Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Văn Cú quyển 10
Tên chữ Hán:妙法蓮華經文句
Lưu tiến độ đọc kinh
Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.
[Phân đoạn thứ tư] từ câu “Những người khác đã mất lý trí…” trở đi, thí dụ cho kinh văn phần trước nói “không có diệt độ mà thị hiện diệt độ”. Kinh văn phần trước có 2 ý. Thứ nhất, nói “ta nay già yếu sắp chết” [1] là thí dụ kinh văn phần trước nói không có diệt độ mà thị hiện diệt độ. Thứ hai, nói các con “trong tâm dần tỉnh ra” là thí dụ kinh văn phần trước Phật nói diệt độ là có lợi ích. Lại nói nguyên do [người cha] nói mình sẽ chết, là vì các con không chịu uống thuốc, thí dụ cho kinh văn phần trước nói “những người phước mỏng”, “thấy Như Lai sống mãi ở đời không diệt độ, liền khởi tâm kiêu căng phóng túng”.
Kinh văn ở trước trong phần nói về thị hiện diệt độ lại có 2 ý. Thứ nhất là nói vốn thật không diệt độ; thứ hai là nói không có diệt độ, nhưng không nói nguyên do thị hiện diệt độ. Nguyên do ấy cũng nằm trong phần nói lợi ích của việc Phật tuyên bố sẽ diệt độ. Nay trong thí dụ không nêu thí dụ cho ý thứ nhất, nhưng lại nêu rõ nguyên do thị hiện diệt độ, đó là do chúng sanh phước đức mỏng manh, được gặp Phật không chịu tu hành, tức là [giống như những đứa con] không chịu uống thuốc.
KINH VĂN
“Người cha suy nghĩ: ‘Những đứa con này thật đáng thương, vì bị trúng độc nên tâm trí đều điên đảo. Tuy gặp ta cũng vui mừng, xin được trị liệu, nhưng thuốc tốt như thế này lại không chịu uống. Nay ta phải dùng phương tiện để khiến cho chúng nó chịu uống thuốc này.’ Liền bảo các con: ‘Các con nên biết, ta nay già yếu sắp chết. Đây là loại thuốc hay, ta để lại chỗ này, các con có thể lấy uống, chớ lo không khỏi bệnh.’ Nói như vậy rồi bỏ đi sang nước khác, sai người về báo: ‘Cha các người đã chết.’
[Ý thứ nhất] từ câu [“Người cha suy nghĩ… ]…Nay ta phải dùng phương tiện…” trở đi nêu việc người cha nói mình sắp chết, là thí dụ cho [kinh văn phần trước] không có diệt độ mà nói là diệt độ.
Phần này nêu việc người cha già yếu, lại chia làm 2 tiểu ý.
Tiểu ý thứ nhất nói người cha có ý định bỏ đi, thí dụ cho kinh văn phần trước nói Phật thường trụ có tổn hại, nói Phật diệt độ có lợi ích.
Tiểu ý thứ hai từ câu “Liền bảo các con…” trở đi, nói việc sắp chết, là thí dụ cho việc Phật thị hiện diệt độ, việc hóa độ sắp hoàn tất.
Nói “già yếu sắp chết” tức là nói sắp nhập Niết-bàn. Phật lưu lại kinh điển giáo pháp, cho nên nói “Đây là loại thuốc hay, ta để lại chỗ này”. Lại “bỏ đi sang nước khác”, tức là nói ở phương này thị hiện diệt độ, ở phương khác thị hiện đản sanh.
Kinh văn phần trước nói “phát lời thệ nguyện, ở nơi cõi thế giới khác giảng rộng kinh này” tức là ý nghĩa này. “Sai người về báo”, tức là sứ giả, ví như đức Phật lúc nhập Niết-bàn dùng âm thanh lớn báo cho khắp nơi đều biết, đó là sứ giả; hoặc dùng thần thông, hoặc dùng xá-lợi, hoặc dùng kinh điển giáo pháp… đều là sứ giả.
Nay dùng hàng Bồ Tát tứ y [2] để nói với chúng sanh rằng: “Phật đã diệt độ, chỉ còn lưu lại giáo pháp này, nay chúng ta tuyên thuyết rộng truyền, mọi người nên thọ nhận thực hành theo.” Chúng sanh đời sau nếu không có bốn hạng [đệ tử] nương theo [giáo pháp] này để truyền thuật lại kinh điển giáo pháp, lẽ nào có thể tự biết rằng Phật đã diệt độ sao? Cho nên dùng bốn hạng đệ tử nương tựa [giáo pháp] làm sứ giả.
KINH VĂN
“Lúc bấy giờ, những người con nghe tin cha đã chết, trong lòng hết sức buồn khổ, tự nghĩ rằng: ‘Nếu cha ta còn sống, thương yêu chúng ta, có thể được người cứu giúp. Nay người đã bỏ chúng ta đi xa, chết nơi xứ khác.’ Họ tự nghĩ mình giờ đây côi cút không nơi nương tựa, nên thường đau buồn xúc động, trong tâm dần tỉnh ra, thấy biết loại thuốc [cha để lại] có màu sắc hương vị tốt đẹp liền lấy uống vào, bệnh khổ do thuốc độc liền được khỏi.
[Ý thứ hai] từ câu “Lúc bấy giờ, những người con…” trở đi, nói việc những người con “trong tâm dần tỉnh ra”, thí dụ cho lợi ích của việc Phật thị hiện diệt độ. Kinh văn phần trước lại chia làm 2 ý.
Thứ nhất là nêu sự tổn hại và lợi ích; thứ hai là giải thích ý nghĩa tổn hại và lợi ích. Nay phần này chỉ nêu thí dụ việc được lợi ích. Trong phần này, từ câu “tự nghĩ mình giờ đây côi cút” trở đi nêu nghĩa sau khi Phật diệt độ [chúng sanh] được lợi ích, như những người về sau được ngài Ưu-ba-cấp-đa [3] giáo hóa...
Phần này lại có 2 tiểu ý. Thứ nhất là lợi ích của sự thị hiện diệt độ; thứ hai là căn cơ cảm ứng trong đời tương lai. Vì sau khi Phật diệt độ, chúng sanh tỉnh ngộ chịu “uống thuốc” tu hành, lấy đó làm nhân duyên có thể chiêu cảm được sự ứng hóa trong tương lai.
Như kinh Di giáo nói rằng: “Người chưa được hóa độ thì tạo ra nhân duyên để [sau này] được hóa độ.” Lại cũng có trường hợp trong hiện tại chiêu cảm được thấy Phật, như trong Phổ Hiền Quán nói rằng: “Tinh tấn khó nhọc đến mức được thấy phân thân của đức Thích-ca, Phật Đa Bảo ở phương Đông, Phật Thiện Đức cùng với bảy vị Phật Thế Tôn.
KINH VĂN
“Người cha nghe tin các con đã khỏi bệnh liền quay về, tất cả các con đều được gặp lại cha.”
[Đoạn thứ ba] từ câu “Người cha nghe tin các con đã khỏi bệnh…” trở đi là nói sức uy mãnh làm lợi ích chúng sanh trong đời vị lai. “Người cha nghe tin các con đã khỏi bệnh” tức là căn cơ [phát khởi], “tất cả các con đều được gặp lại cha” tức là khởi sinh việc ứng hóa của vị lai, khi ấy mới ban cho lợi ích từ âm thanh [thuyết pháp] và hình tướng [thị hiện]. Những điều này y theo kinh văn có thể hiểu được.
KINH VĂN
“Này thiện nam tử, các ông nghĩ sao? Có ai có thể nói vị thầy thuốc ấy phạm tội dối gạt chăng?”
“Bạch Thế Tôn! Không thể nói như vậy.”
[Tổng đoạn thứ hai] từ câu “Này thiện nam tử, các ông nghĩ sao…” trở đi [nêu việc trị bệnh giúp các con được lợi ích chân thật] nêu lại thí dụ không hư dối, làm sáng tỏ lợi ích ba đời là chân thật.
KINH VĂN
Đức Phật dạy: “Ta cũng giống như vậy, tuy thành Phật đến nay đã vô lượng vô biên trăm ngàn muôn ức na-do-tha a-tăng-kỳ kiếp, nhưng vì chúng sanh nên dùng sức phương tiện mà nói rằng ta sẽ diệt độ. Cũng không ai có thể theo pháp mà nói ta có lỗi dối gạt.”
[Phần thứ hai] từ câu “Đức Phật dạy: Ta cũng giống như vậy” trở đi nêu nghĩa tương hợp với thí dụ.
“Thành Phật đến nay đã vô lượng kiếp” là tương hợp với đời quá khứ.
“Dùng sức phương tiện mà nói rằng ta sẽ diệt độ…” là tương hợp với đời hiện tại.
Kinh văn lược bớt, không nói tương hợp với đời vị lai.
Câu “cũng không ai có thể… …nói ta có lỗi dối gạt” là tương hợp với việc làm lợi ích chúng sanh không hư dối.
KINH VĂN
Khi ấy, đức Thế Tôn muốn tuyên thuyết lại ý nghĩa trên nên nói kệ rằng:
Phần kệ tụng có 25 khổ rưỡi, tụng lại hai phần nói pháp và thí dụ trong kinh văn trường hàng ở trước, [chia ra hai tổng đoạn]. Tổng đoạn thứ nhất có 20 khổ rưỡi kệ, tụng lại phần nói pháp. Tổng đoạn thứ hai có 5 khổ kệ tụng lại phần thí dụ.
Trong phần nói pháp, kinh văn trường hàng có 2 tổng phần, tổng đoạn thứ nhất của kệ tụng cũng chia thành hai đoạn. Đoạn thứ nhất 19 khổ rưỡi kệ, tụng về sự lợi ích chúng sanh trong ba đời. Đoạn thứ hai một khổ kệ, tụng ý nghĩa tất cả đều chân thật không hư dối.
Đoạn thứ nhất có 3 tiểu đoạn.
Tiểu đoạn thứ nhất có 4 khổ kệ, tụng về lợi ích chúng sanh trong đời quá khứ, lại chia làm 3 phân đoạn.
Phân đoạn thứ nhất có một khổ kệ, tụng lại ý nghĩa kinh văn trường hàng nói Phật thành đạo đã lâu.
Phân đoạn thứ hai từ câu “Thường thuyết pháp giáo hóa” trở đi, một khổ kệ, tụng lại nghĩa kinh văn phần trước nói trong khoảng thời gian ở giữa vẫn làm lợi ích chúng sanh.
Phân đoạn thứ ba từ câu “Vì hóa độ chúng sanh” trở đi, 2 khổ kệ, tụng lại nghĩa kinh văn phần trước nói về trụ xứ của Phật.
KINH VĂN
Tiểu đoạn thứ hai có 5 khổ kệ, tụng lại ý nghĩa hiện tại, chia thành 2 phân đoạn [giống như] kinh văn phần trước chia hai phần.
Phân đoạn thứ nhất có 2 khổ rưỡi kệ, tụng lại nghĩa Phật không sinh nhưng thị hiện sinh ra.
Phân đoạn thứ hai từ câu “Ta bảo cùng chúng sanh” trở đi có 2 khổ rưỡi kệ, tụng lại nghĩa Phật không diệt độ nhưng thị hiện diệt độ.
KINH VĂN
Tiểu đoạn thứ ba từ câu “Phật nhìn thấy chúng sanh” trở đi, gồm 10 khổ rưỡi kệ, tụng lại ý nghĩa về tương lai trong kinh văn phần trước. Phần trước đã nói bốn chữ “thường trụ bất diệt”, phần kệ tụng này nói mở rộng hơn, chia làm 4 phân đoạn.
Phân đoạn thứ nhất từ câu “Phật nhìn thấy chúng sanh” trở đi, gồm 1 khổ rưỡi kệ, nêu rõ cơ duyên ứng hợp trong tương lai.
Phân đoạn thứ hai từ câu “Sức thần thông như vậy” trở đi, gồm 4 khổ kệ, tụng lại nghĩa “thường trụ bất diệt” ở kinh văn phần trước. “Phật thường ở núi Thứu” là nói Thật báo độ. [4] “Và những nơi chốn khác” là nói Phương tiện hữu dư độ, [5] tức là ý nghĩa “cõi nước khác” được nói ở kinh văn phần trước. “Thường đông đảo trời, người”, còn ở giai vị tam thập tam tâm là người, hàng Thập địa là trời. “Đánh trống trời” là nói [các kinh] không người thưa hỏi mà Phật tự thuyết ra. “Mưa hoa mạn-đà-la” là nói các giai vị hiền thánh.
KINH VĂN
Phân đoạn thứ ba từ câu “Tịnh độ Phật thường còn” trở đi, gồm 2 khổ kệ, nói rõ nhân duyên [chúng sanh] không thấy Phật.
Phân đoạn thứ tư từ câu “những người tu công đức” trở đi, gồm 3 khổ kệ, nói rõ nhân duyên được thấy Phật.
Đoạn thứ hai từ câu “Các ông người có trí” trở đi gồm 1 khổ kệ, tụng lại về sự lợi ích không hư dối đã nói trong kinh văn trường hàng ở trước.
KINH VĂN
Tổng đoạn thứ hai gồm 5 khổ kệ, tụng lại phần nói thí dụ trong kinh văn trường hàng, chia làm 2 đoạn.
Đoạn thứ nhất 1 khổ kệ, tụng khai mở thí dụ, chia làm 3 tiểu đoạn.
Tiểu đoạn thứ nhất gồm 1 câu đầu tiên, tụng nghĩa quá khứ.
Tiểu đoạn thứ hai gồm 2 câu tụng nghĩa hiện tại, không tụng về nghĩa tương lai.
Tiểu đoạn thứ ba là câu “Không thể cho là dối”, tụng lại nghĩa không hư dối.
Đoạn thứ hai từ câu “Ta là cha thế gian” trở đi gồm 4 khổ kệ, tụng lại nghĩa tương hợp với thí dụ, chia làm 3 tiểu đoạn. Kinh văn trường hàng ở trước chỉ nói nghĩa tương hợp với bản nguyên xa xưa và trung gian khoảng giữa, không nói nghĩa tương hợp với tương lai.
Tiểu đoạn thứ nhất trong kệ tụng này có nửa khổ kệ, tụng nghĩa tương hợp với quá khứ.
KINH VĂN
Tiểu đoạn thứ hai từ câu “Vì phàm phu điên đảo” trở đi gồm 2 khổ rưỡi kệ, tụng nghĩa tương hợp với hiện tại.
Tiểu đoạn thứ ba từ câu “Ta vẫn thường tự nghĩ” trở đi gồm 1 khổ kệ, tụng tương hợp với nghĩa không hư dối. Chỉ bày trừ bỏ ba thừa, hiển bày Nhất thừa; chỉ bày trừ bỏ [hình tích] gần đây, hiển bày [bản nguyên] xa xưa, đều là vì muốn cho chúng sanh mau chóng thể nhập Phật đạo. Những việc như vậy đều không phải hư dối.
17. Giải thích phẩm Phân biệt công đức
KINH VĂN
Phẩm Phân biệt công đức, thứ mười bảy
Giải thích tên phẩm
Phật thuyết giảng về tuổi thọ [của Như Lai], các đệ tử trong hai đời [quá khứ và hiện tại] [6] đều được lợi ích, cho nên nói là công đức. [Sức công đức ấy] sâu cạn chẳng đồng nhau, cho nên gọi là phẩm Phân biệt công đức. Kinh văn phần này là đoạn thứ hai nói về thụ ký, thuộc phần bản môn. Luận giải phân chia kinh văn trong phẩm này có sức công đức nương theo giáo pháp (pháp lực) và sức công đức tu tập giáo pháp (tu hành lực).
Sức công đức nương giáo pháp có 5 phần. Thứ nhất là [công đức người] chứng biết giáo pháp, thứ hai là [công đức người] tin tưởng giáo pháp, thứ ba là [công đức người] cúng dường giáo pháp, đều như nói trong phẩm này. Thứ tư là [công đức người] nghe giáo pháp, như trong phẩm Công đức tùy hỷ. Thứ năm là [công đức người] đọc, tụng, gìn giữ, giảng nói giáo pháp. [Công đức người] đọc tụng giáo pháp thì như trong phẩm Công đức pháp sư. [Công đức người] gìn giữ giáo pháp thì như xem trong 3 phẩm: Công đức pháp sư, Hạnh an vui và Khuyến khích thọ trì. [Công đức người] giảng nói giáo pháp thì như trong phẩm Thần lực Như Lai và phẩm Phó thác về sau.
Về sức công đức tu hành giáo pháp thì có sức tu khổ hạnh như trong phẩm Hạnh nguyện thuở xưa của Bồ Tát Dược Vương, sức tu hành giáo hóa như trong phẩm Bồ Tát Diệu Âm, giúp đỡ cứu nạn như trong phẩm Bồ Tát Quán Thế Âm, phẩm Đà-la-ni, chỉ bày công đức như trong phẩm Hạnh nguyện thuở xưa của vua Diệu Trang Nghiêm, hộ trì chánh pháp như trong phẩm Bồ Tát Phổ Hiền khuyến khích phát tâm.
KINH VĂN
Lúc bấy giờ, đại chúng trong Pháp hội được nghe Phật dạy về tuổi thọ của Như Lai dài lâu như vậy, liền có vô lượng vô biên a-tăng-kỳ chúng sanh được lợi ích lớn.
Khi ấy, đức Thế Tôn nói với Đại Bồ Tát Di-lặc: “Này A-dật-đa! Khi ta nói về tuổi thọ dài lâu của Như Lai, có những chúng sanh nghe rồi đạt được pháp nhẫn vô sinh nhiều như số cát của sáu trăm tám mươi muôn ức na-do-tha sông Hằng, lại có số Bồ Tát nhiều hơn gấp ngàn lần đạt được Văn trì đà-la-ni. [7]
“Lại có những Bồ Tát nhiều như số hạt bụi nhỏ của một thế giới đạt được Nhạo thuyết vô ngại biện tài. [8]
“Lại có những Bồ Tát nhiều như số hạt bụi nhỏ của một thế giới đạt được vô số trăm ngàn muôn ức Toàn Đà-la-ni. [9]
“Lại có những Bồ Tát nhiều như số hạt bụi nhỏ của thế giới đại thiên có thể chuyển bánh xe pháp bất thối; lại có những Bồ Tát nhiều như số hạt bụi nhỏ của thế giới trung thiên có thể chuyển bánh xe pháp thanh tịnh; lại có những Bồ Tát nhiều như số hạt bụi nhỏ của thế giới tiểu thiên trải qua tám lần tái sinh nữa sẽ đắc quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
“Lại có những Bồ Tát nhiều như số hạt bụi nhỏ của bốn cõi tứ thiên hạ [10] trải qua bốn đời nữa sẽ đắc quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác; lại có những Bồ Tát nhiều như số hạt bụi nhỏ của ba cõi tứ thiên hạ trải qua ba đời nữa sẽ đắc quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác; lại có những Bồ Tát nhiều như số hạt bụi nhỏ của hai cõi tứ thiên hạ trải qua hai đời nữa sẽ đắc quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác; lại có số Bồ Tát nhiều như số hạt bụi nhỏ của một cõi tứ thiên hạ trải qua một đời nữa sẽ đắc quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
“Lại có những chúng sinh nhiều như số hạt bụi nhỏ của tám thế giới đều phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.”
Ngài Quang Trạch nói: [Đoạn kinh] thứ nhất là dựa theo cửa vào công đức, thụ ký người tu hành tinh tấn, tu nhân trong hiện tại. [Đoạn] thứ hai là dựa theo cửa vào trí tuệ, thụ ký người giảm trừ biến dịch sinh tử, trong tương lai đạt được quả vị. [Đoạn] thứ ba là nêu việc hàng ngoại phàm [nghe thuyết tuổi thọ của Như Lai] liền phát tâm. [11]
Nói chung các việc thụ ký đều tương quan giữa nhân và quả. Ba phần như trên đều tương thông với việc thụ ký.
Phần dưới nói về “chúng sinh nhiều như số hạt bụi nhỏ của tám thế giới đều phát tâm”, lẽ ra nên kể đầu tiên. Bởi vì hàng ngoại phàm [12] nghe kinh rồi phát tâm, trụ ở giai vị tam thập tâm; [13] từ giai vị tam thập tâm, được nghe kinh thì vượt qua nội phàm, chứng Sơ địa, được vô sanh nhẫn; hàng Bồ Tát Sơ địa nghe kinh liền tiến lên thể nhập Nhị địa, đạt được Văn trì đà-la-ni; hàng Nhị địa nghe kinh liền vào được Tam địa, gọi là được Nhạo thuyết vô ngại biện tài; hàng Tam địa nghe kinh liền vào Tứ địa, được vô số Toàn Đà-la-ni; hàng Tứ địa nghe kinh rồi liền vào Ngũ địa, kinh văn gọi là “chuyển bánh xe pháp bất thối”; hàng Ngũ địa nghe kinh rồi vào Lục địa, kinh văn gọi là “chuyển bánh xe pháp thanh tịnh”.
Từ câu “Bồ Tát nhiều như số hạt bụi nhỏ của thế giới tiểu thiên” trở đi là dựa theo chỗ giảm thiểu biến dịch sinh tử mà thụ ký. Hàng Bồ Tát Thất địa đã đoạn trừ vô minh hoặc. Mê hoặc có 9 phẩm, có thể tạo tác nhân duyên 9 lần tái sanh. Từ hàng Bồ Tát Thất địa trở lên, quả báo không có kỳ hạn, khó có thể xét biết, chỉ lấy việc đoạn trừ 9 phẩm phiền não mà nói. Số lượng phiền não có trăm ngàn muôn phẩm loại, nay chỉ dựa vào một loại 9 phẩm mà nêu ý nghĩa.
Hàng Bồ Tát Thất địa đoạn trừ được hai phẩm phiền não, một thượng, một hạ; cho đến Bồ Tát Thập địa, mỗi địa cũng đoạn trừ được hai phẩm, một thượng, một hạ. Chứng nhập Kim Cang tâm đoạn trừ một phẩm. [14]
Hàng Bồ Tát Lục địa sau khi nghe kinh chứng được Thất địa hạ nhẫn [15] thì đoạn trừ được một phẩm phiền não, còn lại 8 phẩm làm nhân tái sinh trong 8 đời nữa, cho nên kinh văn nói “trải qua tám lần tái sinh nữa sẽ đắc quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác”.
Hàng Bồ Tát Thất địa thượng nhẫn đoạn trừ thêm một phẩm phiền não, tức giảm trừ được 2 lần tái sinh, còn lại 7 phẩm làm nhân tái sinh trong 7 đời. Các phẩm phiền não theo đó đều phân ra có thượng và hạ, đoạn trừ mỗi phẩm thì giảm trừ được một lần tái sinh. Kinh văn giản lược không nói đủ, nên từ câu “trải qua tám lần sinh nữa…” liền nói thẳng đến “qua bốn đời nữa sẽ đắc quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác”, cho đến còn lại một đời tức là giai đoạn tâm Kim cang sẽ đoạn trừ hết.
Luận Pháp hoa [16] nói rằng: Kinh văn nói “được pháp nhẫn vô sinh” là nói vào Sơ địa, chứng trí tuệ. Nên biết rằng từ “còn tám lần sinh” cho đến “còn một lần sinh” rồi chứng đạo Bồ-đề là nói hàng phàm phu quyết định có thể chứng Sơ địa, tùy số lần sinh còn lại, tiến dần lên còn một lần sinh, ắt sẽ chứng Bồ-đề.
Bồ-đề ở đây là lìa khỏi sinh tử phần đoạn trong ba cõi, dần dần từng bậc thấy được chân như, tánh Phật. Như vậy gọi là đạt được Bồ-đề, không phải nói Bồ-đề rốt ráo trọn đủ. Nay theo luận giải thì trước sâu, sau cạn; theo ngài Quang Trạch thì trước cạn, sau sâu. Hai bên [giải thích] trái ngược nhau, biết ai phán xét?
Nói về pháp nhẫn vô sanh thì kinh luận giải thích không giống nhau. [Luận] Ca-chiên-diên Tử nêu ra 5 pháp thành tựu, được bất thối chuyển, tức là giai vị của Bồ Tát lục độ. [17] Hàng Tu-đà-hoàn, dù là chứng trí hay đã đoạn phiền não, đều là được pháp nhẫn vô sanh như hàng Bồ Tát, tức là giai vị chung cho cả ba thừa. Bồ Tát lên Sơ địa đạt được pháp nhẫn vô sanh, đó là giai vị của Bồ Tát Biệt giáo. Bồ Tát lên Sơ trụ đạt được pháp nhẫn vô sanh, đó là giai vị của Bồ Tát Viên giáo. Những cách giải thích này đều từ lời dạy của các bậc Thánh, không thể tùy tiện lẫn lộn.
Lại nữa, kinh Tịnh Danh nói gần đến địa vị Vô đẳng đẳng, [18] đạt được pháp nhẫn vô sanh. Kinh Nhân vương nói, [từ trước] cho đến giai vị Kim cang đảnh đều gọi là phục nhẫn, cũng gọi là tịch diệt nhẫn. Hết thảy đều là các giai vị khác nhau của Biệt giáo và Viên giáo.
Những ý nghĩa bao quát không thể vận dụng một cách cứng nhắc. Ngài Quang Trạch cho rằng Bồ Tát đã phát tâm là thuộc nội phàm, giai vị tam thập tâm là đạt pháp nhẫn vô sanh, tức là Sơ địa. Như vậy đều là cách gọi tên của Biệt giáo, không phải cách hiểu của Thông giáo.
Từ Sơ địa lên đến Lục địa đều là tu tập phúc đức, [19] kinh Đại Bát Niết-bàn cho là hữu vi, hữu lậu, gọi là hàng tăng Thanh văn. Đây tức là ý nghĩa của Thông giáo. Từ Thất địa trở lên [dần dần] đoạn trừ chín phầm [phiền não là] nhân tái sanh, nhưng dù là Tiểu thừa hay Đại thừa, người đã đạt đến những giai vị ấy thì ai cũng đoạn trừ được, nên chưa đủ để phân biệt xác định.
Nếu nói rằng Thất địa đoạn trừ được vô minh hoặc, thì đó không phải ý của Thông giáo, cũng không phải của Biệt giáo, chỉ là Biệt giáo nối ý của Thông giáo mà thôi. Cách giải thích của ngài Quang Trạch không xác quyết rõ ràng, không phù hợp với kinh Pháp hoa này.
Ngài Thiên Thân cho rằng Bồ Tát đã phát tâm tức là đạt được pháp nhẫn vô sanh, từ giai vị còn tám lần tái sanh cho đến còn một lần tái sanh. Phàm phu quyết định đoạn trừ quả báo, dứt hết tái sanh, vào bậc Sơ địa, được pháp nhẫn vô sanh. Giải thích như vậy hoàn toàn theo nghĩa của Biệt giáo, cũng không phù hợp với kinh này.
Nay phân chia kinh văn thành ba phần. Thứ nhất là phần tựa chung của người chép kinh, thứ hai là phần phân biệt của Như Lai, thứ ba là nói việc đại chúng cúng dường.
Phần thứ nhất thì y theo kinh văn có thể hiểu được.
Phần [thứ hai] nói nghĩa phân biệt là lời Phật nhiệm mầu vi diệu, không thể dựa theo các giai vị quyền thừa để giải thích kinh. Cho nên, kinh văn phần trước đã nói nghĩa khai, thị, ngộ, nhập tri kiến Phật, nay theo nghĩa bản môn nói việc đạo hạnh tăng trưởng, sinh tử giảm trừ, đều phải dựa theo các giai vị của Viên giáo để giải thích.
[Kinh văn nói] phần sau nói “chúng sinh nhiều như số hạt bụi nhỏ của tám thế giới đều phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác”, đây là nói những người được sáu căn thanh tịnh, bắt đầu vào các giai vị Thập tín. Cho nên kinh Nhân vương nói: “Hàng Bồ Tát Thập thiện phát tâm Đại thừa, mãi mãi lìa xa biển khổ luân hồi trong ba cõi”, tức là ý nghĩa này.
[Kinh văn nói] “đạt được pháp nhẫn vô sinh” tức là vào giai vị Thập trụ. Cho nên kinh Hoa nghiêm nói: “Ban sơ ở Phát tâm trụ, một tâm phát khởi thì tất cả các tâm đều phát khởi. Đạt được thân Như Lai, một thân là vô lượng thân, Pháp thân nhiệm mầu thanh tịnh, tịch nhiên sâu lắng ứng hiện khắp thảy.” Tức là nói nghĩa này.
[Kinh văn nói] “đạt được Văn trì đà-la-ni” tức là vào các giai vị Thập hạnh; “đạt được Nhạo thuyết vô ngại biện tài” tức là vào các giai vị Thập hồi hướng.
[Kinh văn nói] đạt được “vô số trăm ngàn muôn ức Toàn Đà-la-ni” tức là vào Sơ địa; “có thể chuyển bánh xe pháp bất thối” tức là vào Nhị địa; “chuyển bánh xe pháp thanh tịnh” tức là vào Tam địa; còn phải “trải qua tám lần tái sinh nữa” tức là lên đến Tứ địa.
[Tiếp theo,] còn bảy lần tái sinh là vào Ngũ địa; còn sáu lần tái sinh là vào Lục địa; còn năm lần tái sinh là vào Thất địa.
[Kinh văn nói] “trải qua bốn đời nữa sẽ đắc quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác” tức là vào Bát địa; “trải qua ba đời nữa” là vào Cửu địa; “trải qua hai đời nữa” là vào Thập địa; “trải qua một đời nữa” là vào giai vị Đẳng giác tâm Kim cang.
Nếu luận về nghĩa tăng trưởng đạo hạnh, giảm trừ sinh tử thì không phải như ngài Quang Trạch nói đoạn trừ sự tái sinh do nhân tái sinh, không phải như ngài Thiên Thân đoạn trừ sự tái sinh do quả báo sinh, chỉ dựa vào trí đức để luận việc tăng trưởng, dựa vào đoạn đức để luận việc giảm trừ, dựa vào Pháp thân để luận sự sinh khởi, dựa vào vô minh để luận sự diệt trừ.
Như thí dụ mặt trăng trong kinh Đại Bát Niết-bàn, từ ngày mùng một cho đến ngày rằm thì ánh sáng dần dần tăng thêm, từ ngày 16 cho đến ngày cuối tháng thì ánh sáng dần dần giảm bớt. Dựa theo thể tánh của cùng một mặt trăng [vốn không thay đổi] mà luận về sự tăng thêm hay giảm bớt [ánh sáng], đó là thí dụ cho việc dùng Pháp thân mà luận về trí đức, đoạn đức.
Hoặc có thể là một người trong một thời có tám lượt tăng tiến; hoặc có thể là một đời, hoặc tám đời, hoặc vô số đời; hoặc có thể là một niệm, hoặc tám niệm, hoặc vô số niệm; hoặc có thể là số đông người nhiều như số hạt bụi nhỏ cũng đều như vậy. Cho nên không thể hạn cuộc nơi nhân tái sinh hay quả báo tái sinh; không thể tách rời sự tăng tiến của trí đức và đoạn đức để giải thích.
Xét về bản môn [trong kinh này], số người chứng đạo nhiều gấp bội so với những kinh khác; không chỉ là số lượng nhiều, mà thời gian hun đúc tu tập cũng lâu dài hơn. Từ bản nguyên xa xưa, [đức Phật] thương xót thị hiện hình tích chỉ bày dẫn dắt ở khắp mọi nơi, trong khoảng thời gian ở giữa vẫn thường cùng [với các đệ tử] gặp lại nhau, rất nhiều người nhờ đó được thuần thục căn cơ, đến đời này [Phật lại] dùng năm tầng bậc giáo pháp [20] tuần tự điều phục; [cuối cùng] thâu tóm đúc kết quy về hội nơi Pháp hoa.
Ví như nhà nông mùa xuân gieo trồng, mùa hạ cày xới chăm bón, mùa thu thu hoạch về, mùa đông cất chứa bảo quản; cùng một lúc thu hoạch trọn vẹn. [Cho nên] kể từ khi Phật thuyết kinh Pháp hoa trở về sau, số người chứng đạo chỉ còn [thưa thớt] như lúa thóc rơi vãi sau vụ mùa được nhặt mót mà thôi.
KINH VĂN
Khi đức Phật nói về việc các vị Đại Bồ Tát được những lợi ích pháp lớn lao như vậy, từ giữa không trung mưa xuống hoa mạn-đà-la và ma-ha mạn-đà-la để rải khắp trên vô lượng trăm nghìn muôn ức tòa sư tử của các đức Phật [phân thân đang ngồi] dưới các cội cây báu, cùng rải khắp trên tòa sư tử trong tháp bảy báu của đức Phật Thích-ca Mâu-ni và đức Như Lai Đa Bảo, vị Phật đã diệt độ từ rất lâu, và cũng rải lên tất cả các vị Đại Bồ Tát và bốn chúng đệ tử.
Lại mưa xuống bột mịn hương chiên đàn, trầm thủy... Trên hư không tiếng trống trời tự vang lên [21] âm thanh vi diệu sâu xa. Lại mưa xuống hàng ngàn loại y phục cõi trời có treo đính các chuỗi anh lạc bằng chân châu, ma-ni châu, như ý châu, đầy khắp cả chín phương. [22] Các lò hương báu được xông đốt bằng loại hương quý vô giá tự nhiên hiện đến khắp nơi để cúng dường đại chúng trong Pháp hội.
Phía trên mỗi một đức Phật [phân thân] đều có các vị Bồ Tát cầm phướn lọng theo thứ lớp cao dần, [từ mặt đất] lên đến tận cõi trời Phạm thiên. Các vị Bồ Tát này đều dùng âm thanh vi diệu xướng lên vô số bài tụng để ngợi khen xưng tán chư Phật.
Phần thứ ba nêu việc đại chúng khi ấy cúng dường. [Đại chúng] nghe giáo pháp sâu xa, được lợi ích lớn lao, muốn báo đáp ơn Phật nên thiết lễ cúng dường, cũng là mượn việc này để bày tỏ sự nhận hiểu. Phần trước [Phật thuyết giảng] về tích môn, các Bồ Tát cũng đã tỏ ngộ, nhưng việc khai mở chỉ bày vào tri kiến Phật [23] vẫn chưa hoàn tất, cho nên chưa trình bày ra. Đến khi phần thuyết giảng về bản môn đã xong, Bồ Tát Di-lặc mới đứng đầu thay mặt đại chúng bày tỏ sự nhận hiểu.
[Kinh văn nói] “các vị Bồ Tát cầm phướn lọng theo thứ lớp cao dần, [từ mặt đất] lên đến tận cõi trời Phạm thiên”. “Phướn” là nêu ý nghĩa xoay chuyển; “lọng” là nêu ý nghĩa che chở; “mặt đất” là nghĩa khởi đầu; “cõi trời Phạm thiên” là nghĩa thanh tịnh. Trí đức, đoạn đức nhiều lượt xoay chuyển; từ bi nhiều lần che chở, cao thấp cạn sâu không sai thứ lớp, “lên đến tận cõi trời Phạm thiên” là nghĩa biểu trưng cho các vị Bồ Tát tăng tiến đạo hạnh, giảm trừ sinh tử đến gần bậc Diệu giác, đạt đến cùng cực của sự thanh tịnh.
Nếu theo sự giải thích của ngài Thiên Thân thì chỉ đạt được Sơ địa một lần, làm sao có thể tương hợp với phần kinh văn này?
KINH VĂN
Lúc bấy giờ, Bồ Tát Di-lặc từ chỗ ngồi đứng dậy, vén áo trần vai bên phải, chắp tay hướng về đức Phật đọc kệ rằng:
Phần kệ tụng có 19 khổ kệ, chia ra làm 3 tổng đoạn.
Tổng đoạn thứ nhất gồm 2 khổ kệ đầu tiên, tụng ý nghĩa đại chúng lúc đó đạt được sự nhận hiểu.
Tổng đoạn thứ hai gồm 9 khổ kệ, tụng lại ý nghĩa đức Như Lai thuyết phân biệt [công đức].
KINH VĂN
Tổng đoạn thứ ba gồm 8 khổ kệ, tụng lại ý nghĩa đại chúng lúc đó cúng dường. [Kệ nói:] “Được vô lượng quả báo, vô lậu và thanh tịnh”, lấy nghĩa khác với hàng Nhị thừa có hạn lượng nên nói là “vô lượng”; do nhân nhiệm mầu chiêu cảm nên nói là “thanh tịnh”, cõi nước không có chướng ngại nên nói là “quả báo”, khác với hàng Nhị thừa không [chiêu cảm] quả báo [như vậy]. “Nghe Phật thọ lâu dài”, kinh văn nơi đây phân biệt xác định là vô lượng, làm sao có thể theo các vị cựu giải mà nói là có hạn lượng?
Các bậc thầy phương Nam cho rằng, kinh văn trường hàng từ sau bài kệ này trở đi là thuộc phần lưu thông, dẫn chứng trước đó trong phần thuyết giảng tích môn, phần nói về Bồ Tát Văn-thù trong hiện tại cũng là lưu thông.
Các bậc thầy phương Bắc thì cho rằng, bốn hạng đệ tử có niềm tin [24] hiện đang nghe kinh, do vậy xác định vẫn còn trong phần chánh thuyết.
Từ câu “Lại nữa, sau khi Như Lai diệt độ” trở đi mới là phần lưu thông mà theo cách phân chia của hai phía Nam, Bắc đều vận dụng được.
Nay tạm theo cách phân chia của các bậc thầy phương Nam. Từ sau bài kệ này, [phần kinh văn còn lại] có 11 phẩm rưỡi, chia làm hai tổng phần.
Thứ nhất là từ chỗ này trở đi đến hết phẩm Bồ Tát Thường Bất Khinh, nêu công đức sâu xa của việc truyền rộng kinh này, khuyến khích sự lưu thông.
Thứ hai là từ phẩm Thần lực Như Lai trở đi [đến hết kinh] gồm 8 phẩm, chia làm hai phần phó thác và lưu thông, mỗi phần đều có ba tổng đoạn.
[Phần phó thác,] tổng đoạn thứ nhất gồm nửa phẩm này cùng trọn phẩm Công đức tùy hỷ, nêu nhân công đức phẩm trước để khuyến khích lưu thông kinh này.
Tổng đoạn thứ hai gồm phẩm Công đức pháp sư nêu quả công đức của phẩm trước để khuyến khích lưu thông, phẩm Bồ Tát Thường Bất Khinh dẫn việc tin tưởng được phúc, hủy báng chịu tội, chứng minh và khuyến khích lưu thông kinh này.
Tổng đoạn thứ ba gồm phẩm Thần lực Như Lai và phẩm Phó thác về sau, nêu việc phó thác về sau lưu thông kinh này.
Từ phẩm Hạnh nguyện thuở xưa của Bồ Tát Dược Vương trở đi gồm 5 phẩm dựa vào ý nghĩa giáo hóa chúng sanh mà khuyến khích lưu thông kinh này.
[Cuối cùng,] phẩm Bồ Tát Phổ Hiền khuyến khích phát tâm là dựa vào việc tự hành trì để khuyến khích lưu thông.
Về nghĩa sinh khởi, đó là nói trong hiện tại nghe kinh có sự nhận hiểu chân thật hoặc tương tự, sẽ được lợi ích như phần trước đã nói. Nếu [người đời sau] trực tiếp được nghe một câu kinh mà sinh tâm tùy hỷ, công đức so ra cũng bằng như bốn hạng đệ tử có niềm tin hiện tại đang nghe kinh.
Vì đời tương lai không có Phật, sợ người đời nghi ngờ [kinh này] ít phước đức, nên Phật thuyết 5 phẩm nói về công đức [25] [thọ trì kinh này] sau khi Phật nhập diệt.
Vì gieo nhân công đức vi diệu ẩn mật, không như được quả công đức hiển nhiên sáng tỏ, cho nên Phật thuyết phẩm Công đức pháp sư.
Tuy đã nêu nhân quả, cũng không bằng như sự dẫn chứng rõ ràng, cho nên Phật thuyết phẩm Bồ Tát Thường Bất Khinh.
Tuy đã nêu nhân thuở xưa, cũng không bằng như thị hiện thần biến trong hiện tại, cho nên Phật thuyết phẩm Thần lực Như Lai.
Tuy đã thị hiện thần lực, cũng không bằng như [được Phật] xoa đầu phó thác, cho nên Phật thuyết phẩm Phó thác về sau.
Tuy đã phó thác chung [giữa đại chúng], cũng không bằng chỉ bày phương thức cốt yếu, xả thân giữ đạo, cho nên Phật thuyết phẩm Hạnh nguyện thuở xưa của Bồ Tát Dược Vương.
Tuy đã răn dạy người giáo hóa, cũng không bằng răn dạy người được giáo hóa, tùy nơi nghe pháp đều nên sanh tâm nhớ tưởng đến Phật, cho nên Phật thuyết hai phẩm Bồ Tát Diệu Âm và Bồ Tát Quán Thế Âm.
Nếu người mới phát tâm hoằng truyền kinh điển, vốn không có thần lực, phải nương vào sự gìn giữ từ bên trong, cho nên Phật thuyết phẩm Đà-la-ni.
Vì cũng cần sự giúp đỡ bảo vệ bên ngoài, cho nên Phật thuyết phẩm Hạnh nguyện thuở xưa của vua Diệu Trang Nghiêm và phẩm Bồ Tát Phổ Hiền khuyến khích phát tâm.
Các phẩm [như vậy được sắp xếp] liên tục, tầng tầng lớp lớp nối liền nhau, đều là để khiến cho giáo pháp Đại thừa được hoằng truyền thông suốt.
KINH VĂN
Lúc bấy giờ, đức Phật bảo Đại Bồ Tát Di-lặc: “Này A-dật-đa! Nếu có chúng sinh nào nghe nói về tuổi thọ của Phật dài lâu như vậy, chỉ cần khởi sinh dù chỉ một ý niệm tin hiểu thì công đức mà người ấy đạt được nhiều đến mức không có hạn lượng.
Sau phần kệ tụng, kinh văn trường hàng chia thành hai phần. Phần thứ nhất nói về bốn hạng đệ tử hiện tại có niềm tin; phần thứ hai nói về năm hạng người [tin nhận kinh này] sau khi Phật diệt độ.
Thế nào là bốn hạng đệ tử có niềm tin? [Trong số bốn hạng này,] xét khả năng giảng giải sơ lược kinh Pháp hoa này thì có ba hạng, khả năng giảng rộng thì có hai hạng, khả năng quán chiếu thành tựu chỉ có một hạng. Nhưng bốn hạng này đều có niềm tin [vào kinh này], cho nên gọi là bốn hạng đệ tử có niềm tin.
Về bốn hạng đệ tử có niềm tin, hạng thứ nhất là những người khởi sinh một niệm tin hiểu nhưng chưa có khả năng giảng giải; hạng thứ hai là những người có thêm khả năng giảng giải sơ lược; hạng thứ ba là những người có thêm khả năng vì người khác giảng rộng kinh này; hạng thứ tư là những người có niềm tin sâu xa, tu tập quán chiếu thành tựu. [26]
Phần đầu tiên nói về hạng thứ nhất có một niệm tin hiểu, gồm có kinh văn trường hàng và kệ tụng. Kinh văn trường hàng có ba phần. Thứ nhất nêu về hạng người này; thứ hai nêu công đức của họ; thứ ba, nêu giai vị và công hạnh không còn thối chuyển.
Bây giờ giải thích về “một niệm tin hiểu”. Đó là nói tùy theo chỗ được nghe kinh mà tức thời sáng tỏ thông suốt, tùy theo lời dạy [trong kinh] mà thể nhập không có chướng ngại. [Do đó] tin nhận rằng:
1. Hết thảy các pháp đều là Phật pháp.
2. Lại cũng tin rằng Phật pháp không ngăn cách với hết thảy các pháp, không đạt được Phật pháp thì không đạt được hết thảy các pháp.
3. Thấy được hết thảy các pháp thì cũng thấy được Phật pháp.
Mỗi một điều trên cũng là ba điều, ba điều cũng là một điều. Lại cũng có nghĩa [như kinh Duy-ma-cật nói] là “thực hành không phải đạo là thông đạt Phật đạo”, thực hành Phật đạo là thông đạt hết thảy các đạo; không đạt được Phật đạo với hết thảy các đạo mà thông đạt Phật đạo với hết thảy các đạo. Không có gì mà là có, nhưng có mà không có gì, cũng chẳng phải có chẳng phải không có. Giống như con đường chạy qua phía trước cửa nhà, thông suốt đến hết thảy các hướng đông, tây, nam, bắc, không có gì ngăn ngại. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, mỗi khi có chỗ tiếp đối [trần cảnh] cũng đều như vậy. Không nghi ngại nên gọi là tin, nhận biết rõ ràng nên gọi là hiểu, đó là tâm có “một niệm tin hiểu”.
Như có lúc ngồi suy ngẫm, tùy theo chỗ suy ngẫm đó bỗng nhiên tỏ ngộ thông suốt, việc thông đạt ba chân lý [27] cũng giống như vậy. Tin hiểu như vậy gọi là giai vị thiết luân. [28]
Lại có cách giải thích khác, cho rằng [tin hiểu] như vậy chưa đủ gọi là giai vị thiết luân, chỉ là hạng mới phát tâm trong các giai vị thập tín. Vì người như vậy chưa được sáu căn thanh tịnh, cho nên chưa phải chính thức vào giai vị thiết luân.
KINH VĂN
“Nếu có thiện nam, thiện nữ nào vì cầu đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác mà trong tám mươi muôn ức na-do-tha kiếp tu tập năm pháp ba-la-mật là Bố thí ba-la-mật, Trì giới ba-la-mật, Nhẫn nhục ba-la-mật, Tinh tấn ba-la-mật, Thiền định ba-la-mật, chỉ trừ Bát-nhã ba-la-mật, công đức của những người này so với công đức tin hiểu tuổi thọ của Phật không bằng được một phần trăm, một phần ngàn, một phần trăm ngàn muôn ức… cho đến dùng các phép tính toán, thí dụ cũng không thể so sánh biết được.
“Người có công đức tin hiểu như vậy mà thối tâm Bồ-đề là điều không thể có.”
Phần thứ hai là suy lường [công đức của hạng người này]. Trước tiên luận tổng quát là không có hạn lượng; tiếp theo là suy lường phân biệt nhiều ít. Phần này lại chia làm 2 đoạn.
Đoạn thứ nhất là nêu 5 pháp [ba-la-mật] qua bờ làm căn bản để suy lường. Bát-nhã tức là trí tuệ chân chánh hiện nay, cho nên nói trừ ra Bát-nhã ba-la-mật.
Hỏi : Nếu trừ ra Bát-nhã ba-la-mật thì năm pháp còn lại không thể gọi là ba-la-mật [qua bờ]?
Đáp : Tất cả đều vì cầu trí tuệ Phật, như hết sức thực hành bố thí và trì giới đến tận bờ mé, cũng có thể gọi là ba-la-mật [qua bờ]. Đây đều là nói theo ý có thứ lớp tuần tự.
Đoạn thứ hai từ câu “công đức của những người này” trở đi, nêu việc suy lường phân biệt nhiều ít.
Phần thứ ba từ câu “Người có công đức tin hiểu như vậy” trở đi nêu giai vị và công hạnh không còn thối chuyển. Sáu tâm ban đầu trong Thập trụ của Biệt giáo vẫn còn thối thất, đến tâm thứ bảy không còn thối thất. Trong Viên giáo thì ngay từ Sơ trụ [29] [của Thập trụ] đã không còn thối chuyển.
Được nghe phẩm Tuổi thọ của Như Lai nên có công đức từ bên ngoài giúp vào; trọn lòng tin theo, nhận hiểu [ý kinh] là được hun đúc từ bên trong, cho nên không còn thối chuyển. Đại phẩm [Bát-nhã] nói “có Bồ Tát thối chuyển, có Bồ Tát không thối chuyển”, lại “có ma chướng hoặc không có ma chướng”, đều là ý nghĩa này.
KINH VĂN
Khi ấy, đức Thế Tôn muốn lặp lại ý nghĩa trên nên nói kệ rằng:
Phần kệ tụng có 19 khổ rưỡi kệ, [cũng chia làm 3 đoạn].
Đoạn thứ nhất gồm 12 khổ kệ, trước tiên tụng về lại nghĩa suy lường phân biệt nhiều ít.
Đoạn thứ hai gồm 2 khổ kệ, tụng ngược [31] về nghĩa nêu hình tướng người ở trước.
Đoạn thứ ba gồm 5 khổ kệ, tụng lại về giai vị và công hạnh không thối chuyển.
Kệ nói “Vô số kiếp tu hành” nghĩa là đã từ lâu tu tập các pháp ba-la-mật. “Nguyện chúng con đời sau” tức là khởi tâm nguyện từ bi. Nhờ sự tu hành và phát nguyện từ lâu nên nghe kinh liền tin hiểu. Nay ở phần đầu phẩm này chỉ vừa mới được nghe kinh, có một niệm tin hiểu, công đức ấy lại ngang bằng với người tu hành đã lâu, lại còn hơn thế nữa.
KINH VĂN
“Lại nữa, này A-dật-đa! Nếu có người nghe nói tuổi thọ của Phật lâu dài, hiểu rõ được lời ấy, thì công đức người ấy đạt được không có giới hạn, có thể khởi sinh trí tuệ Vô thượng Như Lai. Huống chi là người có thể rộng nghe kinh này, hoặc bảo người khác nghe, hoặc tự mình thọ trì, hoặc bảo người khác thọ trì, hoặc tự mình sao chép, hoặc bảo người khác sao chép, hoặc dùng hoa, hương, chuỗi ngọc, cờ phướn, lọng che, dầu thơm, đèn bơ [32] để cúng dường kinh này, công đức của người ấy là vô lượng vô biên, có thể khởi sinh Nhất thiết chủng trí. [33]
Từ câu “Lại nữa, này A-dật-đa! Nếu có người nghe nói tuổi thọ của Phật lâu dài” trở đi là nói về hạng [đệ tử có niềm tin] thứ hai. Hạng đệ tử trước chỉ có khả năng tin hiểu nhưng không thể giảng thuyết. Thuyết giảng liên kết danh xưng số lượng cần phải biết dùng lời khéo léo tốt đẹp, nay hạng đệ tử này có đủ [khả năng ấy], cho nên nói là vì người khác giảng thuyết. Do sự vượt hơn mà gọi tên, cho nên gọi là hạng thứ hai. Do sức thuyết giảng nên có thể tự mình và giúp cho người khác đều được “khởi sinh trí tuệ Vô thượng Như Lai”. Kinh văn phần này trước tiên nêu tướng trạng, tiếp theo là suy lường công đức.
Từ câu “Huống chi là người có thể rộng nghe kinh này” trở đi là nói về hạng thứ ba, nghe nhiều hiểu rộng, có thể rộng vì người khác thuyết giảng, rộng tu cúng dường. Cúng dường là sự hỗ trợ từ bên ngoài, giúp cho trí tuệ bên trong nhanh chóng thể nhập nên “có thể khởi sinh Nhất thiết chủng trí”. Phần này trước tiên nêu tướng trạng của hạng người, tiếp theo nói việc suy lường [phân biệt công đức].
KINH VĂN
“Này A-dật-đa! Nếu có thiện nam, thiện nữ nào nghe ta nói về tuổi thọ lâu dài, tin sâu nhận hiểu, người ấy sẽ thấy Phật vẫn thường thuyết pháp tại núi Kỳ-xà-quật, có các vị Đại Bồ Tát và chúng Thanh văn cung kính vây quanh, lại cũng thấy được khắp thế giới Ta-bà này mặt đất bằng lưu ly, bằng phẳng ngay ngắn, dùng vàng diêm-phù-đàn [34] giăng theo bên đường đi về tám hướng, [35] có cây báu thẳng hàng, có lầu gác, đài quán đều làm bằng các món báu, đại chúng Bồ Tát đều ở trong đó. Nếu người nào có thể thấy được như vậy, nên biết đó là tướng trạng của sự tin sâu nhận hiểu.”
Tiếp theo từ câu “Này A-dật-đa…” trở đi là nói về hạng đệ tử có niềm tin thứ tư, có đầy đủ [các phẩm tính] của ba hạng trước, cộng thêm tu tập quán hạnh. Nhập thiền định vận dụng trí tuệ, quán tưởng thành tựu thì hình tướng sinh khởi, có thể thấy được tướng mạo của hai cõi Hữu dư và Thật báo.
“Thấy Phật vẫn thường thuyết pháp tại núi Kỳ-xà-quật, có các vị Đại Bồ Tát và chúng Thanh văn cung kính vây quanh” là tướng trạng của cõi Phương tiện hữu dư.
“Lại cũng thấy được khắp thế giới Ta-bà này… đại chúng Bồ Tát đều ở trong đó” là tướng trạng cõi Thật báo.
Hai hạng đệ tử có niềm tin đầu tiên là ở giai vị Văn tuệ, hạng [thứ ba] nghe nhiều giảng rộng là giai vị Tư tuệ, hạng [thứ tư] tu quán hạnh quán tưởng thành tựu là giai vị Tu tuệ. [Cả bốn hạng đệ tử này, công hạnh] từ cạn đến sâu, thành tựu sáu căn thanh tịnh, tức là giai vị Thập tín.
KINH VĂN
“Lại nữa, sau khi Như Lai diệt độ, nếu người nào nghe kinh này mà không chê bai lại sinh lòng vui theo, nên biết đó cũng là tướng trạng của sự tin hiểu; huống chi là người tụng đọc, thọ trì, người ấy chính là đang cung kính đầu đội Như Lai. [36] Này A-dật-đa! Người thiện nam hay thiện nữ đó không cần phải vì ta mà dựng chùa tháp phụng thờ, cũng không cần xây dựng tăng phòng, dùng bốn sự thiết yếu [37] cúng dường chúng tăng.
Vì sao vậy? Vì những thiện nam, thiện nữ ấy thọ trì, đọc tụng kinh này tức là đã dựng chùa tháp, đã xây dựng tăng phòng, cúng dường chúng tăng; tức là đã dựng tháp bằng bảy báu thờ xá-lợi Phật, bên dưới to rộng bên trên nhỏ dần, cao lên đến tận cõi Phạm thiên, có treo phướn lọng cùng những chuông báu nhỏ với hoa, hương, chuỗi ngọc, cùng các loại hương bột, hương thoa, hương đốt, dùng các loại trống, nhạc, ống tiêu, ống địch, [38] đàn không hầu, đủ các loại vũ khúc và âm thanh vi diệu để ngợi ca tán tụng; tức là đã trải qua vô lượng ngàn muôn ức kiếp làm việc cúng dường như vậy.
“Này A-dật-đa! Nếu sau khi ta diệt độ có người nào nghe kinh điển này rồi có khả năng thọ trì, hoặc tự mình sao chép, hoặc bảo người khác sao chép, đó là đã xây dựng tăng phòng, dùng chiên đàn đỏ dựng thành ba mươi hai tòa điện đường, [39] cao bằng tám cây đa-la, [40] tăng phòng rộng đẹp trang nghiêm, đủ chỗ cho trăm ngàn vị tỳ-kheo cùng ở trong đó, [41] lại có đủ vườn rừng, hồ tắm, đường đi kinh hành, hang ngồi thiền; có đủ y phục, thức ăn uống, giường đệm, thuốc men trị bệnh, đủ mọi tiện nghi; những tăng phòng, điện đường lầu gác giống như vậy, số lượng nhiều đến bao nhiêu ngàn muôn ức cho đến vô số lượng, đều giống như hiện nay đã dùng để cúng dường ta cùng với chư tỳ-kheo tăng.
“Do vậy nên ta nói rằng: ‘Sau khi Như Lai diệt độ, nếu có người thọ trì, tụng đọc kinh này, vì người khác giảng nói, hoặc tự mình sao chép, hoặc bảo người khác sao chép, cúng dường kinh này, người ấy không cần phải dựng chùa tháp cũng như xây dựng tăng phòng, cúng dường chúng tăng.’
Từ câu “Lại nữa, sau khi Như Lai diệt độ” trở đi là nói về năm hạng người [tin nhận kinh này]. Kinh văn lại chia làm hai đoạn. Đoạn trước tiên nêu 5 hạng người, suy lường phân biệt so sánh công đức của 4 hạng sau. Đoạn sau nói về hạng người tùy hỷ, suy lường phân biệt công đức của hạng đầu tiên.
Hỏi : Tại sao lại như vậy ?
Đáp : Vì bốn hạng sau suy lường phân biệt sơ sài, còn hạng [tùy hỷ] đầu tiên nêu việc suy lường phân biệt mở rộng. Khi đã suy lường phân biệt mở rộng rồi, nêu sự so sánh hơn thế nữa thì có thể hiểu được ý nghĩa. Đức Phật không nói nhiều rườm rà mà khéo léo diễn đạt như vậy.
Năm hạng người đó, thứ nhất là trực tiếp khởi tâm tùy hỷ, thứ hai là thêm tự mình thọ trì đọc tụng, thứ ba là thêm khuyến khích người khác thọ trì đọc tụng, thứ tư là tu tập thêm sáu ba-la-mật, thứ năm là chuyên tu công hạnh sáu ba-la-mật. Năm hạng người này, nói chung đều thuộc hạng tự mình hành trì và giáo hóa người khác, như kinh văn phần sau nói có 50 người tuần tự truyền dạy cho nhau. Những ai tự hành trì đều gọi chung là đệ tử; những ai giáo hóa người khác đều gọi chung là pháp sư.
Nếu xét riêng thì [trong đó có] 2 hạng chỉ tự mình hành trì, có 3 hạng đầy đủ luôn cả việc giáo hóa người khác. Dùng danh hiệu pháp sư chỉ để gọi 3 hạng sau, không phải cho cả 5 hạng. Việc tự hành trì có ở cả 5 hạng nên đều gọi chung là đệ tử.
Hạng đầu tiên chỉ được nêu tướng trạng người mà thôi, việc suy lường phân biệt công đức nói ở phần sau.
Từ câu “huống chi là người” trở đi là nói hạng thứ hai, nêu rõ người có khả năng thọ trì đọc tụng. Việc nêu ra hạng người có thể hiểu được. Câu “người ấy chính là đang cung kính đầu đội Như Lai” không phải là suy lường công đức.
Người mới phát tâm, vì sợ sự khuấy động của ngoại duyên làm chướng ngại việc tu nghiệp chân chánh nên chỉ một lòng chuyên trì kinh này, đó tức là sự cúng dường bậc thượng. [Nếu có thể] bỏ sự tướng giữ theo lẽ thật thì lợi ích càng rộng lớn hơn.
Về sau khi trong tâm đã quán chiếu thành thục, dù tiếp xúc ngoại duyên cũng không gây chướng ngại nội tâm, mọi sự việc đều có thể giúp thêm cho việc tu đạo, như thêm dầu nhiều thì lửa cháy mạnh, như thuyền xuôi dòng nước lại thêm giương buồm. Nếu tăng thêm sức lực công phu tu tập thì thế lực chuyển hóa càng nhanh hơn. Ý chỉ của kinh văn chính là pháp thân xá-lợi nên không cần phải an trí sinh thân xá-lợi. [42] Nếu giảng giải kinh văn thì người giảng giải và kinh văn được giảng giải chính là tháp thờ, không cần đến tháp bằng hình tướng. Kinh văn có thể hàm chứa tăng theo đệ nhất nghĩa, không cần phải đợi nương theo tăng.
Hỏi : Nếu vậy thì trì kinh tức là giữ giới theo đệ nhất nghĩa, sao kinh văn còn nói “lại có thể trì giới thanh tịnh”?
Đáp : Đây là ý nói về hạng đầu tiên, [43] không nên dùng để chất vấn với các hạng sau đó. Nếu muốn giải thích thì trì kinh tức là thuận theo giới về mặt lý thể, cũng là tự nhiên giữ được các giới ba-la-di và tăng tàn. [44] Nay kinh văn nói “có thể trì giới thanh tịnh” là nói từ các giới ba-dật-đề trở đi, [45] trong mọi hành vi đều không có sự thiếu sót phạm vào. Hạng người thứ ba có khả năng giáo hóa người khác, chính là nói ý này.
[Kinh văn] trước tiên nêu ra hạng người này, sau đó từ câu “đã xây dựng tăng phòng” trở đi là [nêu các chi tiết] suy lường công đức.
KINH VĂN
“Huống chi là người có thể thọ trì kinh này, lại thêm thực hành các pháp bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, [46] trí tuệ thì công đức của người này là thù thắng nhất, là vô lượng vô biên. Cũng giống như hư không về các phương đông, tây, nam, bắc, bốn phương phụ [47] và phương trên, phương dưới đều là vô lượng vô biên, công đức của người này cũng vô lượng vô biên như vậy, sẽ nhanh chóng đạt đến Nhất thiết chủng trí.
Từ câu “Huống chi là người có thể thọ trì kinh này, lại thêm…” trở đi là nói hạng người thứ tư. “Lại thêm thực hành các pháp” ba-la-mật là hạng người này vậy. Trước tiên nêu ra hạng người, sau đó từ câu “công đức của người này là thù thắng nhất” trở đi là suy lường công đức.
KINH VĂN
“Nếu có người tụng đọc, thọ trì kinh này, vì người khác giảng nói, hoặc tự mình sao chép, hoặc bảo người khác sao chép, lại còn có thể dựng tháp thờ, xây dựng tăng phòng, cúng dường, ngợi khen, xưng tán các vị Thanh văn, lại cũng dùng trăm ngàn muôn ức cách ngợi khen xưng tán để xưng tán công đức các vị Bồ Tát, lại vì người khác mà thuận theo đủ mọi nhân duyên, tùy nghĩa thích hợp để giảng giải kinh Pháp hoa này, lại có thể trì giới thanh tịnh, cùng người nhu hòa sống chung luôn nhẫn nhục không sân hận, chí niệm kiên cố, thường muốn ngồi thiền đạt định thâm sâu, tinh tấn dũng mãnh gồm thâu các pháp lành, căn tánh nhanh nhạy, trí tuệ sáng suốt, khéo giải đáp những câu hỏi khó;
này A-dật-đa, sau khi ta diệt độ, những thiên nam, thiện nữ nào thọ trì, tụng đọc kinh điển này, lại có đủ những công đức lành như vậy, nên biết rằng những người ấy đã hướng đến đạo trường, ngồi dưới cội Bồ-đề, đến gần quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. [48]
“Này A-dật-đa! Những nơi nào mà các thiện nam hoặc thiện nữ ấy đã từng đi đứng nằm ngồi đều nên dựng tháp, hết thảy chư thiên và loài người đều nên cúng dường như cúng dường tháp Phật.”
Từ câu “Nếu có người tụng đọc” trở đi là nói hạng người thứ năm. Có thể chuyên tu công hạnh sáu ba-la-mật là hạng người này. [Kinh văn] trước tiên nêu hạng người, sau đó từ câu “này A-dật-đa, sau khi ta diệt độ” trở đi là suy lường công đức.
Tóm lại về năm hạng người này, ba hạng trước là thuộc giai vị Văn tuệ, [hạng thứ tư] thêm việc thực hành sáu ba-la-mật là giai vị Tư tuệ, [hạng thứ năm] chuyên tu công hạnh sáu ba-la-mật là giai vị Tu tuệ. Tất cả đều là còn ở trước các giai vị Thập tín.
Hoặc có người cho rằng hạng đầu tiên khởi tâm tùy hỷ là vào được giai vị Tín tâm, theo sự phân chia mỗi hạng là 2 tâm, 5 hạng là 10 tâm trong Thập tín tâm, tức là giai vị Thiết luân, đã được sáu căn thanh tịnh.
KINH VĂN
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn muốn lặp lại ý nghĩa trên nên thuyết kệ rằng:
Phần kệ tụng tiếp theo có 19 khổ rưỡi kệ [chia làm 4 đoạn].
Đoạn thứ nhất 5 khổ rưỡi kệ, tụng về hạng người thứ hai.
Đoạn thứ hai từ câu “Nếu thọ trì kinh này” trở đi gồm 3 khổ kệ, tụng về hạng người thứ ba.
Đoạn thứ ba từ câu “Nếu có lòng tin hiểu” trở đi gồm 4 khổ kệ, tụng về hạng người thứ tư.
Đoạn thứ tư từ câu “Cung kính nơi chùa tháp” trở đi gồm 7 khổ kệ, tụng về hạng người thứ năm. “Đảnh lễ, tưởng như Phật” là nói ban sơ nương tựa theo người có danh hiệu Như Lai. “Vị này không bao lâu, sẽ đến cội Bồ-đề” là nói đã đạt giai vị Thiết luân, [49] không bao lâu sẽ đạt đến giai vị Đồng luân, [50] có thể hiện tám tướng thành Phật. [51] Hướng đến đạo tràng là hành xứ, Tam-bồ-đề là cận xứ.
Hạng người thứ năm với hạng đệ tử thứ tư trong tứ tín đều cùng thuộc giai vị Tu tuệ. Nếu luận về thể nhập giai vị thì đều là giai vị sáu căn thanh tịnh, chỉ có sự khác biệt giữa hiện Phật tại thế và vị lai sau khi Phật nhập diệt mà thôi. [52] Đại lược là như vậy.
18. Giải thích phẩm Công đức tùy hỷ
KINH VĂN
Phẩm Công đức tùy hỷ, thứ mười tám
Giải thích tên phẩm
Tùy là tùy thuận theo sự tướng và lý tánh, không phân hai, không khác biệt. Hỷ là vui cho mình, vui cho người khác. Khi được nghe giáo pháp sâu xa uyên áo, tùy thuận theo lý tánh thì được công đức chân thật, tùy thuận theo sự tướng thì được công đức quyền thừa. Vui cho chính mình là có trí tuệ, vui cho người khác là có từ bi. Hợp cả quyền thừa và chân thật, trí đức và đoạn đức mà thuyết giảng, cho nên gọi là phẩm Công đức tùy hỷ.
Lại nữa, thuận theo lý tánh nghe nói về bản địa sâu xa của Phật liền tin nhận sâu xa, thuận theo không trái nghịch, không mảy may nghi ngại. Thuận theo sự tướng là nghe nói về việc Phật ba đời làm lợi ích chúng sanh, xuyên suốt cả thời gian, bao quát mọi nơi trong không gian, cũng không mảy may nghi ngại. Ngay nơi sự tướng rộng khắp mà đạt được lý tánh sâu xa; ngay nơi lý tánh sâu xa mà đạt được sự tướng rộng khắp. Không phân hai mà là hai; không khác biệt mà khác biệt; tuy là hai, là khác biệt mà không phân hai, không khác biệt. Tin tưởng nhận hiểu như vậy gọi là tùy thuận.
Đức Như Lai ra đời hơn bốn mươi năm vẫn chưa hiển bày pháp chân thật. [Đối với] bảy hạng phương tiện, [53] [Phật] đều chưa nói ra lời chân thật rốt ráo. Nay mừng cho chính mình và người khác có thể dùng tâm phàm phu để rõ biết ngang bằng với Phật, có thể dùng nhục nhãn cha mẹ sinh ra mà nhìn thấy được đồng với Như Lai. Chỗ thấy biết như thế rốt ráo tận cùng pháp giới, rộng không bờ mé, không gì bằng được, không gì so sánh được, càng không có gì vượt hơn. Nay Phật nói ra điều này, ta được nghe điều này, cho nên gọi là phẩm Công đức tùy hỷ.
“Người thứ năm mươi” [trong ví dụ của Phật] là hàng ban sơ của hạng người thứ nhất. [54] Vì ban sơ nên [khi nghe kinh này] chỉ có một niệm nhận hiểu lý tánh, chỉ có một niệm mừng vui cho mình và cho người khác, chưa thực hành được gì, chưa tạo được ân đức gì cho người khác. Nhưng công đức mà người này đạt được, đức Như Lai đã khéo léo ví dụ so sánh còn hơn cả bậc vô học, “huống chi là người đầu tiên ở trong Pháp hội được nghe”, huống chi là những hạng người thứ hai, thứ ba, thứ tư, thứ năm; huống chi là những người được vào các giai vị Thập trụ, Thập hạnh cho đến tâm cuối cùng [trước khi thành Phật]. [55] Ai được nghe công đức sâu xa vi diệu như thế mà không ngưỡng mộ?
Đức Như Lai nói ra điều này để khiến cho chúng sanh sinh lòng ưa chuộng, cho nên gọi là phẩm Công đức tùy hỷ. Từ trước đến nay, đức Phật ngợi khen xưng tán công đức trì kinh, đại chúng đương thời đều cho rằng phải thể nhập giai vị Chân nhân [56] mới đạt được công đức như thế, cho nên đối với kẻ ban sơ vừa mới phát tâm liền khởi sinh ý tưởng xem nhẹ, cho là yếu kém. Bỗng dưng nghe rằng hạt mầm còn nằm sâu trong đất cứng có thể thành đại thụ đường kính trăm ôm, chim tần-già còn trong trứng đã sẵn có tiếng hót hay hơn hết thảy các loài chim; thật là một sự diệu kỳ hiếm có, mối nghi ngờ xem nhẹ [người sơ tâm trước đây] liền tự nhiên tan biến.
Cho nên gọi là phẩm Công đức tùy hỷ.
Hàng ngoại đạo dù đạt được năm thần thông, có thể dời núi lấp biển nhưng không thể điều phục được các phiền não kiến ái, [57] không bằng người vừa được noãn pháp. [58] Bậc vô học trong hàng Nhị thừa đều đã dứt được nhân quả tương lai [59] nhưng vẫn bị trói buộc bởi Niết-bàn, không biết rằng cả nhân và quả [Nhị thừa] đều chỉ là quyền biến. Hàng Thông giáo tuy khéo tu nhân nhưng phát tâm không biết đến quả Phật rốt ráo, [60] nên chứng quả cũng chỉ trừ được bốn trụ địa phiền não. [61] Hàng Biệt giáo tuy có vượt hơn Nhị thừa, nhưng tu nhân có thiên lệch, lại còn vụng về, không được Phật khen ngợi.
Tất cả [những hạng như trên] đều không sánh bằng người vừa [nghe kinh này] mới phát tâm tùy hỷ. Nay đức Phật nêu ra chữ A đầu tiên để so sánh đến chữ Trà sau cùng,1 vượt trội hơn tất cả các giáo pháp khác. Cho nên gọi là phẩm Công đức tùy hỷ.
Hỏi : Như vậy so với phẩm Tùy hỷ trong Đại phẩm Bát-nhã2 thì thế nào?
Đáp : Ở đây nói về pháp, phẩm kia [trong Đại Bát-nhã] là nói về người; người và pháp cùng hỗ tương cho nhau.
KINH VĂN
Lúc bấy giờ, Đại Bồ Tát Di-lặc thưa hỏi Phật: “Bạch Thế Tôn! Nếu như có thiện nam, thiện nữ nào nghe kinh Pháp hoa này sinh tâm tùy hỷ thì được bao nhiêu phước đức?”
Rồi Bồ Tát Di-lặc đọc kệ lặp lại rằng:
Kinh văn phẩm này có phần hỏi và đáp, mỗi phần đều chia ra có kinh văn trường hàng và kệ tụng.
Phẩm trước suy lường về [công đức của] bốn hạng đệ tử, không nói đến hạng đầu tiên. Ngài Di-lặc nương theo cơ duyên ấy thưa hỏi ý nghĩa này, y theo kinh văn có thể hiểu được.
KINH VĂN
Khi ấy, đức Phật bảo Đại Bồ Tát Di-lặc: “Này A-dật-đa! Sau khi Như Lai diệt độ, nếu có tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di hoặc người có trí khác, dù lớn hay nhỏ tuổi, nghe được kinh này rồi sinh tâm tùy hỷ, sau khi ra khỏi Pháp hội liền đi đến nơi khác, hoặc tăng phòng, hoặc chỗ thanh vắng, hoặc nơi thành ấp, đường sá, xóm làng, vườn ruộng, y theo những điều đã nghe mà tùy khả năng giảng nói lại cho cha mẹ, người thân thuộc, bạn hữu, tri thức… Những người được nghe sinh tâm tùy hỷ, tiếp tục nói lại với người khác; người khác nghe rồi cũng sinh tâm tùy hỷ, nói lại với người khác nữa… Cứ tiếp tục truyền đi như vậy cho đến người được nghe thứ năm mươi.”
Nội dung đức Phật giải đáp có hai phần. Phần đầu nói về người trong tâm tùy hỷ, phần thứ hai nêu thẳng về người bên ngoài nghe pháp.
Phần đầu nói về người tùy hỷ trong tâm lại chia làm 5 đoạn. Thứ nhất nói việc tuần tự dạy lại; thứ hai suy lường công đức căn bản; thứ ba thưa hỏi; thứ tư hồi đáp; thứ năm suy lường công đức đầy đủ.
Các bậc thầy phương Nam giảng rằng, 50 người [trong ví dụ] được chia làm 3 nhóm. Thứ nhất là tuần tự [dạy lại] dần lên cao, [người sau hơn người trước]; thứ hai là tuần tự [dạy lại] vẫn ngang bằng [như nhau]; thứ ba là tuần tự [dạy lại] dần xuống thấp, [người sau kém hơn người trước]. [Tuần tự dạy lại] dần lên cao thì rất khó, vẫn ngang bằng cũng ít gặp, đa phần là dần xuống thấp, ngày càng kém hơn. Suy lường [công đức của] người kém nhất để hình dung biết được các trường hợp ngang bằng hoặc cao hơn. [62]
Các bậc thầy phương Bắc giảng rằng, đầu tiên là bậc Diệu giác vì hàng Thập địa thuyết dạy; hàng Thập địa lại vì hàng Cửu địa mà thuyết… Cứ như thế dần dần thuyết dạy xuống cho đến hàng Thập tín. [Cho nên kinh văn] suy lường công đức của người sau cùng để hình dung [công đức] của bậc đầu tiên.
Nay cho rằng không phải như vậy. Đức Phật đã nói rất rõ ràng về người đầu tiên ở trong pháp hội được nghe, sau đó mới tiếp nối dần dần truyền dạy lại. Dần dần truyền dạy qua 50 người, mới suy lường công đức người sau cùng để so sánh hình dung công đức của người đầu tiên. [Cho nên,] nói về sau thì không phải hàng Thập tín là khởi đầu; nói về ban đầu thì không phải bậc Diệu giác là kết thúc; làm sao có thể vận dụng cách giảng giải ấy được? Cách giảng giải ấy rất sâu xa nhưng không tương hợp ý chỉ kinh này.
Nay xét theo hai cách. Thứ nhất, xét theo [50 người] đồng thời tu tập thì dựa vào bốn chúng trong các giáo pháp. Thứ hai, xét theo [50 người] tuần tự tăng tiến thì dựa vào cách đếm số trong Viên giáo.
[Theo cách thứ nhất,] Tạng giáo có bốn cửa vào, [63] mỗi một cửa vào đều có bốn chúng, lại mở rộng thêm hai chúng sa-di và sa-di-ni, hợp thành [sáu chúng biểu trưng cho] 6 người; [nhân với] bốn cửa vào là 24 người; [nhân cho hai nhóm] tín hành và pháp hành, thành 48 người, cộng thêm người đầu tiên và người cuối cùng là thành 50 người. Thông giáo, Biệt giáo cũng có bốn cửa vào nên cũng đều tính như vậy.
[Theo cách thứ hai,] dựa vào số đếm trong Viên giáo thì có số 7 nhỏ và số 7 lớn; số 7 lớn có 7 số 7 nhỏ, thành tổng số 49, [64] trong đó cả người dạy và người học đều có đủ hai phẩm đức tự thực hành và giáo hóa người khác. Riêng đến người sau cùng [thứ 50] chỉ là tự thân nhận hiểu, không có phẩm đức giáo hóa người khác. Cho nên [kinh văn] suy lường công đức người sau cùng này để hiển bày [công đức của những người] trước đó.
KINH VĂN
“Này A-dật-đa! Nay ta sẽ nói về công đức tùy hỷ của người thiện nam hoặc thiện nữ thứ năm mươi được nghe lại đó, ông nên lắng nghe thật kỹ.
“Nếu như trong bốn trăm muôn ức a-tăng-kỳ thế giới có sáu đường [65] chúng sinh, thuộc bốn cách sinh ra như noãn sinh, thai sinh, thấp sinh, hóa sinh, [66] là những chúng sinh có hình sắc hay không có hình sắc, có tư tưởng hay không có tư tưởng, hoặc không phải có tư tưởng cũng không phải không có tư tưởng, hoặc những loài không chân, hoặc có hai chân, hoặc bốn chân, hoặc nhiều chân; trong số những chúng sinh như vậy, giả sử như có người vì cầu phước đức nên tùy theo chỗ mong muốn, những thứ tiện nghi đều chu cấp đầy đủ, mỗi một chúng sanh đều được tặng cho vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách, các loại trân bảo quý báu cùng voi, ngựa, xe cộ, cung điện, lầu gác bằng bảy món báu, [nhiều đến mức] tràn ngập trong cõi Diêm-phù-đề.
“Người thí chủ lớn ấy, sau khi bố thí như vậy qua tám mươi năm rồi nghĩ rằng: ‘Ta đã bố thí cho những chúng sanh này đầy đủ mọi thứ tiện nghi, tùy theo sự mong muốn của họ, nhưng nay họ đều già yếu, tuổi quá tám mươi, da nhăn tóc bạc, không bao lâu sẽ chết, ta nên đem pháp Phật giảng dạy cho họ.’ Liền tập hợp những chúng sanh ấy lại, đem chánh pháp rộng truyền giáo hóa, tuần tự chỉ bày, dạy dỗ, khuyến khích sự lợi ích, hoan hỷ thành tựu, [67] giúp cho họ cùng lúc đều chứng đắc quả Tu-đà-hoàn, quả Tư-đà-hàm, quả A-na-hàm, quả A-la-hán, dứt sạch lậu hoặc, được tự tại trong thiền định thâm sâu, đầy đủ tám pháp giải thoát. [68]
“Ý ông nghĩ sao, công đức người thí chủ lớn ấy đạt được có nhiều chăng?”
Bồ Tát Di-lặc thưa: “Bạch Thế Tôn! Người ấy được công đức rất nhiều, thật vô lượng vô biên. Nếu người thí chủ đó chỉ bố thí cho chúng sanh hết thảy mọi thứ tiện nghi thì công đức cũng đã là vô lượng, huống chi còn giúp cho họ chứng quả A-la-hán.”
Đức Phật bảo Bồ Tát Di-lặc: “Nay ta nói thật rõ ràng với ông, người ấy đem hết thảy mọi thứ tiện nghi bố thí cho chúng sanh sáu đường trong bốn trăm muôn ức a-tăng-kỳ thế giới, lại giúp họ đạt được quả A-la-hán như vậy, nhưng đạt được công đức không bằng người thứ năm mươi được nghe một bài kệ trong kinh Pháp hoa sinh tâm tùy hỷ, thậm chí không bằng một phần trăm, một phần ngàn hay một phần trăm ngàn muôn ức, cho đến tính toán, thí dụ cũng không thể biết được.
“Này A-dật-đa! Như công đức của người thứ năm mươi được nghe kinh Pháp hoa thông qua người khác rồi sinh tâm tùy hỷ mà còn được a-tăng-kỳ vô lượng vô biên, huống chi là người đầu tiên ở trong Pháp hội được nghe rồi sanh tâm tùy hỷ? Phước đức của người này còn nhiều hơn a-tăng-kỳ vô lượng vô biên, không thể so sánh được.
“Lại nữa, A-dật-đa! Nếu người vì kinh này mà tìm đến tăng phòng, hoặc ngồi hoặc đứng trong thoáng chốc để nghe rồi thọ nhận, nhờ công đức ấy nên khi tái sinh vào đời khác sẽ có được những thứ voi, ngựa, xe cộ tốt nhất, đi kiệu bằng trân bảo, đi xe thiên cung. [69]
“Nếu như có người đang ngồi ở nơi giảng pháp lại có người khác đến, liền khuyến khích ngồi lại nghe, hoặc chia sẻ chỗ ngồi nghe, nhờ công đức ấy khi tái sinh đời khác liền được chỗ ngồi của Đế thích hoặc Phạm vương, hoặc được chỗ ngồi của Chuyển luân Thánh vương.”
Trong phần suy lường phân biệt công đức, trước tiên nêu việc ban cho niềm vui thế gian để dứt trừ nỗi khổ vì quả báo, sau đó ban cho niềm vui Niết-bàn để dứt trừ nỗi khổ sinh tử. Phần này chính là lược nêu phước đức cõi Phạm thiên, nay sẽ giảng rộng.
Phước của người trong khắp cõi Diêm-phù-đề cũng không bằng phước của một người ở cõi Tây Cù-da-ni; phước của người trong khắp cõi Tây Cù-da-ni cũng không bằng phước của một người ở cõi Đông Phất-bà-đề; phước của người trong khắp ba cõi thiên hạ này cũng không bằng phước của một người ở cõi Bắc Uất-đan-việt; phước của người trong khắp bốn cõi thiên hạ cũng không bằng phước của một trong bốn vị Tứ thiên vương;
phước của [bốn vị] Tứ thiên vương cũng không bằng phước của một vị Đế-thích, thậm chí lên đến cõi trời Tha hóa tự tại [70] cũng không bằng phước của một vị Phạm thiên. [71] Phước của Phạm thiên có định phúc và tán phúc. [72] Tán phúc là [nhờ làm những việc như] nơi không có tháp [thờ Phật] thì xây dựng tháp, tháp hư hoại thì tu sửa, giúp tăng chúng hòa hợp và thỉnh chuyển pháp luân, tăng chúng tan rã thì khiến cho hòa hợp.
Đó là bốn việc tạo phước, sánh bằng [phước của] Phạm thiên, cho nên gọi là phước Phạm thiên.
Về phước bậc thánh, tức là nói vị A-la-hán trụ nơi thân sau cùng đạt được Niết-bàn hữu dư.
Lại có những người trong Ba thừa đã thể pháp, [73] cùng học pháp vô sinh, đoạn trừ hết phiền não, như đốt gỗ cháy thành than.
Lại có phước bậc thánh của hàng Bồ Tát [74] tự mình tu hành, giáo hóa chúng sanh, đều dùng những cách siêu việt ngôn ngữ để chỉ bày đạo, đoạn trừ phiền não, nhập Niết-bàn vô dư.
Lại có phước bậc thánh của hàng Bồ Tát từ khi mới phát tâm tuần tự giáo hóa chúng sanh cho đến nhập Đại Niết-bàn.
Dựa theo như trên để suy lường phân biệt thì phước Phạm thiên không bằng bậc thánh; phước bậc thánh không bằng bậc thánh thể pháp; phước bậc thánh thể pháp không bằng Tiểu Bồ Tát, phước của tiểu Bồ Tát không bằng Đại Bồ Tát; phước của Đại Bồ Tát không bằng phước của người ban sơ được nghe kinh Pháp hoa sinh tâm tùy hỷ.
Vì sao vậy? Vì [phước của những] vị kia không phải pháp Phật, [75] do vậy nên không chân thật, do vậy nên không viên mãn. Tuy [các vị ấy] trụ ở quả tột cùng cũng không bằng người sơ tâm với pháp Phật.
Ý nghĩa như vậy, theo tôi cho rằng đó là khuyên người nghe pháp.
KINH VĂN
“Này A-dật-đa! Nếu như có người nói với người khác: ‘Có kinh tên là Pháp hoa, chúng ta cùng đến nghe.’ Người kia nghe lời, thậm chí chỉ đến nghe trong thoáng chốc, người khuyến khích kia nhờ công đức ấy về sau được sinh ra cùng nơi với Bồ Tát đắc pháp đà-la-ni, được căn tánh nhanh nhạy, trí tuệ sáng suốt, trăm ngàn muôn đời không bị câm ngọng, không bị hôi miệng, lưỡi thường không bệnh, miệng cũng không bệnh; răng mọc thẳng, trắng đều không thưa, không ố vàng, không dính cáu bẩn cũng không rụng hoặc khuyết mích; môi không trề xệ, không co rút, không thô ráp, không mụn nhọt lở loét, không khuyết sứt, không méo lệch, không quá dày, quá lớn, cũng không đen sạm, không có những hình dạng xấu; mũi không thấp tẹt, không gãy khúc;
sắc mặt không đen, khuôn mặt không hẹp dài, không hóm gãy, không có bất kỳ tướng trạng khó coi nào; môi, lưỡi, răng đều tốt đẹp, mũi cao, thẳng; khuôn mặt tròn đầy; chân mày cao, dài; trán rộng, ngay phẳng; hình tướng nhân dạng đầy đủ, [76] đời đời sinh ra được thấy Phật nghe pháp, tin nhận sự giáo hóa răn dạy.
“A-dật-đa! Ông hãy xem đó, chỉ khuyến khích một người đến nghe pháp mà được công đức như vậy, huống chi người một lòng lắng nghe thuyết giảng, tụng đọc, ở trong đại chúng vì người khác phân biệt giảng giải và tu tập y theo lời dạy trong kinh?”
Từ câu “về sau được sinh ra cùng nơi với Bồ Tát đắc pháp đà-la-ni” cho đến câu “hình tướng nhân dạng đầy đủ”, kể chung có 50 công đức. Lấy số công đức xem như số người cũng thành 50 người. Chỉ có điều kinh văn phần trước nêu số 50 là bàn về sự nhận hiểu bên trong, sinh tâm tùy hỷ; ở đây chỉ bàn về việc bên ngoài nên có sự khác nhau.
Lại nữa, kinh văn phần này cũng nói đến công đức của sáu căn. “Căn tánh nhanh nhạy, trí tuệ sáng suốt” là công đức của ý căn; “không bị câm ngọng” là công đức của lưỡi; “mũi không thấp tẹt, không gãy khúc” là công đức của mũi, “được thấy Phật” là công đức của mắt; “nghe pháp” là công đức của tai; những điều còn lại là công đức của thân.
Phần trước là công đức của giai vị Tương tự, phần này là công đức trước giai vị Tương tự.
Phần nói về việc nghe kinh, kinh văn có 4 ý. Thứ nhất nói về người tự đến nghe. Thứ hai nói về người chia sẻ chỗ ngồi [cho người khác nghe kinh]. Thứ ba nói về người khuyến khích người khác đến nghe kinh. Thứ tư nói về người có đủ việc nghe và tu hành theo kinh văn. Đại lược là như vậy.
KINH VĂN
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn muốn lặp lại ý nghĩa trên nên nói kệ rằng:
Phần kệ tụng có 18 khổ kệ, chia làm 2 đoạn. Đoạn thứ nhất 9 khổ kệ tụng nghĩa tùy hỷ. Đoạn thứ hai từ câu “Nếu khuyến khích một người” trở đi, gồm 9 khổ kệ, tụng về việc nghe kinh tùy hỷ.
Trong đoạn thứ nhất chia làm 3 tiểu đoạn. Đầu tiên là một khổ rưỡi kệ, tụng về 50 người [tuần tự được nghe kinh]. Tiểu đoạn thứ hai từ câu “Phước đức người cuối này” trở đi gồm 5 khổ rưỡi kệ, tụng nghĩa suy lường công đức căn bản. Tiểu đoạn thứ ba từ câu “Người cuối thứ năm mươi” trở đi gồm 2 khổ kệ, tụng nghĩa suy lường công đức, lược bớt không tụng nghĩa phước đức rất nhiều.
KINH VĂN
Đoạn thứ hai có 9 khổ kệ tụng về việc nghe kinh, chia làm 4 tiểu đoạn, có đôi chút xáo trộn thứ tự.
Tiểu đoạn thứ nhất có 5 khổ kệ, tụng trước [77] về nghĩa khuyên người nghe kinh.
Tiểu đoạn thứ hai từ câu “Nếu đi đến tăng phòng” trở đi gồm 2 khổ kệ, tụng ngược [78] về ý nghĩa tự đi đến nghe kinh.
Tiểu đoạn thứ ba từ câu “Nếu ở nơi giảng pháp” trở đi gồm một khổ kệ, tụng về việc chia sẻ chỗ ngồi [nghe kinh].
Tiểu đoạn thứ tư từ câu “Huống chi một lòng nghe” trở đi gồm một khổ kệ, tụng về nghĩa tu hành theo kinh văn. Đại lược là như vậy.
19. Giải thích phẩm Công đức pháp sư
KINH VĂN
Phẩm Công đức pháp sư, thứ mười chín
Giải thích tên phẩm
Ý nghĩa “pháp sư” thì [trong phẩm Pháp sư] ở trước đã nói. Về ý nghĩa “công đức”, phần trước đã nói công đức ban đầu của hạng người đầu tiên [nghe kinh tùy hỷ], nay nói về các hạng cao hơn trong 5 hạng, [79] tức là nói được sáu căn thanh tịnh.
1. Có hai loại trang nghiêm, bên trong và bên ngoài. Đạt được ý căn thanh tịnh gọi là trang nghiêm bên trong, được 5 căn khác thanh tịnh gọi là trang nghiêm bên ngoài.
Lại nữa, từ cõi địa ngục trở lên cho đến từ cõi Phật trở xuống, tất cả màu sắc hình tượng đều hiện ra trong thân, đó gọi là trang nghiêm bên trong. Từ cõi địa ngục trở lên cho đến từ cõi Phật trở xuống, tất cả màu sắc hình tượng đều có thể dùng phép Tam-muội Phổ hiện mà hóa hiện bên ngoài, đó gọi là trang nghiêm bên ngoài.
Thân căn đã được như vậy, năm căn khác cũng đều như vậy.
Việc đọc tụng đã [được công đức] như vậy, 4 loại khác cũng đều như vậy. [80]
Hạng đầu tiên [tùy hỷ] đã được như vậy, bốn hạng sau lại càng hơn thế nữa.
[Giai đoạn] tương tự đã được như vậy, [các giai đoạn] phần chứng và chân thật lại càng hơn gấp bội. [81]
2. Người tu hành được nghe dạy về lợi ích công đức này thì vui mừng không tự kiềm chế được, càng thêm chuyên cần cầu học không hề chán mệt, tăng thêm gấp bội niềm tin và sự tinh tấn.
3. Rõ biết rằng giáo pháp Đại thừa có sức mạnh lớn lao, trong tâm quyết định, dứt sạch mọi điều nghi hoặc.
4. [Công đức của] người chỉ mới vừa nhận hiểu tương tự ở bước đầu tiên đã vượt hơn xa quả vị tột cùng của hàng Nhị thừa gấp trăm ngàn vạn lần. [Đức Phật] chỉ rõ [công đức] của người sơ cơ bắt đầu để làm sáng tỏ [công đức] cuối cùng sẽ đạt được, khiến cho thấu hiểu rốt ráo Đệ nhất nghĩa đế, không thể nghĩ bàn.
Trong phẩm này nêu rõ đầy đủ 4 ý như trên, [82] cho nên gọi là phẩm Công đức pháp sư.
Về công đức của sáu căn, ngài Quang Trạch cho rằng, đem ba nghiệp [thân, khẩu, ý] phối hợp với mười nghiệp lành, mỗi nghiệp lành đều có đủ 10, tức là 100; hợp với bốn pháp tự thực hành, giáo hóa người khác, tùy hỷ và tán thán, tính chung thành 400; lại nhân lên với 5 loại pháp sư thành 2.000, nhân với ba phẩm tức là 6.000 công đức. Ở cõi [Ta-bà] này có ba căn được vận dụng yếu nên nói giảm đi còn 800 [công đức], ba căn được vận dụng mạnh nên nói tăng thêm là 1.200 công đức, hợp cả hai phần nói tăng và nói giảm thì cũng vẫn là 6.000 công đức.
Lại có người giải thích cùng con số như ngài Quang Trạch nhưng phân chia ba phẩm: phẩm hạ 800, phẩm trung 1.000, phẩm thượng 1.200.
Các vị thầy giải thích thiên lệch như vậy đều chưa tương hợp với ý nghĩa kinh này, lại cũng không phù hợp với các phần giáo pháp khác.
Đại phẩm Bát-nhã nói rằng: “Sắc thanh tịnh nên Bát-nhã thanh tịnh; Bát-nhã thanh tịnh nên sắc thanh tịnh. Sắc thanh tịnh nên năm căn thanh tịnh; Bát-nhã thanh tịnh nên ý căn thanh tịnh.” Nếu sáu căn bình đẳng như nhau, tại sao cho rằng có ba bậc thượng, trung, hạ; có sự vận dụng mạnh yếu khác nhau; một căn mạnh một căn không mạnh; một căn thanh tịnh một căn không thanh tịnh; một căn là phẩm thượng những căn khác không phải là phẩm thượng? Đại lược là như thế.
Kinh Chánh Pháp hoa nêu đầy đủ 6.000 công đức, không hề bàn đến thượng, trung, hạ. Đại lược là như vậy.
Luận Pháp hoa nói rằng: “Người phàm nhờ sức của kinh này nên đạt được chỗ vận dụng thù thắng của các căn. Tuy chưa vào Sơ địa mà có thể dùng nhục nhãn do cha mẹ sinh ra để nhìn thấy khắp trong ngoài thế giới đại thiên.”
Kinh Đại Bát Niết-bàn nói: “Mỗi một căn của Như Lai đều có thể nhìn thấy hình sắc, nghe âm thanh, ngửi mùi, nếm vị, xúc chạm, biết pháp.” [83]
Nay kinh này nói sáu căn thanh tịnh là tương đồng với Đại phẩm Bát-nhã; nói dùng công đức [thanh tịnh sáu căn] này để trang nghiêm sáu căn là tương đồng với Chánh Pháp hoa; nói mũi có thể thấy hình sắc, nghe âm thanh, xúc chạm rõ biết là tương đồng với kinh Đại Bát Niết-bàn; nói nhục nhãn của phàm phu [cũng có thể] có công dụng như thiên nhãn, tuệ nhãn, pháp nhãn, Phật nhãn là tương đồng với luận [Pháp hoa]. Ý nghĩa của kinh văn như vậy, không thể dùng cách nhìn sai lệch mà gượng ép làm lệch ý kinh.
Bây giờ sẽ giải thích, con số của ngài Quang Trạch thì đủ, nhưng nói về các căn không y theo kinh văn. Nay dựa theo ba nghiệp trong phẩm Hạnh an vui thì có 10 việc thiện; mỗi việc thiện đều có 10 điều, tức là 100 điều thiện. Trong mỗi điều thiện lại có 10 như, tức là 1.000 điều thiện. [Đây là tự thực hành, cộng thêm] giáo hóa người khác là thành 2.000. Dựa theo [ba việc] vào nhà Như Lai, đắp y Như Lai, ngồi tòa Như Lai tức thành 6.000 [công đức].
[Lại nữa,] năm loại pháp sư đều có đầy đủ sáu căn thanh tịnh, mỗi căn đều có 1.000 công đức, [tức là 6.000 công đức].
Lại nữa, trong mỗi một tâm đều có 10 pháp giới, mỗi một pháp giới đều có 10 như thị, tức là 100; mỗi một căn đều thông tiếp với sáu trần, tức là 600. Dựa vào hai sự trang nghiêm là định và tuệ, tức thành 1.200. Mỗi căn đều vận dụng hai sự trang nghiêm là định tuệ, nên đều có 1.200 công đức, bình đẳng như nhau.
Nếu bàn về sáu căn thanh tịnh, đã thanh tịnh thì không nói đến nhiều hoặc ít công đức. Nếu nói trang nghiêm thì có thể đầy đủ, có thể thiếu sót, có thể bằng nhau; trang nghiêm bằng nhau thì mỗi căn đều có 6.000 công đức. Nếu nói 1.200 công đức là làm rõ việc có thể đầy đủ; nếu nói 800 công đức là làm rõ việc có thể thiếu sót.
Nếu nói thanh tịnh thì không có đầy đủ, không có thiếu sót, không có bằng nhau, sáu căn vận dụng qua lại, đều là tự tại, không thể nghĩ bàn. Nếu nhận thức thiên lệch sẽ lạc mất ý chỉ.
Về giai vị Tương tự, nếu dựa theo tứ luân thì đây là giai vị Thiết luân; nếu dựa theo [thang bậc] 52 giai vị thì là Thập tín tâm; nếu dựa theo kinh Nhân vương thì là Thập thiện đại tâm. Nay đối với nghĩa thường tinh tấn thì đây là [Tinh tấn tâm], tức là tâm thứ ba trong Thập tín. Tuy các kinh gọi tên khác nhau nhưng đều tương đồng với giai vị Tương tự của Viên giáo.
KINH VĂN
Lúc bấy giờ, đức Phật bảo Đại Bồ Tát Thường Tinh Tấn: “Nếu có thiện nam hoặc thiện nữ nào thọ trì kinh Pháp hoa này, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc giảng giải, hoặc sao chép, người ấy sẽ được tám trăm công đức của mắt, một nghìn hai trăm công đức của tai, tám trăm công đức của mũi, một nghìn hai trăm công đức của lưỡi, tám trăm công đức của thân, một nghìn hai trăm công đức của ý; [84] dùng những công đức này trang nghiêm sáu căn, khiến cho tất cả đều thanh tịnh.”
Kinh văn phẩm này chia làm hai phần. Trước tiên là liệt kê tổng quát về sáu căn cùng với số lượng công đức đầy đủ và thiếu sót. Phần tiếp theo chia riêng sáu đoạn để giải thích [về mỗi căn]. Mỗi phần đều chia ra có kinh văn trường hàng và kệ tụng.
KINH VĂN
“Người thiện nam hoặc thiện nữ ấy, với mắt phàm tục do cha mẹ sinh ra, nhờ thanh tịnh nên thấy hết những gì trong thế giới đại thiên, cả trong lẫn ngoài, từ núi rừng, sông biển, xuống tới địa ngục A-tỳ, lên đến cõi trời Hữu đỉnh, cũng thấy hết thảy chúng sinh trong đó cùng với nhân duyên nghiệp quả, nơi sinh ra của họ, thấy biết tất cả.”
Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa này, bèn nói kệ rằng:
Phần giải thích nhãn căn nêu việc dùng nhục nhãn cha mẹ sinh ra mà có thể thấy được hơn cả thiên nhãn. Phạm vương nhờ phước báo nên có được thiên nhãn, ở tại thế giới của mình thì có thể nhìn thấy khắp cùng thế giới đại thiên. Nhưng bên ngoài thế giới đại thiên có phong luân gây chướng ngại tầm nhìn nên [thiên nhãn cũng] không thể thấy ra bên ngoài. Nếu [Phạm vương] ở thế giới khác thì cũng không thể nhìn thấy khắp thế giới đại thiên, vì không nằm trong sự thống lĩnh của mình.
Tiểu La-hán thấy được [khắp thế giới] tiểu thiên, Đại La-hán thấy được [khắp thế giới] đại thiên. Vị Duyên giác thấy được 100 cõi Phật, không bị phong luân làm chướng ngại, cũng không bị ngăn cách giữa thế giới của mình đang ở và các thế giới khác.
Nay kinh này nói về con mắt có thể thấy cả trong ngoài thế giới đại thiên, lẽ ra phải là thiên nhãn, sao lại gọi là nhục nhãn? Đây chính là giai vị Tương tự của Viên giáo, nhờ sức của kinh nên có được công dụng thù thắng của các căn, nhưng chưa phát khởi tánh thể chân thật nên không gọi là thiên nhãn, vẫn gọi là nhục nhãn. Cũng giống như phương tiện Tiểu thừa, chưa được thần thông thì không gọi là thiên nhãn. Vẫn còn mang thân phần đoạn nên gọi là do cha mẹ sinh ra.
Tuy gọi là nhục nhãn nhưng có đủ công dụng của năm loại mắt. Thấy khắp trong ngoài thế giới đại thiên là công dụng của thiên nhãn; thấy được tất cả chúng sanh cùng với nghiệp nhân duyên của họ là công dụng của pháp nhãn; mắt này hết sức thanh tịnh là công dụng của tuệ nhãn; cùng lúc thấy được khắp trong ngoài thế giới đại thiên, thấy cả nghiệp cảnh và tịnh cảnh, lại có thể điều phục trọn vẹn phiền não mê hoặc vi tế của pháp giới là công dụng của Phật nhãn.
Kinh Đại Bát Niết-bàn nói rằng: “Tuy có nhục nhãn nhưng gọi là Phật nhãn. Vì là Phật nhãn nên gọi là thanh tịnh. Vì đầy đủ năm loại mắt nên nói là trang nghiêm.”
Có thể đầy, có thể khuyết, gọi là công dụng thù thắng của các căn, gọi là căn tự tại, há có thể giải thích là chỉ tạo ra 800 hay 1.200 công đức thôi sao?
KINH VĂN
“Lại nữa, Thường Tinh Tấn! Nếu người thiện nam hoặc thiện nữ nào thọ trì kinh này, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc giảng giải, hoặc sao chép, sẽ được một ngàn hai trăm công đức của tai. Người ấy dùng tai thanh tịnh nghe được trong khắp thế giới đại thiên, dưới xuống đến địa ngục A-tỳ, trên lên tới cõi trời Hữu đỉnh, đủ mọi âm thanh, ngôn ngữ ở bên trong và bên ngoài, như tiếng voi, ngựa, trâu bò, tiếng xe cộ; tiếng kêu khóc, tiếng than thở; tiếng tù và, tiếng trống, chuông, chuông lắc; [85] tiếng cười nói, tiếng đàn ông, đàn bà, tiếng trẻ em trai gái; tiếng đúng pháp, tiếng không đúng pháp; tiếng khổ đau, tiếng ưa thích; tiếng phàm phu, tiếng bậc thánh; tiếng vui mừng, tiếng không vui; tiếng chư thiên, tiếng các loài rồng, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già;
tiếng lửa, tiếng nước, tiếng gió; tiếng địa ngục, tiếng súc sinh, tiếng ngạ quỷ; tiếng tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, Thanh văn, Duyên giác, Bồ Tát, Phật…
Nói tóm lại là hết thảy mọi âm thanh bên trong và bên ngoài cõi thế giới đại thiên. Người ấy tuy chưa đạt được thiên nhĩ, nhưng với tai phàm tục do cha mẹ sinh ra, nhờ thanh tịnh nên nghe biết được hết thảy, phân biệt đủ mọi âm thanh như vậy mà nhĩ căn không bị hư hoại.”
Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa này nên nói kệ rằng:
Phần nói về nhĩ căn, [kinh văn nói rằng] có thể nghe âm thanh của mười pháp giới ở khắp trong ngoài thế giới đại thiên.
Nghe được âm thanh trong sáu đường [86] tức là hai loại nhục nhĩ và thiên nhĩ. Nghe được âm thanh của hàng Nhị thừa tức là tuệ nhĩ. Nghe được âm thanh của Bồ Tát tức là pháp nhĩ. Nghe được âm thanh của Phật tức là Phật nhĩ.
Lại nữa, lỗ tai cha mẹ sinh ra là nhục nhĩ; có thể nghe cả trong ngoài tức là thiên nhĩ; tuy nghe mà không dính mắc tức là tuệ nhĩ; nghe không sai lầm tức là pháp nhĩ; cùng lúc có thể nghe bằng các căn khác [87] tức là Phật nhĩ.
Nếu dùng trường hợp của tai để nói về mắt thì mắt cũng giống như vậy. Nhìn thấy hai cõi trời, người là 2 loại [thiên nhãn và nhục nhãn]; nhìn thấy hàng Nhị thừa là tuệ nhãn; nhìn thấy hàng Bồ Tát là pháp nhãn; nhìn thấy Phật là Phật nhãn. Đại lược là như vậy.
KINH VĂN
“Lại nữa, Thường Tinh Tấn! Nếu người thiện nam hoặc thiện nữ nào thọ trì kinh này, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc giảng giải, hoặc sao chép, sẽ được tám trăm công đức của mũi. Người ấy dùng mũi thanh tịnh ngửi được đủ các loại mùi hương ở bên trên, bên dưới, bên trong và bên ngoài thế giới đại thiên, như hương các loại hoa tu-mạn-na, xà-đề, mạt-lợi, chiêm-bặc, ba-la-la, sen đỏ, sen xanh, sen trắng; hương hoa của cây, hương trái của cây, hương chiên-đàn, hương trầm thủy, hương đa-ma-la-bạt, [88] hương đa-già-la, [89] cùng ngàn muôn loại hương hòa hợp, hoặc hương bột, hương viên, hương thoa, người trì kinh Pháp hoa dù ở tại đây đều có thể phân biệt được.
Lại có thể biết mùi hương khác biệt của các chúng sinh như mùi của voi, ngựa, trâu bò, dê..., hương đàn ông, đàn bà, trẻ em trai gái; hương cỏ cây rừng rậm, hoặc gần hoặc xa, tất cả các loại mùi hương đều ngửi biết, phân biệt không sai lầm.
“Người trì kinh này tuy ở tại đây cũng ngửi được các mùi hương trên cõi trời, như hương cây ba-lợi-chất-đa-la, [90] cây câu-bệ-đà-la, [91] cùng hương các loại hoa như mạn-đà-la, đại mạn-đà-la, mạn-thù-sa, đại mạn-thù-sa; hương chiên-đàn, trầm thủy, các thứ hương bột, các loại hương hoa trộn lẫn... những thứ hương cõi trời như thế hòa hợp tỏa ra, không loại nào không ngửi biết.
“Lại ngửi được mùi hương trên thân của chư thiên, như hương của Thích Đề Hoàn Nhân [92] khi ngự trên Thắng điện, hoặc khi đang vui chơi thụ hưởng năm món dục; hoặc khi ở trên Diệu pháp đường vì chư thiên cõi trời Đao-lợi thuyết pháp; hoặc khi dạo chơi trong các khu vườn trời; cùng với mùi hương trên thân của chư thiên nam nữ khác, đều có thể từ xa ngửi được.
“Như thế dần lên đến chư thiên cõi Phạm thế, [93] lên trên đến cõi trời Hữu đỉnh, cũng đều ngửi được mùi hương trên thân chư thiên, cùng với mùi hương mà chư thiên đốt lên. Lại cũng từ xa ngửi được mùi hương trên thân của các vị Thanh văn, Duyên giác, Bồ Tát, chư Phật, biết được chư vị đang ở đâu.
“Tuy ngửi được đủ các thứ hương như vậy nhưng mũi không tổn hại, không nhầm lẫn, nếu muốn vì người khác phân biệt nói ra thì đều ghi nhớ không sai lầm.”
Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn lặp lại những ý nghĩa trên nên nói kệ rằng:
Phần nói về tị căn cũng giống như vậy. Lỗ mũi do cha mẹ sinh ra tức là nhục tị. Ngửi được khắp bên trong và bên ngoài thế giới đại thiên tức là thiên tị. Ngửi mùi mà không uế nhiễm, không dính mắc tức là tuệ tị. Ngửi mùi mà phân biệt không sai lầm tức là pháp tị. Cùng lúc có thể ngửi bằng các căn khác tức là Phật tị.
Phần này nêu rõ công dụng hỗ tương [giữa các căn]. Dùng mũi ngửi có thể biết tốt xấu, phân biệt được sang hèn, nhìn thấy cả cung điện cõi trời trang nghiêm, tức là mũi có công dụng như mắt; đối với người đọc kinh, thuyết pháp, ngửi mùi hương có thể rõ biết, tức là mũi có công dụng như tai; ngửi mùi hương biết được các loại cây, hoa, trái, hạt, tô du… tức là mũi có công dụng như lưỡi. “Chư thiên xuất, nhập thiền, ngửi hương đều rõ biết”, thiền có 8 loại xúc chạm, “khi hưởng năm món dục”, cũng là xúc pháp, nên mũi có công dụng như thân. Dùng mũi ngửi biết được “tâm tham dục, sân, si; cũng biết người tu thiện”, tức là mũi có công dụng như ý. Tị căn tự tại có công dụng thù thắng như vậy. Dựa theo đó thì biết năm căn khác cũng đều như vậy.
KINH VĂN
“Lại nữa, Thường Tinh Tấn! Nếu người thiện nam hoặc thiện nữ nào thọ trì kinh này, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc giảng giải, hoặc sao chép, sẽ được một ngàn hai trăm công đức của lưỡi. [Thức ăn dù] tốt hay xấu, ngon hay không ngon, hoặc đắng chát, khi chạm đến lưỡi của người ấy đều hóa thành vị ngon thượng hạng, như cam lộ cõi trời, không món nào là không ngon ngọt. Nếu dùng lưỡi ấy giảng thuyết giữa đại chúng sẽ phát ra âm thanh sâu xa vi diệu đi vào lòng người, khiến người nghe đều được vui mừng thích thú.
“Lại có chư thiên nam nữ, các vị Đế thích, Phạm vương… nghe âm thanh sâu xa vi diệu ấy giảng giải luận bàn có trình tự thứ lớp, thảy đều đến nghe.
“Lại có các loài rồng, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già cả nam lẫn nữ, vì nghe pháp nên đều tìm đến gần gũi cung kính cúng dường.
“Lại có các vị tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, quốc vương, thái tử, quần thần, quyến thuộc, Tiểu Chuyển luân vương, Đại Chuyển luân vương với đủ bảy báu, [95] một nghìn người con cùng nội ngoại quyến thuộc, ngồi trên các cỗ xe báu [96] cùng đến nghe pháp. Đó là do Bồ Tát [trì kinh Pháp hoa] này giỏi việc thuyết pháp.
“Người ấy lại được hàng bà-la-môn, cư sĩ, nhân dân trong nước thường trọn đời theo hầu hạ cúng dường. Các vị Thanh văn, Duyên giác, Bồ Tát, chư Phật thường muốn gặp vị ấy. Người ấy ở phương nào thì chư Phật đều hướng về nơi đó thuyết pháp; người ấy có thể thọ trì tất cả pháp Phật, lại có thể tự mình nói ra pháp âm sâu xa vi diệu.”
Khi ấy, đức Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa trên liền nói kệ rằng:
Phần nói về thiệt căn cũng giống như vậy. Lưỡi do cha mẹ sinh ra tức là nhục thiệt, có thể nói được các ngôn ngữ trong khắp mười pháp giới, dựa theo khả năng này thì phân biệt được năm loại lưỡi. Nếu có thể nói đủ các ngôn ngữ trong khắp mười pháp giới tức là thiên thiệt; không nói ra những lời gây tổn hại, hư hoại tức là tuệ thiệt; không nói những lời sai lầm tức là pháp thiệt; cùng lúc có thể dùng như các căn khác tức là Phật thiệt. Đại lược là như vậy.
Hỏi : Các vị đắng, chát, không tốt khi chạm đến lưỡi “đều hóa thành vị ngon thượng hạng”, tại sao các màu sắc khi mắt nhìn thấy lại không hóa thành những màu tốt đẹp?
Đáp : Các nhà cựu giải cho rằng so sánh như vậy không giống nhau. Mùi vị có tổn hại, có giúp ích; có tổn hại nên biến đổi khác đi, không tổn hại thì không biến đổi. Các màu sắc không làm tổn hại mắt, cho nên so sánh như vậy không giống nhau.
Nay không giải thích như vậy. Hết thảy màu sắc đều đồng như sắc Phật; hết thảy âm thanh đồng như âm thanh Phật, tất cả đều thanh tịnh bình đẳng như nhau thì ví dụ nêu ra đó không có gì chướng ngại. Rõ biết khắp thảy các pháp hình sắc, các pháp âm thanh mà không rối loạn, không sai lầm, dù phân biệt cũng không chướng ngại. Các căn đã được tự tại, há có thể giải thích theo cách cứng nhắc như trên được sao?
KINH VĂN
“Lại nữa, Thường Tinh Tấn! Nếu người thiện nam hoặc thiện nữ nào thọ trì kinh này, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc giảng giải, hoặc sao chép, sẽ được tám trăm công đức của thân, được thân thanh tịnh như lưu ly trong suốt, chúng sanh đều vui thích ngắm nhìn.
“Thân người ấy được thanh tịnh nên những việc như sinh ra, chết đi, cao thấp, tốt xấu, sinh về cõi lành, cõi xấu ác… của tất cả chúng sanh trong thế giới đại thiên, hết thảy đều [có hình ảnh] hiện ra trong thân [lưu ly trong suốt] ấy.
“Lại nữa, các núi như Thiết vi, Đại Thiết vi, Di-lâu, Đại Di-lâu… cùng những chúng sinh sống trong đó, hết thảy đều hiện ra trong thân ấy.
“Lại nữa, từ địa ngục A-tỳ ở bên dưới lên trên đến cõi trời Hữu đỉnh, hết thảy hình tượng cùng chúng sanh đều hiện ra trong thân ấy.
“Nếu có các vị Thanh văn, Duyên giác, Bồ Tát, chư Phật thuyết pháp, thì trong thân người ấy đều hiện đủ các hình sắc cảnh tượng.”
Khi ấy, đức Thế Tôn muốn lặp lại ý nghĩa trên nên nói kệ rằng:
Phần nói về thân căn cũng giống như vậy. Khắp thảy thế gian này đều hiện nhục thân trong thân để sử dụng. “Lên đến cõi Hữu đỉnh” là nói [chư thiên] cũng hiện thiên thân trong thân để sử dụng. Hàng Nhị thừa trong thân hiện tuệ thân để sử dụng. Bồ Tát trong thân hiện pháp thân để sử dụng. Chư Phật trong thân hiện Phật thân để sử dụng, cùng lúc hiện ra viên mãn, cùng lúc vận dụng thay thế các căn, cùng lúc không có sai lầm, cùng lúc không có dính mắc. Đại lược là như vậy.
KINH VĂN
“Lại nữa, Thường Tinh Tấn! Nếu người thiện nam hoặc thiện nữ nào thọ trì kinh này, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc giảng giải, hoặc sao chép, sẽ được một ngàn hai trăm công đức của ý. Với ý căn thanh tịnh này, dù chỉ nghe một bài kệ, một câu kinh cũng thấu hiểu thông suốt ý nghĩa vô lượng vô biên. Hiểu được ý nghĩa ấy rồi, có thể diễn giảng một bài kệ, một câu kinh đó trong một tháng, bốn tháng, thậm chí một năm; những pháp thuyết giảng đều thuận theo ý nghĩa, không trái với thật tướng.
“Nếu người ấy giảng giải kinh sách thế gian, nói về thuật xử thế hoặc nghề nghiệp sinh nhai… cũng đều phù hợp với chánh pháp.
“Tất cả những biến chuyển, động khởi, tạo tác, hý luận trong tâm của hết thảy chúng sanh sáu cõi trong thế giới đại thiên, người ấy đều rõ biết. Người ấy tuy chưa đạt được trí tuệ vô lậu nhưng nhờ ý căn thanh tịnh như vậy nên mọi tư tưởng suy lường, nói năng đều là pháp Phật, tất cả đều chân thật, cũng đều là những điều chư Phật trước đây đã thuyết dạy trong kinh điển.”
Khi ấy, đức Thế Tôn muốn lặp lại ý nghĩa trên nên nói kệ rằng:
Phần nói về ý căn cũng giống như vậy. Người thế gian theo “nghề nghiệp sinh nhai… cũng đều phù hợp với chánh pháp” là nhân ý thanh tịnh; “biến chuyển, động khởi, tạo tác, hý luận trong tâm… đều rõ biết” là thiên ý thanh tịnh.
“Bốn tháng” tức là Tứ đế; “một năm” có 12 tháng, tức là nói 12 nhân duyên; “không trái với thật tướng” tức là tuệ ý thanh tịnh; “một tháng” tức là Nhất thừa, tức là Bồ Tát ý thanh tịnh; “tư tưởng suy lường… đều là những điều chư Phật trước đây đã thuyết dạy trong kinh điển” tức là Phật ý thanh tịnh, cùng lúc sáng suốt viên mãn, cùng lúc vận dụng qua lại trọn vẹn với các căn, cùng lúc không uế nhiễm, không sai lầm, công dụng các căn đều tự tại, có thể đầy, có thể khuyết, có thể bình đẳng, thanh tịnh. Đại lược là như vậy.
20. Giải thích phẩm Bồ Tát Thường Bất Khinh
KINH VĂN
Phẩm Bồ Tát Thường Bất Khinh, thứ hai mươi.
Giải thích tên phẩm
[Bất khinh nghĩa là không khinh thường, xem nhẹ.] Trong tâm thường hiểu nên bất khinh; bên ngoài cung kính cảnh nên bất khinh; thân thực hành công hạnh bất khinh; miệng nói lời dạy người bất khinh; người đời gọi tên là Bất Khinh.
Về ý nghĩa “hiểu nên bất khinh”, luận Pháp hoa nói rằng: “Vị Bồ Tát này rõ biết chúng sanh đều có tánh Phật nên không dám khinh thường.”
Tánh Phật có 5 loại. Tánh Phật chánh nhân thông suốt từ bản nguyên xa xưa đến ngày nay; tánh Phật duyên nhân và tánh Phật liễu nhân là chủng tử vốn sẵn có, không phải ngày nay mới có. Tánh Phật quả và tánh Phật quả quả là [chúng sanh] nhất định đều sẽ được, quyết không hư dối. Đây gọi là “nhận hiểu nên bất khinh”.
Dùng sự nhận hiểu như trên mà ứng xử với người khác, [biết rằng] họ cũng đều [có đủ tánh Phật] như vậy. Đây gọi là bên ngoài “cung kính cảnh nên bất khinh”.
Vì cung kính người ngoài như vậy, cho nên gọi là “công hạnh bất khinh”. Nói rõ điều này cho người khác biết nên gọi là “dạy người bất khinh”.
Thuở xưa, những kẻ hủy báng dựa theo việc này để gọi tên người, ngày nay những vị chép kinh dựa theo việc này để gọi tên phẩm kinh.
Kinh Kiến thật Tam-muội [98] nói: “Đức Phật vì phụ vương mà nói: ‘Hết thảy đều là Phật.’ Vua hỏi: ‘Hết thảy chúng sanh tức là Phật sao?’ Đức Phật đáp: ‘Nếu đúng như thật nhìn thấy chúng sanh, ngay nơi đó tức là Phật.’”
Riêng tôi cho rằng, suy theo câu này thì nếu không đúng như thật nhìn thấy Phật, ngay nơi đó tức không phải là bậc thánh.
Ví như người mới học bắn tên, nhắm bắn vào đích thì đa phần bắn trật, ít khi trúng; nếu lấy mặt đất làm đích bắn thì không có mũi tên nào lại không trúng. [Cũng vậy,] nếu [lấy mục tiêu là] phân biệt hiền thánh thì phải rõ biết ai đúng, ai sai, [rất dễ nhầm lẫn]; nhưng nếu quán xét như thật thì ngay nơi đó [tất cả đều] là Phật.
Phần trước là giải thích theo nhân duyên, phần sau là giải thích theo Viên giáo. Đại lược là như vậy.
Phẩm này dẫn người làm chứng, chứng minh 5 hạng người [thọ trì kinh Pháp hoa] có công đức sâu dày, phước báo của sáu căn rất lớn. [Đức Phật dạy:] “Thuở xưa ta tùy hỷ [với kinh Pháp hoa], nên được phước báo hiện đời và đời sau.” Đó là để khuyến khích, thúc đẩy sự lưu thông kinh điển.
KINH VĂN
Lúc bấy giờ, đức Phật bảo Bồ Tát Đắc Đại Thế: [99] “Ông nên biết rằng, nếu có tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di nào thọ trì kinh Pháp hoa mà bị người khác dùng lời ác độc mắng chửi, hủy báng, thì kẻ đó sẽ bị tội báo nặng nề như đã nói ở trước, còn công đức của người trì kinh thì như ta vừa nói, sẽ được mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý thanh tịnh.”
Kinh văn phẩm này có cả trường hàng và kệ tụng. Phần kinh văn trường hàng chia làm 3 tổng đoạn. Tổng đoạn thứ nhất nêu hai ý, chỉ rõ cả tội và phước đã nói ở phẩm trước. Tổng đoạn thứ hai nêu hai ý, mở bày cả sự tin nhận và sự hủy báng trong phẩm này. Tổng đoạn thứ ba nêu hai ý, khuyên dạy cả hai hướng thuận và nghịch ở phẩm sau.
[Tổng đoạn thứ nhất] nêu hai ý chỉ rõ. Trước chỉ rõ tội báo, như đã nói trong phẩm Pháp sư. Tiếp theo chỉ rõ phước báo, như trong phẩm Công đức [pháp sư] đã nói. Phần này y theo kinh văn có thể hiểu được.
KINH VĂN
“Này Đắc Đại Thế! Thuở xa xưa, cách đây vô lượng vô biên không thể nghĩ bàn a-tăng-kỳ kiếp, có đức Phật hiệu là Oai Âm Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Kiếp đó tên Ly Suy, cõi nước tên Đại Thành, đức Phật Oai Âm Vương ở giữa cõi đời ấy vì hàng trời, người, a-tu-la thuyết pháp: Vì những người cầu Thanh văn nói pháp Tứ đế để thoát khỏi sinh già bệnh chết, đạt đến Niết-bàn; vì những người cầu Duyên giác nói pháp Thập nhị nhân duyên; vì các Bồ Tát gieo nhân Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác nên nói pháp sáu ba-la-mật để rốt ráo được trí tuệ Phật.
“Này Đắc Đại Thế! Đức Phật Oai Âm Vương sống thọ qua số kiếp bằng số cát của bốn mươi muôn ức na-do-tha con sông Hằng; Chánh pháp trụ thế số kiếp bằng số hạt bụi nhỏ của một cõi Diêm-phù-đề; Tượng pháp trụ thế số kiếp bằng số hạt bụi nhỏ của một cõi Tứ thiên hạ. Đức Phật ấy làm lợi ích cho hết thảy chúng sinh, rồi sau đó diệt độ. Sau khi Chánh pháp và Tượng pháp diệt hết, trong cõi nước đó lại có Phật ra đời, cũng hiệu là Oai Âm Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Lần lượt tiếp nối ra đời hai muôn ức đức Phật đều cùng một danh hiệu như vậy.
“Khi đức Phật Oai Âm Vương đầu tiên đã diệt độ, [100] chánh pháp diệt mất. Trong thời gian tượng pháp, các tỳ-kheo tăng thượng mạn có thế lực lớn. Bấy giờ, có vị tỳ-kheo Bồ Tát tên là Thường Bất Khinh.”
Tổng đoạn thứ hai [gồm 3 đoạn], nêu hai ý mở bày cả sự tin nhận và sự hủy báng. Phần này nêu nguồn gốc sự việc và kể lại chuyện tiền thân của Phật. [101]
[Đoạn thứ nhất] nêu nguồn gốc sự việc thì nêu rõ thời gian, danh hiệu, tên thời đại, tên nước, việc thuyết pháp v.v. Tất cả đều y theo kinh văn có thể hiểu được.
[Đoạn thứ hai] từ câu “Khi đức Phật Oai Âm Vương đầu tiên” trở đi, kể chuyện tiền thân Phật, lại chia làm 3 tiểu đoạn. Thứ nhất, nói rõ về thời gian. Thứ hai, từ câu “trong thời gian tượng pháp” trở đi, nêu cả hai danh xưng để gọi người. Những kẻ hủy báng thời ấy được gọi là tăng thượng mạn, người tin nhận được gọi là Thường Bất Khinh.
KINH VĂN
“Này Đắc Đại Thế! Do nhân duyên gì vị ấy có tên gọi là Thường Bất Khinh? Vì vị tỳ-kheo này mỗi khi gặp các vị tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di đều lễ bái ngợi khen xưng tán rằng: ‘Tôi hết sức cung kính các ngài, không dám khinh thường. Vì sao vậy? Các ngài đều thực hành đạo Bồ Tát, đều sẽ thành Phật.’
“Nhưng vị tỳ-kheo này không chuyên tụng đọc kinh điển, chỉ thực hành việc lễ bái; thậm chí khi từ xa nhìn thấy bốn chúng cũng cố đến gần để lễ bái, ngợi khen xưng tán rằng: ‘Tôi không dám khinh thường, các ngài đều sẽ thành Phật.’
Đoạn thứ ba từ câu “Này Đắc Đại Thế! Do nhân duyên gì…” trở đi, nêu cả hai ý được và mất, lại chia thành 2 tiểu đoạn.
Tiểu đoạn thứ nhất nêu những chỗ được của người tin nhận. [Đó là] được tông chỉ rộng lớn của phần chính thuyết và được lợi ích vi diệu của phần lưu thông.
“Có tên gọi Thường Bất Khinh” là nhân nhất; “mỗi khi gặp các vị…” là lý nhất; “đều lễ bái ngợi khen xưng tán” là hành nhất; “và nói rằng” là giáo nhất. Đây chính là tứ nhất trong giáo pháp “khai quyền hiển thật”. [102]
Từ câu “thậm chí khi từ xa nhìn thấy” trở đi là căn bản lý nhất; “cũng cố đến gần lễ bái” là căn bản hành nhất; “và nói rằng” là căn bản giáo nhất; thiếu phần nhân nhất, nhưng nghĩa này có thể hiểu được. Đây chính là tứ nhất trong phần giáo pháp “khai cận hiển viễn”. [103]
Kinh văn nói “không chuyên tụng đọc kinh điển, chỉ thực hành việc lễ bái”, đây là địa vị của người ban sơ khởi tâm tùy hỷ. Tùy hỷ vì hết thảy các pháp đều có tính an vui, đều là một tướng thật. Tùy hỷ vì hết thảy mọi người đều có ba loại tánh Phật. “Tụng đọc kinh điển” là tánh Phật liễu nhân; “đều thực hành đạo Bồ Tát” là tánh Phật duyên nhân; “không dám khinh thường” lại “hết sức cung kính” là tánh Phật chánh nhân.
Cung kính người, cung kính pháp, không khởi tâm tranh giành, đó là ý nghĩa tùy hỷ. Không khinh thường, kính trọng sâu xa là ngồi tòa Như Lai; nhẫn nhục với sự đánh đập, mắng chửi là đắp y Như Lai; giữ tâm từ bi thường hành trì không bỏ tức là vào nhà Như Lai.
Lại nữa, “hết sức cung kính” là nghiệp của ý; nói “không dám khinh thường” là nghiệp của miệng; “cố đến gần lễ bái” là nghiệp của thân. Ba nghiệp này đều kết hợp với tâm từ bi, tức là hạnh an vui thệ nguyện. Ba nghiệp, bốn hạnh [104] như vậy, nếu không phải lợi ích nhiệm mầu của sự lưu thông [kinh điển] thì phải gọi là gì?
KINH VĂN
“Trong bốn chúng có những người giận dữ, khởi tâm không thanh tịnh, dùng lời độc ác mắng nhiếc rằng: ‘Tỳ-kheo ngu si này từ đâu đến? Tự nhiên lại nói “tôi không khinh thường các ông” rồi thụ ký chúng ta sẽ thành Phật. Chúng ta không cần sự thụ ký hư dối này.’
“Trải qua nhiều năm như vậy, vị ấy thường bị chửi mắng [105] vẫn không sân hận, luôn nói rằng: ‘Các ngài sẽ thành Phật.’ Khi nói như vậy, thường bị những người khác dùng gậy đuổi đánh, dùng ngói đá ném, vị ấy liền chạy tránh ra xa rồi dừng lại, vẫn lớn tiếng nói: ‘Tôi không dám khinh thường, các ngài đều sẽ thành Phật.’ Vì thường nói như vậy nên những tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di tăng thượng mạn đặt tên vị ấy là Thường Bất Khinh.
Tiểu đoạn thứ hai từ câu “Trong bốn chúng có những người…” trở đi, nêu những chỗ mất của người hủy báng. “Giận dữ, khởi tâm không thanh tịnh” là không thọ nhận tứ nhất. “Mắng nhiếc rằng: ‘Tỳ-kheo ngu si’” tức là nói không có trí tuệ. Trí tuệ rõ biết lý tánh, đã nói không có trí tuệ tức là không thọ nhận lý nhất. Mắng nhiếc tỳ-kheo là không thọ nhận nhân nhất. Hỏi “từ đâu đến” tức là không thọ nhận hành nhất. “Không cần sự thụ ký hư dối” là không thọ nhận giáo nhất. “Trải qua nhiều năm như vậy, vị ấy thường bị chửi mắng” là kết lại những người này không thọ nhận tứ nhất trong phần giáo pháp “khai quyền hiển thật”.
“Chạy tránh ra xa rồi dừng lại, vẫn lớn tiếng nói” cũng là nghĩa không thọ nhận. Đây là nói không thọ nhận tứ nhất của bản địa [106] trong giáo pháp “khai cận hiển viễn”.
“Thường nói như vậy” là kết ý người tin nhận vẫn tin sâu không dứt. Bốn chúng “đặt tên vị ấy là Thường Bất Khinh” là kết ý người hủy báng vẫn không ngừng hủy báng.
Hỏi : Đức Thích-ca ra đời còn do dự chưa thuyết dạy [về tánh Phật], Bồ Tát Thường Bất Khinh chỉ vừa mới gặp một lần đã hấp tấp nói ra điều đó là sao?
Đáp : Vì [thính chúng] vốn đã có chút ít căn lành, cho nên đức Thích-ca tạm dùng Tiểu thừa để dẫn dắt giúp đỡ. [Đối với thính chúng] vốn chưa có căn lành, Bồ Tát Thường Bất Khinh mới dùng thẳng Đại thừa để mạnh mẽ đối trị. Đại lược là như vậy.
KINH VĂN
“Khi vị tỳ-kheo ấy sắp qua đời, từ trên không trung được nghe đủ hai mươi ngàn muôn ức bài kệ trong kinh Pháp hoa mà Phật Oai Âm Vương đã thuyết giảng trước đây, có thể thọ trì được tất cả, liền đạt được nhãn căn thanh tịnh, nhĩ căn, tị căn, thiệt căn, thân căn, ý căn đều thanh tịnh như trước đã nói. Đạt được sáu căn thanh tịnh rồi, lại tăng thêm tuổi thọ đến hai trăm muôn ức na-do-tha tuổi, rộng vì người khác thuyết giảng kinh Pháp hoa này.
“Khi ấy, những người tăng thượng mạn trong bốn chúng: tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, trước đây khinh thường vị tỳ-kheo ấy, đã đặt tên là Bất Khinh, nay thấy vị ấy đạt được sức đại thần thông, sức biện tài nhạo thuyết, sức tịch tịnh an định, được nghe thuyết giảng liền tin phục theo học.
“Bồ Tát ấy giáo hóa ngàn muôn ức chúng sanh, khiến cho trụ trong đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Sau khi qua đời, [lại lần lượt tái sinh] được gặp hai ngàn ức vị Phật, đồng một danh hiệu là Nhật Nguyệt Đăng Minh, ở trong pháp hội của chư Phật ấy thuyết giảng kinh Pháp hoa này.
“Do nhân duyên ấy, lại được gặp hai ngàn ức vị Phật, đồng một danh hiệu là Vân Tự Tại Đăng Vương, ở trong pháp hội của chư Phật ấy cũng thọ trì, tụng đọc, vì bốn chúng mà thuyết giảng kinh này, nên thường được nhãn căn, nhĩ căn, tị căn, thiệt căn, thân căn, ý căn thanh tịnh, thuyết pháp giữa bốn chúng với tâm không sợ sệt.
“Này Đắc Đại Thế! Đại Bồ Tát Thường Bất Khinh ấy, cúng dường biết bao nhiêu đức Phật như thế, cung kính, tôn trọng, ngợi khen xưng tán, gieo trồng các căn lành, về sau lại được gặp ngàn muôn ức đức Phật, lại cũng ở trong pháp hội của chư Phật ấy thuyết giảng kinh điển này, thành tựu công đức, liền được thành Phật.”
Tổng đoạn thứ ba từ câu “Khi vị tỳ-kheo ấy sắp qua đời” trở đi, [gồm 2 đoạn] nêu cả hai ý về quả báo của người tin nhận và kẻ hủy báng.
Đoạn thứ nhất chia làm 2 tiểu đoạn. Thứ nhất là nêu quả báo; thứ hai là tóm kết nêu việc xưa và nay.
Tiểu đoạn thứ nhất luận về người tin nhận, có 3 loại quả báo. Thứ nhất là ngay đời này được sáu căn thanh tịnh; thứ hai là tái sinh được gặp đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh; thứ ba là về sau còn được gặp 2.000 ức vị Phật.
“Sức đại thần thông” là thân nghiệp thanh tịnh; “sức biện tài nhạo thuyết” là khẩu nghiệp thanh tịnh; “sức tịch tịnh an định” là ý nghiệp thanh tịnh. Đại lược là như thế.
KINH VĂN
“Đắc Đại Thế! Ý ông nghĩ sao? Bồ Tát Thường Bất Khinh thuở ấy nào phải ai khác, chính là ta đó. Nếu như đời trước ta không thọ trì, tụng đọc kinh này, vì người khác giảng nói, thì không thể nhanh chóng thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Ta ở đạo tràng của chư Phật trước đây thọ trì tụng đọc kinh này, vì người khác giảng nói, cho nên mới nhanh chóng thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.”
Tiểu đoạn thứ hai tóm kết, có 2 phân đoạn.
Phân đoạn thứ nhất nêu việc tóm kết, y theo kinh văn hiểu được.
Phân đoạn thứ hai từ câu “Nếu như đời trước ta không...” trở đi, nêu việc tin nhận để khuyến khích thuận theo, y theo kinh văn có thể hiểu được.
KINH VĂN
“Đắc Đại Thế! Bốn chúng tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di thuở xưa, khởi ý sân hận mà khinh thường ta nên trong hai trăm ức kiếp thường không được gặp Phật, không được nghe pháp, không được gặp tăng, ngàn kiếp ở trong địa ngục A-tỳ chịu những khổ não lớn lao. Khi tội nghiệp đã hết, được gặp lại Bồ Tát Thường Bất Khinh, giáo hóa theo đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Đoạn thứ hai từ câu “Đắc Đại Thế! Bốn chúng tỳ-kheo...” trở đi nêu quả báo của kẻ hủy báng, chia ra làm 2 tiểu đoạn. Thứ nhất nêu việc chịu quả báo; thứ hai tóm kết, nêu việc xưa và nay.
Tiểu đoạn thứ nhất nêu việc kẻ hủy báng nhận cả 2 loại quả báo thiện và ác. Vì chê bai nên chịu quả báo rơi vào đường ác. Được nghe nói về tánh Phật nên nhờ sức của trống độc [107] mà nhận quả báo thiện.
KINH VĂN
“Đắc Đại Thế! Ý ông nghĩ sao? Bốn chúng thuở xưa khinh chê vị Bồ Tát ấy nào phải ai khác, chính là những người nay đang ở trong pháp hội này. Đó là nhóm ông Bạt-đà-la năm trăm Bồ Tát, nhóm ông Sư Tử Nguyệt năm trăm tỳ-kheo, nhóm ông Ni-tư-phật năm trăm ưu-bà-tắc, [108] đều được bất thối chuyển đối với Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
“Đắc Đại Thế! Nên biết rằng kinh Pháp hoa này làm lợi ích lớn lao cho các vị Đại Bồ Tát, có thể giúp đạt đến quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Cho nên sau khi Như Lai diệt độ, các Đại Bồ Tát nên thường thọ trì, tụng, đọc, giảng nói, sao chép kinh này.”
Tiểu đoạn thứ hai tóm kết nêu việc xưa nay, lại chia thành 2 phân đoạn. Phân đoạn thứ nhất tóm kết nêu việc xưa nay. Phân đoạn thứ hai từ câu “Đắc Đại Thế! Nên biết rằng…” trở đi là nêu việc nghịch để làm rõ việc thuận theo, khuyên thọ trì [kinh điển] để ngăn chặn sự hủy báng. Kinh này có sức mạnh lớn lao nên chiêu cảm được quả lớn lao, quan trọng là phải chuyên cần tu tập 5 loại thực hành. [109]
KINH VĂN
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn muốn lặp lại ý nghĩa trên nên nói kệ rằng:
Phần kệ tụng này có 19 khổ rưỡi kệ, chia làm 2 đoạn.
Đoạn thứ nhất có 15 khổ rưỡi, chỉ tụng về nhân quả của người tin nhận và kẻ hủy báng.
Đoạn thứ hai có 4 khổ kệ, tụng nghĩa khuyến khích thọ trì [kinh này]. Y theo kinh văn có thể hiểu rõ, không cần phải phân chia chi tiết.
“Đều bám chấp nơi pháp” là nói pháp không thể chỉ bày, nếu cố chấp nói là “có” tức là bám chấp nơi pháp; thậm chí cố chấp cho là chẳng phải có chẳng phải không cũng gọi là bám chấp nơi pháp. Kinh Phật tạng nói: “Dùng vòng đao giết hại hết người trong cõi Diêm-phù-đề, tội ấy cũng còn nhỏ nếu so với người dùng tâm bám chấp sở đắc mà thuyết giảng pháp Đại thừa, tội này lớn hơn.” [110] Đại lược là như vậy.
Luận Đại trí độ nói: “Kẻ chấp có cùng người chấp không tranh luận nhau, hoặc thậm chí người chấp chẳng phải có chẳng phải không tranh luận với người chấp có chấp không. [Tất cả đều] như [buộc quấn bằng] da bò, dây cỏ râu rồng, [111] không tránh khỏi tai họa.”
Trung luận nói:
Nếu nói nhất định rằng các pháp ‘chẳng phải có chẳng phải không’ thì gọi là luận giải ngu si.”
Nếu để mất đi ý chỉ của bốn pháp tất đàn thì dù tự mình thực hành hay giáo hóa người khác cũng đều là bám chấp pháp. Nếu đạt được ý chỉ của bốn pháp tất đàn thì dù đối với tự thân mình hay người khác đều không còn bám chấp.
21. Giải thích phẩm Thần lực Như Lai
KINH VĂN
Phẩm Thần lực Như Lai, thứ hai mươi mốt
Giải thích tên phẩm
[Về ý nghĩa] Như Lai, phần trước đã giải thích. Về thần lực, “thần” nghĩa là không thể đo lường, “lực” nghĩa là có tài năng công dụng. Không thể đo lường nên thể tánh tự nhiên thâm sâu; có tài năng công dụng nên sức chuyển biến lớn lao. Trong phẩm này, vì sự giao phó giáo pháp thâm sâu mà [đức Phật] hiện ra 10 loại thần lực lớn lao, cho nên gọi là phẩm Thần lực Như Lai.
Từ phẩm này về cuối có 8 phẩm, đều là để giao phó việc lưu thông kinh này. Phẩm này nêu việc Bồ Tát nhận lãnh sứ mệnh hoằng truyền kinh điển. Phẩm tiếp theo nói việc đức Như Lai xoa đầu giao phó về sau.
Kinh văn phẩm này có hai phần, trường hàng và kệ tụng. Phần trường hàng chia làm 3 tổng đoạn. Tổng đoạn thứ nhất nêu việc Bồ Tát nhận lãnh sứ mệnh. Tổng đoạn thứ hai nói việc đức Phật hiện thần lực. Tổng đoạn thứ ba tóm kết ý nghĩa cốt yếu, khuyến khích thọ trì kinh này.
KINH VĂN
Lúc bấy giờ, những vị Đại Bồ Tát đã từ lòng đất phóng vọt lên, nhiều như số hạt bụi nhỏ trong ngàn thế giới, đều ở trước Phật một lòng chắp tay chiêm ngưỡng tôn nhan, rồi cung kính thưa rằng: “Bạch Thế Tôn! Sau khi Phật diệt độ, chúng con ở những cõi nước mà phân thân của Thế Tôn đã diệt độ sẽ rộng thuyết kinh Pháp hoa này. Vì sao vậy? Vì chúng con tự mình cũng muốn có được giáo pháp Đại thừa chân thật thanh tịnh này để thọ trì, tụng đọc, giảng thu-yết, sao chép mà cúng dường.”
Tổng đoạn thứ nhất [có 2 đoạn].
Đoạn thứ nhất là lời người chép kinh, mô tả oai nghi cung kính [của đại chúng].
Đoạn thứ hai nêu việc phát lời thệ nguyện hoằng truyền kinh điển, chia làm 3 tiểu đoạn.
Tiểu đoạn thứ nhất nêu thời gian, là nói sau khi Phật diệt độ.
Tiểu đoạn thứ hai nói về nơi chốn, là nói những cõi nước có phân thân của Phật.
Tiểu đoạn thứ ba nêu thệ nguyện, không chỉ là vâng lời Phật dạy làm lợi ích chúng sanh, mà cũng tự mình mong muốn có được giáo pháp thanh tịnh chân thật lớn lao này, tức là giúp phần lợi ích tốt đẹp cho cả đôi bên.
KINH VĂN
Khi ấy, đức Thế Tôn ở trước vô số trăm ngàn muôn ức các vị Đại Bồ Tát từ lâu đã ở nơi cõi Ta-bà này như các vị Văn-thù-sư-lợi… cùng các vị tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, trời, rồng, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, người và phi nhân..., trước tất cả đại chúng như vậy hiện sức thần thông lớn, hiển bày tướng lưỡi rộng dài [113] lên đến tận cõi trời Phạm thế; mỗi một lỗ chân lông trên thân Phật đều phóng ra vô lượng vô số các đạo hào quang có màu sắc, soi chiếu khắp các thế giới mười phương. Chư Phật [phân thân] ngồi trên tòa sư tử dưới các cội cây báu cũng đều hiện tướng lưỡi rộng dài và phóng vô lượng hào quang như vậy.
Đức Phật Thích-ca Mâu-ni cùng chư Phật phân thân ngồi trên tòa sư tử dưới các cội cây báu hiện sức thần thông như vậy, trải qua thời gian đủ trăm ngàn năm rồi mới thu hồi tướng lưỡi rộng dài. Cùng lúc ấy, chư Phật đều hắng giọng và khảy móng tay, hai âm thanh ấy liền vang đến khắp các thế giới của chư Phật trong mười phương, các cõi đất đều chấn động theo sáu cách, hết thảy chúng sanh trong các thế giới ấy như trời, rồng, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, người và phi nhân… nhờ oai thần của Phật nên đều nhìn thấy được thế giới Ta-bà này với vô lượng vô biên ngàn muôn ức chư Phật ngồi trên tòa sư tử dưới các cội cây báu, lại cũng thấy đức Phật Thích-ca Mâu-ni và đức Như Lai Đa Bảo trong tháp báu cùng ngồi trên tòa sư tử;
lại thấy có vô lượng vô biên trăm ngàn muôn ức Đại Bồ Tát cùng bốn chúng cung kính vây quanh đức Phật Thích-ca Mâu-ni.
Chúng sanh được thấy như vậy rồi, tất cả đều hết sức vui mừng, cho là việc chưa từng có.
Ngay lúc đó, chư thiên giữa không trung [ở những thế giới ấy] cất tiếng nói lớn rằng: “Cách đây vô lượng vô biên trăm ngàn muôn ức a-tăng-kỳ thế giới, có thế giới tên là Ta-bà, ở đó có đức Phật hiệu là Thích-ca Mâu-ni, hiện nay đang vì các Đại Bồ Tát mà thuyết giảng kinh Đại thừa tên là Diệu Pháp Liên Hoa, Giáo Bồ Tát Pháp, Phật Sở Hộ Niệm. Các người nên phát tâm tùy hỷ sâu xa và cũng nên lễ bái, cúng dường đức Phật Thích-ca Mâu-ni.”
Những chúng sanh được nghe tiếng nói giữa không trung như vậy rồi, đều cung kính chắp tay hướng về thế giới Ta-bà, cùng niệm lớn: “Nam-mô Thích-ca Mâu-ni Phật! Nam-mô Thích-ca Mâu-ni Phật!” Rồi họ dùng đủ mọi loại hương, hoa, chuỗi ngọc, lọng che, cờ phướn cùng những thứ trang nghiêm trên thân, châu báu, vật quý đẹp, cùng nhau ở từ xa tung rải về thế giới Ta-bà. Những vật được tung rải từ khắp mười phương đó liền tụ lại như mây, hóa thành một tấm màn báu che trùm khắp không gian bên trên chư Phật. Bấy giờ, các thế giới trong mười phương liền trở nên thông suốt không ngăn ngại, giống như một cõi Phật.”
Tổng đoạn thứ hai từ câu “Khi ấy, đức Thế Tôn…” trở đi, [đức Phật] hiện ra mười thần lực. Phần này chia làm 2 đoạn. u Đoạn thứ nhất mô tả hội chúng đang ở trước Phật. Đoạn thứ hai nói việc chính thức hiện thần lực. “Như các vị Văn-thù-sư-lợi…” là nói chung về những vị được giáo hóa từ xa xưa. “Từ lâu đã ở nơi cõi Ta-bà này”, tức là các Bồ Tát ở phương dưới vốn đã được giáo hóa từ bản nguyên xa xưa. “Tất cả đại chúng như vậy” là chỉ chung những Bồ Tát từ các phương khác đến, cùng với những Bồ Tát đi theo chư Phật phân thân cùng đến.
Hỏi : Vì sao chỉ thấy các Bồ Tát ở phương dưới phát khởi thệ nguyện, không thấy các Bồ Tát như Văn-thù… phát nguyện?
Đáp : Kinh văn phần trước đã nói rằng: “Thế giới Ta-bà của ta đã sẵn có những Bồ Tát… …sẽ bảo vệ giữ gìn, tụng đọc, giảng rộng kinh này.” Tức là đã bao hàm ý nghĩa phát nguyện này rồi.
Đoạn thứ hai nêu mười thần lực như sau:
– Thứ nhất, “hiển bày tướng lưỡi rộng dài”. Sự giảng giải trong kinh Pháp hoa này là trừ bỏ ba thừa [phương tiện], hiển lộ Nhất thừa, [chỉ rõ việc chư Bồ Tát] trong giấu [hạnh Bồ Tát], ngoài hiện [tướng Thanh văn], bác bỏ [hình tích thị hiện thành đạo] gần đây để hiển lộ [bản nguyên chân thật đã thành đạo từ] xa xưa, nêu rõ lợi ích chúng sanh trong ba đời, tất cả đều chân thật không hư dối. Người thế gian có phước đức thì lưỡi thè ra chạm lên đến mũi. Đức Phật [thuyết giáo pháp] Tam tạng [thì hiện tướng] lưỡi chạm đến mép tóc, nay “lên đến tận cõi trời Phạm thế” là vượt ngoài các cõi phàm, thánh, đến tận đỉnh các cõi Tịnh thiên. Tướng này đã hết sức lạ thường nên lời [Phật sắp] nói ra càng thêm đáng tin nhận.
– Thứ hai, “mỗi một lỗ chân lông trên thân Phật đều phóng ra vô lượng vô số các đạo hào quang có màu sắc, soi chiếu khắp các thế giới mười phương”. Soi chiếu khắp mười phương, không nơi nào không sáng tỏ, tức là biểu thị cảnh giới trí tuệ đã rỗng rang cùng tột. Kinh văn phần trước nói hào quang từ tướng bạch hào [của Phật] vừa chiếu đến phương đông, biểu hiện cho bảy hạng phương tiện lần đầu tiên được gặp lý Nhất thừa. Nay [phần thuyết pháp] bản môn đã xong, nên phóng chiếu hết thảy hào quang, so chiếu hết thảy các cõi, có thể giúp cho chúng sanh từ hàng sơ tâm đến bậc Đẳng giác đều đạt đến trí tuệ Phật rốt ráo. Chư Phật phân thân lại cũng [hiện thần lực] giống như vậy.
– Thứ ba, “chư Phật đều hắng giọng” là tướng trạng chuẩn bị nói ra, cũng là biểu hiện của sự thông suốt. Hơn 40 năm ẩn kín sự chân thật, nay được mở bày ra trọn vẹn không còn gì giữ lại. Đây là lúc đại sự xuất thế của Như Lai đã được thông suốt, cho nên hắng giọng là muốn đem giáo pháp này giao phó cho các Bồ Tát, khiến cho dẫn dắt chúng sanh đời sau để được lợi ích. Sắp nói ra việc ấy cho nên hắng giọng. Hắng giọng có đủ 2 nghĩa. Thứ nhất là hắng giọng vì việc [giáo hóa] đã hoàn tất; thứ hai là hắng giọng để giao phó cho các Bồ Tát.
– Thứ tư, “khảy móng tay” tức là tùy hỷ. Tùy hỷ việc bảy hạng phương tiện đều được vào đạo viên mãn; tùy hỷ đạo viên mãn tăng trưởng trí tuệ, giảm trừ sinh tử; tùy hỷ các Bồ Tát giữ gìn giáo pháp Đại thừa chân thật thanh tịnh; tùy hỷ [chúng sanh] đời sau được [giáo pháp] quý báu không gì hơn. Một tiếng khảy móng tay này xuyên suốt ba đời, vang khắp mười phương.
– Thứ năm, “các cõi đất đều chấn động theo sáu cách”, biểu thị từ hàng sơ phát tâm đến tâm sau cùng trước khi thành đạo có sáu phen làm rúng động vô minh, nay nêu việc cũng rúng động sáu căn của hết thảy chúng sanh, khiến cho được thanh tịnh.
– Thứ sáu, [hết thảy chúng sanh] “nhờ oai thần của Phật nên đều nhìn thấy được” toàn bộ quang cảnh đại hội, biểu thị ý nghĩa đạo của chư Phật đều đồng như nhau, ngày nay ngày sau cũng đều như vậy. [Trong kinh văn] phần trước nói năm ngàn người bỏ đi, lại có ba lần Phật biến hiện di chuyển [người ngoài đại hội sang cõi khác, [114] đó là những người] đã để mất bản tâm, không thể được lợi ích trong hiện tại, nên [Phật vì họ] mà không diệt độ nhưng thị hiện diệt độ, khiến cho họ đi theo các Bồ Tát hoằng truyền kinh này mà được đạo, thể nhập trí tuệ Phật, cũng như trong pháp hội ngày nay không khác; lại cũng biểu thị trong tương lai sẽ có “cơ nhất”. [115]
– Thứ bảy, “chư thiên giữa không trung… cất tiếng nói lớn”, biểu thị trong tương lai sẽ có “giáo nhất”. [116]
– Thứ tám, [chúng sanh] đều niệm “Nam-mô”, có nghĩa là “quy mạng”, quay về nương tựa, làm đệ tử Phật, biểu thị trong tương lai sẽ có “nhân nhất”. [117]
– Thứ chín, “từ xa tung rải” các vật cúng dường, tất cả đều bay đến tụ lại như mây, biểu thị trong tương lai sẽ có “hành nhất”. [118]
– Thứ mười, “thế giới trong mười phương liền trở nên thông suốt không ngăn ngại, giống như một cõi Phật”, biểu thị “lý nhất”. [119]
Hỏi : Vì sao biết rằng mười tướng ấy biểu thị ý nghĩa trong hiện tại, lại cũng biểu thị ý nghĩa trong tương lai?
Đáp : Kinh văn nói: “Nếu ta vì sự giao phó ủy thác mà dùng sức thần thông như vậy trong vô lượng vô biên trăm ngàn muôn ức a-tăng-kỳ kiếp nói về công đức của kinh này, cũng không thể nói hết được.” Ý nghĩa biểu thị hiện tại và biểu thị tương lai là rất rõ ràng.
KINH VĂN
Khi ấy, đức Phật bảo đại chúng các vị Bồ Tát cùng đi với ngài Thượng Hạnh: [120] “Sức thần thông của chư Phật là như vậy, vô lượng vô biên, không thể suy lường, nhưng nếu ta vì sự giao phó ủy thác mà dùng sức thần thông như vậy trong vô lượng vô biên trăm ngàn muôn ức a-tăng-kỳ kiếp nói về công đức của kinh này, cũng không thể nói hết được.
“Nói tóm lại, hết thảy mọi pháp của Như Lai, hết thảy mọi sức thần thông tự tại của Như Lai, hết thảy mọi kho tàng tinh yếu kín đáo của Như Lai, hết thảy những việc hết sức sâu xa của Như Lai, đều đã được trình bày rõ ràng sáng tỏ trong kinh Pháp hoa này.”
Tổng đoạn thứ ba từ câu “Khi ấy, đức Phật bảo đại chúng các vị Bồ Tát cùng đi với ngài Thượng Hạnh” trở đi, tóm kết ý nghĩa cốt yếu, giao phó [việc lưu truyền kinh điển] về sau. Kinh văn chia làm 4 đoạn. Thứ nhất là xưng tán việc giao phó giáo pháp, thứ hai là tóm kết ý nghĩa cốt yếu của sự giao phó; thứ ba là khuyến khích khen ngợi [người nhận] giao phó giáo pháp; thứ tư là giải thích về sự giao phó giáo pháp.
Đoạn thứ nhất xưng tán, y theo kinh văn có thể hiểu được.
Đoạn thứ hai [từ câu “Nói tóm lại”] trở đi, tóm kết ý nghĩa cốt yếu gồm có bốn câu.
– Câu thứ nhất nói “hết thảy mọi pháp” tức là tất cả các pháp đều là Phật pháp. Câu này tóm kết nghĩa tất cả đều là diệu danh.
– Câu thứ hai nói “hết thảy mọi sức thần thông tự tại”, tức là [công năng] thông đạt không ngăn ngại, đầy đủ tám đức tự tại. [121] Câu này tóm kết về diệu dụng.
– Câu thứ ba nói “hết thảy mọi kho tàng tinh yếu kín đáo”, tức là khắp thảy mọi nơi đều là tướng chân thật. Câu này tóm kết về diệu thể.
– Câu thứ tư nói “hết thảy những việc hết sức sâu xa”, nhân quả tức là việc sâu xa. Câu này tóm kết về diệu tông. [122]
Tất cả đều được nêu ra, giảng rõ trong kinh này. Tổng kết trọn một bộ kinh chỉ có bốn điều này mà thôi, nay tóm kết chỗ then chốt cốt yếu mà trao cho [thính chúng].
KINH VĂN
“Cho nên, sau khi Như Lai diệt độ, các ông nên chuyên tâm thọ trì, tụng, đọc, giảng thuyết, sao chép, y theo lời dạy trong kinh để tu hành.
“Trong khắp cõi nước, nếu ở nơi nào có người tụng, đọc, giảng thuyết, sao chép, y theo kinh này tu hành, hoặc nơi nào có cất giữ kinh điển này, như ở giữa vườn, trong rừng, dưới gốc cây; hoặc trong tăng phòng, ở nhà cư sĩ hoặc điện thờ; hoặc giữa núi rừng hoang vắng, ở những nơi đó đều nên dựng tháp cúng dường.”
Đoạn thứ ba, từ câu “Cho nên, sau khi Như Lai diệt độ, các ông nên…” trở đi, khuyến khích và ngợi khen [những người nhận lãnh sự] giao phó lưu thông kinh điển. Phần này y theo kinh văn có thể hiểu được.
KINH VĂN
“Vì sao vậy? Nên biết rằng nơi đó chính là đạo trường; là nơi chư Phật thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác; là nơi chư Phật chuyển bánh xe pháp; là nơi chư Phật nhập Niết-bàn.”
Đoạn thứ tư từ câu “Vì sao vậy” trở đi, giải thích về ý nghĩa sự giao phó lưu thông kinh điển. Kinh văn phần trước nói nơi nào có quyển kinh này đều nên xây dựng tháp thờ. Trong kinh này thì những điều cốt yếu được thuyết dạy nằm ở bốn việc.
– Thứ nhất, “nơi đó chính là đạo trường” là giải thích phần trước nói “việc hết sức sâu xa”.
– Thứ hai, “nơi chư Phật thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác” tức là giải thích phần trước nói “kho tàng tinh yếu kín đáo”.
– Thứ ba, “nơi chư Phật chuyển bánh xe pháp” là giải thích phần trước nói “hết thảy mọi pháp”.
– Thứ tư, “nơi chư Phật nhập Niết-bàn” là giải thích phần trước nói “sức thần thông tự tại”.
Đây là bốn việc cốt yếu, thâu nhiếp toàn bộ kinh văn, vì thế “đều nên dựng tháp cúng dường”.
Những điều này được cho là cốt yếu, vì “thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác” tức là pháp thân; “chuyển bánh xe pháp” tức là Bát-nhã; “nhập Niết-bàn” là giải thoát. Ba pháp này hợp thành “kho tàng tinh yếu kín đáo”, có Phật trụ yên trong đó, tức là ý nghĩa của dựng tháp cúng dường.
Kinh A-hàm nói rằng: “Đức Phật ra đời, chỉ có bốn nơi nên xây dựng tháp. Đó là nơi Phật đản sanh, nơi Phật thành đạo, nơi Phật chuyển bánh xe pháp và nơi Phật nhập Niết-bàn. Phật ngồi đạo tràng chính là nơi pháp thân sinh ra. Những phần khác y theo kinh văn có thể hiểu được.
KINH VĂN
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn muốn lặp lại ý nghĩa trên nên nói kệ rằng:
Phần kệ tụng có 16 khổ kệ, chia làm 2 đoạn.
Đoạn thứ nhất gồm 4 khổ kệ đầu tiên, tụng lại về mười thần lực.
KINH VĂN
Đoạn thứ hai có 12 khổ kệ, tụng về nghĩa tóm kết ý nghĩa cốt yếu, [chia làm 2 tiểu đoạn].
Tiểu đoạn thứ nhất từ câu “Vì phó thác kinh này” trở đi 2 khổ kệ, tụng tổng quát về 4 pháp.
KINH VĂN
Tiểu đoạn thứ hai từ câu “Người thọ trì kinh này, là đã thấy được Phật”, tụng chi tiết 4 pháp, gồm 8 khổ rưỡi kệ. Một khổ rưỡi đầu tiên tụng nghĩa “hết thảy mọi pháp”. Người giữ gìn chánh pháp tức là giữ gìn thân Phật. Đại lược là như vậy.
Từ câu “Người thọ trì kinh này, ta và các phân thân” là tụng về thần lực; được thần lực khuyến khích, khiến chư Phật đều hoan hỷ.
KINH VĂN
Từ câu “Chư Phật ngồi đạo trường” gồm một khổ kệ tụng về pháp bí yếu, y theo kinh văn có thể hiểu được.
Từ câu “Người thọ trì kinh này, đối với nghĩa các pháp” gồm 4 khổ kệ là tụng về “những việc hết sức sâu xa”. Thuyết pháp phá trừ mê ám, đưa vào Nhất thừa, đó là việc rất sâu xa của chư Phật.
KINH VĂN
Sau cùng một khổ rưỡi kệ là tụng tổng quát tóm kết ý nghĩa cốt yếu.
22. Giải thích phẩm Giao phó về sau
KINH VĂN
Phẩm Giao phó về sau, thứ hai mươi hai
Giải thích tên phẩm
“Giao” nghĩa là đức Phật dặn dò giao lại; “phó” nghĩa là phó thác cho [chư Bồ Tát] phải gắng sức lưu truyền. Đây là nói từ ý chỉ của Phật mà thành tên, nên gọi là phẩm Giao phó về sau.
Giao là nói sự cung kính đón nhận [việc Phật giao cho]; phó là vui mừng nhận lãnh không cho là khó nhọc. Đây là nói từ sự cung kính vâng theo của chư Bồ Tát mà thành tên, nên gọi là phẩm Giao phó về sau.
Giao là từ kim khẩu của đức Như Lai giao lại; phó là chư Bồ Tát đem lòng son sắt gánh vác nhận lãnh. Đây là đem cả hai việc giao phó và nhận lãnh hợp lại để nói, nên gọi là phẩm Giao phó về sau.
Vì vậy nên đức Như Lai đích thân từ pháp tòa đứng dậy, đưa tay xoa đầu, đem “pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác khó thành tựu này, nay giao phó về sau”; đại chúng cung kính cúi đầu chắp tay, đối với lời dạy của đức Thế Tôn “cung kính vâng theo tất cả”, cho nên gọi là phẩm Giao phó về sau.
KINH VĂN
Lúc bấy giờ, đức Phật Thích-ca Mâu-ni từ pháp tòa đứng dậy, hiện sức thần thông lớn, dùng tay phải đưa ra xoa đỉnh đầu vô số Đại Bồ Tát, dạy rằng: “Ta trải qua vô lượng trăm ngàn muôn ức a-tăng-kỳ kiếp tu tập pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác khó thành tựu này, nay giao phó về sau cho các ông. Các ông nên một lòng truyền rộng pháp này, khiến cho càng tăng thêm lợi ích.”
Đức Phật xoa đỉnh đầu các vị Đại Bồ Tát như vậy ba lần rồi lại dạy rằng: “Ta trải qua vô lượng trăm ngàn muôn ức a-tăng-kỳ kiếp tu tập pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác khó thành tựu này, nay giao phó về sau cho các ông. Các ông nên thọ trì, tụng đọc, truyền rộng pháp này, khiến cho khắp thảy chúng sanh đều được nghe biết.”
Kinh văn phẩm này chia làm 2 tổng đoạn. Tổng đoạn thứ nhất nói việc giao phó chánh pháp; tổng đoạn thứ hai nói việc đại chúng đương thời đều hoan hỷ.
Tổng đoạn thứ nhất chia làm 3 đoạn. Đoạn thứ nhất nêu việc đức Như Lai giao phó chánh pháp; đoạn thứ hai nói việc chư Bồ Tát nhận lãnh sự giao phó; đoạn thứ ba là việc đã hoàn tất nên nêu ý giải tán.
Đoạn thứ nhất có 3 tiểu đoạn. Thứ nhất nêu việc giao phó; thứ hai giải thích về việc giao phó; thứ ba răn dạy về việc giao phó.
Tiểu đoạn thứ nhất, nêu việc chính thức giao phó. Đức Phật dùng một cánh tay quyền trí thiện xảo đưa ra xoa trên đỉnh đầu thật trí của tất cả các vị Bồ Tát đầy khắp cả hư không trong ba ngàn ba trăm na-do-tha cõi nước.
Đức Như Lai giao phó chánh đạo để giáo hóa chúng sanh nên gọi là cánh tay quyền trí. Các Bồ Tát tự mình thực hành để thọ nhận chánh đạo nên gọi là đỉnh đầu thật trí. Phật đưa tay xoa đầu, tức là thân giao phó; quyền trí soi thật trí, tức là ý giao phó; Phật “dạy rằng” tức là khẩu giao phó.
Kinh văn phần này có đủ ý nghĩa của bốn tất đàn. “Ta trải qua vô lượng trăm ngàn muôn ức a-tăng-kỳ kiếp tu tập pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác khó thành tựu này”, tức là nói đã được thọ học từ chư Phật trước đây, “nay giao phó về sau cho các ông”, các Bồ Tát thọ nhận tức là ba đời tiếp nối. Đây là nghĩa thế giới tất đàn. “Một lòng truyền rộng pháp này” tức là vị nhân tất đàn. “Khiến cho càng tăng thêm” tức là đối trị tất đàn. “Lợi ích” tức là đệ nhất nghĩa tất đàn.
KINH VĂN
“Vì sao vậy? Vì đức Như Lai có lòng đại từ bi, không hề tham tiếc keo lận, cũng không có sự sợ sệt, thường ban cho chúng sanh trí tuệ Phật, trí tuệ Như Lai, trí tuệ tự nhiên; Như Lai là vị thí chủ lớn của hết thảy chúng sanh. Các ông cũng nên học theo pháp của Như Lai, đừng sinh lòng tham tiếc keo lận.
“Trong đời tương lai, nếu có thiện nam, thiện nữ nào tin vào trí tuệ Như Lai, các ông nên vì người ấy diễn giảng kinh Pháp hoa này, khiến cho họ được nghe, vì muốn cho người ấy đạt được trí tuệ Phật. Nếu như có chúng sanh nào không tin nhận, các ông nên dùng những giáo pháp sâu xa khác của Như Lai để chỉ bày, dạy dỗ, khuyến khích sự lợi ích, hoan hỷ thành tựu. [123] Nếu các ông có thể làm được như vậy thì đó là đã báo đáp được ân đức của chư Phật.”
Tiểu đoạn thứ hai từ câu “Vì sao vậy” trở đi là giải thích về việc giao phó. “Có lòng đại từ bi” là nhà Như Lai; “không hề tham tiếc keo lận” là y Như Lai; “cũng không có sự sợ sệt” là tòa Như Lai; “trí tuệ Phật” là nhất thiết trí; “trí tuệ Như Lai” là đạo chủng trí; “trí tuệ tự nhiên” là nhất thiết chủng trí. Vào nhà Như Lai có thể ban cho chúng sanh ba loại trí tuệ, ngồi tòa Như Lai cũng vậy. “Là vị thí chủ lớn” như vậy nên không có tham tiếc keo lận, nên không có sự sợ sệt. “Các ông cũng nên học theo pháp của Như Lai”, đây là giải thích ý Phật để giao phó.
Tiểu đoạn thứ ba từ câu “Trong đời tương lai” trở đi là răn nhắc để giao phó. Nếu người có căn tánh sâu vững, trí tuệ nhanh nhạy thì thuyết dạy thẳng vào trí tuệ Phật. Đối với người chưa tiếp nhận được thì dùng các pháp sâu xa khác mà tuần tự chỉ bày, dạy dỗ, khuyến khích sự lợi ích, hoan hỷ thành tựu. Trí tuệ Phật sâu xa mà không khác; [pháp của] sáu bậc phương tiện là khác mà không sâu xa; pháp tuần tự của Biệt giáo thì khác rồi đến sâu. “Các ông nên dùng những giáo pháp sâu xa khác”, là để trợ giúp làm sáng tỏ trí tuệ Phật, “đó là đã báo đáp được ân đức của chư Phật”. Đây gọi là răn nhắc để giao phó.
KINH VĂN
Bấy giờ, các vị Đại Bồ Tát nghe Phật dạy như vậy rồi, tất cả đều hết sức hoan hỷ, niềm vui lan khắp châu thân, càng thêm phần cung kính, cúi đầu chắp tay hướng về đức Phật, đồng thanh bạch rằng: “Như lời Thế Tôn đã dạy, chúng con xin cung kính vâng theo tất cả. Bạch Thế Tôn! Xin đừng lo ngại.”
Các vị Đại Bồ Tát ba lần như vậy đều đồng thanh bạch Phật: “Như lời Thế Tôn đã dạy, chúng con xin cung kính vâng theo tất cả. Bạch Thế Tôn! Xin đừng lo ngại.”
Đoạn thứ hai từ câu “Bấy giờ, các vị Đại Bồ Tát...” trở đi là nói việc các vị Bồ Tát nhận lãnh sự giao phó. “Tất cả đều hết sức hoan hỷ” là nhận lãnh bằng ý; “cúi đầu chắp tay” là nhận lãnh bằng thân; “đồng thanh bạch rằng” là nhận lãnh bằng khẩu, cũng bao hàm cả nhận lãnh bằng ý.
“Như lời Thế Tôn đã dạy” là nhận lãnh ý Phật nói “Như Lai là vị thí chủ lớn”, tức là nhà Như Lai; [124] “cung kính vâng theo tất cả” là nhận lãnh ý “không hề tham tiếc keo lận”, tức là y Như Lai; “xin đừng lo ngại” là nhận lãnh ý “không có sự sợ sệt”, tức là tòa Như Lai.
Phật đã 3 lần giao phó, các vị Bồ Tát cũng 3 lần nhận lãnh, tất cả đều y theo kinh văn có thể hiểu được.
KINH VĂN
Khi ấy, đức Phật Thích-ca Mâu-ni muốn cho các vị Phật phân thân đến từ mười phương mỗi vị đều quay về cõi nước nên nói rằng: “Chư Phật mỗi vị xin tùy nơi an ổn quay về, tháp Phật Đa Bảo có thể trở lại như cũ.”
Đoạn thứ ba từ câu “Khi ấy, đức Phật Thích-ca Mâu-ni...” trở đi, việc đã hoàn tất nên nêu ý giải tán.
Phật Đa Bảo vì chứng minh kinh này mà đến, nay cả hai phần thuyết dạy về tích môn và bản môn đều đã xong, cho nên cung kính nêu việc quay về như cũ. Các vị phân thân Phật vì việc mở cửa tháp mà tập hợp đến, nay việc mở tháp đã xong nên khiến cho quay về. Tháp không thể mở ra lần nữa, cho nên các vị phân thân Phật đi rồi không còn hiện ra. Tháp này đến vì việc nghe pháp, cho nên tuy đóng cửa lại nhưng vẫn còn tại pháp hội.
Hỏi : Nếu tháp vì nghe pháp mà đến, lẽ ra không nên đóng cửa lại?
Đáp : Việc chứng minh phần chánh kinh đã xong cho nên đóng. Vì còn nghe tiếp phần lưu thông kinh, cho nên còn ở lại. Đại lược là như vậy.
KINH VĂN
Khi Phật nói ra lời ấy rồi, vô số chư Phật phân thân mười phương đang ngồi trên tòa sư tử dưới cội cây báu cùng với Phật Đa Bảo và đại chúng vô số a-tăng-kỳ Bồ Tát như Bồ Tát Thượng Hạnh… [125] bốn chúng và các vị Thanh văn như Xá-lợi-phất, cùng hết thảy chư thiên, loài người, a-tu-la… được nghe Phật thuyết dạy đều hết sức vui mừng.
Tổng đoạn thứ hai từ câu “Khi Phật nói ra lời ấy rồi” trở đi, nói việc đại chúng hoan hỷ. Chư Phật vì sự giáo hóa chúng sanh đã hoàn tất nên hoan hỷ. Các vị Bồ Tát vì sự tự thực hành đạt được chánh pháp nên hoan hỷ.
Lại nữa, người nói pháp thanh tịnh nên hoan hỷ, đó chính là đức Phật; nghe pháp thanh tịnh nên hoan hỷ, chính là kinh Diệu pháp Liên hoa này; nghe pháp có sự chứng đắc nên hoan hỷ, chính là chúng sanh trong hiện tại và đời tương lai được lợi ích. Cả ba việc đều trọn đủ nên hết sức hoan hỷ. Đại lược là như thế.
23. Giải thích phẩm Hạnh nguyện thuở xưa của Bồ Tát Dược Vương
KINH VĂN
Phẩm Hạnh nguyện thuở xưa của Bồ Tát Dược Vương, thứ hai mươi ba
Giải thích tên phẩm
Quán kinh nói: “[Bồ Tát Dược Vương] thuở xưa có tên gọi là Tinh Quang, theo Tôn giả Nhật Tạng nghe thuyết dạy về trí tuệ Phật, dùng loại thuốc quý trên Tuyết sơn để cúng dường chúng tăng, phát nguyện rằng: ‘Trong đời tương lai, nguyện cho con có thể trị được cả thân bệnh và tâm bệnh của chúng sanh.’ Khắp thế gian đều vui mừng xưng tên ngài là Dược Vương.”
Kinh văn phẩm này nêu việc Bồ Tát Nhất Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến tức thời xả bỏ thân mạng, lại tự thiêu hai cánh tay, xem nhẹ mạng sống mà quý trọng chánh pháp; mạng sống mất đi, đạo pháp vẫn tồn tại.
Nêu ra việc xưa là để làm rõ việc ngày nay, cho nên gọi tên là phẩm “Hạnh nguyện thuở xưa…”. Nếu suy theo ý nghĩa này thì chuyện Tinh Quang [trong Quán kinh] có lẽ là sau Bồ Tát Hỷ Kiến, vì từ khi cúng dường thuốc men, phát khởi thệ nguyện [trị bệnh chúng sanh] đến nay mới có tên gọi là Bồ Tát Dược Vương. Đại lược là như vậy.
Kinh văn 5 phẩm từ đây về sau đều thuộc về phần lưu thông, giáo hóa chúng sanh. Phẩm này nói về bậc thầy giáo hóa chúng sanh, nguyện cho giáo pháp Đại thừa được hoằng truyền hết sức rộng rãi, phát khởi đại nguyện hết thảy chúng sanh đều được lợi ích lớn lao. Do [tâm nguyện ấy] mà vận dụng cạn kiệt sức thần, hết cả hình hài thân mạng, thành khẩn tha thiết, kiên trì chí nguyện, tiếp nối không dừng. Tiếp theo nói việc dạy đệ tử noi theo tông chỉ giáo pháp như thầy: Ta truyền pháp sáng tỏ cho các ông, các ông cũng truyền lại pháp sáng tỏ [cho đời sau]. Pháp sáng tỏ nối nhau không dứt, đó là chí nguyện của bậc thầy. Cho nên biết rằng phẩm này khuyến khích bậc thầy hoằng pháp.
Hai phẩm tiếp theo là phẩm Bồ Tát Diệu Âm và phẩm Bồ Tát Quán Thế Âm nêu việc các vị đại sĩ ở phương khác kính vâng lời Phật hoằng truyền kinh điển, sắc thân biến hiện khắp nơi, hình thể không nhất định, không thể dùng con mắt tầm thường [126] mà nhìn thấy, không thể dùng nhận thức phàm tục mà đo lường, nên đối với những chỗ được nghe chớ sinh ý tưởng khinh thường, nếu khinh thường thì pháp chẳng vào được trong tâm. Cho nên biết rằng các phẩm sau khuyến khích hàng đệ tử nhận lãnh pháp.
Có người nói, các phẩm trong phần trước nói việc chư Phật làm Phật sự, từ phẩm này về sau nói việc các Bồ Tát làm Phật sự. Đây chỉ là cách nhận hiểu phiến diện mà thôi, [vì xét kỹ] các phẩm trước cũng có Bồ Tát; các phẩm từ đây về sau cũng có chư Phật. Đại lược là như vậy.
Nay nói rõ, phẩm Phương tiện trừ bỏ ba thừa, hiển lộ Nhất thừa, nêu nhân viên mãn đã trọn vẹn. Phẩm Hạnh an vui nêu pháp nương theo thừa. Phẩm Tuổi thọ của Như Lai nêu quả của thừa đã rốt ráo. Từ phẩm này trở về sau nêu người nương theo thừa.
Cho nên, luận Thập nhị môn nói rằng: “Gọi là Đại thừa vì là chỗ nương theo của các bậc đại nhân như Văn-thù, Phổ Hiền...” [127] Phẩm Bồ Tát Dược Vương dùng sự khổ hạnh nương theo thừa, các phẩm Bồ Tát Diệu Âm và Bồ Tát Quán Thế Âm dùng pháp tam-muội để nương theo thừa, phẩm Đà-la-ni dùng pháp tổng trì để nương theo thừa, phẩm Diệu Trang Nghiêm dùng thệ nguyện để nương theo thừa, phẩm Phổ Hiền dùng thần thông để nương theo thừa. Giải thích như vậy thì phù hợp với ý nghĩa lưu thông, giáo hóa chúng sanh.
KINH VĂN
Lúc bấy giờ, Bồ Tát Tú Vương Hoa bạch Phật: “Thế Tôn! Bồ Tát Dược Vương đến thế giới Ta-bà như thế nào? Thế Tôn! Vị Bồ Tát Dược Vương này có bao nhiêu ngàn muôn ức na-do-tha khổ hạnh khó làm? Lành thay, Thế Tôn! Xin giảng nói một phần, [128] hàng chư thiên, rồng, thần, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, người và phi nhân, cùng các Bồ Tát từ phương khác đến và chúng Thanh văn ở đây nếu được nghe đều sẽ vui mừng.”
Kinh văn phẩm này có 4 phần. Thứ nhất là thưa hỏi, thứ hai là giải đáp, thứ ba là nêu lợi ích và thứ tư là đức Phật Đa Bảo khen ngợi sự tốt đẹp.
Phần thứ nhất nêu việc thưa hỏi, chia làm 3 tổng đoạn. Thứ nhất là hỏi chung về việc du hành giáo hóa, thứ hai là hỏi riêng về khổ hạnh, thứ ba là thỉnh cầu giải đáp, ý nghĩa y theo kinh văn có thể hiểu được.
KINH VĂN
Khi ấy, đức Phật bảo Bồ Tát Tú Hoa Vương: “Vào thời quá khứ, cách đây số kiếp nhiều như số cát của vô số con sông Hằng, có đức Phật hiệu là Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Đức Phật ấy có tám mươi ức vị Đại Bồ Tát và chúng đại Thanh văn nhiều bằng số cát của bảy mươi hai con sông Hằng. Đức Phật ấy sống thọ bốn mươi hai ngàn kiếp, các Bồ Tát cũng có tuổi thọ bằng như vậy.
Cõi nước ấy không có nữ nhân, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, a-tu-la, cũng không có các nạn khổ; mặt đất bằng lưu ly, phẳng như lòng bàn tay, có cây báu trang nghiêm, màn báu che bên trên, có phướn bằng hoa báu rủ xuống, lò hương bằng bình báu ở khắp cả cõi nước; dùng bảy báu làm thành đài cao, cứ mỗi cây báu là một đài cao, cây và đài cách nhau khoảng một tầm bắn tên. Các vị Bồ Tát, Thanh văn ngồi dưới mỗi cây báu, trên mỗi đài báu có trăm ức chư thiên cúng dường bằng cách tấu nhạc trời, ca ngợi xưng tán Phật.”
Phần thứ hai nêu việc giải đáp, lại có hai tổng đoạn. Tổng đoạn thứ nhất chỉ đáp riêng về khổ hạnh, phần du hành giáo hóa thì chỉ đến tam-muội sắc thân, hoặc chỉ đến hai phẩm sau đó. Tổng đoạn thứ hai xưng tán ngợi khen kinh [Pháp hoa] này.
Tổng đoạn thứ nhất giải đáp về khổ hạnh, [chia làm 2 đoạn]. Đoạn thứ nhất kể lại nguồn gốc sự việc thuở xưa. Đoạn thứ hai kể rõ sự việc thuở xưa.
Đoạn thứ nhất chia làm 3 tiểu đoạn. Thứ nhất nêu thời gian, thứ hai kể [danh hiệu] Phật và đại chúng Thanh văn, thứ ba nói về cõi nước v.v. Tất cả đều y theo kinh văn có thể hiểu được.
KINH VĂN
“Lúc ấy, đức Phật vì Bồ Tát Nhất Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến cùng chúng Bồ Tát và chúng Thanh văn mà thuyết kinh Pháp hoa.”
Đoạn thứ hai kể rõ sự việc [khổ hạnh] thuở xưa, lại có 3 tiểu đoạn.
Tiểu đoạn thứ nhất kể việc Phật thuyết pháp; tiểu đoạn thứ hai, kể việc [Bồ Tát tu khổ hạnh rồi nghĩ] nên cúng dường; tiểu đoạn thứ ba là kết lại và nói sự tương hợp [giữa việc thuở xưa với ngày nay]. Thế nhưng Phật [thuyết pháp] vì tất cả chúng sanh, sao chỉ nói riêng Bồ Tát [Nhất Thiết Chúng Sanh] Hỷ Kiến? Việc này là vì phải nêu lên sự đối đáp cần thiết để giao phó lưu thông [kinh điển], cũng như với ngài Xá-lợi-phất ngày nay, [tuy đức Phật chỉ] ký thác một người nhưng là nói với tất cả.
KINH VĂN
“Vị Bồ Tát Nhất Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến này ưa chuộng sự tu tập khổ hạnh, ở trong Phật pháp của đức Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức mà tinh tấn kinh hành, một lòng cầu quả Phật, trải qua mười hai ngàn năm thì đạt được pháp tam-muội Hiện nhất thiết sắc thân. Đạt được tam muội này rồi, trong tâm rất vui mừng, liền nghĩ rằng: ‘Ta được tam-muội Hiện nhất thiết sắc thân là nhờ sức nghe kinh Pháp hoa. Nay ta nên cúng dường đức Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức và kinh Pháp hoa.’
“Nghĩ rồi liền nhập pháp tam-muội ấy, hóa hiện giữa không trung mưa xuống hoa mạn-đà-la, hoa đại mạn-đà-la, bột chiên đàn kiên hắc [129] đầy khắp cả không trung, tụ lại như mây rồi rơi xuống; lại mưa xuống hương chiên đàn hải ngạn, [130] sáu thù [131] hương này có giá trị bằng cả thế giới Ta-bà, đều để cúng dường đức Phật.
“Bồ Tát Nhất Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến cúng dường như vậy xong rồi, ra khỏi tam-muội lại tự nghĩ rằng: ‘Ta tuy đã dùng sức thần thông cúng dường đức Phật, nhưng không bằng lấy thân mình cúng dường.’
“Nghĩ rồi liền ăn vào các loại hương chiên đàn, huân lục, [132] đâu-lâu-bà, [133] tất-lực-ca, [134] trầm thủy, giao hương, [135] lại uống các loại dầu hương hoa như hoa chiêm bặc v.v. trải qua mười hai ngàn năm, [136] dùng dầu thơm thoa khắp trên thân, đến trước đức Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức, dùng y báu cõi trời tự quấn quanh thân, rưới lên các loại dầu thơm, rồi dùng sức thần thông tự đốt cháy thân mình, ánh sáng soi chiếu khắp các thế giới nhiều như số cát của tám mươi ức con sông Hằng.
Chư Phật trong các thế giới ấy đồng thời khen ngợi rằng: ‘Lành thay, lành thay! Thiện nam tử, như vậy là thực sự tinh tấn, như vậy gọi là pháp chân thật cúng dường Như Lai. Nếu dùng hoa, hương, chuỗi ngọc, hương đốt, hương bột, hương thoa, lụa trời, phướn lọng cùng hương chiên-đàn hải ngạn, những phẩm vật cúng dường như thế đều không thể sánh bằng; giả sử dùng cả thành ấp, đất nước, vợ con để cúng dường [137] cũng không thể sánh bằng.
Này thiện nam tử! Đây gọi là bố thí bậc nhất, cao trổi nhất, đáng tôn trọng nhất trong các pháp bố thí, vì đã dùng pháp để cúng dường các đức Như Lai.’
“Sau khi khen ngợi như vậy rồi, các đức Phật đều an nhiên tịch lặng. Thân thể Bồ Tát tiếp tục cháy như vậy sau một ngàn hai trăm năm [138] mới hết.”
Tiểu đoạn thứ hai nói việc Bồ Tát tu khổ hạnh lại có 2 phân đoạn. Phân đoạn thứ nhất nêu việc khổ hạnh trong hiện tại, phân đoạn thứ hai nêu việc khổ hạnh trong tương lai.
Phân đoạn thứ nhất nói việc khổ hạnh trong hiện tại, chia ra làm 2 ý.
Ý thứ nhất kể việc [Bồ Tát] tu hành chứng đắc pháp [tam-muội]; ý thứ hai nói việc tự nghĩ nên báo ân.
Ý thứ hai nói việc muốn báo ân lại có 2 tiểu ý. Thứ nhất là dùng sức tam-muội; thứ hai là gắng sức dùng thân báo ân. Tiểu ý dùng thân báo ân lại có 3 điều. Thứ nhất là tự thiêu thân; thứ hai là được Phật ngợi khen xưng tán; thứ ba là nói về thời gian.
Nói về pháp cúng dường chân thật thì bên trong vận dụng trí tuệ quán sát nhân quả phiền não, tất cả đều dùng trí tuệ hiểu về tánh không để tẩy rửa sạch, cho nên gọi là pháp chân thật. Lại quán xét rằng dù là thân mình hay lửa đang cháy, dù người cúng dường hay thân là vật cúng dường cũng đều là tướng chân thật; ai là người thiêu, cái gì đốt cháy, người cúng dường, vật cúng dường, thảy đều không thể nắm bắt, cho nên gọi là pháp chân thật.
KINH VĂN
“Bồ Tát Nhất Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến cúng dường theo pháp như vậy rồi, sau khi mạng chung lại tái sinh vào cõi nước có đức Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức, nơi nhà của đức vua Tịnh Đức, bỗng dưng hóa sinh trong tư thế ngồi kết già, liền vì vua cha mà nói kệ rằng:
“Nói kệ như vậy rồi lại thưa với vua cha: ‘Hiện nay có đức Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức đang ở đời, trước đây con cúng dường Phật ấy nên đạt được pháp đà-la-ni Giải nhất thiết chúng sinh ngữ ngôn, [139] lại được nghe tám trăm ngàn muôn ức na-do-tha chân-ca-la tần-bà-la a-súc-bà [140] bài kệ trong kinh Pháp hoa. Thưa phụ vương! Con nay sẽ quay lại cúng dường đức Phật ấy.”
“Sau khi thưa cha như vậy rồi, Bồ Tát liền ngồi trên đài bảy báu, bay lên hư không, cao bằng bảy cây đa-la, rồi bay đến chỗ đức Phật, đầu và mặt cúi lễ sát chân Phật, chắp tay cung kính đọc kệ xưng tán Phật:
“Bấy giờ, Bồ Tát Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến đọc kệ như vậy rồi liền bạch Phật: ‘Thế Tôn! Nay Thế Tôn vẫn còn ở đời!’
“Khi ấy, đức Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức bảo Bồ Tát Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến: ‘Này thiện nam! Đã đến lúc ta nhập Niết-bàn, đến giờ diệt độ rồi. Ông nên sắp xếp chỗ giường nằm, trong đêm nay ta sẽ nhập Niết-bàn.’
“Đức Phật lại dạy Bồ Tát Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến: ‘Này thiện nam! Nay ta đem Phật pháp giao phó lại cho ông và các đại đệ tử Bồ Tát, cùng với pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác; lại cũng đem tất cả cây báu, đài báu cùng chư thiên theo hầu cận trong thế giới đại thiên bằng bảy báu này, tất cả đều giao phó lại cho ông. Sau khi ta diệt độ rồi, xá-lợi của ta cũng giao phó cho ông, nên lưu truyền mọi nơi, tổ chức cúng dường rộng khắp; nên xây lên hàng ngàn tháp để thờ kính.’
“Đức Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức dạy Bồ Tát Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến như vậy rồi, khoảng sau nửa đêm liền nhập Niết-bàn.
“Khi ấy, Bồ Tát Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến thấy Phật đã diệt độ rồi, trong lòng bi thương xúc động, buồn khổ lưu luyến, liền dùng chiên đàn hải ngạn dựng lên thành giàn, cúng dường thân Phật rồi đốt lửa để thiêu. Sau khi lửa tàn liền thu nhặt xá-lợi, đặt vào tám mươi bốn ngàn bình báu, lại dựng lên tám mươi bốn ngàn tháp thờ, cao đến cõi Phạm thiên, [141] có cột phướn trang nghiêm, treo cờ phướn, lọng che và nhiều chuông báu.
“Lúc bấy giờ, Bồ Tát Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến lại tự nghĩ: ‘Ta tuy đã cúng dường như thế này nhưng trong lòng vẫn thấy còn chưa đủ. Nay ta nên cúng dường xá-lợi Phật thêm nữa.’
“Nghĩ rồi liền bảo các vị đại đệ tử Bồ Tát cùng chư thiên, rồng, dạ-xoa… và hết thảy đại chúng: ‘Các ông hãy một lòng chú tâm, nay chúng ta nên cúng dường xá-lợi của đức Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức.’
“Bồ Tát Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến nói như vậy rồi liền ở trước tám mươi bốn ngàn tháp thờ xá-lợi Phật tự đốt hai cánh tay có đủ trăm phước tướng trang nghiêm trong suốt bảy mươi hai ngàn năm để cúng dường, khiến cho vô số chúng cầu quả Thanh văn, vô số a-tăng-kỳ người phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác nhân đó đều được trụ nơi pháp tam-muội Hiện Nhất Thiết Sắc Thân.
“Khi ấy, các vị Bồ Tát, chư thiên, người cùng các loài a-tu-la… nhìn thấy Bồ Tát không còn cánh tay thì đau buồn sầu khổ, thương cảm than thở rằng: “Bồ Tát Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến là vị thầy của chúng ta, giáo hóa chúng ta, mà nay thiêu cháy mất hai tay, trở thành người có thân thể bất toàn.”
“Lúc bấy giờ, Bồ Tát Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến ở giữa đại chúng lập thệ nguyện rằng: ‘Tôi xả bỏ hai cánh tay [đốt lên cúng dường xá-lợi Phật], quyết định rồi sẽ được thân sắc vàng của Phật. Nếu điều này là đúng thật không hư dối, nguyện cho hai tay của tôi trở lại như cũ.’ Vừa lập nguyện xong, hai cánh tay liền tự nhiên trở lại như cũ. Đó là do phước đức và trí tuệ trong sáng sâu dày của Bồ Tát mà thành. Ngay vào lúc ấy, khắp thế giới đại thiên mặt đất đều chấn động theo sáu cách, trời mưa xuống hoa báu, hết thảy chư thiên, nhân loại đều cho là việc chưa từng có.”
Phân đoạn thứ hai nói về khổ hạnh trong tương lai, từ câu “Bồ Tát Nhất Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến cúng dường theo pháp như vậy rồi” trở đi. Phần này lại chia ra làm 5 ý. Thứ nhất là sanh vào nhà đức vua, thứ hai là tự nói việc trước đây của mình; thứ ba là tìm đến chỗ Phật; thứ tư là đức Như Lai giao phó dặn dò; thứ năm là vâng lời Phật nhận lãnh giữ gìn. Tất cả đều y theo kinh văn có thể hiểu được.
Phần nhận lãnh giữ gìn lại có 4 tiểu ý. Thứ nhất là xây dựng tháp, thứ hai là thiêu cánh tay cúng dường, thứ ba là được lợi ích, thứ tư là phước báo ngay trong hiện tại. Tất cả đều y theo kinh văn có thể hiểu được.
KINH VĂN
Đức Phật bảo Bồ Tát Tú Vương Hoa: “Ý ông nghĩ sao? Bồ Tát Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến đó nào phải ai xa lạ, nay chính là Bồ Tát Dược Vương. Bồ Tát xả thân bố thí như vậy đã nhiều đến vô lượng trăm ngàn muôn ức na-do-tha lần.
“Này Tú Vương Hoa! Nếu có người phát tâm cầu đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, có thể đốt một ngón tay, cho đến một ngón chân cúng dường tháp thờ Phật thì hơn cả việc cúng dường thành ấp đất nước, vợ con cùng núi rừng sông hồ, các món báu vật khắp các cõi nước trong thế giới đại thiên.
Tiểu đoạn thứ ba từ câu “Đức Phật bảo Bồ Tát Tú Vương Hoa” trở đi, tóm kết và nêu sự tương hợp giữa việc thuở xưa với ngày nay, chia làm 2 phân đoạn. Thứ nhất là tóm kết nêu sự tương hợp; thứ hai là khuyến khích tu hành. Phần khuyến khích tu hành nói “có thể đốt một ngón tay” hơn cả việc xả bỏ tài vật ngoài thân, vì vật ngoài thân là nhẹ, trong thân là nặng, cho nên công đức và phước báu khác nhau. Kinh văn nói “vợ con” tức là ngoài thân, nói “thành ấp đất nước” là tài vật bên ngoài.
KINH VĂN
“Lại nếu như có người dùng bảy món báu đầy khắp thế giới đại thiên để cúng dường lên Phật cùng các vị Đại Bồ Tát, Duyên giác, A-la-hán thì công đức của người ấy không bằng thọ trì kinh Pháp hoa này, thậm chỉ chỉ một bài kệ bốn câu cũng được phước nhiều nhất.
Tổng đoạn thứ hai từ câu “Lại nếu như có người dùng bảy món báu” trở đi là tán thán kinh điển, chia làm 3 đoạn. Đoạn thứ nhất xưng tán người thọ trì kinh. Đoạn thứ hai xưng tán kinh điển là giáo pháp được thọ trì. Đoạn thứ ba nêu việc thọ trì kinh được phước đức sâu xa.
[Kinh văn nói] dùng bảy món báu cúng dường bốn bậc thánh [142] cũng không bằng thọ trì một bài kệ [trong kinh]. Vì pháp là thầy của bậc thánh, có thể sanh ra, có thể nuôi dưỡng, có thể thành tựu, có thể phát triển, không có gì hơn được pháp. Cho nên [so sánh] xem nhẹ người, xem trọng pháp.
KINH VĂN
“Này Tú Vương Hoa! Giống như trong tất cả những nơi có nước như sông ngòi, khe suối… thì biển là lớn nhất, kinh Pháp hoa này cũng vậy, là sâu xa quan trọng nhất trong tất cả những kinh Như Lai đã thuyết dạy.
“Lại giống như Thổ sơn, Hắc sơn, núi Thiết vi, núi Đại Thiết vi cùng mười ngọn núi báu, trong tất cả các loại núi thì núi Tu-di là cao hơn hết, kinh Pháp hoa này cũng vậy, là cao thượng hơn hết trong tất cả các kinh.”
Đoạn thứ hai từ câu “Này Tú Vương Hoa” trở đi là tán thán giáo pháp được thọ trì, chia làm 2 tiểu đoạn. Tiểu đoạn thứ nhất xưng tán tánh thể của pháp; tiểu đoạn thứ hai xưng tán công năng hoạt dụng của pháp.
“Trong tất cả những nơi có nước như sông ngòi, khe suối… thì biển là lớn nhất.” Kinh Vô lượng nghĩa dùng bốn nguồn nước để ví với giáo pháp. [143] Trong phẩm Thí dụ cỏ thuốc dùng một đám mây có thể mưa xuống làm thí dụ để giảng thuyết. Nay [kinh này] nói “trong tất cả những nơi có nước” là nói chung hết thảy các giáo pháp, lại nêu riêng 4 loại [sông, ngòi, khe, suối] là ví cho 4 vị của giáo pháp như sữa (nhũ), sữa đặc (lạc), bơ sống (sinh tô), bơ chín (thục tô). Giáo pháp kinh Pháp hoa này ví như biển lớn là vị đề-hồ. Thuyết giảng đến tận cùng bản địa là sâu, biến hiện khắp thảy mọi nơi là lớn, chỉ toàn nêu Phật pháp là vị mặn, không nói các pháp khác. Sâu xa nhất, lớn lao nhất là ý nghĩa như vậy.
Tên gọi mười ngọn núi báu, xem trong kinh Hoa Nghiêm và các kinh khác. Đại lược là như vậy. “Thổ sơn, Hắc sơn, núi Thiết vi” tất nhiên không phải núi báu. Mười ngọn núi báu, tuy là báu nhưng vẫn có một hai loài rồng, thần cư ngụ lẫn lộn. Riêng núi Tu-di được hình thành bằng bốn món báu, chỉ toàn là chư thiên cư ngụ. Đây là ví dụ các giáo pháp khác thuyết dạy nương theo Thập địa, bốn mươi tâm, [144] hoặc phàm hoặc hiền hoặc thánh; thuyết dạy chỗ nương theo thì hoặc tục, hoặc chân, hoặc trung. Như vậy đều là thấp hèn, so với kinh Pháp hoa này thuyết dạy các chân lý thường, lạc, ngã, tịnh, ví như bốn món báu hợp thành. Lấy “khai, thị, ngộ, nhập” làm chỗ nương theo, cho nên ý nghĩa này là cao thượng nhất.
KINH VĂN
“Giống như so với tất cả các ngôi sao, mặt trăng là sáng hơn hết, kinh Pháp hoa này cũng vậy, là soi chiếu sáng suốt hơn hết trong ngàn muôn ức loại kinh điển giáo pháp.
“Lại cũng như mặt trời có thể xua tan bóng tối, kinh Pháp hoa này cũng vậy, có thể phá trừ hết thảy bóng tối của tất cả những sự bất thiện.
Mặt trăng và sao đều là thuần âm, hiện ra vào ban đêm. Sao không có lúc đầy lúc khuyết, không sánh bằng mặt trăng. Các kinh khác dạy rằng trí quyền thừa không được tự tại; kinh này nêu rõ quyền tức là thật, thật tức là quyền, đủ hai tướng đầy khuyết chỉ ra không phân hai mà là hai. Thuyết về quyền trí như vậy vượt hơn các giáo pháp khác.
Mặt trời là thuần dương, duy nhất có khả năng phá trừ sự tối tăm. Các kinh khác nêu trí chân thật phá trừ nghi hoặc, vẫn không bằng được nghĩa ngay nơi thật đó là quyền, huống chi gồm cả nghĩa ngay nơi quyền đó là thật. Cho nên biết rằng kinh này nêu trí chân thật vượt hơn tất cả.
KINH VĂN
“Giống như ở giữa các vị tiểu vương thì Chuyển luân Thánh vương là bậc nhất, kinh Pháp hoa này cũng vậy, là tôn quý nhất trong tất cả các kinh.
“Giống như Đế thích là vua trong cõi trời Đao-lợi, kinh Pháp hoa này cũng vậy, là vua trong tất cả các kinh.
“Giống như Đại phạm Thiên vương là cha trong cõi trời Đao-lợi, kinh Pháp hoa này cũng vậy, là cha của hết thảy các bậc hiền thánh, hữu học, vô học cùng những người phát tâm Bồ Tát.
“Giống như trong tất cả phàm phu, các vị Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán, Duyên giác là bậc nhất, kinh Pháp hoa này cũng vậy, là bậc nhất trong tất cả những kinh điển Như Lai thuyết dạy, hoặc Bồ Tát thuyết dạy, hoặc Thanh văn thuyết dạy; người có thể thọ trì kinh Pháp hoa này cũng vậy, là bậc nhất trong tất cả chúng sanh.”
Hiệu lệnh của vị Luân vương chỉ dừng trong phạm vi bốn cõi thiên hạ. Lệnh của vị Đế thích có hiệu lực ngang cõi trời ba mươi ba. Lệnh của vị Phạm vương có uy lực bao trùm từ trên xuống dưới. Đây là để ví như các kinh khác thuyết dạy về tam đế, tam-muội, đều không thâu nhiếp lẫn nhau, không được tự tại. Chỗ thuyết dạy của kinh Pháp hoa này dùng thật tướng thể nhập chân thật, quyết định rõ ràng về pháp Thanh văn, là vua trong tất cả các kinh. Dùng thật tướng thể nhập thế tục thì hết thảy mọi sự mưu sinh hay xây dựng sự nghiệp đều không có sự mâu thuẫn trái nghịch. Dùng thật tướng thể nhập trung đạo thì hết thảy các pháp đều là Phật pháp. Kinh văn nói “kinh Pháp hoa này… là cha của hết thảy các bậc hiền thánh, hữu học, vô học cùng những người phát tâm Bồ Tát”, ý nghĩa là như vậy.
“Giống như trong tất cả phàm phu, các vị Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán, Duyên giác là bậc nhất.” Ở đây nói rõ sự thuận theo tự nhiên, không cần dụng công. Các kinh khác [thuyết dạy] phải nhờ vào sự dụng công mới thể nhập vào dòng thánh, như hàng tứ quả đều nhân nơi văn, tư, tu mới có thể giác ngộ. Kinh này nêu rõ Vô tác tứ đế, không xen lẫn phương tiện, tự nhiên chảy vào biển Nhất thiết trí, như “trâu trắng lớn có màu da thuần khiết, hình thể mập mạp xinh đẹp, gân cốt bắp thịt nở nang mạnh mẽ, bước đi ngay ngắn, lướt nhanh như gió”. Đại lược là như thế.
KINH VĂN
“Giống như trong tất cả hàng Thanh văn, Duyên giác thì Bồ Tát là bậc nhất, kinh Pháp hoa này cũng vậy, là bậc nhất trong tất cả kinh điển, giáo pháp.
“Giống như Phật là vua trong các pháp, kinh Pháp hoa này cũng vậy, là vua trong tất cả các kinh.
“Trong tất cả hàng Thanh văn, Duyên giác thì Bồ Tát là bậc nhất.” Đây là nêu rõ nhân [tu hành] bậc nhất. Các kinh khác nói nhân tu hành là bảy hạng phương tiện, kinh này nói nhân tu hành vượt ngoài mọi phương tiện, cho nên nói là nhân tu hành bậc nhất.
“Phật là vua trong các pháp”, đây là nêu về quả vị [bậc nhất]. Các kinh khác nêu quả vị gần, [chứng đắc] nơi đạo tràng tịch diệt. Kinh này nêu quả vị xa, chỉ đến bản địa [từ xa xưa] nên là bậc nhất.
KINH VĂN
“Này Tú Vương Hoa! Kinh này có thể cứu độ hết thảy chúng sanh; kinh này có thể khiến cho hết thảy chúng sanh xa lìa khổ não; kinh này có thể làm lợi ích lớn lao cho hết thảy chúng sanh; giúp chúng sanh thành tựu đầy đủ tâm nguyện của họ. Giống như hồ nước trong mát có thể thỏa mãn tất cả những người đang khát; như người đang rét lạnh gặp được lửa; như người lõa lồ gặp được y phục; như những người đi buôn xa gặp được trưởng đoàn; như con được gặp mẹ; như người qua sông gặp được con thuyền; như người bệnh gặp được thầy thuốc; như khi tối tăm gặp được ngọn đèn; như người nghèo gặp được của báu; như dân thường gặp được đức vua; như người đi buôn xa gặp được biển rộng; [145] như ngọn đuốc xua tan bóng tối;
kinh Pháp hoa này cũng vậy, có thể giúp chúng sanh xa lìa tất cả khổ não, tất cả bệnh tật đau đớn, có thể tháo mở tất cả những trói buộc của sinh tử.
Tiểu đoạn thứ hai từ câu “Này Tú Vương Hoa! Kinh này có thể cứu độ” trở đi, xưng tán công năng hoạt dụng của pháp, chia làm 3 phân đoạn. Thứ nhất là tán thán công dụng dứt trừ khổ não. Thứ hai là nêu 12 việc, tán thán công dụng mang lại an vui. Cuối cùng là tóm kết, tất cả đều y theo kinh văn có thể hiểu được.
KINH VĂN
“Nếu ai được nghe kinh Pháp hoa này rồi tự mình sao chép hoặc bảo người khác sao chép, người ấy đạt được công đức mà dù có dùng trí tuệ Phật để suy lường nhiều ít cũng không thể đạt đến giới hạn.
“Nếu có người sao chép kinh Pháp hoa này rồi dùng hoa, hương, chuỗi ngọc, hương đốt, hương bột, hương thoa, phướn lọng, y phục, đủ mọi loại đèn như đèn bơ, đèn dầu, đèn thắp bằng dầu thơm, các loại dầu hoa chiêm-bặc, tu-mạn-na, ba-la-la, ba-lợi-sư-ca, na-bà-ma-lợi để cúng dường, thì công đức đạt được cũng không hạn lượng.
“Này Tú Vương Hoa! Nếu có người được nghe phẩm Hạnh nguyện thuở xưa của Bồ Tát Dược Vương này, cũng đạt được vô lượng vô biên công đức.
“Nếu có người nữ được nghe phẩm kinh này rồi có thể thọ trì, thì sau khi đã hết thân nữ này, về sau không sinh làm thân nữ nữa.
“Năm trăm năm sau khi Như Lai diệt độ, nếu có người nữ được nghe kinh Pháp hoa này, theo đúng lời dạy tu hành, khi người ấy mạng chung sẽ được vãng sinh về thế giới An Lạc, trụ xứ của đức Phật A-di-đà với chúng Đại Bồ Tát vây quanh. Người ấy sinh ra ngồi trên tòa báu ở giữa hoa sen, [không còn thân nữ,] không còn bị tham dục gây phiền não, cũng không bị sân hận, ngu si gây phiền não, cũng không bị những cấu nhiễm như kiêu mạn, tật đố gây phiền não, được pháp thần thông của Bồ Tát, đạt được pháp nhẫn vô sinh. Đạt pháp nhẫn này rồi, nhãn căn được thanh tịnh; nhờ nhãn căn thanh tịnh nên thấy được các đức Phật Như Lai nhiều như số cát của bảy trăm mười hai ngàn ức na-do-tha con sông Hằng.
“Khi ấy, chư Phật đều từ xa cùng khen ngợi: ‘Lành thay, lành thay, thiện nam tử! Ông có thể ở trong pháp của đức Phật Thích-ca Mâu-ni mà thọ trì, tụng đọc, suy ngẫm kinh Pháp hoa này, vì người khác giảng nói, đạt được phước đức vô lượng vô biên, lửa không thể thiêu cháy, nước không thể cuốn trôi. Công đức của ông cho dù cả ngàn đức Phật cùng diễn nói cũng không nêu ra hết được. Nay ông có thể phá hết bọn giặc ma, trừ dứt quân sinh tử, những oán cừu thù địch khác cũng đều bị phá dẹp. Này thiện nam tử! Trăm ngàn đức Phật đều dùng sức thần thông để cùng che chở bảo vệ cho ông. Trong hàng trời, người ở khắp thế gian không ai được như ông. Trừ ra đức Như Lai, còn những hàng Thanh văn, Duyên giác cho đến hàng Bồ Tát đều không có trí tuệ thiền định sánh được như ông.’
“Này Tú Vương Hoa! Vị Bồ Tát [thọ trì kinh Pháp hoa] thành tựu được công đức, sức trí tuệ như vậy. Nếu có người được nghe phẩm Hạnh nguyện thuở xưa của Bồ Tát Dược Vương này, có thể tùy hỷ khen ngợi xưng tán, người ấy ngay trong đời này thường tỏa ra hương thơm hoa sen xanh từ miệng, thường tỏa hương thơm chiên-đàn Ngưu đầu từ các lỗ chân lông trên thân, và đạt được những công đức như trên đã nói.
“Vì thế, này Tú Vương Hoa, nay ta đem phẩm kinh này giao phó lại cho ông. Trong khoảng năm trăm năm sau khi ta diệt độ, hãy lưu truyền rộng khắp trong cõi Diêm-phù-đề, đừng để dứt mất khiến cho những kẻ xấu ác trong bọn ma, dân ma, trời, rồng, dạ-xoa, cưu-bàn-trà… được thuận tiện phát triển.
“Này Tú Vương Hoa! Ông nên dùng sức thần thông để giữ gìn, bảo vệ kinh Pháp hoa này. Vì sao vậy? Vì kinh này là liều thuốc hay chữa bệnh cho người trong cõi Diêm-phù-đề. Nếu người có bệnh mà được nghe kinh này liền dứt bệnh, không già không chết.
“Này Tú Vương Hoa! Nếu ông gặp người thọ trì kinh này, nên dùng bột hương trầm ướp hoa sen xanh cung kính rải lên người ấy. Rải lên rồi liền khởi ý nghĩ rằng: ‘Người này không bao lâu nhất định sẽ trải cỏ ngồi nơi đạo trường, phá trừ quân ma, sẽ thổi tù và chánh pháp, đánh trống pháp lớn, đưa tất cả chúng sanh vượt thoát biển sinh già bệnh chết.’ Cho nên, người cầu đạo Phật gặp người thọ trì kinh điển nên sinh tâm cung kính như vậy.”
Đoạn thứ ba từ câu “Nếu ai được nghe kinh Pháp hoa này” trở đi, nêu rõ việc trì kinh được phước đức sâu xa, chia làm 2 tiểu đoạn. Thứ nhất, nêu phước đức của việc thọ trì toàn văn kinh. Thứ hai, nêu phước đức của việc thọ trì phẩm [Hạnh nguyện thuở xưa của Bồ Tát Dược Vương] này.
Kinh văn phần này có suy lường phúc đức, có giao phó [riêng phẩm kinh này và toàn bộ kinh], tất cả đều y theo kinh văn có thể hiểu được.
“Thường tỏa ra hương thơm hoa sen xanh từ miệng” là phước báo ngay trong hiện tại. Các việc khác đều là phước báo đời sau.
“Được nghe kinh này liền dứt bệnh, không già không chết.” Câu này nên quán xét để hiểu. Không già là lạc, không chết là thường; được nghe kinh này thì hiểu rõ về [ý nghĩa] thường, lạc, trong lòng thanh thản an nhiên không còn gì lo sợ nữa.
KINH VĂN
Khi Phật thuyết phẩm Hạnh nguyện thuở xưa của Bồ Tát Dược Vương, có tám mươi bốn ngàn Bồ Tát đạt được pháp đà-la-ni Nhận hiểu tất cả ngôn ngữ của chúng sanh.
Đức Như Lai Đa Bảo trong tháp báu khen ngợi Bồ Tát Tú Vương Hoa rằng: “Lành thay, lành thay, Tú Vương Hoa! Ông đã thành tựu được công đức không thể nghĩ bàn, có thể thưa hỏi Phật Thích-ca Mâu-ni việc như vậy, làm lợi ích cho vô số hết thảy chúng sanh.” [146]
Phần thứ ba từ câu “Khi Phật thuyết phẩm…” trở đi, nêu việc thính chúng nghe kinh được lợi ích, y theo kinh văn có thể hiểu được.
Phần thứ tư từ “Đức Như Lai Đa Bảo…” nêu việc đức Phật Đa Bảo xưng tán điều tốt đẹp, y theo kinh văn có thể hiểu được.
24. Giải thích phẩm Bồ Tát Diệu Âm
KINH VĂN
Phẩm Bồ Tát Diệu Âm, thứ hai mươi bốn
Giải thích tên phẩm
Nội dung kinh văn tự có phần giải thích. Thuở xưa [Bồ Tát] cúng dường Phật Vân Lôi Âm Vương trăm ngàn loại kỹ nhạc, ngày nay du hành giáo hóa đến cõi khác thì có âm nhạc tự nhiên xuất hiện theo. Thuở xưa cúng dường tám mươi bốn ngàn bình bát quý báu, ngày nay có tám mươi bốn ngàn vị Bồ Tát là pháp khí [147] quyến thuộc vây quanh. Thuở xưa đạt được pháp tam-muội Giải nhất thiết chúng sanh ngữ ngôn, [148] nay dùng [tam-muội Hiện Nhất Thiết Sắc Thân] biến hiện khắp nơi, dùng âm thanh vi diệu vang dội khắp mười phương để hoằng truyền giáo pháp này, cho nên gọi là phẩm Bồ Tát Diệu Âm.
Phẩm này nêu rõ việc Bồ Tát dùng năng lực khó nghĩ bàn để tùy theo hạng loại chúng sanh mà lưu thông kinh điển. Chúng sanh nhìn thấy hình tích mà không suy lường bản nguyên, chỉ bằng lòng với mùi vị mà không biết chọn lựa hình thể, cho nên phải ở nơi địa vị thấp hèn mà tự làm ngưng trệ dòng chảy [của diệu pháp]. Đây tức là ý thứ hai trong pháp môn giáo hóa chúng sanh.
Kinh văn phẩm này có 6 tổng đoạn. Thứ nhất [nêu việc Phật] phóng quang về phương đông để triệu tập; thứ hai, [Bồ Tát] vâng mệnh từ phương tây tìm đến; thứ ba, nêu việc [Bồ Tát Diệu Âm] hoằng truyền kinh điển này trong khắp mười phương; thứ tư, nêu việc ở hai cõi nước đều được lợi ích; thứ năm, [Bồ Tát Diệu Âm] quay về cõi nước của mình; thứ sáu, nêu việc người nghe phẩm kinh này được tiến bộ trên đường đạo.
KINH VĂN
Lúc bấy giờ, đức Phật Thích-ca Mâu-ni phóng chiếu hào quang từ tướng nhục kế của bậc đại nhân, [149] cùng phóng hào quang từ tướng bạch hào giữa hai chân mày, soi khắp các thế giới của chư Phật về phương đông nhiều như số cát của tám trăm muôn ức na-do-tha con sông Hằng. Qua khỏi số thế giới ấy có thế giới tên là Tịnh Quang Trang Nghiêm, ở đó có đức Phật hiệu là Tịnh Hoa Tú Vương Trí Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn, đang thuyết pháp cho vô lượng vô biên các vị Đại Bồ Tát cung kính vây quanh. Hào quang từ tướng bạch hào giữa hai chân mày của Phật Thích-ca Mâu-ni soi chiếu khắp thế giới ấy.
Tổng đoạn thứ nhất, “tướng nhục kế của bậc đại nhân” là biển tướng tốt. Công đức của tất cả những sợi lông trên toàn thân [Phật] không bằng công đức của một vẻ đẹp [trong 80 vẻ đẹp]. Công đức của 80 vẻ đẹp không bằng công đức của một tướng tốt [trong 32 tướng]. Công đức của các tướng [trên thân Phật] tính từ phía dưới, càng lên trên thì càng thù thắng hơn, tất cả bên dưới đều không bằng công đức của tướng bạch hào. [150] Công đức của tướng bạch hào lại không bằng công đức của tướng nhục kế [trên đỉnh đầu Phật]. Cho nên gọi là tướng của bậc đại nhân. Duyên nghiệp của tướng này là nhờ sự hiếu thuận với các bậc sư trưởng [trong quá khứ] mà có, nay phóng hào quang để triệu tập đệ tử ngày xưa, sai khiến hoằng truyền kinh điển trung đạo làm lợi ích cho người có căn cơ Đại thừa.
Bạch hào khởi lên từ một đạo thanh tịnh, nay phóng ra hào quang để khiến cho truyền rộng giáo pháp này.
Hỏi : Mỗi một tướng tốt của Phật đều là biển pháp giới, vì sao lại nói có hơn kém?
Đáp : Vì các kinh khác có nêu ra nên mới nói như vậy mà thôi.
Hỏi : Đệ tử hữu duyên của Phật ở khắp cả mười phương, vì sao lại nói việc triệu tập từ phương đông sang thuyết giảng ở phương tây, không bàn đến tám phương khác sao?
Đáp : Điều này có ý nghĩa biểu trưng. Kinh Tịnh Danh nói: “Mặt trời, mặt trăng do ý nghĩa gì mà đi qua cõi Diêm-phù-đề? Là vì muốn dùng ánh sáng phá trừ tăm tối.” Phương đông là nơi ánh sáng khởi đầu, phương tây là nơi chấm dứt. Có khởi đầu, có kết thúc, chỉ có thể là bậc thánh mà thôi. Người chưa phát tâm thì khiến cho phát tâm, kẻ chưa đạt được rốt ráo thì khiến cho được rốt ráo. Một vị Bồ Tát đã như vậy thì các chúng khác cũng như vậy, một phương đã như vậy thì các phương khác cũng như vậy. Bậc thánh không dùng văn rườm rà, nêu một ý để bao quát hết thảy. Cho nên chỉ nói đến hai phương đông tây mà thôi.
KINH VĂN
Khi ấy, cõi thế giới Nhất Thiết Tịnh Quang Trang Nghiêm có một vị Bồ Tát hiệu là Diệu Âm, [151] từ lâu trồng sâu các gốc công đức, gần gũi cúng dường vô số trăm ngàn muôn ức đức Phật nên đã thành tựu trọn vẹn trí tuệ thâm sâu, đạt được các pháp tam-muội như Diệu tràng tướng, Pháp hoa, Tịnh đức, Tú vương hý, Vô duyên, Trí ấn, Giải nhất thiết chúng sanh ngữ ngôn, Tập nhất thiết công đức, Thanh tịnh, Thần thông du hý, Tuệ cự, Trang nghiêm vương, Tịnh quang minh, Tịnh tạng, Bất cộng, Nhật toàn… [152] Ngài được các pháp đại tam-muội như vậy, nhiều như số cát của trăm ngàn muôn ức con sông Hằng.
“Khi hào quang của đức Phật Thích-ca Mâu-ni chiếu đến thân của Bồ Tát Diệu Âm, ngài liền thưa với Phật Tịnh Hoa Tú Vương Trí: ‘Bạch Thế Tôn! Nay con sẽ đến thế giới Ta-bà để lễ bái, gần gũi cúng dường đức Phật Thích-ca Mâu-ni cùng gặp gỡ Pháp vương tử Bồ Tát Văn-thù-sư-lợi, Bồ Tát Dược Vương, Bồ Tát Dũng Thí, Bồ Tát Tú Vương Hoa, Bồ Tát Thượng Hạnh Ý, Bồ Tát Trang Nghiêm Vương, Bồ Tát Dược Thượng.’
“Bấy giờ, đức Phật Tịnh Hoa Tú Vương Trí bảo Bồ Tát Diệu Âm: ‘Ông đừng xem thường cõi nước ấy mà có ý cho là thấp kém. Thiện nam tử! Thế giới Ta-bà ấy cao thấp không bằng phẳng, đất đá núi đồi, đầy dẫy những thứ dơ nhớp xấu xa, thân Phật ở đó nhỏ bé, thân hình các Bồ Tát cũng nhỏ, còn thân ông cao bốn mươi hai ngàn do-tuần, thân ta cao sáu trăm tám mươi muôn do-tuần; thân ông đoan chính bậc nhất, hình sắc sáng suốt đẹp đẽ, cho nên khi đến đó đừng xem thường cõi nước ấy rồi đối với Phật, Bồ Tát hoặc cõi Phật ấy cho là thấp kém.’”
Tổng đoạn thứ hai nêu việc phát khởi đi đến [cõi Ta-bà], kinh văn có 2 đoạn. Thứ nhất là nói nhân duyên phát khởi đi đến; thứ hai là nói việc chính thức đi đến [cõi Ta-bà].
Đoạn thứ nhất nói nhân duyên tìm đến có 6 tiểu đoạn. Thứ nhất là lời dẫn của người chép kinh, nói về phước đức và trí tuệ của Bồ Tát Diệu Âm. Thứ hai, nêu việc [hào quang] chiếu đến [thân Bồ Tát]; thứ ba, nêu việc Bồ Tát từ biệt ra đi; thứ tư, nêu việc [đức Phật] răn nhắc; thứ năm, nói việc [Bồ Tát] kính nhận lời Phật dạy; thứ sáu, nói việc [Bồ Tát] hiện tướng đi đến [cõi Ta-bà].
Tiểu đoạn thứ nhất, lời dẫn [của người chép kinh] nói nguyên do được phước đức là nhờ trước đây được gặp nhiều đức Phật. “Thành tựu trọn vẹn trí tuệ thâm sâu” tức là trí tuệ trang nghiêm; đạt được 16 pháp tam-muội tức là phước đức trang nghiêm.
Tiểu đoạn thứ hai và thứ ba nói việc hào quang chiếu đến thân Bồ Tát, từ biệt Phật ra đi, đều y theo kinh văn có thể hiểu được.
Tiểu đoạn thứ tư nói lời Phật răn nhắc. Nhưng bậc pháp thân đại sĩ không cần răn nhắc vẫn tự thành tựu, do quyến thuộc đi cùng có thể có người còn chưa thông đạt, nên [đức Phật] mượn lời nói [răn nhắc Bồ Tát] để hướng đến những vị kia.
Phật thân tương xứng với lý, không thể thấy hình tướng bên ngoài thấp nhỏ mà quên đi sự tôn nghiêm. Đây là dựa vào tòa Như Lai để răn nhắc.
Bậc thầy và đệ tử đều trọn đủ trí đức và đoạn đức; thầy [là Phật Thích-ca] đã thực hiện quyền pháp, đệ tử [là các vị Bồ Tát] cũng phải ẩn giấu thật pháp. Đây là dựa vào y Như Lai để răn nhắc.
Cõi nước là y báo, đều do chánh báo chiêu cảm. Lòng từ của đức Như Lai phủ khắp thế giới đại thiên nên tùy nghi có lúc cần cao, có lúc phải thấp, không được nhìn thấy y báo [thấp kém] mà quên đi chánh báo [trang nghiêm]. Đây là dựa vào nhà Như Lai để răn nhắc.
Đức Phật ở cõi ấy hoằng truyền kinh điển cũng chỉ dạy ba ý như trên. Những lời răn nhắc đáng tôn kính ấy dựa theo việc đạo của chư Phật vốn đồng như nhau.
KINH VĂN
“Bồ Tát Diệu Âm bạch Phật: ‘Thế Tôn! Nay con đến thế giới Ta-bà đều là nhờ sức của Như Lai, nhờ thần thông du hý của Như Lai, nhờ công đức trí tuệ trang nghiêm của Như Lai.’
“Liền đó Bồ Tát Diệu Âm từ nơi tòa ngồi, không đứng lên, thân hình không dao động, nhập tam-muội rồi dùng sức tam-muội hóa ra tám mươi bốn ngàn đóa hoa sen báu ở núi Kỳ-xà-quật, cách Pháp tòa không xa, cuống hoa bằng vàng diêm-phù-đàn, cánh hoa bằng bạc trắng, đài hoa bằng ngọc chân-thúc-ca, [153] nhụy hoa bằng kim cương.”
Khi ấy, đức Phật Thích-ca Mâu-ni bảo ngài Văn-thù-sư-lợi: “Đó là Đại Bồ Tát Diệu Âm từ cõi Phật Tịnh Hoa Tú Vương Trí cùng với tám mươi bốn ngàn Bồ Tát vây quanh muốn đến thế giới Ta-bà để gần gũi cúng dường lễ bái ta, cũng là muốn cúng dường, nghe kinh Pháp hoa.”
Bồ Tát Văn-thù-sư-lợi bạch Phật: “Thế Tôn! Vị Bồ Tát ấy đã trồng gốc lành gì, tu tập công đức gì mà có sức đại thần thông như vậy? Vị ấy tu hành pháp tam-muội gì? Nguyện đức Thế Tôn vì chúng con nói về tên gọi của pháp tam-muội ấy, để chúng con cũng chuyên cần tu tập theo. Tu tập pháp tam-muội ấy mới có thể thấy được hình tướng lớn nhỏ, oai nghi cử chỉ của Bồ Tát ấy. Kính nguyện đức Thế Tôn dùng sức thần thông, khi vị Bồ Tát kia đến khiến cho chúng con được nhìn thấy.”
Bấy giờ, đức Phật Thích-ca Mâu-ni bảo Bồ Tát Văn-thù-sư-lợi: “Đức Như Lai Đa Bảo đã diệt độ từ lâu, nay sẽ vì các ông mà hiển bày hình tướng của Bồ Tát ấy.”
Khi ấy, đức Phật Đa Bảo bảo Bồ Tát Diệu Âm: “Thiện nam tử! Hãy đến đây, Pháp vương tử Văn-thù-sư-lợi muốn nhìn thấy thân ông.”
Tiểu đoạn thứ năm nêu việc Bồ Tát vâng lời dạy của Phật. “Nhờ sức của Như Lai” tức là sức của tòa Như Lai; “nhờ thần thông du hý của Như Lai” tức là nhờ sức của nhà Như Lai; “nhờ công đức trí tuệ trang nghiêm của Như Lai” tức là nhờ sức của y Như Lai. Đây là thọ nhận lời dạy quan trọng hoằng truyền kinh điển, là tông chỉ cốt yếu lợi lạc chúng sanh, cho nên mới không dao động ở hội này mà vẫn có thể du hành giáo hóa khắp mười phương.
Tiểu đoạn thứ sáu nêu việc hiện tướng đến [cõi Ta-bà], kinh văn có 6 phân đoạn. Thứ nhất là hóa hiện hoa sen đến trước; thứ hai là [Bồ Tát Văn-thù] thưa hỏi; thứ ba là [đức Phật Thích-ca Mâu-ni] giải đáp; thứ tư là thưa thỉnh; thứ năm là suy tìm công đức [ngày trước]; thứ sáu là [đức Phật Đa Bảo] bảo [Bồ Tát Diệu Âm] hiện đến. Tất cả đều y theo kinh văn có thể hiểu được.
Hỏi : Nếu Bồ Tát Văn-thù có giai vị thấp hơn, thì khi [Bồ Tát Diệu Âm] nói lời từ biệt [Phật] ra đi lẽ ra không nêu việc cầu được gặp [Văn-thù]. Nếu Bồ Tát Văn-thù có giai vị cao hơn, thì khi [Bồ Tát Diệu Âm] sắp đến lẽ nào lại không biết?
Đáp : Tuy đồng một giai vị nhưng có khởi đầu, khoảng giữa và sau cùng. Chỉ riêng một việc này không biết cũng không làm kém đi giai vị cao. Lại nữa, đại chúng thấy điềm lành nhưng không biết gì, vì giúp cho đại chúng được rõ biết nên mới thưa hỏi Phật.
KINH VĂN
Liền đó, Bồ Tát Diệu Âm biến mất ở cõi nước kia, cùng với tám mươi bốn ngàn Bồ Tát bắt đầu đến cõi Ta-bà. Những cõi nước ngài đi qua đều chấn động sáu cách, trời mưa xuống hoa sen bảy báu, trăm ngàn loại nhạc khí cõi trời không khua gõ mà tự vang lên. Bồ Tát Diệu Âm có đôi mắt như cánh hoa sen xanh lớn rộng, giả sử như hòa hợp vẻ đẹp của trăm ngàn muôn mặt trăng cũng không bằng diện mạo đoan chính của ngài; thân như vàng ròng với vô số trăm ngàn công đức trang nghiêm, oai đức chói ngời, hào quang rực sáng, đầy đủ các tướng tốt, như thân na-la-diên kiên cố.
Bồ Tát Diệu Âm hiện vào đài bảy báu, bay lên hư không, cao khỏi mặt đất bảy cây đa-la, các vị Bồ Tát cung kính vây quanh, cùng bay đến núi Kỳ-xà-quật ở thế giới Ta-bà. Khi đến nơi, ngài xuống khỏi đài bảy báu, mang chuỗi ngọc trị giá trăm ngàn lượng vàng [154] đến chỗ đức Phật Thích-ca Mâu-ni, cúi đầu áp mặt lễ dưới chân Phật, dâng chuỗi ngọc lên rồi thưa với Phật: “Bạch Thế Tôn! Đức Phật Tịnh Hoa Tú Vương Trí gửi lời thăm hỏi vấn an Thế Tôn, ngài có được ít bệnh não, đứng ngồi nhẹ nhàng, đi lại an vui chăng?
Bốn đại có điều hòa chăng? Việc đời có nhẫn chịu chăng? Chúng sanh có dễ hóa độ chăng?
Không có nhiều chúng sanh tham dục, sân hận, ngu si, tật đố, keo lận, ngạo mạn chăng? Không có những chúng sanh bất hiếu với cha mẹ, bất kính với sa-môn, hoặc tà kiến, tâm bất thiện, không nhiếp phục năm căn [155] chăng? Bạch Thế Tôn!
Chúng sanh cõi này có hàng phục được các ma oán chăng? Đức Như Lai Đa Bảo đã diệt độ từ lâu trong tháp bảy báu có hiện đến nghe pháp chăng? Lại cũng xin thưa hỏi vấn an đức Như Lai Đa Bảo, có an ổn, ít phiền não, nhẫn chịu ở lại lâu được chăng?
Bạch Thế Tôn! Nay con muốn được nhìn thấy thân Phật Đa Bảo, kính nguyện đức Thế Tôn hiển bày cho con được thấy.”
Khi ấy, đức Phật Thích-ca Mâu-ni nói với Phật Đa Bảo: “Bồ Tát Diệu Âm này muốn được bái kiến.”
Bấy giờ, đức Phật Đa Bảo bảo Bồ Tát Diệu Âm: “Lành thay, lành thay! Ông có thể vì cúng dường đức Phật Thích-ca Mâu-ni, nghe kinh Pháp hoa và gặp gỡ các Bồ Tát như Văn-thù-sư-lợi… mà đến cõi này.”
Đoạn thứ hai từ câu “Liền đó, Bồ Tát Diệu Âm biến mất…” trở đi, nêu việc chính thức phát khởi đi đến [cõi Ta-bà]. Kinh văn chia làm 6 tiểu đoạn. Thứ nhất là cùng với quyến thuộc phát khởi ra đi trải qua các cõi nước; thứ hai, mô tả việc Bồ Tát vào đài báu bay lên; thứ ba, vấn an và truyền đạt lời [đức Phật Tịnh Hoa Tú Vương Trí]; thứ tư, thỉnh cầu được thấy Phật Đa Bảo; thứ năm, đức Thế Tôn chuyển lời [với Phật Đa Bảo]; thứ sáu, [Phật Đa Bảo] trong tháp khen ngợi việc tốt đẹp.
Tất cả các phần này đều y theo kinh văn có thể hiểu được, [không cần giải thích].
KINH VĂN
Khi ấy, Bồ Tát Hoa Đức bạch Phật: “Thế Tôn! Vị Bồ Tát Diệu Âm này đã trồng những căn lành gì, tu tập công đức gì mà có được sức thần thông như vậy?”
Đức Phật bảo Bồ Tát Hoa Đức: “Thời quá khứ có đức Phật hiệu là Vân Lôi Âm Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri… cõi nước tên là Hiện Nhất Thiết Thế Gian, kiếp tên là Hý Kiến. [156] Bồ Tát Diệu Âm trong mười hai ngàn năm đã dùng trăm ngàn loại kỹ nhạc để cúng dường lên đức Phật Vân Lôi Âm Vương, cùng dâng lên tám mươi bốn ngàn bình bát quý báu. Do phước báo từ nhân duyên ấy, nay được sanh vào cõi Phật Tịnh Hoa Tú Vương Trí, có sức thần thông như thế.
“Này Hoa Đức! Ý ông nghĩ sao? Thuở xưa ở chỗ đức Phật Vân Lôi Âm Vương, Bồ Tát Diệu Âm từng dùng kỹ nhạc cúng dường, dâng bình bát quý báu đó nào phải ai khác, chính là Đại Bồ Tát Diệu Âm ngày nay.”
Tổng đoạn thứ ba nói việc hoằng truyền kinh điển, chia ra thành hai đoạn. Đoạn thứ nhất thưa hỏi, đoạn thứ hai giải đáp.
Đoạn thứ nhất trước tiên thưa hỏi về căn lành, sau đó thưa hỏi về thần lực. Hỏi về căn lành tức là hỏi về thuở xưa, hỏi về thần lực là hỏi việc ngày nay.
Đoạn thứ hai, đức Phật giải đáp có 2 tiểu đoạn.
Tiểu đoạn thứ nhất nói việc ngày xưa cúng dường âm nhạc và bình bát báu, sau đó kết nối tương hợp việc xưa với ngày nay. Tất cả đều y theo kinh văn có thể hiểu được. Đây là giải đáp câu hỏi về căn lành.
KINH VĂN
“Này Hoa Đức! Bồ Tát Diệu Âm này từng gần gũi cúng dường vô số các đức Phật, từ lâu gieo trồng cội đức, lại được gặp vô số trăm ngàn muôn ức na-do-tha Phật nhiều như cát sông Hằng.
“Này Hoa Đức! Ông chỉ thấy được thân của Bồ Tát Diệu Âm tại đây thôi, nhưng Bồ Tát này còn thị hiện đủ thân hình ở khắp mọi nơi, vì chúng sanh thuyết giảng kinh điển này. Hoặc hiện thân Phạm vương, hoặc hiện thân Đế thích, hoặc thân Tự Tại Thiên, Đại Tự Tại Thiên, Thiên Đại Tướng Quân, Tỳ-sa-môn Thiên Vương, Chuyển Luân Thánh Vương; hoặc hiện thân các tiểu vương, trưởng giả, cư sĩ, tể quan, bà-la-môn, tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, hoặc hiện thân phụ nữ là trưởng giả, cư sĩ, tể quan, bà-la-môn, hoặc hiện thân đồng nam, đồng nữ, hoặc hiện thân trời, rồng, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, người, phi nhân... mà thuyết giảng kinh này.
Tại những nơi như địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh cùng những nơi khó gặp Phật pháp, [157] Bồ Tát đều có thể cứu giúp; cho đến trong hậu cung của đức vua, Bồ Tát cũng hiện thành thân nữ để thuyết kinh này.
“Này Hoa Đức! Bồ Tát Diệu Âm thường cứu độ, giúp đỡ chúng sanh trong thế giới Ta-bà; Bồ Tát Diệu Âm hóa hiện đủ mọi hình tướng như vậy, vì chúng sanh thuyết giảng kinh Pháp hoa này trong cõi Ta-bà mà sức thần thông biến hóa, trí tuệ của Bồ Tát không hề suy giảm. Vị Bồ Tát này dùng bao nhiêu là môn trí tuệ để soi sáng thế giới Ta-bà, giúp cho mỗi một chúng sanh đều đạt được chỗ hiểu biết, lại ở nơi các thế giới nhiều như cát sông Hằng trong khắp mười phương cũng đều như vậy.
“Nếu có chúng sanh chỉ có thể hóa độ bằng hình tướng Thanh văn, Bồ Tát liền hiện thân Thanh Văn để thuyết pháp; nếu có chúng sanh chỉ có thể hóa độ bằng hình tướng Duyên giác, liền hiện thân Duyên giác để thuyết pháp; nếu có chúng sanh chỉ có thể hóa độ bằng hình tướng Bồ Tát, liền hiện thân Bồ Tát để thuyết pháp; nếu có chúng sanh chỉ có thể hóa độ bằng hình tướng Phật, liền hiện thân Phật để thuyết pháp. Bồ Tát tùy theo hình tướng thích hợp để hóa độ chúng sanh mà hiện ra đủ mọi hình tướng, cho đến những chúng sanh phải dùng sự diệt độ mới có thể hóa độ, liền thị hiện diệt độ.
“Này Hoa Đức! Sự thành tựu sức đại trí tuệ thần thông của Đại Bồ Tát Diệu Âm là như vậy.”
Lúc bấy giờ, Bồ Tát Hoa Đức bạch Phật: “Thế Tôn! Bồ Tát Diệu Âm này đã trồng sâu căn lành. Bạch Thế Tôn! Bồ Tát này đã an trụ pháp tam-muội gì mà có thể tùy nơi biến hiện độ thoát chúng sanh?”
Đức Phật bảo Bồ Tát Hoa Đức: “Thiện nam tử! Pháp tam-muội ấy có tên là Hiện Nhất Thiết Sắc Thân. Bồ Tát Diệu Âm an trụ trong pháp tam-muội ấy nên có thể làm lợi ích cho vô số chúng sanh như vậy.”
Tiểu đoạn thứ hai từ câu “Này Hoa Đức! Bồ Tát Diệu Âm…” trở đi là giải đáp câu hỏi về thần lực, nêu ra 34 thân phàm phu và 4 thân thánh nhân, kết thành mười pháp giới, sáu đường chúng sanh.
Từ câu “Lúc bấy giờ, Bồ Tát Hoa Đức bạch Phật…” trở đi là thưa hỏi [Bồ Tát Diệu Âm] ngày nay đang trụ ở pháp tam-muội nào mà có thể được lợi ích tự tại như vậy. Đức Phật giải đáp, y theo kinh văn có thể hiểu được.
KINH VĂN
Khi Phật thuyết phẩm Bồ Tát Diệu Âm này, tám mươi bốn ngàn Bồ Tát cùng đi với Bồ Tát Diệu Âm đều đạt được pháp tam-muội Hiện Nhất Thiết Sắc Thân; vô số Bồ Tát ở thế giới Ta-bà này cũng đạt được pháp tam-muội ấy cùng pháp tổng trì.
Tổng đoạn thứ tư từ câu “Khi Phật thuyết phẩm Bồ Tát Diệu Âm này…” trở đi nêu lợi ích của cả hai cõi nước. Tam-muội và đà-la-ni [158] tuy cùng một thể mà hoạt dụng khác nhau. Hoạt dụng vắng lặng tịch tĩnh là tam-muội, hoạt dụng nắm giữ [không quên mất] là đà-la-ni. Lại nữa, dùng sắc thân biến hiện gọi là tam-muội; dùng âm thanh [ngôn ngữ] biện thuyết gọi là đà-la-ni. Trong phẩm trước nói [Bồ Tát Dược Vương] trước đã đạt được tam-muội Hiện nhất thiết sắc thân, khi tái sinh đời sau được đà-la-ni Giải nhất thiết chúng sanh ngữ ngôn. Âm thanh cũng thuộc về sắc pháp, cho nên nói cùng một thể mà hoạt dụng khác nhau. Lại nữa, lưỡi thanh tịnh gọi là đà-la-ni, các căn khác thanh tịnh gọi là tam-muội. Tất cả đều là pháp môn thanh tịnh sáu căn.
KINH VĂN
Lúc bấy giờ, Đại Bồ Tát Diệu Âm cúng dường Phật Thích-ca Mâu-ni cùng Phật Đa Bảo xong liền quay về cõi nước của mình. Các cõi nước ngài đi qua đều chấn động sáu cách, trời mưa xuống hoa sen báu, vang lên trăm ngàn muôn ức đủ loại âm nhạc. Khi về đến cõi thế giới kia rồi, ngài với tám mươi bốn ngàn Bồ Tát vây quanh cùng đến chỗ đức Phật Tịnh Hoa Tú Vương Trí, bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Con đến thế giới Ta-bà làm lợi ích chúng sanh, đã gặp đức Phật Thích-ca Mâu-ni, cũng thấy được tháp Phật Đa Bảo, lễ bái cúng dường, lại gặp gỡ Pháp vương tử Bồ Tát Văn-thù-sư-lợi, Bồ Tát Dược Vương, Bồ Tát Đắc Cần Tinh Tấn Lực, Bồ Tát Dũng Thí... và cũng khiến cho tám muôn bốn ngàn Bồ Tát này đều đạt được pháp tam-muội Hiện Nhất Thiết Sắc Thân.”
Khi đức Phật thuyết phẩm kinh Bồ Tát Diệu Âm [159] này, có bốn mươi hai ngàn vị thiên tử cõi trời đạt được pháp nhẫn vô sinh, Bồ Tát Hoa Đức đạt được pháp tam-muội Pháp hoa.”
Tổng đoạn thứ năm từ câu “Lúc bấy giờ, Đại Bồ Tát Diệu Âm cúng dường…” trở đi nêu việc [Bồ Tát Diệu Âm] trở về cõi nước cũ. Mặt đất chấn động, mưa hoa rơi xuống, đó là Bồ Tát đi qua còn có thể làm lợi ích bên đường đi, huống chi việc Phật phóng hào quang trước đó, soi chiếu đến trăm ngàn muôn ức na-do-tha cõi nước về phương đông, cũng đều nói đến lợi ích.
Tổng đoạn thứ sáu từ câu “Khi đức Phật thuyết…” trở đi nói việc khi nghe phẩm kinh này liền được tăng tiến trên đường đạo, y theo kinh văn có thể hiểu được.
25. Giải thích phẩm Phổ môn - Bồ Tát Quán Thế Âm
KINH VĂN
Phẩm Phổ môn - Bồ Tát Quán Thế Âm, thứ hai mươi lăm
Giải thích tên phẩm
Phẩm này là bản kinh đương thời được tôn quý nhất, [160] rất nhiều người giảng giải. Nay ở đây giải thích không giống như những vị khác. Riêng về phẩm này tôi có ghi chép 2 quyển giảng giải, nay lược lấy những điểm cốt yếu để giải thích tên phẩm này, có phần giải thích nghĩa tổng quát, có phần nói nghĩa chi tiết cụ thể. Giải thích nghĩa tổng quát thì nêu mười cặp theo nhau, giải thích chi tiết cụ thể thì giảng rõ năm chữ [trong tên phẩm].
Mười cặp theo nhau là từ cặp thứ nhất nêu người và pháp, cho đến cặp thứ mười nói trí đức và đoạn đức. Đại lược là như vậy.
– Thứ nhất, cặp người và pháp. Quán Thế Âm là nói về người, Phổ môn là nói về pháp. Người có nhiều loại… Pháp có nhiều loại… [161] Theo phần hỏi đáp ở trước là bàn về Bồ Tát Quán Thế Âm, tức là người; theo phần hỏi đáp ở sau là bàn về Phổ môn, tức là pháp. Người và pháp hợp lại nêu chung, cho nên gọi là phẩm Phổ môn Bồ Tát Quán Thế Âm.
– Thứ hai, [cặp bi và từ]. Quán Thế Âm là nói tâm đại bi cứu khổ. Theo phần hỏi đáp ở trước, có trăm ngàn khổ não đều được giải thoát. Phổ môn là nói tâm đại từ ban vui. Theo phần hỏi đáp ở sau thì tùy theo chỗ có thể hóa độ được chúng sanh mà vì họ thuyết pháp.
– Thứ ba, [cặp trí và phước]. Quán Thế Âm là nói trí tuệ trang nghiêm. Trí tuệ có khả năng đoạn trừ mê hoặc, như lúc sáng thì không có bóng tối. Phổ môn là nói phước đức trang nghiêm. Phước đức có thể làm thay đổi tuổi thọ, như hạt châu [như ý] làm mưa xuống các món báu.
– Thứ tư, [cặp pháp và ứng]. Quán Thế Âm là nói quán sát ngầm khế hợp nơi cảnh, tức là pháp thân. Phổ Môn là nói tùy nơi mà ứng hiện, tức là ứng thân.
– Thứ năm, [cặp thuốc và ngọc]. Quán Thế Âm là ví như cây thuốc chúa, bệnh tật khắp châu thân đều trừ dứt. Phổ môn ví như hạt ngọc như ý, [người có ngọc thì] tùy ý muốn gì cũng có.
– Thứ sáu, [cặp ngầm và hiển]. Quán Thế Âm là nói ngấm ngầm làm lợi ích [chúng sanh], không có chỗ thấy nghe nhưng ba món độc, bảy tai nạn đều được lìa thoát; hai sự mong cầu, hai tâm nguyện đều được thỏa mãn. Phổ môn là nói sự hiển lộ rõ rệt làm lợi ích, [chúng sanh được] tận mắt nhìn thấy dung nhan 33 bậc thánh, tai nghe 19 lời dạy đáng tôn kính.
– Thứ bảy, [cặp thật và quyền]. Quán Thế Âm là nói tùy theo tự ý soi chiếu trí chân thật. Phổ môn là nói tùy theo ý chúng sanh soi chiếu trí quyền biến.
– Thứ tám, [cặp bản và tích]. Quán Thế Âm là bản nguyên tột cùng không lay động. Phổ môn là hình tích tùy duyên mà biến hiện thích hợp. [162]
– Thứ chín, [cặp liễu và duyên]. Quán Thế Âm, từ căn bản là chủng tử liễu nhân [của tánh Phật]. Phổ môn, từ căn bản là chủng tử duyên nhân [của tánh Phật].
– Thứ mười, [cặp trí và đoạn]. Quán Thế Âm, rốt ráo là trí đức, như ánh sáng mặt trăng đêm 14 [giữa tháng]. Phổ môn, rốt ráo là đoạn đức, như mặt trăng vào đêm 29 [cuối tháng] ánh sáng đã gần dứt mất.
Hai lần hỏi đáp trong kinh văn hàm chứa vô lượng ý nghĩa, nay chỉ lược nêu 10 cặp theo nhau, khởi đầu từ người và pháp, cuối cùng là trí và đoạn, dùng để giải thích tên phẩm theo nghĩa chung. Ý nghĩa là như vậy.
Bàn về ý nghĩa chi tiết cụ thể thì giải thích năm chữ [trong tên phẩm].
● Thứ nhất là chữ “quán”. Quán có nhiều loại, là nói các loại quán chiếu phân tích chia chẻ, quán chiếu bản thể, quán chiếu trình tự và quán chiếu viên mãn. [163] Quán chiếu phân tích là diệt trừ hình sắc, thể nhập tánh không. Quán chiếu bản thể là thấy được sắc tức là không. Quán chiếu trình tự là tuần tự đi từ quán chiếu phân tích cho đến quán chiếu viên mãn. Quán chiếu viên mãn là thấy được quán chiếu phân tích là thật tướng, cho đến quán chiếu trình tự cũng là thật tướng.
Nay lược bớt ba loại quán, chỉ luận riêng về quán chiếu viên mãn. Kinh văn nói “phổ môn quán”, nếu không phải cửa vào viên mãn thì không gọi là “phổ”, tức là ý nghĩa này.
● Thứ hai là chữ “thế”. Nếu xét theo sự hành trì thì [phải luận về] thế trước, quán sau; xét theo lời nói thì quán trước, thế sau. Nay theo sự thuận tiện lời văn nên bàn về [quán trước] thế sau.
Thế cũng có nhiều loại, là nói có hữu vi thế, vô vi thế, nhị biên thế và bất tư nghị thế. Hữu vi thế tức là ba cõi thế gian. Vô vi thế tức là 2 cảnh giới Niết-bàn. Nhị biên thế tức là sanh tử và Niết-bàn. Bất tư nghị thế là cảnh giới thật tướng. Nay lược bỏ đi các loại khác, chỉ giữ lại bất tư nghị thế.
● Thứ ba là chữ “âm”, ở đây chỉ căn cơ. Căn cơ lại có nhiều loại, như căn cơ hàng trời người, căn cơ nhị thừa, căn cơ Bồ Tát, căn cơ Phật.
Căn cơ hàng trời người là “không làm các việc ác, vâng làm các việc lành”. Căn cơ nhị thừa là “chán sợ sanh tử, vui chuộng vô vi”. Căn cơ Bồ Tát là trước lo cho người, sau mới đến mình, từ bi, nhân hậu, khiêm nhường. Căn cơ Phật là trong hết thảy các pháp đều dùng phép quán bình đẳng thể nhập, hết thảy mọi việc đều không ngăn ngại người, chỉ một đường thoát khỏi sanh tử. Nay lược bỏ các căn cơ âm khác, chỉ dùng Phật âm cơ mà bày ra sự ứng hóa. Dùng nhân duyên căn cơ ứng hóa này nên gọi là Quán Thế Âm.
Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch bằng AI do Inti biên soạn: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.