất tiếng thưa:-Bạch Thê Tôn! Chúng con muốn cho tất cảđêu được là pháp khí. Nay chúng con được phápkhí mà Như Lai đã nói.Đức Phật dạy Thuân- chân-đà-la:-Ông hãy trở về chỗ cũ, đừng cho mọi ngườiphải mệt nhọc.Thuân-chân-đà-la thưa:-Người nào có tâm nghĩ đến mệt nhọc thìchăng phải là Bồ- tát. Còn ai không nghĩ đến mệtnhọc thì đó là Bô-tát.Thuân-chân-đà-la thưa tiếp:-Bạch Thế Tôn! Nguyên do gì Bô-tát nghĩđến mệt nhọc? Nguyên do gì Bô-tát không nghĩđến mệt nhọc?Đức Phật dạy:-Với bỗn việc Bồ-tát biết có mệt nhọc. Bốnviệc biết mệt nhọc đó là øì?1. Nghe người nhiêu vô số thì tâm Bồ-tát sợhãi. Đây là mệt nhọc thứ nhất.2. Nghe sinh tử không thể vượt qua, làm tâmsợ hãi. Đây là mệt nhọc thứ hai.3. phe trí tuệ Phật không hạn lượng, làm tâmBồ-tát sợ hãi. Đây là mệt nhọc thứ ba.4. Nghe vô sô công đức thành một tướng, làmtâm Bồ-tát sợ hãi. Đây là mệt nhọc thứ tư.Với bốn việc, Bô-tát biết không mệt nhọc.Bốn việc đó là gì?1. Muôn cứu độ tất cả chúng sinh đều đạt đếnNê-hoàản. Đây là việc thứ nhất không cho là mệtnhọc.2. Muôn tự mình cứu giúp vô số sinh tử, vìmuôn tạo công đức nên tâm không sợ, nên khôngcho là mệt nhọc.3. Nghe vô số trí tuệ của Phật thì Bồ-tát muỗnđây đủ, tâm không sợ hãi, nên không cho là mệtnhọc.4. Nghe vô số công đức thành một tướng, tâmBồ-tát không sợ hãi, nên không cho là mệt nhọc.Đó là bôn việc biết Bồ-tát không cho là mệtnhọc.Lại có bốn việc biết cho là mệt nhọc. Bốn việcđó là gì?l. Ngay ở giai đoạn trung gian, ưa thích phápThanh văn nên đến gần gũi.2. Ngay ở giai đoạn trung gian, ưa thích phápBích-chi-phật, nên đến gân gŨI.3 + 4. Khi chánh pháp sắp tận, không dụngtâm, không hộ trì, không dạy người phát tâm Bỗ-tát.Đó là bốn việc biết Bồ-tát cho răng, mệt nhọc.Lại có bốn việc không cho rằng có mệt nhọc.Bốn việc đó là gì?I + 2. Không tự vui với pháp La-hán, Bích-chi-phật.7: Châp nhận chịu chết chứ không lìa pháp.4. Nếu nghe người thiện có khả năng phát tâmBồ-tát thì nên đến đó chỉ dạy, không lánh xa.Đó là bốn việc biết Bồ-tát không cho là mệtnhọc.Lại có bốn việc biết Bồ-tát cho là mệt nhọc.Bốn việc đó là gì?I. Nếu có Sa-môn, Bà-la-môn, kẻ bân củng,ăn xin đến câu xin thì sân giận họ.2. Chỉ lo lắng cho mình được ăn uống, ngôinăm được an ôn mà không nghĩ đến người khác.3. Không nghĩ đến sự học hỏi, cho rắng ta biếtnhiêu.4. Có văn tuệ, thường thường vội bỏ đi, khôngmuốn chỉ dạy cho người.Đó là bốn việc Bô-tát cho là có mệt nhọc.Lại có bốn việc Bô-tát không cho là mệt nhọc.Bốn việc đó là gì?1. Nếu có người ăn xin đến câu xin thì đem bồthí cho họ, xem họ như Thiện tri thức của mình.2. Tâm hòa nhã, dịu dàng với tất cả chúngsinh.3 Không nghĩ rằng mình được an vui, màmuốn mọi người cũng đều an vui.4. Với sự học hỏi không nhàm chán, chỉ dạycho người không có sự mong câu.Đó là bốn việc biết Bô-tát không cho có mệtnhọc.Lại có bốn việc biết Bồ-tát cho rẵng có mệtnhọc. Bốn việc đó là gì?1. Không câu đạo Ba-la-mật.2. Không lây tứ sự để bố thí.3. Với chúng sinh không tính tấn chỉ dạynghĩa lý.4. Nghe nhớ điều øì cho là đã đủ, không nhớnghĩ đến đạo Bô-tát.Đó là bốn việc biết Bồ-tát cho rắng có mệtnhọc.Lại có bốn việc biết Bồ-tát không cho rằng cómệt nhọc. Bốn việc đó là gì?1. Nếu thân bị đốt cháy, không cho là đau đớnmà câu các Ba-la-mật không biếng nhác.Và Lẫy tứ sự để bồ thí để họ đây đủ, không làmtrải Ý VỚI người cầu xin.3. Tĩnh tân chỉ dạy, muốn người hoan hỷ.4. Muôn đây đủ các công đức, biết khôngnhàm chán.Đó là bốn việc biết Bồ-tát không cho rắng cómệt nhọc.Đức Phật hỏi vua A-xà-thê:-Có nghe Bôồ-tát không cho răng mệt nhọckhông?Vua trả lời:-Đã nghe ti.Phật dạy:-Ngbhe rồi thì từ nay trở đi nêu có người hànhBồ-tát hạnh thì việc làm đừng nhàm chán cho làmệt nhọc.Vua A-xà-thê bạch Phật:-Sao gọi là Bồ-tát hạnh?Giữa chúng hội gồm Thuân-chân-đà-la, Kiên-đà-la, Đức Phật giảng nói pháp, mọi người đềulãnh hội: vua A-xà- -thế nghe Phật giảng nói vềhạnh của Bô-tát như vây:Làm theo pháp đã nghe là hành. Đối với Bồ-tát, hành không mệt nhọc, hành tâm bình đăng vớitật cả, hành kiên cố, hành chắc chắn, hành thanhtịnh, như ý sở tác, với pháp Bô- tát hành khôngdua nịnh, hành bố thí, hành cho tât cả mà khôngtiếc, Bô-tát hạnh không hành theo chấp hữu, hànhnương vào giới thanh tịnh, hành tịch tĩnh, hànhthân, khẩu, ý thanh tịnh, tâm Bô-tát luôn nghĩ đếnhành hạnh nhãn nhục, hành trừ bỏ các oán hận,hành làm Bô-tát, hành tinh tân không vọng tưởng,hành đạt đến mục đích, hành đối với sinh tửkhông cho là khổ nhọc, hành hạnh Bỏ-tát khôngsợ hãi, hành thiên, hàn: tri, hành thân tâm an vuiI,hành hạnh Bồ-tát tâm không tán loạn.Bôồ-tát hành bằng trí tuệ nên hành đúng pháp,Bỏ-tát hành không chấp có sở đắc, hành theo lòngTừ, hành tâm hòa nhã, hành tu đại BI, hành theohạnh Bô-tát, hành không sân giận, hành không,hành theo ý, hành thanh tịnh không vọng tưởng.Bộ- tát hành không mong câu.Bồ-tát hành đúng thì nên hành, hành đây đủ trítuệ, hành theo Bô-tát, hành lòng tin khôngchướng ngại, hành ý an Tam-muội.Bồ-tát hành không gián đoạn, hành Thân túc,hành thiên, hành bằng năm Thiên chi. Hành theohạnh Bô-tát thì không có tội, hành bình đăng chânthật, hành nương vào pháp, hành muôn chỉ dạychúng sinh, hành đúng như Bồ-tát, hành việc làmkhông dựa vào nhần duyên, hành đúng với việclàm, hành đoạn tuyệt các tôi tăm.Với việc làm của Bồ-tát hành không nhằmlẫn, hành thanh tịnh, hành rửa sạch các câu bản.Bồ-tát làm như vậy là hành, hành không hối hận,hành bảo hộ chúng sinh để họ không còn lo sợ.Bỏ-tát làm như vậy là hành, hành đầy đủ theoSự mong cầu của chúng sinh, hành như mặt trời,hành như mặt trăng, hành như hoa sen khôngnhiễm.Bỏ-tát làm như vậy được chư Thiên cungkính, hành như Đề Thích, hành như chư Thiên,hành đạo đây đủ.Bồ-tát hành như vậy chúng ma đều sợ sệt.Hành trì, hành tôn kính, hành diệt sạch dâm, nộ,S1.Bỏ-tát hành hạnh như vậy được vô sô chưThiên khen ngợi, hành lâu dài, hành mắt trí tuệthanh tịnh, hành nghiêm túc, với sắc không hànhchấp trước.Bỏ-tát hành như vậy không có tội. Bồ-tát đãhành hạnh như vậy được chư Thiên khen ngợi.Hành lời nói nhu hòa, hành bình đăng, hành xả bỏtà đạo.Bồ-tát hành lấy tuệ làm gốc, hành dõng mãnh,hành chấn động quân ma, hành chúng hội đangngôi và cây của Phật không khác nhau. Hành đặcĐà-la-nI, hành việc làm của Bồ-tát không nhàmchán, hành trong núi, hành năng nhẫn, hành ưathích làm Sa-môn, hành hạnh Bồ-tát như ban đâu,hành muôn giải thoát và hành tâm.Đối với tất cả, hành một cách tôn kính thì chỗduyên hợp của Bồ-tát không mất, hành làm thànhtựu, hành phương tiện thiện xảo. Đôi với thiềnđịnh, hành không mong câu, Bô-tát hành theo chỗkhông có pháp, hành theo thế tục, hành phi thếtục, hành cõi Dục, cõi Sắc, cõi Vô sắc. Bô-táthành như vậy thì không sợ sệt.Hành tật cả, hành biết rõ mọi người. Nẻo hànhtrì của Bô-tát giống như bâu trời bao trùm tật cả.Khi Phật nói hạnh của Bô-tát, có năm trămBồ-tát được pháp Nhẫn vô sinh, tám ngàn ngườitrong hội phát tâm Vô thượng Bỏ-đề. Tất cả đềuthưa Phật:-Chúng con sẽ phụng hành và hành đúnghạnh của Bô-tát.Đức Phật hiện điềm lành muốn làm choThuân-chân-đà-la quay về chỗ cũ. Khi ấy, quyênthuộc trong cung thât của Thuần- chân-đà-la đinhiễu Phật ba vòng, quỳ trước Phật rôi xin lui. Từnơi thân họ phóng ánh sáng và tâu kỹ nhạc, đánhđàn, làm đại địa chấn động sáu cách, mưa hoa trờirÔi trở về cung thât của mình.Thích Đê-hoàn Nhân bạch Phật:—Thuân-chân-đà-la cúng dường Phật, Pháp vàTỳ-kheo Tăng, chư Bô-tát, công đức ây đã vượtlên trên con.Phật dạy Thích Đê-hoàn Nhân:-Không chỉ vượt hơn ông mà công đức âyvượt qua tam thiên đại thiên thế giới và cả cácThích, Phạm, Tứ Thiên vương, Thanh văn, Bích-chi-phật. Vì sao? Vì Bô-tát một khi phát tâm thìvượt qua các Thanh văn, Bích-chi-phật. Tất cảchúng sinh nhờ pháp â ây mà được độ thoát. HạnhBỏ-tát thù thắng hơn tất cả, không ai hơn ĐứcPhật. Cho nên biết răng không ai sánh băng Bỏ-tát. Vì sao? Vì Phật nhờ tâm Bô-tát mà thành tựu.Các Thanh văn nhờ Phật pháp mà thành tựu.Thích Đề-hoàn Nhân bỗng khóc, nước mắttuôn trào, bạch Phật:-Bạch Thê Tôn! Con đã làm tốn hại cội sốcnên không phát tâm Bô-tát.Khi đó, trong chúng hội có Thiên tử tên CụHoặc, nói với Thích Đề-hoàn Nhân:-Giáo pháp của Đức Phật lưu bô khắp cõi trời,ai cũng phát tâm Bô-tát. Nay ông hối hận thì cólợi ích gì? Vì sao Vì ông đã đốt chảy hạt giốngBồ-tát rôi, không phải là pháp khí của Bô-tát.Khi Cụ Hoặc nói như vậy, có năm trăm Thiêntử trời Đao-lợi phát tâm Vô thượng Bồ-đề.Thiên tử Cụ Hoặc thưa Phật:-Con biết Phật từ nơi hạnh xưa, Bô-tát đượcĐề-hòa-kiệt Phật thọ ký, pháp Nhẫn vô sinh. NhưLai đã nói về pháp Nhẫn vô sinh, con muôn đượcnghe. Cúi xin Ngài nói cho.Phật dạy:-Nêu Bỏ-tát không có công đức thì không thểnghe pháp Nhẫn vô sinh.Phật dạy Cụ Hoặc:-Bô-tát nhờ bốn việc mà được pháp Nhẫn vôsinh. Thế nào là bốn?1. Biết chư Phật từ quá khứ, đương lai và hiệntại đều bình đẳng không có.2. Bình đẳng VỚI Các pháp không khác.3. Bình đăng với các cõi Phật.4. Bình đăng với chúng sinh.Đó là bốn việc.Lại có bốn việc. Thế nảo là bốn?1. Thích không mà lại biết bốn bậc thiên.2. Với lòng Từ bị vô cực, thích ở nơi ba cõiI.3. Với phương tiện thiện xảo thích sáu Ba-la-mật.4. Với trí tuệ thích năm Thiên chỉ.Đó là bốn.Lại có bốn việc. Thế nảo là bốn?1. Đối với năm âm mà cầu đạo Bồ-tát. Bồ-tátbiết năm âm nhưng tự nhiên.2. Đôi với bốn đại mà cầu Bồ-tát, tin bốn đạinhưng tự nhiên.3. Đôi với sáu trần mà câu Bồ-tát, gân øũI1 sáutrần nhưng tự nhiên.4. Đôi với các pháp mà cầu Bô-tát, đối với cácpháp tự nhiên không nghI ngờ.Đó là bốn.Lại có bốn việc. Thế nảo là bốn?1. Nhờ trụ vào bản tế mà biết các pháp.2. Đã trụ nơi pháp của Như Lai thì đều thểnhập vào các pháp bình đăng với ba đời.3. Thể nhập vào Pháp thân, biết rõ các pháp,tướng nó như hư không, không thê hư hoại.4. Quán các pháp bình đăng giông nhau.Đó là nhờ bốn việc mà Bồ-tát được phápNhẫn vô sinh.Khi Đức Phật nói pháp ấy, có năm trăm Bô-tátđược pháp Nhẫn vô sinh. Thiên tử Cụ Hoặc đượcpháp nhẫn không chướng ngại.Nói xong, Phật dạy Tôn giả A-nan:-Ông có thâu hiểu những gì Thuân-chân-đà-lađã hỏi không?Tôn giả A-nan thưa:-Con thâu đạt đây đủ. Pháp ây rât thích hợp,thích thú không øì bằng, thật vi diệu sâu xa. Đúngnhư đã nói trước đây, do đó mà hiểu rõ các pháp.Tôn giả A-nan bạch Phật:—Pháp trước đây Phật đã giảng nói, hôm naynghe lại thì có thê hiệu rõ ràng. Con là Thanhvăn, nghe còn hiểu rõ pháp ây, huông chi là Bồ-tát có trí tuệ vô cực, tâm như biến lớn dung chứatật cả. Trí tuệ của các vị ấy sâu rộng, bao quát tậtcả mọi nơi, thâu nhiệp các pháp, là vật báu trongcác báu, làm người thay thê cho chúng sinh khôngai thay thê. Nêu quán sâu vào tuệ của Bô-tát âythì không có gì lường được.Tôn giả A-nan lại thưa Phật:—Sau nảy ai nghe pháp â ây sẽ được hướng đếnánh sáng của pháp. Ánh sáng từ một lỗ chân lôngcủa Như Lai còn che lấp ánh sáng của tam thiênđại thiên mặt trời, mặt trăng, vậy mà ánh sáng từchân lông toàn thân của Như lai không băng ánhsáng của pháp này. Chắc chắn không có gì vượtqua được. Vì sao? Vì ánh sáng ấy từ trí tuệ mà có.Ánh sáng pháp biết tất cả chúng sinh, cho nênpháp â ây là tối tôn không gì che lâp được. Đời saua1 nghe pháp này đều được có ánh sáng trí tuệ.Nghe rô, thọ trì, đọc tụng, dạy bảo người nươngvào trí pháp ây thì không lìa Bô-tát vì có tất cả.Lấy Bi vô cực làm đại hoăng thệ nguyện. Lây từlàm áo giáp để thu phục chúng ma, dân dần đếngân dưới cây Phật.Tôn giả A-nan thưa:-Con nhờ oai thân của Phật mà giữ gìn phápây. Nếu đọc tụng thuộc lòng và giảng nói rộng rãicho tất cả chúng sinh thì phước ây như thế nào?Phật dạy:-Nêu có người đem bảy báu đặt đây cả tamthiên đại thiên thế giới để cúng dường cho cácbậc Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán, Bích-chi-phật, lên đến Đức Phật, chỗ tạocông đức ấy trải qua một ngàn năm.Phật hỏi Tôn giả A-nan:-Phước ấy có nhiêu không?Tôn giả A-nan thưa:-Rât nhiêu, rất nhiều! Kính bạch Thiên TrungThiên.Phật dạy:-Mặc dù phước ấy rất nhiêu nhưng khôngbăng người nam hay người nữ phụng hành hạnhBỏ-tát, đêm ngày ba lần tụng đọc, hoặc giảng nóinhững điều trong pháp kia; công đức này vượt lêntrên công đức trước, huỗng chì người nói phápnày. Vì sao? Vì Bồ-tát ấy lây bốn việc trong kinhgiảng nói, giải thích ý nghĩa trong pháp ây, chonên gọi pháp thí là tối tôn trong các bố thí, đó làân đức vô cùng cực. Pháp thí là sự hộ trì cùngcực. Vi sao? Vì ai nghe pháp ấy thì tâm khôngcòn phiên não câu bần và sẽ được giải thoát. Nếuđem tất cả của cải ra bố thí chăng qua là đểtrưởng dưỡng sinh tử. Còn ai muôn vượt qua sinhtử thì nên đem pháp này để bô thí. Đó là theo lờidạy cách bố thí của Phật. Tất cả chúng sinh nhờvào pháp thí mà được công đức.Khi Bô-tát bố thí được ba mươi hai điều. Bamươi hai điều ấy là gì?1. Ý anôn.2. Việc làm an Ổn.3. Với hạnh được an Ổn.4. Ít ham muôn.5. Bớt giận.6. Bớt sI.7. Tự độ, lại độ người vượt qua sinh tử.§. Được người yêu mến.9, Được chư Thiên khen ngợi.10. Được Rồng, Dạ-xoa, Kiên-đà-la ủng hộ.11. Theo việc đã làm mà vượt từng phân.12. Có được y, bát, thức ăn, giường chiêu,thuốc thang.13. Tiếng tốt gần xa ai cũng biết, không baoø1ờ bị tà đạo làm hại.14. Được chư Phật khen ngợi, tu hành giữ gìnchánh pháp.15. Nhờ đó mà đặc Pháp thân, không sợđường ác.1ó. Đối với chư Thiên và người không cho làkhó.17. Sinh nơi nào cũng không la các Phậtpháp.18. Sinh nơi nào cũng biết được đời trước.19. Sinh nơi nào cũng được yêu thương.20. Thân đây đủ các căn.21. Được ba mươi hai tướng.2/28 Đắc Đà-la-nI, phá hoại ái dục.23. Biết các nhân duyên, tự nuôi sông bằngthiên định.24. Lậy đại tuệ tu sửa đường đạo.25. Tối tăm mau sáng.26. Tâm không nghĩ điều tà vạy.27. Bồ thí hơn trong thế tục.28. Pháp tạng được theo ý muốn không cùngtận.20—>32. ©)Thích Đê-hoàn Nhân bạch Phật:-Con phụng hành, giữ gìn pháp này, sau khiPhật Bát-niễt-bàn nếu có người ứng với pháp khíthì con sẽ ủng hộ để vị ấy được nghe pháp. Vìsao? Vì như công đức trong kinh đã nói, nhờ côngđức nên được vul vẻ.Phật dạy:-Lành thay, lành thay! Ở trước mặt ta, Thuần-chân-đà-la đã nói mạnh mẽ như sư tử. Đời sau,ông nên bảo hộ pháp này. Nhờ công đức â ây, nếuA-tu-luân đem binh đến thì chúng không dám tâncông. Vì sao? Vì đây là pháp yêu không ai có thểđạt được. Nhưng ai muốn giữ gìn nó mà có chỗ losợ là vì chỗ hiểu biết chân chánh, nên đối vớipháp không mong câu, cho nên gọi là hộ trì họ.Phạm thiên bạch Phật:-Nêu ở quận, huyện, thành ấp, xóm làng, cóngười nói pháp này, chúng con sẽ rời khỏi trụ xứđê đên ủng hộ. Vì sao? Vì Thanh văn, Bích-chI-phật, Phạm, Thích đều nhờ pháp này mà đượcthành tựu.Tứ Thiên vương bạch Phật:-Chúng con là đệ tử của Phật, sẽ phụng hànhpháp nảy, sẽ ủng hộ để pháp này tôn tại lâu dài.ˆ._ Từ 29 đến 32: bốn pháp các bản đều thiếu.Nếu bộ chúng của chúng con không tin Phậtpháp, hay trong loài Rông, Dạ-xoa, Kiên-đà-la,Chân-đà-la, Ma-hưu-lặc có ai không tin thì con sẽlàm cho họ tin, rồi tùy theo tập tục bảo họ đều nóichú:“Đa bệ án, bệ a lạp bệ loa, thiểu lạp bệ hưu,yến ma hưu yên y yến sách yến. A hòa đề duyviệt đề ba lợi. Cái đa na ni, văn miết ba ca sa quânhòa, quân hòa đà. ˆHọ sẽ tin và quay về Phật pháp. Ai có tâm tà,được tâm chân chánh.Khi Ấy, có Dạ-xoa không tự cao với sức củamình đều khen ngợi Phật và ủng hộ giáo pháp.Đây là điều Phật đã nói.Tứ Thiên vương nói:-Nếu ai tìm lỗi người ấy thì không. thể được.Phật dạy Bô-tát Di-lặc và Bô-tát Đê-vô-ly:—Ta đã tu hành đạo Bỏ-tát từ a- tăng- -kỳ kiếp,nay lấy pháp này mà giao phó cho các ông đểđược tôn tại lầu đài.Bỏ-tát Di-lặc nói với Bô-tát Đề-vô-ly:-Sau khi Phật Bát-niết-bàn, chúng ta sẽ hộ trì,giữ gìn pháp này, sẽ dạy bảo, nói rộng rãi cho mọingười. Đời sau, nêu Bô-tát có công đức thì sẽmau được quyền kinh ây. Chúng tôi sẽ giúp đỡ,ủng hộ hết lòng. Đời sau, ai được kinh này ghichép, tụng thuộc lòng đều được an lạc, nên biếtrăng đó là do Bô-tát Di-lặc và Đề-vô- -ly đã ủnghộ.Khi ấy trong hội, ma đến bạch Phật:—Khi Phật nói pháp cho Thanh văn, con khôngSỢ SỆT, không lo lắng. Nay Ngài nói dâu ân củaBỏ- tát trụ vào Như Lai, gân gũi đạo Bỏ- tát, ủnghộ tất cả chúng sinh, nghe điều này con rất đaukhổ, giông như già lại ôm yếu, như muốn ngã té.Cúi xin Như Lai hãy thương xót con. Vì sao? Vìnghe như vậy con rât đau buôn. Từ nay, xin Ngàiđừng nói như vậy nữa.Phật dạy:Này ma! Ngươi đừng khóc lóc, cũng đừngbuôn đến như thê. Bạn ngươi còn rất nhiêu, nêu aikhông nghe pháp này, đó đêu là bạn của ngươi.Còn những người tin thi ít lắm!Phật lây đất đặt trên móng tay:-Nếu có người tin hướng vê pháp này thì sỐngười ây ít như đất trên móng tay. Số ngườikhông tin nhiêu như đất trên cả mặt đất. Số đấtnày nhiêu vô số. Số người không tin ấy đều là bạncủa ngươi. Do đó ngươi nên vui vẻ.Khi Đức Phật giảng nói pháp này, vô số ngườiphát tâm Vô thượng Bồ- đề, chín vạn hai ngản Bỏ-tát được pháp Nhẫn vô sinh, tám vạn bôn ngànngười được đạo Tu-đà-hoàn, tám ngàn Tỳ-kheođược A-la-hán.Bấy giờ, tam thiên đại thiên đều chân động đủsáu cách, ánh sáng chiếu khắp mọi nơi, mưa hoatrời, đàn ca kỹ nhạc không đánh mà tự kêu. Vô sốhoa trời ở giữa hư không đều nói:-Lành thay! lành thay! Ở cõi Diêm-phù chúngta lại thây pháp luân chuyên như Đức Như Lai đãchuyển pháp luân ở Ba-la-nạai được nhiêu an ốn,không bằng hôm nay được nghe nói kinh này,phước tăng lên gập bội. Nêu có TgƯỜI thọ trì, đọcthuộc lòng kinh này và giảng nói tức là đã ủng hộ,thọ trì pháp.Bỏ-tát Di-lặc, Đê-vô-ly và Tôn giả A-nan thưaPhật:-Bạch Thế Tôn! Pháp này đặt tên là gì? Nênphụng hành thế nào?Phật dạy:-Pháp này tên là “Thuân-chân-đả-la sở vấnchư Ba-la-mật, giải chư pháp bảo phẩm.”Khi nói kinh này xong, Bôồ-tát Di-lặc, Bô-tátĐề- -vô-ly, T-kheo Tăng, chư Thiên, Người,Kiên-đà-la, Quý thân, Rông... đêu hoan hý, đếntrước lạy Phật, rôi lui ra.
Nguồn bản dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Internet Archive OCR)Giấy phép: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Việt dịch) · OCR Internet Archive · nguồn: archive.org · EN quarantined on 2026-07-06: previous bodyEn was short INTI-AI quote-widget noise, not a source English body. · EN: AI translation from Vietnamese source, awaiting source English🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch bằng AI do Inti biên soạn: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến