Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Văn Cú quyển 9
Tên chữ Hán:妙法蓮華經文句
Lưu tiến độ đọc kinh
Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.
KINH VĂN
“Lại nữa, Đại Bồ Tát quán xét hết thảy các pháp đều là không, thấy rõ tướng như thật, không điên đảo, không dao động, không thối thất, không lay chuyển, giống như hư không, không có tánh sở hữu, [1] vượt ngoài khả năng diễn đạt của ngôn từ, [2] không sanh, không xuất, không khởi, không tên gọi, không hình tướng, thật không hiện hữu, không thể đo lường, không giới hạn, không ngăn ngại, không che chướng, chỉ do nhân duyên mà có, từ nơi điên đảo khởi sanh cho nên nói là có. Thường ưa thích quán xét tướng pháp như vậy, đó gọi là phạm vi thân cận thứ hai của hàng Bồ Tát.”
Tiểu ý thứ ba nêu nghĩa chẳng phải xa chẳng phải gần, kinh văn có 3 điều. Thứ nhất là nêu tổng quát việc trí tuệ soi chiếu cảnh giới; thứ hai là giải thích cụ thể; thứ ba là kết lại sự thành tựu.
“Quán xét” là dùng trí tuệ trung đạo để quán xét; “hết thảy các pháp” là cảnh giới của 10 pháp giới. Nếu chỉ luận riêng về trí thì tự thân trí không phải đối tượng của sự quán xét, cho nên nêu lên “hết thảy các pháp” để hiển bày rõ tất cả đều là không.
“Như thật” là giải thích cụ thể, nhị biên [3] với tam đế [4] không đồng nhất cũng không khác biệt nên gọi là “như”; không thuộc về 7 hạng phương tiện nên gọi là “thật”. Lấy chân thật làm tướng nên gọi là “tướng như thật”.
“Không điên đảo” là nói không có 8 sự điên đảo; [5] “không dao động” là nói không bị 2 loại sanh tử phần đoạn và sanh tử biến dịch làm cho dao động; “không thối thất” là nói tâm thường tịch diệt, thể nhập biển trí tuệ Phật. [6]
“Không lay chuyển” là nói không giống như phàm phu lưu chuyển trong sanh tử, cũng không giống như hàng nhị thừa chuyển từ phàm lên thánh.
“Giống như hư không” là nói [hết thảy các pháp] chỉ là tên gọi, mà tên gọi thì không thể nắm bắt; cho đến trí tuệ trung đạo quán xét cũng chỉ là tên gọi, cầu không thể được.
“Không có tánh sở hữu” là nói [hết thảy các pháp] không thể tự sanh, không thể do pháp khác sanh, không do tự thể hòa hợp với pháp khác mà sanh, cũng không phải không có nhân mà sanh. [7]
“Vượt ngoài khả năng diễn đạt của ngôn từ” nghĩa là không thể nghĩ bàn; “không sanh” là nói mọi nghi hoặc, trí, lý đều không sanh; “không xuất” là nói những gì Như Lai đã điều phục không bao giờ phát khởi lại; [8]
“Không khởi” là nói hết thảy phương tiện đều vắng lặng diệt mất; “không tên gọi” là không thể dùng danh xưng để gọi tên; “không hình tướng” là hết thảy hình tướng đều không thể biểu hiện [tướng thật].
“Thật không hiện hữu” là nói không hiện hữu [theo 2 nghĩa bám chấp] nơi có hoặc không; “không thể đo lường” là không thuộc về pháp toán số; “không giới hạn” là không có phương hướng, vị trí; “không ngăn ngại, không che chướng” là ở khắp mọi nơi.
“Chỉ do nhân duyên mà có” là nói tóm kết lại [các ý nghĩa trước].
Như trên đã nêu qua về trí tuệ quán xét theo trung đạo, bây giờ sẽ nêu rõ nghĩa cùng lúc quán xét soi chiếu hai bên đối đãi.
Lại nữa, tánh lý rốt ráo thanh tịnh, không phải giải thoát, không phải mê hoặc, nhưng từ nhân duyên mê hoặc mà sanh ra sanh tử, từ nhân duyên giải thoát mà sanh ra Niết-bàn.
Lại nữa, “do nhân duyên mà có” là có nơi Niết-bàn; “từ nơi điên đảo khởi sanh” là sanh nơi sanh tử. Như vậy tức là làm rõ ý nghĩa cùng lúc soi chiếu vậy [hai bên đối đãi].
“Thường ưa thích quán xét tướng pháp như vậy”, tức là quán xét các pháp theo 3 chân đế. [9] Lại nữa, “chỉ do nhân duyên mà có, từ nơi điên đảo khởi sanh” là tóm kết lại cảnh giới không thể nghĩ bàn của 3 chân đế; “cho nên nói là” tức là nói giáo pháp không thể nghĩ bàn. “Thường ưa thích quán xét” là tóm kết về 3 pháp quán [không, giả và trung] không thể nghĩ bàn.
Lại nữa, “quán xét hết thảy các pháp đều là không, thấy rõ tướng như thật” là nêu thể của quán; từ câu “không điên đảo” trở đi là 9 điều nêu tướng của quán.
Không bị 8 sự điên đảo đối đãi hai bên [10] làm dao động, nên gọi là “không điên đảo, không dao động”. Không rơi vào các giai vị của hàng nhị thừa và phàm phu nên nói là “không thối thất, không lay chuyển”. Đây là 2 điều nêu công dụng của trí.
Lý không thuộc về tương lai nên “không sanh”, không thuộc về quá khứ nên “không xuất”, không thuộc về hiện tại nên “không khởi”.
Luận Đại Trí độ, quyển 51 nói: “Như hư không, không có các tướng vào, ra hay trụ lại.” [11] Luận Nhiếp Đại thừa cũng nói như vậy: “Không có chỗ đi vào trong tương lai, không có chỗ hiện ra trong quá khứ, không có chỗ trụ lại trong hiện tại.” Luận Đại Trí độ, quyển thứ 43 nói: “Về phía nhân không khởi nên gọi là ‘không xuất’, về phía duyên không khởi nên gọi là ‘không sanh’.” [12]
Phần này nêu tất cả 19 điều. Điều trước tiên là nêu tổng quát và 18 điều sau là tương hợp với 18 pháp không trong Đại phẩm Bát-nhã.
“Tướng như thật” tức là đệ nhất nghĩa không; [13] “không điên đảo” tức là nội không, [14] vì bên trong không có 6 nhập, không có ta và vật của ta nên không điên đảo; “không dao động” tức là ngoại không, [15] vì bên ngoài không bị 6 trần cảnh làm cho dao động.
“Không thối thất” tức là nội ngoại không, [16] vì 12 nhập đều không nên nói là không thối thất; “không lay chuyển” tức là không không, [17] vì không này phá trừ các pháp, các pháp là bị phá, không này có công năng phá, [cuối cùng] các pháp đều không tồn tại, chỉ còn lại không, nhưng không này lại cũng là không, cho nên nói là không không; không đã là không thì không còn có thể lay chuyển, cho nên nói là không lay chuyển; “giống như hư không” tức là đại không, [18] vì phá sự bám chấp vào không nên nói là giống như hư không. [19]
“Không có tánh sở hữu” tức là tất cánh không, [20] các pháp rốt cùng chẳng còn lại gì, nên gọi là tất cánh không; vì rốt cùng chẳng còn gì cho nên không có tánh sở hữu; “vượt ngoài khả năng diễn đạt của ngôn từ” tức là nhất thiết không, [21] vì hết thảy đều không nên không thể dùng lời diễn nói, cho nên vượt ngoài khả năng diễn đạt của ngôn từ; “không sanh” tức là hữu vi không; [22] pháp hữu vi là do nhân duyên hòa hợp mà có, nếu đã không hòa hợp tức là không sanh.
“Không xuất” tức là vô vi không; [23] “vô” là rời khỏi, xa lìa; rời khỏi, xa lìa pháp không cho nên gọi là không xuất; “không khởi” tức là vô thủy không; [24] không thể tìm được đến chỗ ban sơ, cho nên là không khởi; “không tên gọi” tức là tánh không, [25] ý nghĩa này có thể hiểu được [không cần giảng giải].
“Không hình tướng” tức là tướng không; [26] “thật không hiện hữu” tức là bất khả đắc không; [27] “không thể đo lường” tức là hữu pháp không; [28] có pháp tức là có thể đo lường, sự đo lường đã là không cho nên nói là không thể đo lường.
“Không giới hạn” tức là vô pháp không; [29] vô pháp là giới hạn bên ngoài, nay đã là không nên không có giới hạn; “không ngăn ngại” tức là vô pháp hữu pháp không; [30] cả hai pháp [hữu, vô] đều không thể nắm bắt, cho nên nói là không ngăn ngại; “không che chướng” tức là tán không, [31] không thể ngăn che chướng ngại được cho nên nói là không che chướng.
Mười tám pháp không đều là trí tuệ trung đạo chân chánh, đều gọi là không, nhưng tùy theo 18 loại hoàn cảnh khác nhau cho nên nói có 18 pháp.
Kinh Đại Bát Niết-bàn nói “Như Lai thường tu 18 nghĩa không”, cho nên dùng 18 nghĩa không để giải thích 18 điều [nêu trong kinh văn].
KINH VĂN
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa trên nên thuyết kệ rằng:
Phần kệ tụng có 28 khổ và 3 câu kệ, chia làm 3 phân đoạn. Phân đoạn thứ nhất gồm 1 khổ kệ, nêu khái quát vấn đề. Phân đoạn thứ hai gồm 22 khổ kệ, tụng về sự tu tập các hạnh [an vui]. Phân đoạn thứ ba gồm 5 khổ và 3 câu kệ nêu sự thành tựu các hạnh [an vui].
Trong kinh văn trường hàng thì hành xứ và cận xứ được giải thích riêng, nay trong kệ tụng thì hợp chung lại để tụng. Đây tức là ý nghĩa diễn đạt như nhau nhưng vận dụng mở ra, hợp lại để hỗ trợ cho nhau hiển bày. Việc giải thích mở rộng và tóm lược bổ sung cho nhau nên có thể y cứ.
Kinh văn trường hàng ở trước giải thích về hành xứ và cận xứ, mỗi phần đều có 3 ý, nay phần kệ tụng hợp lại để nói, không theo đúng thứ tự như trước.
KINH VĂN
[Phân đoạn thứ hai chia làm 2 ý.] Ý thứ nhất từ câu “Nên vào chỗ thực hành” trở đi, gồm 14 khổ kệ, tụng về những việc nên xa lìa và nên thân cận. Kinh văn phần trước nêu 10 điều nên xa lìa, kệ tụng có lược bớt và không theo đúng thứ tự như trước, so sánh kinh văn có thể thấy được. Phần này cũng là tụng về việc người trụ nơi 2 pháp không mà thực hành công hạnh, nhận hiểu theo ý nghĩa cũng tức là bao gồm 3 tiểu ý nói về chỗ thân cận, cho nên kệ tụng nói “phép tắc trên gọi là, chỗ thực hành, thân cận”, tức là nói đủ hành xứ, cận xứ.
“Thường lìa xa vua chúa”, vì tỳ-kheo thân cận vua chúa [phải chịu ảnh hưởng xấu của] 10 điều không đúng chánh pháp. Thứ nhất, có kẻ âm mưu giết vua. Thứ hai, vua giết [oan] quan đại thần. Thứ ba, người giữ kho vua để mất báu vật. Thứ tư, cung nữ [dâm loạn] mang thai. Thứ năm, vua bị trúng độc. Thứ sáu, các quan đại thần ganh ghét tranh giành nhau. Thứ bảy, xảy ra chiến tranh với nước khác. Thứ tám, vua keo kiệt không bố thí giúp dân. Thứ chín, vua vơ vét của dân. Thứ mười, xảy ra nhiều dịch bệnh.
Vị tỳ-kheo vốn thường thực hành chú nguyện, khi có 10 việc xấu như trên xảy ra, hết thảy mọi người dân đều cho rằng đó là do vị tỳ-kheo [ở gần đức vua] gây ra, cho nên sẽ chê bai phỉ báng vị tỳ-kheo, tức là phỉ báng Chánh pháp, phỉ báng Phật. Do vậy đức Phật không cho phép tỳ-kheo thân cận các vị vua chúa.
“Những Phạm chí ngoại đạo.” Kinh Ma-đăng-già nói: “Ban sơ có người tên là Phạm Thiên, tạo ra 1 bộ luận Vi-đà. [32] Sau đó có người tên Bạch Tịnh biến đổi 1 bộ này thành 4 bộ, thứ nhất là Vi-đà xưng tụng khen ngợi, thứ hai là Vi-đà cúng tế, thứ ba là Vi-đà ca vịnh, thứ tư là Vi-đà cầu nguyện trừ tai ách. Mỗi bộ này đều có 320.000 bài kệ, hợp thành 1.280.000 bài kệ, chia ra 1.700 quyển. Sau đó có người tên là Phất-sa, có 25 người đệ tử, mỗi người đều có khả năng phân biệt giảng rộng bộ Vi-đà này, nên thành ra có 25 bộ Vi-đà. Kế tiếp lại có người tên là Anh Vũ, biến đổi 1 bộ Vi-đà thành ra 18 bộ. Tiếp theo có người tên là Thiện Đạo, có 21 người đệ tử, lại biến đổi thành 21 bộ Vi-đà. Như vậy dần dần biến thành 1.206 bộ Vi-đà.” [33]
[Lại có] luận Tỳ-đà, Hán dịch là Trí luận, do Bà-da-sa làm ra, gồm có 4 nội dung. Thứ nhất là Tỳ-đà Tín lực, nói việc thờ lửa để tiêu trừ tội lỗi. Thứ hai là Tỳ-đà Da-thụ, nói việc cúng dường bà-la-môn được phước. Thứ ba là Tỳ-đà Sa-ma, nói về phương cách tạo ra sự hòa hợp giữa 2 nước. Thứ tư là Tỳ-đà A-đà-bà, nói về các phương pháp chiến đấu. Những kẻ đọc qua 4 bộ luận này tự xưng là người có trí biết được hết thảy mọi việc.
[Lại có] luận Tỳ-già-la, Hán dịch là Ký luận, do Bà-ni-ni làm ra, nói về các loại kinh sách [thế gian] cùng các vấn đề về ngôn ngữ. [34]
[Lại có] luận Vệ-thế-sư, [35] do Ưu-lưu-khư [36] làm ra, Hán dịch là luận Tối thắng, ra đời được 800 năm, nói về 6 cú nghĩa. [37]
[Lại có] luận Ca-tì-la, [38] Hán dịch là Hoàng đầu, cũng gọi là Quy chủng. Khi làm ra tên là luận Tăng-khư, [39] Hán dịch là Vô đảnh. Vì dựa theo tên người tạo luận [là Ca-tì-la] cho nên gọi là luận Ca-tì-la, nói về 25 yếu tố. [40]
“Tham chấp theo Tiểu thừa, học suông Kinh, Luật, Luận.” Khi đức Phật ở thành Ba-la-nại, lần đầu tiên vì 5 người mà thuyết dạy Khế kinh, tức là tạng Tu-đa-la; khi Phật ở thành La-duyệt-kỳ, lần đầu tiên vì Tu-na-đề thuyết giảng tạng Tỳ-ni; khi Phật ở hồ Mi Hầu tại thành Tỳ-xá-ly, lần đầu tiên vì Bạt-kỳ tử thuyết giảng tạng A-tỳ-đàm. [41] 500 vị A-la-hán trong đêm đầu tiên kết tập tạng A-tỳ-đàm rồi tiếp tục đến tạng Luật, rồi đến tạng Kinh. [42] Đây là những điều học theo Tam tạng.
“Đắm sâu năm món dục.” Nói về tướng trạng dâm dục thì người trong 4 cõi thiên hạ, loài rồng, a-tu-la cho đến Tứ thiên vương, [khi nam nữ hành dâm] đều đưa dục căn đến với nhau. Cõi trời Đao-lợi thì chư thiên khi hành dâm xuất ra hơi gió. [43] Cõi trời Diễm-ma thì chư thiên hành dâm bằng cách đến gần ôm nhau. [44] Cõi trời Đâu-suất thì chư thiên hành dâm bằng cách nắm tay nhau. [45] Ở cõi trời Hóa lạc, chư thiên khi hành dâm thì nhìn nhau cười. [46] Cõi trời Tha hóa tự tại thì chư thiên khởi tâm niệm là hành dâm. [47] Những cõi trời trên nữa đều đã lìa khỏi sự dâm dục. [48]
“Nữ góa chồng, chưa chồng.” Ngài A-nan thưa hỏi Phật: “Bạch Thế Tôn! Sau khi Như Lai diệt độ rồi, [hàng tỳ-kheo] khi gặp phụ nữ nên [ứng xử] như thế nào?” Đức Phật dạy rằng: “Không nên cùng họ gặp gỡ. Nếu như phải gặp gỡ thì đừng cùng họ trò chuyện. Nếu như phải cùng họ trò chuyện thì trong lúc đó hãy chuyên tâm niệm Phật.”
“Nam không đủ nam tính.” Những người này [tiếng Phạn gọi là paṇḍakāḥ, phiên âm] là ban-trá, Hán dịch là hoàng môn, là những người tuy có hình dạng nam căn nhưng không thể quan hệ nam nữ như người bình thường. [49]
“Vào xóm làng khất thực.” Kinh Tạp A-hàm nói: “Có một con dê đến chỗ đống phân ăn no, rồi quay trở lại với bầy dê, lên mặt cao ngạo nói rằng ‘ta đã được món ăn ngon’. Tỳ-kheo [không khéo tu tập] cũng giống như vậy, [khi khất thực] nhận được 4 nhu cầu thiết yếu [50] rồi thì khởi tâm đắm nhiễm tham muốn, không biết thoát ra. Nếu xin không được thì ôm lòng mơ tưởng mong muốn, nếu xin được rồi thì đối với các tỳ-kheo khác sanh tâm cao ngã ngạo, chê bai khinh miệt, nói rằng ‘như ta mới được [cúng dường], bọn họ không được cúng dường’. Như vậy tức là tỳ-kheo đi khất thực như con dê kia.
“Chúa sư tử [đi săn mồi] gặp con thú lớn liền bắt lấy ăn, không nếm trước, không tham đắm, gặp con thú nhỏ cũng bắt lấy ăn, không chê bai, không khinh thường. Vị tỳ-kheo [khéo tu tập] cũng giống như vậy, [khi khất thực] nhận được sự cúng dường 4 nhu cầu thiết yếu rồi không khởi tâm đắm nhiễm tham muốn, tự biết thoát ra. Nếu không được cúng dường lợi dưỡng cũng không khởi niệm tán loạn, trong tâm không có gì tăng giảm. Như vậy tức là tỳ-kheo đi khất thực như chúa sư tử.” [51]
Khi đi khất thực phải luôn ghi nhớ trong lòng 4 việc, chia ra trước sau thành 8 lần, nêu thành 8 sự tinh tấn hay 8 sự giải đãi.
Thứ nhất, trước khi đi khất thực, trong lòng luôn nhớ nghĩ rằng: “Vì sự tu tập đạo [nên cần xin thức ăn] để giúp trừ căn bệnh đói.” Khi khất thực tuy chưa được thức ăn cũng không từ bỏ tâm niệm tu hành. Thứ hai, khi khất thực đã được thức ăn rồi, lại vì muốn báo ân nên vẫn không ngừng nhớ nghĩ đến đạo pháp. Trước và sau [khi đi khất thực] đều luôn như vậy, ngày càng thêm tinh tấn, [tức là 2 sự tinh tấn].
Đối với 3 nhu yếu khác [là y phục, chỗ ở và thuốc men trị bệnh thì trước và sau khi xin được] cũng [luôn nhớ nghĩ] như vậy, [tức là 8 sự tinh tấn]. Ngược lại 8 sự tinh tấn này thì gọi là 8 sự lười nhác.
Kinh Bảo vân nêu việc khất thực nên chia làm 4 phần, một phần cúng dường các bậc đồng tu,1 một phần thí cho những người cùng khổ đi xin ăn,2 một phần thí cho quỷ thần, còn một phần để tự mình ăn.3
KINH VĂN
Ý thứ hai từ câu “Không phân biệt thực hành” trở đi gồm 8 khổ kệ, tụng về lẽ chẳng phải xa chẳng phải gần và nêu chỗ xa gần.
KINH VĂN
Phân đoạn thứ ba từ câu “Nếu có tỳ-kheo nào” trở đi, gồm 5 khổ và 3 câu kệ, nói về sự thành tựu công hạnh, lại chia thành 3 ý.
Ý thứ nhất gồm 1 khổ rưỡi kệ, nêu sự thành tựu công hạnh. Thành tựu về sự thì không để mất oai nghi bên ngoài; thành tựu về lý thì trong tâm không ngưng trệ, cho nên nói là “thì không hề khiếp nhược”.
Ý thứ hai gồm 3 khổ kệ, từ câu “Khi một vị Bồ Tát” trở đi, nói việc thành tựu công hạnh nên được an vui.
Ý thứ ba gồm 1 khổ và 1 câu kệ, tụng lại ý nghĩa tổng kết trong kinh văn trường hàng.
Từ câu “khi một vị Bồ Tát, vào am thất vắng lặng” là giải thích về nhân tạo ra sự an vui. Nhân tu thiền định, ngăn dừng mọi việc xấu ác lỗi lầm, đạt nhân vô ngã, [52] bên ngoài không tổn hại; nhân tu trí tuệ, lìa bỏ mọi sự bám chấp nắm giữ, đạt pháp vô ngã, [53] bên trong tâm không điên đảo. Như vậy ắt là tâm không khiếp nhược; không khiếp nhược tức là an vui.
Từ câu “Này Văn-thù-sư-lợi!” trở đi là tiểu đoạn thứ hai, gồm 1 khổ và 1 câu kệ, tụng lại ý nghĩa tổng kết trong kinh văn trường hàng.
KINH VĂN
Lại nữa, này Văn-thù-sư-lợi! Sau khi Như Lai điệt độ, trong đời mạt pháp nếu muốn thuyết giảng kinh này, nên trụ yên trong hạnh an vui, khi mở lời thuyết giảng, hoặc khi đọc kinh này, đều không ưa thích nói ra những lỗi lầm của người khác hoặc của kinh điển, cũng không khinh thường các vị thầy thuyết pháp khác, không nói đến những điều tốt xấu, ưu điểm hay khuyết điểm của người khác; đối với hàng Thanh văn, không nêu tên ra để chê bai những điều xấu lỗi, cũng không khen ngợi xưng tán điều tốt đẹp. Bồ Tát lại cũng không khởi tâm thù hiềm oán ghét, nhờ khéo tu tập tâm an vui như vậy. Đối với người đến nghe pháp đều tùy thuận không trái ý; nếu có vặn hỏi đều không dùng giáo pháp Tiểu thừa để giải đáp, chỉ dùng giáo pháp Đại thừa để vì họ giảng giải, khiến cho đạt được trí tuệ Phật. [54]
Đoạn thứ hai nêu hạnh an vui của lời nói, cũng có 2 phần trường hàng và kệ tụng. Kinh văn trường hàng lại chia làm 2 tiểu đoạn. Thứ nhất là nêu vấn đề, thứ hai là giải thích pháp tu hành.
Tiểu đoạn thứ nhất nêu vấn đề, y theo kinh văn có thể hiểu được.
Tiểu đoạn thứ hai từ câu “Khi mở lời thuyết giảng” trở đi, giải thích về pháp tu hành, có 2 phân đoạn. Phân đoạn thứ nhất nói về thực hành pháp chỉ, phân đoạn thứ hai nói về thực hành pháp quán.
Phân đoạn thứ nhất có 4 ý. Ý thứ nhất nêu việc không nói lỗi [người khác]; ý thứ hai nói không cao ngạo khinh người; ý thứ ba nói không khen ngợi cũng không chê bai; ý thứ tư nói không oán ghét thù hiềm.
Ý thứ nhất, không ưa thích nói lỗi của người khác hoặc của kinh điển. Đó là chỗ nghe của con người có lỗi lầm sai trái, các pháp nào có lỗi gì? Các pháp dành cho 7 hạng phương tiện đều là do đức Phật tùy thuận tâm ý người nghe mà giảng giải thích hợp, nên gọi là pháp chưa liễu nghĩa. Nếu nói lỗi sai trái của các pháp này tức là gây não loạn tổn hại những người nghe pháp, không phải là tướng trạng của hạnh an vui.
Ý thứ hai nói việc không cao ngạo khinh người, tức là nói người tu tập không dựa vào pháp viên mãn mà khinh chê pháp thiên lệch; không xem trọng pháp chân thật mà khinh chê pháp quyền thừa.
Ý thứ ba nêu việc không nói chỗ tốt xấu, hay dở của người khác. Trước tiên nêu là không nói [chỗ tốt xấu] của tất cả mọi người. Tiếp theo chỉ nêu riêng về hàng Thanh văn.
Nói chung, mọi người đều không thích nghe chỗ xấu của họ, cho nên không nói về sự kém cỏi khiếm khuyết của người khác. Với những người cùng đối diện, khen ngợi người này thì người khác sẽ cảm thấy như họ bị chê bai, cho nên không khen ngợi chỗ tốt đẹp ưu điểm của người khác. Lại cũng không bảo người này đến khen người kia, [55] bởi người kia sẽ cho rằng vì mình dở còn người ấy giỏi hơn, cho nên mới bảo người ấy đến nói như vậy để giễu cợt mình.
Cũng không ở trước mặt người này nói chỗ xấu dở của người kia, bởi nói xấu sau lưng người khác thì người khác cũng sẽ nói xấu sau lưng mình. Vì những ý nghĩa đó cho nên đối với các thiện ác tốt xấu đều ngăn dứt chẳng khen chê.
Lại nữa, về việc không nói chỗ tốt xấu của người khác, trong kinh Nhật Tạng, quyển 1 nói: “Từ đầu hôm, giữa đêm cho đến gần sáng luôn ít ngủ, tỉnh giác, tinh tấn ngồi thiền, tụng kinh, tu tập đạo pháp; quay lưng từ bỏ sanh tử, hướng đến con đường Niết-bàn. Không nói chỗ yếu kém của người khác, cũng không nói chỗ ưu điểm của mình; tự hạ mình khiêm tốn, không cao ngạo kiêu căng. Cơm ăn áo mặc luôn tự biết đủ [không cầu dư thừa], luôn giữ hạnh đầu đà tinh tấn không buông thả lười nhác; chánh niệm suy xét, tâm không tán loạn; khởi tâm từ bi đối với hết thảy chúng sanh.” [56]
Lại nữa, như trong kinh điển giảng về Không hạnh có nói: “[Đối với kinh điển luôn] tự mình tụng đọc, dạy cho người khác tụng đọc; không chê bai hủy báng hoặc nói chỗ sai trái của người khác, không tự nêu ưu điểm của mình.”
Đối với hàng Thanh văn căn tánh vốn còn chưa được vững chãi ổn định, nếu tán thán khen ngợi Thanh văn thừa và Duyên giác thừa, có thể làm cho họ thối tâm Đại thừa mà tu tập theo Tiểu thừa; hoặc nếu chê bai hủy báng hai thừa ấy, có thể làm cho họ bỏ mất cả Đại thừa lẫn Tiểu thừa, rốt lại chẳng còn được gì.
Ý thứ tư nói không sanh tâm oán ghét thù hiềm. Nếu cho rằng người khác, pháp khác làm chướng ngại, tổn hại đạo của ta, đó là tâm oán ghét; nếu cho rằng người khác hèn kém xấu xa, đó là tâm ngờ vực thù hiềm. Trong tâm vừa động khởi, lời nói liền phát ra; chấm dứt được từ cội nguồn là không nói chỗ xấu của người khác cho nên không làm khởi sanh sự oán ghét thù hiềm.
Phân đoạn thứ hai từ câu “nhờ khéo tu tập tâm an vui như vậy” trở đi là nói việc tu tập pháp quán. Quán hết thảy các pháp đều không, không có gì vướng mắc nắm giữ, tâm không chút bám chấp. “Đối với người đến nghe pháp đều tùy thuận không trái ý”, là không trái với tướng pháp. “Đều không dùng giáo pháp Tiểu thừa để giải đáp, chỉ dùng giáo pháp Đại thừa để vì họ giảng giải.” Nếu như thấy biết được người không có căn cơ Đại thừa nên thuyết pháp Tiểu thừa thì giúp họ được lợi ích phương tiện; nếu không thấy biết rõ là người không có căn cơ Đại thừa nhưng lại thuyết dạy giáo pháp Tiểu thừa, có thể sẽ làm chướng ngại che lấp cơ duyên Đại thừa của họ. Cho nên những trường hợp không thể thấy biết rõ thì chỉ nên thuyết dạy Đại thừa, như vậy sẽ không mắc lỗi.
KINH VĂN
Phần kệ tụng tiếp theo có 16 khổ rưỡi kệ, chia làm 3 tiểu đoạn. Tiểu đoạn thứ nhất gồm 2 khổ kệ, tụng nêu vấn đề. Tiểu đoạn thứ hai có 9 khổ rưỡi kệ, tụng lại ý nghĩa phương pháp tu hành ở trước. Tiểu đoạn thứ ba gồm 5 khổ kệ, tụng về sự thành tựu công hạnh.
Tiểu đoạn thứ nhất gồm 2 khổ kệ tụng lại ý nghĩa trong kinh văn trường hàng ở trước nói trụ yên trong hạnh an vui. Kinh văn trường hàng chỉ nói tổng quát là “nên trụ yên trong hạnh an vui”, trong phần kệ tụng nêu chi tiết tướng trạng thực hành, chia làm 3 phân đoạn.
Phân đoạn thứ nhất nói “Bồ Tát thường vui thích, tâm an ổn thuyết pháp”, là nói việc muốn giúp cho người nghe pháp1 hiểu được đạo an ổn, đạt được quả an vui, tức là nghĩa “vào nhà Như Lai”.
Phân đoạn thứ hai nói “ở nơi đất thanh tịnh, thiết lập một pháp tòa”, tức là nghĩa của “ngồi tòa Như Lai”.
Phân đoạn thứ ba từ câu “Tắm gội sạch bụi bặm” trở đi gồm 1 khổ kệ, tức là nghĩa “đắp y Như Lai”.
Cả 3 pháp trên dẫn dắt nghiệp của lời nói, gọi là hạnh an vui.
KINH VĂN
Tiểu đoạn thứ hai từ câu “Ngồi yên trên pháp tòa” trở đi gồm 9 khổ rưỡi kệ, có 2 phân đoạn tụng về 2 pháp thực hành. Phân đoạn thứ nhất gồm 5 khổ rưỡi kệ tụng về thực hành pháp chỉ. Phân đoạn thứ hai gồm 4 khổ kệ tụng về thực hành pháp quán.
Phân đoạn thứ nhất tụng về thực hành pháp chỉ, kinh văn trường hàng có 4 ý, kệ tụng cũng lặp lại đầy đủ.
Ý thứ nhất nói “Ngồi yên trên pháp tòa, tùy chỗ hỏi, giảng thuyết” là tụng lại ý nghĩa không khinh chê xem thường người khác. Nếu xem thường tức là không tùy theo.
Ý thứ hai từ câu “Nếu có những tỳ-kheo…” cho đến câu “Tùy ý nghĩa mà đáp” gồm 2 khổ rưỡi kệ, tụng lại ý nghĩa không nói chuyện hay dở, tốt xấu [của người khác]. Tức là chỉ nói theo ý nghĩa [chánh pháp], không bàn đến chỗ tốt xấu của người khác.
“Nếu có người vặn hỏi, tùy ý nghĩa mà đáp.” Có 2 trường hợp, thứ nhất là có thể giải đáp, thứ hai là không thể giải đáp.
Đôi bên hỏi đáp, chất vấn nhau, mỗi bên đều có lúc hơn lúc kém nhau, [cuối cùng] ai thắng ai thua đều tự biết rõ, đó là cách tranh luận của bậc trí. [Đây là trường hợp có thể giải đáp.] Nếu [người hỏi] phóng túng buông thả [theo ý mình], ai dám nói trái ý liền trừng phạt, đó là cách tranh luận của bậc vua chúa. [57] Hoặc lập luận hay dở, đúng sai đều không cần biết, chỉ muốn giành lấy phần thắng, đó là cách tranh luận của người ngu. [Hai trường hợp này đều là không thể giải đáp.] [58]
Ý thứ ba từ câu “Nêu nhân duyên, thí dụ” đến câu “thể nhập vào đạo Phật” gồm 1 khổ rưỡi kệ, tụng lại ý nghĩa ý thứ nhất trong kinh văn trường hàng là không ưa thích nói ra lỗi lầm sai trái của người và kinh điển. Nếu nói ra chỗ lỗi lầm sai trái của người khác tức là khiến cho họ khởi sanh tâm ác độc, nay nhờ không nói ra nên khiến họ phát tâm thể nhập đạo Phật. Đó là việc thể nhập đạo Phật có được từ tâm hoan hỷ.
Ý thứ tư từ câu “Trừ tâm ý biếng nhác” trở đi gồm 1 khổ kệ, tụng lại ý nghĩa không oán ghét thù hiềm. Khi tâm oán ghét thù hiềm khởi lên liền chán ghét lười nhát, buồn bực âu lo, nay dùng tâm từ mẫn thuyết pháp, không oán ghét thù hiềm, tinh tấn không buồn lo. Kinh văn trường hàng phần trước chỉ dựa theo nghĩa tốt đẹp của pháp chỉ, trong kệ tụng đều dựa theo sự thực hành pháp chỉ.
Phân đoạn thứ hai tụng về pháp quán, từ câu “Ngày đêm vẫn thường thuyết, giáo pháp đạo Vô thượng” trở đi, gồm 4 khổ kệ. Kinh văn trường hàng phần trước nói “chỉ dùng giáo pháp Đại thừa” để giải đáp, kệ tụng nói “thuyết giáo pháp đạo Vô thượng”. Kinh văn trường hàng nói “khiến cho đạt được trí tuệ Phật”, kệ tụng nói “được trọn thành Phật đạo”.
KINH VĂN
Tiểu đoạn thứ ba [59] từ câu “Sau khi Phật diệt độ” trở đi gồm 5 khổ kệ, nêu sự thành tựu hạnh an vui của lời nói. Tiểu đoạn này có 4 phân đoạn.
Phân đoạn thứ nhất gồm 1 khổ kệ, nêu tổng quát việc thành tựu công hạnh.
Phân đoạn thứ hai [60] từ câu “Không ganh ghét bực tức” trở đi gồm 2 khổ kệ nêu ý nghĩa trong lòng không có lỗi lầm sai trái thì không sanh ra nạn khổ bên ngoài, cũng giống như không có đồ hôi thối thì ruồi nhặng không bay đến.
Phân đoạn thứ ba từ câu “Bậc trí tuệ như vậy” trở đi gồm 1 khổ kệ nêu ý nghĩa trong lòng có đủ pháp lành cho nên công hạnh được thành tựu.
“Như trên ta đã nói.” Nếu là nghĩa trong lòng không có lỗi lầm sai trái thì như trong kinh văn trường hàng nói; nếu là nghĩa trong lòng có đủ pháp lành thì như trong kệ tụng nói.
Phân đoạn thứ tư từ câu “công đức của vị ấy” trở đi gồm 1 khổ kệ nêu việc so sánh ước lượng công đức, y theo kinh văn [có thể hiểu được không cần giải thích].
KINH VĂN
Lại nữa, này Đại Bồ Tát Văn-thù-sư-lợi! Vào đời sau cùng khi chánh pháp sắp mất đi, người thọ trì tụng đọc kinh điển này không ôm lòng ganh ghét, dua nịnh dối trá, cũng đừng khinh chê người học Phật, soi mói những chỗ ưu điểm, khuyết điểm của họ. Đối với người tu tập như tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ cầu đạo Thanh văn hay Duyên giác, hoặc cầu đạo Bồ Tát, cũng không quấy rối, khiến họ nghi ngờ hối tiếc bằng cách nói rằng: “Các người còn cách đạo quá xa, mãi mãi không thể đạt được trí tuệ Phật.
Vì sao vậy? Vì các người là những kẻ buông thả phóng túng, lười nhác trên đường đạo.” Lại cũng không nên bàn luận vô bổ về các pháp, tranh cãi đúng sai. Nên khởi lòng đại bi đối với hết thảy chúng sanh, đối với các đức Như Lai xem như đấng cha lành, đối với các vị Bồ Tát xem như bậc thầy lớn, đối với các vị Đại Bồ Tát trong mười phương thường khởi tâm cung kính sâu xa mà lễ bái.
Đối với hết thảy chúng sanh đều thu-yết pháp một cách bình đẳng, chỉ thuận theo pháp nên không nói nhiều, không nói ít, thậm chí đối với người hết sức ưa muốn chánh pháp cũng không vì họ mà nói nhiều hơn.
Đoạn thứ ba nêu hạnh an vui của tâm ý, cũng có kinh văn trường hàng và kệ tụng. Kinh văn trường hàng lại có 3 tiểu đoạn: nêu công hạnh, giải thích công hạnh và tóm kết sự thành tựu công hạnh.
Tiểu đoạn thứ hai giải thích công hạnh lại có 2 phân đoạn. Phân đoạn thứ nhất nói thực hành pháp chỉ, phân đoạn thứ hai nói thực hành pháp quán.
Phân đoạn thứ nhất nói thực hành pháp chỉ lại có 4 ý. Ý thứ nhất nói không ganh ghét dua nịnh; ý thứ hai nói không khinh chê mắng chửi; ý thứ ba nói không quấy rối [sự tu tập] và ý thứ tư nói không tranh cãi.
Hàng nhị thừa muốn nhanh chóng ra khỏi sanh tử thì trước tiên phải diệt trừ tham dục. Hàng Bồ Tát thì trước tiên trừ sân hận và kiến chấp. Ganh ghét là cấu nhiễm của sân hận; dua nịnh là cấu nhiễm của kiến chấp. Ganh ghét trái nghịch với tâm từ bi, không phải là pháp giáo hóa chúng sanh. Dua nịnh, dối trá là trái nghịch với đạo trí tuệ, không phải là pháp tự thực hành. Trí tuệ bị che chướng thì dựa vào đâu cầu [Phật đạo] bên trên? Từ bi bị ngăn ngại thì lấy gì giáo hóa [chúng sanh bên dưới? Cho nên Bồ Tát tu hạnh an vui thì quan trọng nhất là phải từ bỏ [sân hận và kiến chấp].
Từ câu “cũng đừng khinh chê” trở đi, nói không nên dựa theo công hạnh của Viên giáo mà chê bai quở trách công hạnh của Biệt giáo. Như người rõ biết căn cơ thì nên quở trách, nếu đã không rõ biết thì không nên trách mắng, là nghĩa nên bao dung đối với người thối thất căn lành.
Từ câu “Nếu có tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni…” trở đi, nói không nên dựa theo công hạnh của Viên giáo mà chê bai quở trách công hạnh của Thông giáo. [Hàng Bồ Tát Thông giáo] vốn không có căn cơ Đại thừa, nếu cứng rắn dựa theo hạnh Viên giáo mà quở trách thì trái nghịch với tâm ý họ thành ra “quấy rối người tu tập”. [Tu tập theo] Thông giáo đã bị quở trách, theo Viên giáo thì lại chưa nhận hiểu được, [cho nên] tiến đến [với Viên giáo] thì sanh tâm “nghi ngờ” [vì không hiểu], quay lại với Thông giáo thì “hối tiếc” [vì bị quở trách], như vậy thì Đại thừa, Tiểu thừa đều không đạt được. [Chê trách người] đi theo đường tới lui quanh co rằng “cách đạo quá xa”, đó là quấy rối sự tu tập của người tu theo hạnh Biệt giáo;
[chê trách người] đắm chấp lẽ không, bám giữ chỗ chứng đắc, rằng “mãi mãi không thể đạt được”, đó là quấy rối sự tu tập của người tu theo hạnh Thông giáo.
Chán ghét sanh tử gọi là “lười nhác trên đường đạo”. Kinh Bi Hoa nói tu tập theo Tiểu thừa gọi là “lười nhác”.
Phân đoạn thứ hai từ câu “Nên khởi lòng đại bi…” trở đi, nêu việc thực hành pháp quán, lại có 4 ý. Vì chế phục 4 việc xấu ác vừa nói ở đoạn trước mà khởi tâm thực hành những điều hiền thiện.
Ý thứ nhất, “khởi lòng đại bi đối với hết thảy chúng sanh” là chế phục sự “ganh ghét dua nịnh”.
Ý thứ hai, “đối với các đức Như Lai xem như đấng cha lành” là chế phục sự “khinh chê”. Những người cầu Phật đạo tức là người học Phật, phải cung kính người học ấy như Phật, không được khinh chê, Bởi những người học Phật nếu nhìn thông suốt qua cả ba đời thì đều là những vị Phật tương lai.
Ý thứ ba, “đối với các vị Bồ Tát xem như bậc thầy lớn” là chế phục sự “quấy rối người tu tập”. Cứ theo lý mà luận giải thì người trong ba thừa đều là Bồ Tát; người có đức giáo hóa, khuyên dạy đều là bậc thầy của chúng sanh, nên khởi tâm “xem như bậc thầy lớn”, không nói đến những chỗ khiếm khuyết nhược điểm của họ.
Ý thứ tư, “đối với hết thảy chúng sanh đều thuyết pháp một cách bình đẳng” là chế phục sự “tranh cãi đúng sai”. Bình đẳng là phá trừ sự tranh cãi do bám chấp thiên lệch. “Không nói nhiều, không nói ít” là ước lượng đúng theo căn tánh người nghe nhanh nhạy hay trì độn.
KINH VĂN
Này Văn-thù-sư-lợi! Vị Đại Bồ Tát ấy trong đời sau cùng khi chánh pháp sắp mất đi, nếu thành tựu được hạnh an vui thứ ba này thì khi thuyết kinh Pháp hoa này không ai có thể quấy nhiễu làm cho rối loạn. Vị ấy sẽ có những người bạn đồng học tốt, cùng nhau tụng đọc kinh này. Lại cũng sẽ có đại chúng tìm đến nghe kinh, nghe rồi thường ghi nhớ, ghi nhớ rồi thường tụng đọc, tụng đọc rồi thường giảng thuyết, giảng thuyết rồi thường sao chép, hoặc bảo người khác sao chép, cúng dường bản kinh, cung kính, tôn trọng, ngợi khen xưng tán.
Tiểu đoạn thứ ba từ câu “Này Văn-thù-sư-lợi!” trở đi tóm kết về sự thành tựu công hạnh, có 2 phân đoạn.
Phân đoạn thứ nhất nói do [thực hành pháp chỉ] ngưng dứt các việc xấu ác nên việc xấu ác không thể tăng thêm, cho nên nói là “không ai có thể quấy nhiễu làm cho rối loạn”.
Phân đoạn thứ hai nói do thực hành pháp quán được những người tốt đẹp cao quý tìm đến, cho nên nói là “có những người bạn đồng học tốt”.
KINH VĂN
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn muốn lặp lại ý nghĩa trên nên thuyết kệ rằng:
Phần kệ tụng có 6 khổ kệ, chia thành 2 tiểu đoạn. Tiểu đoạn thứ nhất gồm 5 khổ kệ, tụng lại phần kinh văn trường hàng ở trước nói việc thực hành 2 pháp chỉ và quán, mỗi pháp đều nói có 4 ý. Tiểu đoạn thứ hai gồm 1 khổ kệ tụng về nghĩa thành tựu công hạnh.
KINH VĂN
Lại nữa, này Văn-thù-sư-lợi! Vị Đại Bồ Tát vào đời sau cùng khi chánh pháp sắp mất đi, nếu có hành trì kinh Pháp hoa này thì đối với những người tại gia và xuất gia nên khởi tâm từ ái lớn lao, đối với những người không thuộc hàng Bồ Tát nên khởi tâm bi mẫn lớn lao, nên nghĩ như thế này: “Những người này thật là chịu sự mất mát lớn lao. Đức Như Lai phương tiện thuyết pháp thích hợp nhưng họ lại không được nghe, không hay không biết đến, không thưa hỏi, không tin tưởng, không nhận hiểu được. Những người này tuy không thưa hỏi, không tin tưởng, không nhận hiểu kinh này, nhưng khi nào ta đạt được quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, tùy theo họ đang ở nơi nào ta sẽ dùng sức thần thông, sức trí tuệ mà dẫn dắt, khiến cho họ được trụ yên trong giáo pháp này.
Đoạn thứ tư nêu hạnh an vui của thệ nguyện, chia ra kinh văn trường hàng và kệ tụng. Kinh văn trường hàng có 2 tiểu đoạn. Tiểu đoạn thứ nhất nói về pháp thực hành. Tiểu đoạn thứ hai ngợi khen xưng tán kinh này.
Tiểu đoạn thứ nhất nói pháp thực hành lại có 3 phân đoạn. Phân đoạn thứ nhất nêu vấn đề, phân đoạn thứ hai nói pháp thực hành và phân đoạn thứ ba tóm kết sự thành tựu [công hạnh].
Phân đoạn thứ nhất nêu vấn đề, y theo kinh văn có thể hiểu được.
Phân đoạn thứ hai nói về pháp thực hành lại chia làm 3 ý. Ý thứ nhất, câu “đối với những người tại gia và xuất gia…” là nêu bối cảnh phát khởi thệ nguyện. Ý thứ hai từ câu “nên nghĩ như thế này…” trở đi nêu nguyên do phát khởi thệ nguyện. Ý thứ ba từ câu “khi nào ta đạt được quả Vô thượng” trở đi, nêu việc lập thệ nguyện.
Ý thứ nhất nêu bối cảnh phát khởi thệ nguyện từ ái, kể chung tất cả những người đã từng phát tâm [theo giáo pháp] phương tiện nhưng chưa thoát ra khỏi ba cõi nên đều gọi là “tại gia”; những ai đã đoạn trừ dứt sạch phiền não chung [61] thì gọi là “xuất gia”. Như vậy là bao gồm được 2 hàng [Thanh văn và Duyên giác] của nhị thừa, 3 hàng Bồ Tát của [Tạng giáo, Thông giáo và Biệt giáo]. Tất cả những hạng này đều vẫn còn vô minh, lẽ ra cũng nên là bối cảnh phát khởi tâm đại bi, nhưng vì họ đã từng phát tâm tương ưng với thệ nguyện từ ái, nên giúp họ có được niềm vui của đạo viên mãn, quả viên mãn, cho nên nói là “khởi tâm từ ái lớn lao”.
Bối cảnh phát khởi lòng bi là những người không phải Bồ Tát, tức là kể chung tất cả những người chưa từng phát tâm [theo giáo pháp] phương tiện đều gọi chung là không phải Bồ Tát. Tất cả những người này đối với pháp phương tiện [Tiểu thừa] mà còn hoàn toàn chưa quy hướng, huống chi là pháp chân thật [Đại thừa]. Cho nên bối cảnh phát khởi lòng bi này là bao gồm tất cả chúng sanh trong ba cõi. Những chúng sanh này lại cũng nên được ban cho niềm vui, nhưng sự lưu chuyển của họ [trong sanh tử] không có bờ mé, tương ưng với thệ nguyện bi mẫn, nên cần cứu bạt nhân tội lỗi, quả tội lỗi của họ, cho nên nói là “khởi tâm bi mẫn lớn lao”.
Ý thứ hai từ câu “nên nghĩ như thế này” cho đến “thuyết pháp thích hợp” là nói nguyên do phát khởi lòng từ. Vì những người ưa thích Tiểu thừa bám chấp nơi pháp phương tiện của Phật cho đó là chân thật, không nhận hiểu được đạo viên mãn, cho nên gọi là “chịu sự mất mát lớn lao”. Sự mất mát lớn lao đó là nguyên do của thệ nguyện từ ái.
Từ câu “không được nghe, không hay không biết” trở đi là nêu nguyên do của thệ nguyện bi mẫn. Vì chưa phát tâm Tiểu thừa cũng như Đại thừa [62] nên không được nghe cả 2 đạo Tiểu thừa và Đại thừa. Vì không nghe đạo Tiểu thừa nên không có văn tuệ; không biết là không có tư tuệ; không hay là không có tu tuệ. Lại cũng không có ba tuệ [văn, tư, tu] của Đại thừa. Vì sao vậy? Vì không thưa hỏi nên không được nghe; vì không tin nên không biết, vì không hiểu nên không tu. Không có ba tuệ của Tiểu thừa cũng như Đại thừa, hai pháp quyền thật đều không, nên thật hết sức đáng thương xót. Đó là nguyên do phát khởi tâm đại bi.
Ý thứ ba nêu việc lập thệ nguyện, từ câu “những người này tuy không thưa hỏi, không tin tưởng, không nhận hiểu kinh này” trở đi, nêu việc phát khởi thệ nguyện. Những người này tuy không thưa hỏi, không tin tưởng nơi cả Tiểu thừa và Đại thừa nhưng Bồ Tát không dựa vào Tiểu thừa mà phát khởi thệ nguyện, chỉ muốn giúp cho họ đạt được ba tuệ viên mãn của Đại thừa. Cho nên nói rằng, tuy họ không thưa hỏi, không tin tưởng kinh này, “nhưng khi nào ta đạt được quả Vô thượng… …sẽ dùng sức thần thông, sức trí tuệ mà dẫn dắt, khiến cho họ được trụ yên trong giáo pháp này.” Thệ nguyện thành tựu quả Bồ-đề, trí tuệ và thần thông, đều là dựa vào hạnh an vui mà đạt được.
Vì sao vậy? Quán chiếu sâu xa [ý nghĩa] “ngồi tòa Như Lai” nên được sức trí tuệ, bốn biện tài trang nghiêm, có thể dùng trí tuệ để cứu bạt [khổ não]. Quán chiếu sâu xa [ý nghĩa] “vào nhà Như Lai” và “đắp y Như Lai”, được sức khéo an trú tịch tịnh lớn lao, không rời khỏi cảnh định diệt tận mà hiện các oai nghi. [63] Thần thông, phước đức trang nghiêm, trước tiên đều phải nhờ vào sự an định tâm động loạn.
KINH VĂN
“Này Văn-thù-sư-lợi! Vị Đại Bồ Tát sau khi đức Như Lai diệt độ nếu thành tựu được 4 pháp này thì khi thuyết pháp không có lỗi lầm, thường được các tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, vua chúa, con vua, đại thần, thường dân, bà-la-môn, cư sĩ cung kính cúng dường, tôn trọng ngợi khen xưng tán, chư thiên ở giữa hư không vì muốn nghe pháp nên cũng thường đi theo vị Bồ Tát ấy. Khi vị Bồ Tát ấy ở nơi xóm làng, thành thị hoặc rừng sâu vắng vẻ, nếu có người đến hỏi khó thì suốt ngày đêm chư thiên sẽ thường theo giúp đỡ bảo vệ người ấy, khiến cho người đến nghe pháp đều được vui mừng hoan hỷ. Vì sao vậy? Vì kinh này được sức thần của hết thảy chư Phật trong quá khứ, hiện tại và tương lai thường gia hộ.
Phân đoạn thứ ba từ câu “Này Văn-thù-sư-lợi!” trở đi là tóm kết lại ý nghĩa thành tựu công hạnh, chia ra làm 3 ý.
Ý thứ nhất là tổng kết ý nghĩa [khi thuyết giảng kinh] không mắc phải lỗi lầm sai sót, tức là thành tựu công hạnh. Công hạnh do đâu thành tựu? Do sự phát khởi thệ nguyện lớn lao của người tu tập nên “vào nhà Như Lai”, tức là công hạnh thành tựu; do sự rõ biết của người tu tập về việc bốn chúng để mất đạo Đại thừa nên “ngồi tòa Như Lai”, tức là công hạnh thành tựu; do thệ nguyện của người tu tập chế ngự được tâm không còn lười nhác trễ nãi nên “đắp y Như Lai”, tức là công hạnh thành tựu. Ba hạnh đều trọn đủ cho nên nói là công hạnh thành tựu.
“Không có lỗi lầm”, là hạnh từ bi thành tựu [như “vào nhà Như Lai”] nên không có lỗi lầm của cấu nhiễm sân hận; [hạnh nhẫn nhục] thành tựu như “đắp y Như Lai” nên không có lười nhác trễ nãi; [hạnh quán các pháp đều không] thành tựu như “ngồi tòa Như Lai” nên không có dua nịnh dối trá.
Ý thứ hai từ câu “thường được các tỳ-kheo” trở đi là tóm kết riêng về sự thành tựu công hạnh từ bi. Nhờ thành tựu tâm từ nên nhiếp hóa được bốn chúng, trời người đều đến cúng dường, nghe pháp. Thệ nguyện thành tựu nên chiêu cảm thần thông của Phật, được chư thiên hộ trì. Thành tựu quán muôn pháp đều không như “ngồi tòa Như Lai” nên có thể khiến cho người nghe pháp đều hoan hỷ.
Ý thứ ba từ câu “Vì sao vậy?” trở đi giải thích công hạnh thệ nguyện thành tựu. Ba đời chư Phật còn giữ gìn bảo vệ [cho người ấy], huống chi là chư thiên?
KINH VĂN
“Này Văn-thù-sư-lợi! Có vô số cõi thế giới thậm chí còn chưa được nghe đến tên kinh Pháp hoa này, huống chi là việc được nhìn thấy, thọ trì, tụng đọc? Này Văn-thù-sư-lợi!
Ví như vị Chuyển luân Thánh vương mạnh mẽ, muốn dùng oai thế để hàng phục các nước, nhưng vua các nước nhỏ không chịu thần phục, Chuyển luân Thánh vương liền huy động các loại binh chủng đến chinh phạt. Vua nhìn thấy quân lính chiến đấu lập công, liền hết sức vui mừng, liền tùy theo công lao mà ban thưởng, hoặc ban cho ruộng đất, nhà cửa, xóm ấp, thành thị, hoặc ban cho y phục, những món trang sức làm đẹp thân thể, hoặc ban cho đủ các món quý báu như vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách, voi, ngựa, xe cộ, người hầu, cư dân, [64] duy nhất chỉ có viên ngọc tỏa sáng trên búi tóc là vua không lấy ra ban thưởng.
Vì sao vậy? Chỉ trên đỉnh đầu vua mới có duy nhất một viên ngọc ấy, nếu lấy cho đi thì những người thân thuộc của vua sẽ hết sức kinh sợ vì quái lạ.
“Này Văn-thù-sư-lợi! Đức Như Lai cũng giống như vậy, dùng sức trí tuệ và thiền định mà được cõi nước pháp, là vua của ba cõi, nhưng bọn ma vương không chịu quy phục. Các vị hiền thánh của Như Lai liền chiến đấu với ma vương, lập công trạng nên Như Lai cũng hoan hỷ, ở giữa 4 chúng mà thuyết giảng các kinh điển khiến cho tâm họ được an vui, ban thưởng cho các tài sản quý báu của pháp là thiền định, giải thoát, các căn và lực vô lậu, lại cũng ban thưởng cho hóa thành Niết-bàn, nói rằng đã được diệt độ, để dẫn dắt tâm ý họ khiến cho đều hoan hỷ, nhưng không vì họ thuyết kinh Pháp hoa này.
Tiểu đoạn thứ hai từ câu “Này Văn-thù-sư-lợi! Có vô số cõi thế giới thậm chí còn chưa được nghe đến tên kinh Pháp hoa này...” trở đi, khen ngợi xưng tán kinh này rất khó được nghe. Tiểu đoạn này có 2 phân đoạn, nói về giáo pháp và nêu thí dụ. Trong phân đoạn nói pháp lại có 2 ý. Thứ nhất là thuở xưa chưa từng thuyết giảng chung cho tất cả mọi người, cho nên thuở xưa [đại chúng] chưa được nghe; thứ hai là ngày nay [đại chúng] mới được nghe.
Phân đoạn nói thí dụ cũng có 2 ý. Thứ nhất là thí dụ [vua Chuyển luân] không ban tặng viên ngọc tỏa sáng, ví với việc [đức Phật] từ xưa chưa từng thuyết giảng kinh này [chung cho tất cả mọi người]; thứ hai là thí dụ [vua Chuyển luân] lấy viên ngọc tỏa sáng ra ban cho, ví với việc ngày nay [đại chúng] được nghe [Phật thuyết kinh Pháp hoa này]. Hai ý này, mỗi ý đều có chia ra tiểu ý thứ nhất nêu thí dụ và tiểu ý thứ hai nói nghĩa tương hợp với thí dụ.
[Ý thứ nhất nói vua không ban tặng viên ngọc tỏa sáng giấu trong búi tóc.] Tiểu ý thứ nhất nêu thí dụ này có 6 điều. Điều thứ nhất là nói [vua Chuyển luân] “muốn dùng oai thế để hàng phục các nước”; thứ hai là nói “vua các nước nhỏ chịu thần phục”; thứ ba là nói [vua Chuyển luân] “kéo quân đến chinh phạt”; thứ tư là nói [quân lính chiến đấu] lập công, [vua Chuyển luân] vui mừng hoan hỷ; thứ năm là nói [vua Chuyển luân] tùy theo công lao mà ban thưởng; thứ sáu là nói không lấy viên ngọc tỏa sáng châu ra ban thưởng.
Điều thứ nhất dùng “Chuyển luân thánh vương” để ví cho đức Như Lai giáo hóa người đời. Hàng phục các nước ví như [điều phục] các cảnh giới của ấm, nhập, giới.
Điều thứ hai dùng “vua các nước nhỏ” để ví dụ cho các phiền não. [Người tu tập] chưa đạt được sự điều phục [thân tâm đến mức] vô lậu nên gọi là “không chịu thần phục”.
Điều thứ ba nói “huy động các loại binh chủng” để ví cho các pháp môn tu trong trong 7 bậc hiền, [65] tức là đội quân đi trước; các pháp môn tu của bậc Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, tức là đội quân tiếp theo; các pháp môn tu của bậc A-ha-hàm, A-la-hán, tức là đội quân đi sau. Quân địch bị đánh phá là ví cho 3 độc [tham, sân, si], phân chia thành 84.000 phiền não, tức là [giặc cướp]; quân đánh phá được giặc là ví cho 84.000 pháp môn, tức là quan tướng và quân lính.
Điều thứ tư từ câu “Vua nhìn thấy quân lính…” trở đi, nêu việc quân chiến đấu lập công nên đức vua mừng vui hoan hỷ.
Điều thứ năm từ câu “tùy theo công lao…” trở đi, nêu việc đức vua tùy theo công lao [của mỗi người] mà ban thưởng.
[Đức vua ban cho] “ruộng đất” tức là chánh định; [66] ban cho “nhà cửa” tức là trí tuệ; ban cho “xóm ấp” tức là sơ quả, nhị quả; “thành” tức là tam quả; “thị” tức là Niết-bàn [của Tiểu thừa]; [67] ban cho “y phục” tức là các pháp lành như biết hổ thẹn, nhẫn nhục; ban cho “những món trang sức làm đẹp thân thể” tức là các pháp lành hỗ trợ đạo pháp; ban cho “đủ các món quý báu như vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách” tức là bảy giác chi; ban cho “voi, ngựa, xe cộ” tức là tận trí và vô sanh trí của hàng nhị thừa; ban cho “người hầu” tức là thần thông; ban cho “cư dân” tức là giúp cho đạt được các pháp lành hữu lậu.
Điều thứ sáu từ câu “duy nhất chỉ có viên ngọc tỏa sáng trên búi tóc” trở đi, nói việc đức vua không lấy viên ngọc quý tỏa sáng ra ban thưởng. [Trong đại chúng tu tập] có những người vượt thoát ra khỏi sanh tử phần đoạn, ví như công trạng nhỏ; có những người vượt thoát ra khỏi sanh tử biến dịch, ví như công trạng lớn. “Kinh sợ vì quái lạ” là vì nếu chưa có công trạng lớn mà bỗng dưng ban cho viên ngọc tỏa sáng giấu trong búi tóc, quần thần đều lấy làm quái lạ. Đây là ví cho chúng sanh khi chưa phát khởi căn cơ Đại thừa, nếu bỗng dưng thuyết giảng kinh Pháp hoa này thì hàng nhị thừa nghi hoặc, hàng Bồ Tát lấy làm quái lạ.
Tiểu ý thứ hai nói nghĩa tương hợp với 6 thí dụ trên thì y theo kinh văn có thể hiểu được, không cần giảng giải.
KINH VĂN
“Này Văn-thù-sư-lợi! Cũng như Chuyển luân Thánh vương, thấy binh sĩ lập công lớn thì trong lòng hết sức vui mừng, liền đem viên ngọc quý đến mức khó tin, từ lâu vẫn cất giữ trong búi tóc không tùy tiện mang cho người khác, nay lấy ra ban cho. Đức Như Lai cũng vậy, là bậc Đại Pháp Vương trong ba cõi, dùng chánh pháp giáo hóa hết thảy chúng sanh, thấy các vị hiền thánh chiến đấu với quân ma năm ấm, ma phiền não, ma chết, có công lao rất lớn, diệt trừ được ba món độc, ra khỏi ba cõi, phá được lưới ma, thì đức Như Lai cũng hết sức hoan hỷ, liền đem kinh Pháp hoa này, có thể giúp cho chúng sanh đạt đến trí tuệ Phật, là kinh điển mà người thế gian oán ghét khó tin nhận, trước đây chưa từng thuyết giảng, nay đem ra thuyết giảng cho nghe.
“Này Văn-thù-sư-lợi! Kinh Pháp hoa này là giáo thuyết bậc nhất của các đức Như Lai, là sâu xa nhất trong các giáo thuyết, sau cùng mới ban cho, giống như đức vua mạnh mẽ kia từ lâu vẫn giữ kỹ viên ngọc tỏa sáng, nay mới lấy ra ban cho.
Này Văn-thù-sư-lợi! Kinh Pháp hoa này là kho tàng bí mật của các đức Phật Như Lai, ở vị trí cao nhất trong các kinh điển, chư Phật ngày đêm giữ gìn không tùy tiện thuyết giảng, cho đến hôm nay mới đem ra diễn giải thuyết giảng cho các ông.”
Ý thứ hai từ câu “Này Văn-thù-sư-lợi! Cũng như Chuyển luân Thánh vương…” trở đi, nói thí dụ vua Chuyển luân lấy viên ngọc tỏa sáng giấu trong búi tóc ra ban thưởng. Ý này cũng có 2 tiểu ý, thứ nhất nêu thí dụ và thứ hai là nói nghĩa tương hợp với thí dụ.
Tiểu ý thứ nhất nêu thí dụ có 2 điều. Điều thứ nhất nêu việc có công trạng lớn; điều thứ hai nêu việc ban thưởng viên ngọc quý.
Viên ngọc tỏa sáng là ví cho trí tuệ trung đạo; ngọc tròn ví cho pháp thường; nằm trên đỉnh đầu là ví cho tông chỉ của quả vị cao nhất; giấu trong búi tóc là ví với pháp thật vì quyền thừa mà ẩn giấu; mở búi tóc ra là ví như khai thị trừ bỏ pháp quyền; ban thưởng viên ngọc quý là ví như hiển bày pháp thật.
Tiểu ý thứ hai nói nghĩa tương hợp cũng có 2 điều [tương ứng], từ câu “có thể giúp cho chúng sanh đạt đến trí tuệ Phật” trở đi. “Trí tuệ Phật” là tên gọi của quả, tức là hành nhất; “giáo thuyết bậc nhất của các đức Như Lai” là giáo nhất; “kho tàng bí mật của các đức Phật Như Lai” là lý nhất, cũng gồm cả nghĩa nhân nhất.
KINH VĂN
Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn lặp lại ý nghĩa trên nên thuyết kệ rằng:
Phần kệ tụng có 14 khổ rưỡi kệ, chia làm 2 tiểu đoạn. Tiểu đoạn thứ nhất có 4 khổ kệ, tụng lại ý nghĩa trong kinh văn trường hàng ở trước nói về phương pháp tu hành. Tiểu đoạn thứ hai gồm 10 khổ rưỡi kệ, tụng lại phần trước nói việc xưng tán khen ngợi kinh.
Tiểu đoạn thứ nhất tụng về pháp tu hành lại có 2 phân đoạn.
Phân đoạn thứ nhất gồm 1 khổ kệ, tụng trước [68] về ý nghĩa công hạnh thành tựu. Kinh văn ở trước chỉ nêu tổng quát sự thành tựu công hạnh, nay kệ tụng nêu rõ chi tiết hơn. “Thường thực hành nhẫn nhục” là tụng về việc thành tựu hạnh “đắp y Như Lai”; “thương xót mọi chúng sanh” là tụng về việc thành tựu hạnh “vào nhà Như Lai”; “mới có thể thuyết giảng” là tụng về việc thành tựu hạnh “ngồi tòa Như Lai”.
Phân đoạn thứ hai từ câu “Cho đến đời sau cùng” trở đi gồm 3 khổ kệ, tụng về phương pháp tu hành. Kinh văn phần trước nêu 3 bối cảnh là nguyên do phát khởi thệ nguyện, kệ tụng cũng có đủ.
KINH VĂN
Tiểu đoạn thứ hai từ câu “Ví như vua Chuyển luân, có oai thế sức mạnh” trở đi, gồm 10 khổ rưỡi kệ, tụng lại ý nghĩa kinh văn trường hàng ở phần trước xưng tán giáo pháp này rất khó được nghe. Kinh văn nói nghĩa thuyết pháp, nêu thí dụ và tương hợp ý nghĩa thí dụ, nay trong kệ tụng chỉ có 2 phân đoạn, nêu thí dụ và tương hợp ý nghĩa .
Phân đoạn thứ nhất nêu thí dụ lại có 2 ý.
Ý thứ nhất gồm 3 khổ kệ, tụng về nghĩa không dùng viên ngọc tỏa sáng để ban thưởng.
Ý thứ hai từ câu “Như có người dũng mãnh” trở đi gồm 1 khổ kệ, tụng về việc ban cho viên ngọc tỏa sáng.
Phân đoạn thứ hai từ câu “Đức Như Lai cũng vậy” trở đi nói nghĩa tương hợp với thí dụ, gồm 6 khổ rưỡi kệ chia làm 2 ý.
Ý thứ nhất gồm 3 khổ rưỡi kệ, tụng nghĩa tương hợp với thí dụ không dùng viên ngọc quý để ban thưởng.
Ý thứ hai từ câu “Khi rõ biết chúng sanh” trở đi gồm 3 khổ kệ, tụng nghĩa tương hợp với thí dụ ban thưởng viên ngọc tỏa sáng. Trong ý này lại mở ra nói những chi tiết. Đại lược là như vậy.
KINH VĂN
Tổng đoạn thứ ba từ câu “Sau khi ta diệt độ” trở đi, gồm 23 khổ kệ nêu ý tổng kết về sự thành tựu công hạnh, chiêu cảm thành những tướng trạng để chứng minh, khuyến khích sự tu hành.
Tổng đoạn này chia làm 3 đoạn. u Đoạn thứ nhất gồm 1 khổ rưỡi kệ, tóm kết việc khuyến khích 4 hạnh [an vui]. Đoạn thứ hai gồm 20 khổ rưỡi kệ nêu 3 phước báo để khuyến khích, cũng gọi là được thanh tịnh 3 chướng. Đoạn thứ ba gồm 1 khổ kệ là tổng kết.
[Đoạn thứ hai nêu 3 phước báo, có 3 tiểu đoạn.] Ba chướng chuyển thành thanh tịnh, đó là trong hiện đời và đời sau đều dứt hết mọi nghiệp xấu ác, tức là được quả báo thù thắng trong cả hiện tại và sau này. Tiểu đoạn thứ nhất gồm 1 khổ kệ, nói việc không có lo âu phiền não. Đây là nói sự chuyển hóa báo chướng, làm thay đổi quả báo ngay trong hiện tại (hiện báo). Tiểu đoạn thứ hai gồm nửa khổ kệ “Không sanh vào cảnh nghèo, hoặc hèn kém, xấu xí”. Đây là nói sự chuyển hóa nghiệp chướng, làm thay đổi quả báo trong đời tiếp theo (sanh báo). Tiểu đoạn thứ ba từ câu “Chúng sanh ưa thích gặp” trở đi gồm 19 khổ kệ. Đây là nói sự chuyển hóa phiền não chướng, làm thay đổi quả báo trong các đời tương lai (hậu báo).
Tiểu đoạn thứ nhất, từ câu “Người tụng đọc kinh này” trở đi gồm 1 khổ kệ, nói việc diệt trừ được sự lo âu phiền não trong hiện tại, tức trừ quả báo cảm thọ khổ não. Đây là làm thay đổi quả báo hiện tại trong tâm. “Cũng không bệnh đau đớn, dáng vẻ được tươi sáng”, đây là thay đổi quả báo của thân, tức hình sắc.
Tiểu đoạn thứ hai gồm 2 câu “Không sanh vào cảnh nghèo, hoặc hèn kém, xấu xí”, tức là chuyển hóa nghiệp xấu ác. Nhân tạo nghiệp xấu ác thì lẽ ra phải chiêu cảm quả báo xấu ác, nhưng nhờ sức của kinh này mà nhân xấu ác [đã tạo trước đây] có thể chuyển hóa thành quả báo tốt đẹp, tức là chuyển được quả báo trong đời tiếp theo (sanh báo). “Không sanh” tức là không tạo nghiệp sanh ra điều xấu ác. Hiện tại trì tụng kinh này thì không tạo ra nghiệp phải chịu cảnh nghèo khốn, nên đời sau không sanh vào cảnh “hèn kém, xấu xí”.
Tiểu đoạn thứ ba từ câu “Chúng sanh vui thích gặp” trở đi gồm có 19 khổ kệ, nêu sự chuyển hóa quả báo trong các đời tương lai (hậu báo), tức là chuyển 3 loại chướng phiền não [gồm tham dục, sân hận và si mê]. Tiểu đoạn này chia làm 2 phân đoạn. Phân đoạn thứ nhất gồm 3 khổ kệ, nêu riêng về sự chuyển hóa 3 chướng phiền não. Phân đoạn thứ hai gồm 16 khổ kệ nêu tổng quát hết thảy các chướng đều được chuyển hóa.
Phân đoạn thứ nhất lại có 3 ý.
Ý thứ nhất từ câu “Chúng sanh vui thích gặp” trở đi gồm 1 khổ kệ, nêu riêng về sự chuyển hóa chướng tham dục. Người nhiều tham dục tự nhiên sẽ trở thành kiêu ngạo, khinh người, lại bị chướng ngại không sanh cõi Phạm thiên. Chướng tham dục đã được chuyển hóa nên khiến cho người khác vui thích gặp gỡ, lại được “các đồng tử chư thiên, thường đi theo giúp đỡ”.
Ý thứ hai từ câu “Dao gậy không chạm đến” trở đi gồm 1 khổ rưỡi kệ, nêu riêng về sự chuyển hóa chướng sân hận. Xả bỏ sân hận tức là trừ được những đao kiếm, cung tên trong lòng. Nếu vào trận chiến ắt không bị đao kiếm bên ngoài gây tổn thương.
Ý thứ ba gồm 2 câu “Trí tuệ thường chiếu sáng, như mặt trời trên cao”, nêu riêng về sự chuyển hóa chướng si mê.
KINH VĂN
Phân đoạn thứ hai từ câu “Người ấy khi nằm mộng, chỉ thấy điều tuyệt diệu” trở đi gồm 16 khổ kệ, nêu tổng quát việc hết thảy các chướng phiền não đều được chuyển hóa, lại cũng là chuyển hóa quả báo trong các đời tương lai. Việc trì kinh trong hiện tại chiêu cảm các tướng trạng này, nên biết là đã [tu tập] thành tựu từ lâu xa trong quá khứ, nay dựa theo duyên lành mà phát sanh [tướng trong mộng]. Lại có các tướng tạo nhân thành Phật, quả thành Phật, cũng đều là quả báo trong tương lai.
Trong mộng thấy được các tướng quả báo trong tương lai, nên việc của trăm ngàn muôn kiếp đều ở nơi một niệm trong mộng. Dùng [thí dụ này] để sự biểu trưng cho diệu pháp không thể nghĩ bàn, một ở trong vô lượng, vô lượng ở trong một. Tướng như vậy đã hiện ra trước thì về sau ắt phải đạt được quả.
Phân đoạn này lại có 6 ý, nêu từ lúc phát khởi tín tâm ban đầu cho đến quả vị Diệu giác, hiển lộ 8 tướng thành Phật, [69] đều là dùng sự trang nghiêm của đức Như Lai để tự trang nghiêm mình, tức là phước báo nhẫn nhục.
Ý thứ nhất có 3 khổ kệ, nói người nằm mộng thể nhập thập tín. Ý này lại có 2 tiểu ý.
Tiểu ý thứ nhất gồm 2 khổ rưỡi kệ là nói phước báo của từ bi.
Tiểu ý thứ hai gồm nửa khổ kệ là nói phước báo chánh kiến, không si mê.
Ý thứ hai từ câu “Lại được thấy chư Phật” trở đi, gồm 6 khổ rưỡi kệ, người nằm mộng thể nhập thập trụ.
Ý thứ ba từ câu “Lại cũng thấy thân mình” trở đi gồm 3 câu kệ, mộng thấy tu thập hạnh.
Ý thứ tư là câu “chứng biết các tướng thật”, người nằm mộng giác ngộ thập hồi hướng.
Ý thứ năm là 2 câu “Vào sâu các thiền định, thấy được mười phương Phật”, người nằm mộng thể nhập thập địa.
Ý thứ sáu từ câu “Chư Phật thân sắc vàng” trở đi gồm 5 khổ kệ, người nằm mộng thể nhập giai vị Diệu giác.
Đã nói “chứng trí tuệ bất thối” tức là được thụ ký, cho nên biết là đã thể nhập sơ trụ, đạt địa vị vô sanh, được thụ ký.
“Lại cũng thấy thân mình, ở giữa chốn rừng núi” nên biết đây là giai đoạn thập hạnh, cho nên nói “tu tập các pháp lành”.
“Chứng biết các tướng thật” nên biết đây là giai đoạn thập hồi hướng, đạt địa vị chánh quán trung đạo. “Vào sâu các thiền định” tức là được pháp Tam-muội Vô cấu trong giai vị Thập địa, khi nhập pháp định Kim cang thì được chư Phật hiện ra dùng tay xoa đầu cho biết chức phận. [Phần kệ tiếp theo nói] mộng thấy 8 tướng thành Phật nên biết đây là giai vị Diệu giác. Chỗ này cũng có thể nói rằng, từ sơ trụ cũng bắt đầu hiện được 8 tướng thành Phật. Tuy nhiên, từ trước đã nêu những giai vị tuần tự lên cao chính là để ở đây nói giai vị cao nhất.
KINH VĂN
Đoạn thứ ba từ câu “Đời xấu ác về sau” trở đi gồm 1 khổ kệ, tổng kết về sự thành tựu công hạnh.
Giải thích về năm căn, tám chánh đạo:
Tín căn là đối với Tam bảo có niềm tin kiên cố, không gì có thể cản trở, phá hoại. Tinh tấn căn là đạt được bốn pháp chánh cần. Niệm căn là đạt được pháp quán bốn niệm xứ; phương tiện siêng năng điều phục được tham dục, sầu ưu. Định căn là đạt được bốn bậc thiền. [70] Tuệ căn là thấu hiểu được bốn chân đế, rõ biết đúng như thật.
Lại nữa, tín căn là ở chỗ đức Như Lai phát tâm Bồ-đề mà được lòng tin thanh tịnh. Tinh tấn căn là ở chỗ đức Như Lai phát tâm mà khởi lên sự tinh tấn chuyên cần. Niệm căn là ở chỗ đức Như Lai phát tâm mà khởi niệm, thường nhớ nghĩ không quên. Định căn là ở chỗ đức Như Lai mà khởi lên pháp Tam-muội chánh định. Tuệ căn là ở chỗ đức Như Lai mà khởi lên trí tuệ.
Tám chánh đạo là con đường tu tập của bậc sa-môn, lại cũng là phương pháp tu tập của bậc sa-môn. Tu tập thành tựu thì tham lam, sân hận cho đến hết thảy mọi phiền não đều dứt sạch. Đây là ý nghĩa của [việc xuất gia làm] bậc sa-môn; đạt được bốn thánh quả là kết quả tu tập của bậc sa-môn.
Giải thích về việc nằm mộng:
Các bậc chứng thánh quả từ Tu-đà-hoàn cho đến Phật Bích-chi đều có việc nằm mộng. Chỉ riêng Phật không có nằm mộng. Vì không có nghi ngờ, không còn tập khí, cho nên không có nằm mộng. [Luận A-tỳ-đàm Tỳ-bà-sa] nói, do 5 nguyên nhân mà có việc nằm mộng, như lời kệ nói rằng:
Lại nữa, là do những điều đã nghe, đã thấy cùng những mối lo toan trong lòng... cả thảy có 7 nguyên nhân khiến cho có việc nằm mộng.
H ỏ i: Hiện tại khi tỉnh mà ý thức còn không thể thấy được hình sắc, [phải nhờ có con mắt], làm sao trong mộng tâm ý lại có thể thấy có hình sắc?
Đáp : Đó đều là những điều đã từng thấy, đã từng nghe, cho nên tâm nhớ tưởng lại [mà thấy trong mộng] thôi. Lại cũng là do tướng tốt hoặc không tốt [mà có hình sắc].
Hỏi : Trong mộng không có thần thông, không có trí túc mệnh, làm sao có thể thấy được những việc trong các đời tương lai?
Đáp : Những điều ấy không phải cảnh giới của tâm trí mong muốn mà thấy, nên là chỗ biết của sự so sánh. Có những người đã từng nằm mộng như thế, sau được quả như thế, nay dùng sự so sánh mà biết.
Hỏi : [Nói về giấc ngủ thì] ai ngủ?
Đáp : Chúng sanh trong năm đường [72] cũng như trong cảnh giới trung ấm, tất cả đều có giấc ngủ. Chúng sanh còn trong bào thai, khi các căn đầy đủ rồi thì cũng có giấc ngủ. Cho đến đức Phật cũng có ngủ.
Hỏi : Giấc ngủ là ngu muội [nên là một trong 5] che chướng, [73] làm sao có thể có ở cả chúng sanh và Phật?
Đáp : Đức Phật hiện tiền luôn tỉnh thức, chỉ vì muốn điều hòa thân tứ đại cho nên ngủ, không phải là giấc ngủ che chướng, ngu muội.
15. Giải thích phẩm Từ lòng đất phóng lên
KINH VĂN
Phẩm Từ lòng đất phóng lên, thứ mười lăm
Giải thích tên phẩm
[Đức Như Lai] là bậc thầy tôn nghiêm dạy đạo cao quý [nên chư Bồ Tát] tận tụy hết lòng kính phụng. [Vì vậy,] khi Như Lai ban ra một lời, khắp bốn phương [chư Bồ Tát từ trong lòng đất] đều phóng vọt lên, cho nên gọi tên là phẩm “Từ lòng đất phóng lên”.
[Đức Như Lai] trong ba đời giáo hóa hoằng đạo, ân huệ lớn lao khôn cùng, như một vầng trăng chiếu soi thành muôn bóng, [74] không ai suy lường nổi; nay triệu vời [chư Bồ Tát] quá khứ để chỉ bày [giáo pháp] hiện tại, rộng truyền kinh điển để làm lợi ích [thính chúng] đương thời; cho nên gọi tên là phẩm “Từ lòng đất phóng lên”.
Hư không tịch tĩnh an nhiên, vốn không có [thời điểm] trước sau sớm muộn, do kẻ mê bám chấp hình tích nên khuất lấp bản nguyên; nay quy tụ hình tích xưa để chỉ rõ việc hiện nay, phá chỗ gần để hiển lộ việc xa, cho nên gọi tên là phẩm “Từ lòng đất phóng lên”.
Thị hiện đạo trường tịch diệt, [đức Thế Tôn như] người cha trẻ; an trụ cõi Thường tịch quang, [chư Bồ Tát như] những đứa con già; [75] chỉ ra [ công năng của] liều thuốc [chánh pháp] [76] để chúng sanh đều được biết, cho nên gọi tên là phẩm “Từ lòng đất phóng lên”. Đại lược là như thế.
[Phần kệ tụng trong] kinh văn nói:
“Các vị này từ đâu?
Nhân duyên gì quy tụ?”
Nay sẽ dùng những nghĩa như trên để giải thích phẩm này. Hiển lộ nhân duyên của bốn pháp tất đàn để giải thích, cho nên gọi tên là phẩm “Từ lòng đất phóng lên”.
Từ đây trở về cuối là phần thứ hai của đoạn lớn [trong toàn bộ kinh], mở bày chỗ hình tích gần đây (cận tích) của quan hệ thầy trò, hiển lộ chỗ bản nguyên xa xưa (viễn bản) của quả vị Phật. Kinh văn phần này lại chia làm 3 phần. Thứ nhất là từ trên cho đến câu “các ông nhân đó sẽ tự mình được nghe”. Đây là thuộc về phần mở đầu. Thứ hai là từ câu “Bấy giờ, đức Phật Thích-ca Mâu-ni bảo Bồ Tát Di-lặc” cho đến hết 19 khổ kệ do Bồ Tát Di-lặc nói ra trong phẩm Phân biệt công đức. Đây là thuộc phần chánh thuyết. Thứ ba là từ sau phần kệ tụng nói trên cho đến hết 11 phẩm rưỡi cuối kinh. Đây là thuộc phần lưu thông. Đại lược là như thế.
KINH VĂN
Lúc bấy giờ, những Bồ Tát từ các cõi nước phương khác đến, nhiều hơn số cát của tám con sông Hằng, đều đứng lên giữa đại chúng, cùng chắp tay đảnh lễ thưa với Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Nếu Thế Tôn cho phép chúng con sau khi Phật diệt độ được ở thế giới Ta-bà siêng năng tinh tấn, bảo vệ giữ gìn, tụng đọc, sao chép, cúng dường kinh điển này, thì chúng con sẽ giảng thu-yết rộng kinh này ở đây.”
Khi ấy, đức Phật bảo các vị Đại Bồ Tát: “Thôi đi, các thiện nam tử! Không cần đến các ông hộ trì kinh này. Vì sao vậy? Thế giới Ta-bà của ta đã sẵn có những Bồ Tát nhiều như số cát của sáu mươi ngàn con sông Hằng, mỗi vị Bồ Tát ấy đều có số quyến thuộc cũng nhiều bằng số cát của sáu mươi ngàn con sông Hằng. Sau khi ta diệt độ, tất cả những vị này sẽ bảo vệ giữ gìn, tụng đọc, giảng rộng kinh này.”
Phần thứ nhất chia thành 2 tổng đoạn. Tổng đoạn thứ nhất nói việc [các Bồ Tát từ trong lòng đất] phóng vọt lên; tổng đoạn thứ hai nêu nghi vấn [của đại chúng].
Tổng đoạn thứ nhất lại chia làm 3 đoạn. Đoạn thứ nhất nói các vị Bồ Tát phương khác xin được rộng truyền kinh này; đoạn thứ hai nêu việc Như Lai không cho phép; đoạn thứ ba nêu việc các Bồ Tát [từ trong lòng đất] phóng vọt lên.
Các vị Bồ Tát phương khác nghe [dạy rằng] việc rộng truyền kinh điển này được phước đức lớn lao, cho nên đều muốn phát nguyện ở lại cõi này để rộng truyền kinh. Do đó mà thưa thỉnh xin được phép làm.
Đức Như Lai ngăn lại việc này có 3 ý nghĩa. Thứ nhất, các Bồ Tát [đến từ] phương khác mỗi người đều đã có phần trách nhiệm riêng, nếu ở lại cõi này thì phải bỏ đi lợi ích ở cõi kia. Thứ hai, các Bồ Tát từ phương khác đến kết duyên với cõi Ta-bà này hãy còn mới mẻ cạn cợt, tuy có ý muốn rộng truyền kinh điển nhưng lợi ích sẽ không được lớn lao. Thứ ba, nếu cho phép các Bồ Tát phương khác rộng truyền kinh này thì không thể gọi lên các Bồ Tát từ phương dưới, như vậy thì không phá được hình tích [gần], không làm hiển lộ được [bản nguyên] xa xưa. Đó là 3 ý nghĩa của việc Như Lai ngăn lại không cho phép [các Bồ Tát phương khác rộng truyền kinh này].
Đức Như Lai gọi [các Bồ Tát từ] phương dưới lên cũng có 3 ý nghĩa. Thứ nhất là nghĩa chính đệ tử của Phật nên rộng truyền giáo pháp của Phật. Thứ hai là vì có nhân duyên sâu rộng nên có thể làm lợi ích rộng khắp cõi này, cũng làm lợi ích khắp các cõi của phân thân Phật, cũng làm lợi ích cho khắp các cõi nước phương khác. Thứ ba là có thể giúp khai mở phá trừ hình tích gần đây, hiển lộ bản nguyên xa xưa. [77] Do các ý nghĩa ấy nên ngăn cản các Bồ Tát phương khác mà gọi lên các Bồ Tát từ phương dưới.
KINH VĂN
Khi đức Phật vừa nói lời này, mặt đất ở khắp các cõi nước trong thế giới Ta-bà đều chấn động nứt ra, rồi từ trong lòng đất có vô số ngàn muôn ức vị Đại Bồ Tát đồng thời phóng vọt lên. Các vị Bồ Tát này đều có thân màu vàng ròng, đủ ba mươi hai tướng tốt, tỏa hào quang vô lượng, trước đó đều an trụ trong khoảng hư không bên dưới cõi Ta-bà. Các vị nghe âm thanh thuyết pháp của đức Phật Thích-ca Mâu-ni nên từ phương dưới hiện lên.
Mỗi một vị Bồ Tát ấy đều là bậc thượng thủ dẫn dắt đại chúng. Số lượng các vị Bồ Tát dẫn theo quyến thuộc nhiều như số cát của sáu mươi ngàn con sông Hằng [đã là rất nhiều], huống chi những vị dẫn theo quyến thuộc như số cát của năm mươi ngàn con sông Hằng [lại càng nhiều hơn nữa]; huống chi những vị dẫn theo số quyến thuộc như số cát của bốn mươi ngàn, ba mươi ngàn, hai mươi ngàn hoặc mười ngàn con sông Hằng [lại càng nhiều hơn nữa]; cho đến những vị dẫn theo số quyến thuộc như số cát của một sông Hằng, nửa sông Hằng, hoặc chỉ một phần tư, hoặc chỉ một phần trong ngàn muôn ức vô số phần cát sông Hằng [lại càng nhiều hơn nữa];
huống chi là những vị dẫn theo ngàn muôn ức vô số quyến thuộc, hoặc một tỷ, hoặc mười triệu, một triệu cho đến chỉ có mười ngàn, một ngàn, hoặc một trăm cho đến chỉ mười người; hoặc chỉ dẫn theo năm, bốn, ba, hai, một người đệ tử, hoặc những vị chỉ đi một mình, ưa thích hạnh xa lìa [lại càng nhiều hơn nữa.
Sự so sánh như trên là vô lượng vô biên, dùng các phép tính toán thí dụ đều không thể biết được. [78]
Đoạn thứ ba từ câu “Khi đức Phật vừa nói ra lời này”, nêu việc các Bồ Tát [từ trong lòng đất] phóng vọt lên, chia làm 2 tiểu đoạn. Thứ nhất là mô tả của người chép kinh; thứ hai là nêu việc [các Bồ Tát] thưa hỏi vấn an. Mỗi tiểu đoạn này đều có 5 phân đoạn.
Tiểu đoạn thứ nhất có 5 phân đoạn. Thứ nhất là nêu việc [các Bồ Tát từ trong lòng đất] phóng vọt lên. Thứ hai là mô tả thân tướng của các Bồ Tát ấy. Thứ ba là nêu trụ xứ trước đây của các Bồ Tát. Thứ tư là nêu việc các vị nghe lời [Phật Thích-ca] truyền gọi. Thứ năm là mô tả về quyến thuộc của các vị Bồ Tát này.
Nói về trụ xứ [phương dưới] tức là cõi Thường tịch quang. Thường là nghĩa đức “thường”; tịch là nghĩa đức “lạc”; quang là nghĩa hai đức “ngã” và “tịnh”. Đó là 4 đức của tạng pháp sâu kín. Trụ xứ của các vị Bồ Tát này chính là dùng pháp không trụ mà trụ nơi tạng pháp sâu kín. Nói phương dưới là hàm nghĩa đáy sâu của tánh pháp, là địa vị cùng cực của tông chỉ diệu huyền, cho nên nói là phương dưới. Ở bên dưới thì không thuộc bên này, giữa không trung thì không thuộc bên kia, không thuộc bên này cũng không thuộc bên kia, đó là trung đạo. Ra khỏi lòng đất mà không ở bên trên, cũng không ở mặt đất, không trên không dưới, trụ giữa không trung cũng là trung đạo.
Về nguyên do [các Bồ Tát] hiện đến, đó là nghe lời Phật truyền gọi mà đến, vì rộng truyền chánh pháp mà đến, vì phá sự bám chấp [vào hình tích gần đây] mà đến, vì hiển lộ bản nguyên [xa xưa] mà đến. Những nghĩa ấy đều giống như đã nói ở trước.
Về việc [các Bồ Tát] dẫn theo quyến thuộc, nếu thường tình thế gian thì cho rằng dẫn theo [số quyến thuộc] như số cát của sáu muôn, năm muôn con sông Hằng là nhiều, chỉ ba muôn, hai muôn là ít; những vị đi một mình là lẻ loi đơn độc. Nhưng nếu y theo hàm ý của kinh văn mà xét thì [số Bồ Tát dẫn theo quyến thuộc như số cát của] sáu muôn, năm muôn sông Hằng là ít, số [Bồ Tát] đi một mình là nhiều. Bởi vì kinh văn [có hàm ý nói] “những vị chỉ đi một mình, ưa thích hạnh xa lìa lại càng nhiều hơn nữa”. [79]
Nếu theo ý nghĩa pháp môn mà xét thì hết thảy đều là công đức của bậc đạo sư, có thể dẫn dắt đại chúng đến bảo sở, tức là giải thoát rốt ráo, nên biết rằng một mình không phải riêng lẻ mà [như số cát của] sáu muôn [sông Hằng] cũng không phải là nhiều.
[Ý nghĩa của] một tức là một đạo thanh tịnh, hai tức là định và tuệ, ba tức là giới, định và tuệ, bốn tức bốn đế, năm tức năm loại mắt, sáu tức sáu ba-la-mật. Mỗi một ba-la-mật đều đủ mười pháp giới, mỗi pháp giới đều có mười [pháp giới]. Mười tức có trăm, trăm tức đủ ngàn. Mười điều thiện tức có [đủ muôn điều thiện]. Một ba-la-mật có đủ muôn công hạnh, sáu ba-la-mật tức sáu mươi ngàn pháp môn. Nhiều không phải là nhiều, một không phải là ít. Không phải nhiều, không phải ít nhưng là nhiều, là ít. Đại lược là như vậy.
KINH VĂN
Các vị Bồ Tát ấy sau khi từ lòng đất phóng lên rồi, mỗi vị đều đến chỗ tháp bảy báu của đức Như Lai Đa Bảo và đức Phật Thích-ca Mâu-ni trên hư không, cùng hướng về hai vị Thế Tôn, cúi đầu áp mặt đảnh lễ dưới chân các ngài, lại cũng đảnh lễ chư Phật ở các tòa sư tử dưới những cội cây báu. [Sau đó các vị] đi nhiễu quanh về bên phải [hai đức Thế Tôn] ba vòng rồi chắp tay cung kính, dùng những cách xưng tán khen ngợi của hàng Bồ Tát để xưng tán. Rồi các vị cùng đứng sang một bên, hân hoan chiêm ngưỡng hai đức Thế Tôn.
Từ lúc các vị Bồ Tát từ trong lòng đất phóng vọt lên rồi dùng đủ các pháp xưng tán để ngợi khen xưng tán Phật, thời gian trải qua đến năm mươi tiểu kiếp. Khi ấy, đức Phật Thích-ca Mâu-ni vẫn ngồi an tịnh, cả bốn chúng trong pháp hội cũng đều lặng yên an tịnh. Do thần lực của Phật nên đại chúng chỉ cảm thấy như trải qua nửa ngày. Bấy giờ, cũng do thần lực của Phật, bốn chúng đều nhìn thấy các vị Bồ Tát này biến hiện đầy khắp hư không trong vô số trăm ngàn muôn ức cõi nước.
Tiểu đoạn thứ hai từ câu “Các vị Bồ Tát ấy sau khi từ lòng đất phóng lên…”, nêu việc [các Bồ Tát] thưa hỏi vấn an [đức Phật] , chia làm 5 phân đoạn. Thứ nhất, [các vị Bồ Tát] dùng ba nghiệp [thân, khẩu, ý] cúng dường Phật; thứ hai, trình bày lời thưa hỏi vấn an; thứ ba, Phật đáp lời cho biết Phật an vui; thứ tư, [các Bồ Tát] đọc kệ vui theo; thứ năm, đức Như Lai khen ngợi.
Phân đoạn thứ nhất, [các Bồ Tát dùng] ba nghiệp cúng dường. “Thời gian trải qua đến 50 tiểu kiếp”, lại nói “bốn chúng đều nhìn thấy”, đó là nghĩa che khuất đi thời gian dài mà hiển thị thời gian ngắn. Lại nhờ vào thần lực [của Phật] mà nhìn thấy [không gian] nhỏ hẹp trở thành rộng lớn khắp cùng. Cả hai việc như vậy đều là không thể nghĩ bàn.
[Các vị Bồ Tát] lễ bái, nhiễu quanh Phật là [cúng dường bằng] thân, theo đúng pháp xưng tán là [cúng dường bằng] khẩu, chiêm ngưỡng Phật là [cúng dường bằng] ý.
Năm mươi tiểu kiếp lại khiến cho cảm thấy như nửa ngày, đó là thời gian không thể nghĩ bàn. Chỗ thấy của đức Như Lai vốn không có hai tướng phân biệt, các vị Bồ Tát đến từ phương dưới lúc nào cũng chiêm ngưỡng xưng tán Phật, đức Như Lai lúc nào cũng lặng yên thọ nhận sự xưng tán ấy, người thấu hiểu thì biết thời gian ngắn tức là dài, gọi là 50 tiểu kiếp; người mê hoặc thì đối với thời gian dài mà cho là ngắn, gọi là chỉ như nửa ngày. Đây là vì [phân biệt rõ] bản nguyên với hình tích mà bày ra để dẫn dắt. Khi đức Như Lai chưa nói ra thì mê mờ không thấy bản nguyên, bám chấp hình tích; lúc Phật đã khai mở chỉ bày thì thấu hiểu được [hình tích] gần đây, rõ biết [bản nguyên] xa xưa, cũng là cái biết không thể nghĩ bàn thứ nhất.
Bốn chúng nhìn thấy chư Bồ Tát biến hiện khắp nơi, đó cũng là việc không thể nghĩ bàn. Vì thường thì chỗ thấy của phàm phu (nhục nhãn) cũng như chư thiên (thiên nhãn) đều có giới hạn, không thể nhìn thấy quá xa, nhưng nay lại thấy được “đầy khắp hư không”. Thấy mưa to thì biết là có rồng lớn, thấy hoa sen tươi tốt thì biết là hồ nước sâu, thấy [chư Bồ Tát] ứng hiện đầy khắp hư không thì biết là chân thật đầy khắp pháp giới.
KINH VĂN
Trong số các vị Bồ Tát này có bốn vị Đạo sư, vị thứ nhất tên là Thượng Hạnh, vị thứ hai là Vô Biên Hạnh, vị thứ ba là Tịnh Hạnh và vị thứ tư là An Lập Hạnh. Bốn vị Bồ Tát này là những bậc thầy dẫn dắt, mỗi vị đều đứng ra trước đại chúng, cùng chắp tay chiêm ngưỡng Phật và thưa hỏi: “Bạch Thế Tôn! Ngài có được ít bệnh não và thường an vui chăng? Những chúng sinh cần hóa độ có dễ giáo hóa chăng? Có làm cho Thế Tôn phải mệt nhọc chăng?”
Bấy giờ, bốn vị Đại Bồ Tát [muốn lặp lại ý nghĩa thưa hỏi nên] đọc kệ rằng:
Phân đoạn thứ hai nêu việc các Bồ Tát thưa hỏi vấn an lại có 2 tiểu ý.] Thứ nhất, nêu tên 4 vị đạo sư; thứ hai, trình bày lời thưa hỏi vấn an. Phần thưa hỏi vấn an lại chia làm hai, gồm văn trường hàng và kệ tụng. Phần văn trường hàng cũng chia làm hai. Thứ nhất thưa hỏi Như Lai có được an vui, thứ hai thưa hỏi chúng sanh có dễ hóa độ. Đại lược là như vậy.
Chỉ nêu tên 4 vị, là nêu ý [Như Lai] đã dự định sẽ “khai, thị, ngộ, nhập” [đưa thính chúng thể nhập] 40 quả vị, cũng như trong kinh Hoa Nghiêm chỉ nêu 4 vị Pháp Tuệ, Đức Lâm, Kim Tràng, Kim Tạng để thuyết giảng về 40 quả vị. Đại lược là như thế.
KINH VĂN
Bấy giờ đức Thế Tôn ở giữa đại chúng Bồ Tát đáp lại rằng: “Đúng vậy, đúng vậy. Này các thiện nam tử! Như Lai an vui, ít bệnh não, các chúng sanh đều được hóa độ dễ dàng không mệt nhọc. Vì sao vậy? Những chúng sanh này từ nhiều kiếp quá khứ đến nay vẫn thường được ta giáo hóa, lại cũng từng cúng dường tôn kính chư Phật quá khứ, trồng các căn lành. Những chúng sanh như vậy vừa được nhìn thấy thân ta, nghe tiếng thuyết pháp của ta thì đều tin nhận rồi thể nhập trí tuệ Như Lai, chỉ trừ những ai trước đây đã tu học theo Tiểu thừa. Nhưng những người đã học Tiểu thừa thì hôm nay ta cũng khiến cho được nghe kinh [Pháp hoa] này rồi thể nhập trí tuệ Phật.”
Phân đoạn thứ ba, đức Như Lai đáp lời thưa hỏi vấn an [của các Bồ Tát], có 2 ý. Thứ nhất, Như Lai an vui; thứ hai, chúng sanh dễ hóa độ. Hai việc này thành tựu tương quan, vì được an vui nên chúng sanh dễ hóa độ, vì chúng sanh dễ hóa độ nên được an vui. Thứ hai, chúng sanh dễ hóa độ, phân thành hai tiểu ý.
Tiểu ý thứ nhất là những chúng sanh căn tánh nhanh nhạy, phước đức sâu dày, từ nhiều kiếp quá khứ đến nay thường được giáo hóa bằng giáo pháp Đại thừa, cho nên vừa nhìn thấy thân Phật liền tiếp thụ giáo pháp Hoa nghiêm, thể nhập trí tuệ Phật, như trái cây đã chín mùi nên dễ rụng. Đó là những chúng sanh dễ hóa độ.
Tiểu ý thứ hai là những chúng sanh căn cơ trì độn, phước đức mỏng manh cạn cợt, từ nhiều kiếp quá khứ đến nay không được thọ nhận sự giáo hóa bằng Đại thừa. [Phật] vì những người này nên khai mở sự trì độn, thuyết dạy giáo pháp tu tập từng bước theo thứ lớp như Tạng giáo, Phương đẳng, Bát-nhã… để điều phục họ. [Hôm nay Phật] cũng khiến cho những chúng sanh này được nghe kinh Pháp hoa, thể nhập trí tuệ Phật. Nếu so với những chúng sanh thuộc hạng trước thì có khó hóa độ hơn, nhưng đối với Phật vẫn là rất dễ, vì Phật rõ biết phương tiện thích hợp để đạt được kết quả giáo hóa, vỗ về tùy bệnh cho thuốc, đến khi đạt ngộ thì trí tuệ tương đồng. Nay lược nêu 10 điều để giải thích về phương tiện thích hợp của Phật.
Thứ nhất, có chỗ thấy ban đầu hoặc chỗ thấy ngày nay.
Thứ hai, [thuyết pháp] có khai có hợp hoặc không khai không hợp.
Thứ ba, có rộng về chiều dọc hoặc lược về chiều ngang.
Thứ tư, có một bản nguyên nhiều hình tích hoặc nhiều hình tích chung cùng một bản nguyên.
Thứ năm, có giảng giải thêm hoặc không giảng giải thêm.
Thứ sáu, có cõi nước biến hiện hoặc cõi nước không biến hiện.
Thứ bảy, có nhiều nơi chốn hoặc không nhiều nơi chốn.
Thứ tám, có bác bỏ hoặc không bác bỏ.
Thứ chín, có chỉ thẳng làm rõ pháp chân thật hoặc khai mở trừ bỏ pháp quyền thừa để hiển bày pháp chân thật.
Thứ mười, có căn cơ nhanh nhạy sớm thuần thục hoặc căn cơ trì độn chậm thuần thục.
Thứ nhất, chỗ thấy lúc Phật mới thành đạo gọi là chỗ thấy ban đầu; trên pháp tòa giữa hội Pháp hoa lâu xa về sau mới chỉ bày chân thật gọi là chỗ thấy ngày nay.
Thứ hai, như mặt trời vừa lên, trước hết soi chiếu trên núi cao, tức là [thuyết kinh Hoa nghiêm dạy thẳng] pháp đốn ngộ, không khai không hợp; vì những người chưa thể nhập được nên khai mở pháp đốn mà nói pháp tu tập dần dần theo thứ lớp. [Dùng năm thời thuyết giáo như] năm vị của sữa để điều phục dần dần khiến quay về thể nhập pháp đốn ngộ.
Thứ ba, bậc đốn ngộ trực nhập pháp giới nên nói là rộng về chiều dọc, không qua thời gian; không trải qua các pháp phương tiện, cho nên nói là lược về chiều ngang, [tức nhất thời chứng ngộ]. Nay trải qua [năm thời thuyết giáo như] năm vị của sữa, tức là rộng về chiều ngang, [trải qua thời gian mới chứng ngộ], khi được thể nhập trí tuệ Phật cũng là rộng về chiều dọc.
Thứ tư, [ví như đóa hoa sen chỉ] một đài hoa là một bản nguyên, nở ra ngàn cánh sen là nhiều hình tích. Những hình tích ấy đều không khác với các kinh điển, nên nói là cùng một bản nguyên; bản nguyên ấy không giống như kinh điển nên gọi là riêng khác.
Thứ năm, [giảng giải thêm là như] thêm vào 4 vị Bồ Tát để thuyết giảng 40 quả vị; như Phật tự thuyết ra các nghĩa “khai, thị, ngộ, nhập” thì không thêm vào người khác.
Thứ sáu, thế giới Hoa Tạng [80] nên cõi nước không biến hiện; hai lần biến đổi mặt đất nên gọi là cõi nước biến đổi.
Thứ bảy, [như Phật thuyết kinh Hoa nghiêm có] tám pháp hội ở bảy nơi là nhiều nơi chốn; [pháp hội Pháp hoa] từ núi Kỳ-xà-quật mở rộng khắp hư không nên không nhiều nơi chốn.
Thứ tám, trừ bỏ hóa thành, đổi khách lạ [thành con trong nhà], cho nên nói là bác bỏ; không có những việc như vậy là không bác bỏ.
Thứ chín, theo đường lớn thẳng tắt [Đại thừa] nên gọi là chỉ thẳng làm rõ pháp chân thật; giảng rõ pháp Thanh văn là khai mở trừ bỏ pháp quyền thừa để hiển bày pháp chân thật.
Thứ mười, căn cơ nhanh nhạy, cơ duyên thuần thục nên ngay ban đầu [sau khi Phật thành đạo] đã thể nhập trí tuệ Phật; căn cơ trì độn đợi sau mới thuần thục nên hôm nay [trong hội Pháp hoa] thể nhập trí tuệ Phật.
Nhân duyên thích hợp [của chúng sanh] không giống nhau nên chỉ lược nói mười trường hợp khác biệt [như trên], nhưng hạt giống trí tuệ trong khắp pháp giới đều bình đẳng không khác biệt. Do vậy, Kinh văn nói: “Vừa được nhìn thấy thân ta, nghe tiếng thuyết pháp của ta thì đều tin nhận rồi thể nhập trí tuệ Như Lai, chỉ trừ những ai trước đây đã tu học theo Tiểu thừa. Nhưng những người đã học Tiểu thừa thì hôm nay ta cũng khiến cho được nghe kinh [Pháp hoa] này rồi thể nhập trí tuệ Phật.” Chỗ này đã nói rất rõ ràng, không nên nghi ngờ.
Các bậc thầy nhìn thấy nhân duyên khác biệt liền theo nhân duyên khác biệt đó mà giảng giải mê mờ, không biết rằng như vậy ngược lại càng thêm xa cách đạo. Nếu rõ biết lẽ thật vốn đồng thì ngàn bánh xe đi chung đường vẫn theo cùng một dấu vết, trí tuệ Phật vốn không có khác biệt.
Các nhà cựu giải cho rằng: “Hoa nghiêm giảng nghĩa rốt ráo, ví như trọn chữ, [81] là pháp thường trụ. Pháp hoa giảng nghĩa không rốt ráo, ví như chưa trọn chữ, là pháp không thường trụ.”
Nay dùng chính kinh văn phần này để giải thích. Nếu như thể nhập [trí tuệ Phật] ngay ban đầu [sau khi Phật thành đạo] [82] là nghĩa rốt ráo, còn đến ngày nay [khi nghe kinh Pháp hoa] thể nhập trí tuệ Phật là không rốt ráo, vậy thì sự thể nhập lúc ban đầu đó là trí tuệ Phật, còn ngày nay thể nhập thì không phải trí tuệ Phật hay sao? Còn nếu như trí tuệ Phật vốn đã là như nhau, thì nghĩa rốt ráo cũng giống nhau không khác. Với các nghĩa “trọn chữ” hay “thường trụ” cũng đều như vậy. Đại lược là như thế.
Phái Địa luận cho rằng Hoa nghiêm là tông chỉ viên mãn, còn Pháp hoa không phải tông chỉ chân thật. Nay cũng dùng Kinh văn phần này để giải thích [như trên].
KINH VĂN
Bấy giờ, các vị Đại Bồ Tát liền nói kệ rằng:
Phân đoạn thứ tư, các Bồ Tát nghe Phật đáp lời sinh lòng vui theo. Về người thưa hỏi thì trong kinh Hoa nghiêm là bốn vị Đại sĩ. Trong kinh Pháp hoa này, ngài Xá-lợi-phất thưa thỉnh 3 lần đều là thưa hỏi. Về việc thưa hỏi thì chính là hỏi về trí tuệ Phật.
KINH VĂN
Lúc bấy giờ, đức Như Lai ngợi khen các vị Đại Bồ Tát thượng thủ rằng: “Lành thay, lành thay, các thiện nam tử! Các ông có thể đối với [việc làm của] đức Như Lai sinh lòng vui theo.”
Phân đoạn thứ năm, đức Như Lai nhắc lại và khen ngợi. [Nội dung nhắc lại] rất khác so với nội dung thưa hỏi. Các Bồ Tát [đọc kệ] vui theo vì những người thưa hỏi đều là hàng Bồ Tát “có thể thưa hỏi Phật, về trí tuệ sâu xa”, và những người được giáo hóa thì sau khi nghe [Phật thuyết giảng] “rồi tin theo thực hành”, do vậy nên nói “chúng con đều vui theo”. Nhưng trong lời đức Như Lai nhắc lại thì nói rằng “với việc làm của đức Như Lai sinh lòng vui theo”, tức là nói về người giáo hóa.
Vậy ý nghĩa [khác biệt] này là thế nào? Vì những người thưa hỏi vốn đều là cổ Phật, [83] nên nói “các ông có thể… sinh lòng vui theo” tức là nói [vui theo] Như Lai. Như vậy, các Bồ Tát [đọc kệ] vui theo là nói theo nghĩa hình tích hiện ra; đức Như Lai nhắc lại và khen ngợi là theo nghĩa bản nguyên xa xưa. Đây cũng là ngầm nêu ý nghĩa thọ lượng [của Như Lai]. Đại lược là như thế.
KINH VĂN
Khi ấy, Bồ Tát Di-lặc cùng với đại chúng Bồ Tát nhiều như số cát của tám ngàn con sông Hằng đều khởi lên ý nghĩ rằng: “Từ xưa nay chúng ta chưa từng nhìn thấy, chưa từng nghe biết về những vị Đại Bồ Tát này, [nay lại thấy] từ trong lòng đất phóng vọt lên đứng trước đức Thế Tôn, chắp tay cung kính cúng dường, thưa hỏi Như Lai.”
Từ câu “Khi ấy Bồ Tát Di-lặc cùng với đại chúng Bồ Tát nhiều như số cát của tám ngàn con sông Hằng” [84] trở đi là tổng đoạn thứ hai, mở đầu nghi vấn.
[Bồ Tát Di-lặc tự trình bày đại ý rằng,] đối với hết thảy những vị Đại sĩ từ mười phương không ngừng hiện đến các pháp hội, từ đạo tràng [khi đức Thế Tôn thành đạo] cho đến pháp tòa hôm nay, tuy số nhiều không có giới hạn nhưng con có thể dùng sức trí tuệ của Bồ Tát Bổ xứ [85] nên đều thấy biết tất cả, vậy mà trong chúng [Bồ Tát từ lòng đất phóng lên] đây con không biết được vị nào cả. Hơn nữa con từng đi giáo hóa khắp mười phương, kề cận phụng sự chư Phật, nên đối với đại chúng của chư Phật con cũng đều quen biết rõ, nhưng xét lại trong những nơi đã từng đi qua cũng không nhận ra được vị nào [trong chúng Bồ Tát này]. Suy xét như vậy đều không biết được chuyện đến hay đi [của đại chúng Bồ Tát này].
Vì các bậc Đại sĩ [từ lòng đất phóng lên] kia vốn đã tu tập trước, thành tựu trước, ngài Di-lặc là hàng hậu bối, theo học về sau. Người đến sau không thể biết người đi trước, cho nên không biết ai trong số Bồ Tát này.
Lại nữa, những vị Đại sĩ kia vốn từ nơi tận cùng của bản nguyên thật tướng mà ứng hiện khắp mười phương, mỗi nơi giáo hóa riêng biệt đều ứng hiện chân thật, không phải cùng cảnh giới như ngài Di-lặc, cho nên không thể biết được các ngài.
Lại nữa, đức Phật vì giao phó việc rộng truyền kinh điển nên mới triệu tập các vị Đại sĩ này. Các vị nghe mệnh lệnh của thầy nên đến, cũng là ngấm ngầm để nghe về thọ lượng [Như Lai], không phải việc đại chúng đương thời biết được, cho nên nói là không biết.
Như trên là dựa theo ý nghĩa bốn tất đàn [86] để giải thích phần mở đầu nghi vấn. Đại lược là như thế.
KINH VĂN
Lúc bấy giờ, Bồ Tát Di-lặc rõ biết ý nghĩ trong tâm của chúng Bồ Tát nhiều như số cát tám ngàn con sông Hằng, đồng thời cũng muốn giải đáp mối nghi của chính mình, nên liền chắp tay cung kính hướng về đức Phật đọc kệ thưa hỏi rằng:
Tổng đoạn nêu nghi vấn chia làm 2 đoạn. Đoạn thứ nhất là nghi vấn của Bồ Tát ở cõi này, đoạn thứ hai là nghi vấn của Bồ Tát ở các cõi khác.
Đoạn thứ nhất nêu nghi vấn của Bồ Tát ở cõi này lại có 2 phần, trường hàng và kệ tụng. Phần văn trường hàng chỉ nói việc khởi ý niệm nghi; phần kệ gồm 19 khổ rưỡi kệ là nêu chính thức nội dung thưa hỏi.
KINH VĂN
Phần kệ thưa hỏi lại chia làm 5 tiểu đoạn.
Tiểu đoạn thứ nhất gồm 5 câu kệ, nêu hỏi các Bồ Tát từ đâu đến.
Tiểu đoạn thứ hai từ câu “Nhân duyên gì quy tụ” trở đi, gồm 7 câu kệ, thưa hỏi về nhân duyên [các Bồ Tát] đến đây.
Tiểu đoạn thứ ba từ câu “Mỗi một Bồ Tát ấy” trở đi, gồm 9 khổ kệ nói về số lượng các vị Bồ Tát ấy.
Tiểu đoạn thứ tư từ câu “Các bậc oai đức lớn” trở đi gồm 2 khổ kệ, thưa hỏi về bậc thầy của các vị Bồ Tát này là ai.
KINH VĂN
Tiểu đoạn thứ năm từ câu “Các Bồ Tát như vậy, thần thông, trí lực lớn” trở đi gồm 5 khổ rưỡi kệ là phần tóm kết thưa thỉnh. Tiểu đoạn này lại có 5 phân đoạn.
Phân đoạn thứ nhất gồm 2 câu đầu, tóm kết và khen ngợi [các Bồ Tát].
Phân đoạn thứ hai từ câu “Đất bốn phương động nứt” trở đi gồm 2 khổ kệ, thưa thỉnh việc các Bồ Tát này từ đâu đến.
Phân đoạn thứ ba từ câu “Thậm chí trong các vị, không nhận biết vị nào” trở đi gồm một khổ kệ, thưa thỉnh về nhân duyên các Bồ Tát đến đây.
Phân đoạn thứ tư từ câu “Nay trong đại hội này” trở đi gồm một khổ rưỡi kệ, nêu ý tất cả chúng hội cùng thỉnh cầu.
Phân đoạn thứ năm gồm hai câu “Thế Tôn vô lượng đức, nguyện dứt lòng chúng nghi”, nêu ý thỉnh cầu đức Phật giải đáp. Đại lược là như thế.
KINH VĂN
Lúc bấy giờ, các vị Phật phân thân của đức Phật Thích-ca Mâu-ni đến từ vô số ngàn muôn ức cõi nước phương khác đang ngồi kết già trên tòa sư tử dưới các cội cây báu trong tám phương. Những thị giả của các đức Phật phân thân này, mỗi người đều nhìn thấy các Bồ Tát trong khắp thế giới đại thiên ở bốn phương từ trong lòng đất phóng vọt lên rồi trụ yên trong hư không, liền thưa hỏi Phật: “Bạch Thế Tôn! Đại chúng vô lượng vô biên a-tăng-kỳ Bồ Tát này là từ đâu đến đây?”
Khi ấy, mỗi vị Phật phân thân đều bảo các thị giả của mình: “Các thiện nam tử! Hãy chờ trong giây lát, có vị Đại Bồ Tát hiệu là Di-lặc, là người được đức Phật Thích-ca Mâu-ni thụ ký sẽ thành Phật tiếp theo, đã thưa hỏi việc này rồi. Nay đức Phật Thích-ca Mâu-ni sẽ trả lời và các ông nhân đó sẽ tự mình được nghe.”
Đoạn thứ hai nêu nghi vấn của Bồ Tát ở các cõi khác, nói rõ những vị đi theo [chư Phật] phân thân [của Phật Thích-ca] dàn trải trong khắp mười phương đều cùng một lòng nghi với ngài Di-lặc. [Nêu việc chúng hội ở] cõi này và các cõi khác đều không rõ biết bản nguyên, đó là muốn làm rõ việc [Phật] thành đạo đã rất lâu xa. [Nên đoạn này nói các vị thị giả] mỗi người đều trình bày chỗ nghi và các vị Phật [phân thân] đều dạy rằng hãy chờ đợi vì ngài Di-lặc đã thưa hỏi. Đại lược là như vậy.
KINH VĂN
Bấy giờ, đức Phật Thích-ca Mâu-ni bảo Bồ Tát Di-lặc: “Lành thay, lành thay, A-dật-đa! [87] Ông đã có thể thưa hỏi Phật việc quan trọng này. Các ông nên cùng nhau chú tâm, mặc vào áo giáp tinh tấn, phát khởi ý nguyện kiên cố, nay đức Như Lai muốn hiển lộ, giảng thuyết, chỉ bày về trí tuệ của chư Phật, về sức thần thông tự tại của chư Phật, về sức phấn chấn nhanh nhạy như sư tử của chư Phật, về uy thế mạnh mẽ lớn lao của chư Phật.”
Từ câu “Bấy giờ, đức Phật Thích-ca Mâu-ni bảo Bồ Tát Di-lặc” trở đi là phần Chánh thuyết, [bắt đầu phần thứ hai của phẩm này].
[Tổng đoạn thứ nhất] có kinh văn trường hàng và kệ tụng, đều nêu ý răn dạy và hứa khả. Phần kinh văn trường hàng nêu nội dung chính, trước là nhắc lại [ý thưa hỏi] và ngợi khen, sau là răn dạy. Phần răn dạy nêu các ý khuyên đừng bối rối, đừng buông thả và đừng thối lui.
Tiếp theo, Phật hứa sẽ thuyết về trí tuệ quả vị Phật. Trí tuệ quả vị Phật đó chính là chỗ thấy biết của Như Lai, chỗ thấy biết của quả vi diệu. Phần tiếp theo mở bày sự giáo hóa là nói rõ cho biết.
“Sức thần thông tự tại của chư Phật” là từ trong quá khứ đã làm lợi ích cho chúng sanh; “sức phấn chấn nhanh nhạy như sư tử của chư Phật” là các phân thân hiện tại của Phật trong khắp mười phương; hoặc cũng nói rằng “phấn chấn nhanh nhạy” là nói trước tướng trạng tương lai, nêu sự lợi ích thường tồn cho chúng sanh đời sau; “uy thế mạnh mẽ lớn lao của chư Phật” là nói sự lợi ích cho chúng sanh đời sau; hoặc cũng có thể hiểu là sức mạnh trong hiện tại làm chấn động cả mười phương, tùy ý người [giảng giải] vận dụng, chỉ cần y theo thứ tự trong Kinh văn là tốt.
Lại theo ý riêng tôi cho rằng có thể hiểu theo ý bốn phẩm đức [của Niết-bàn là thường, lạc, ngã, tịnh ]. Sức tự tại của Như Lai là ngã ; thần thông là lạc ; phấn chấn như sư tử là trừ cấu uế, tức là tịnh ; uy thế mạnh mẽ lớn lao, lợi ích chúng sanh tương lai, tức là thường . Như vậy là theo ý bốn phẩm đức. Đại lược là như vậy.
KINH VĂN
Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn tuyên thuyết lại ý nghĩa trên nên nói kệ rằng:
Phần kệ tụng gồm 4 khổ kệ.
Ba câu đầu tiên tụng 3 ý răn dạy.
Tiếp theo là 3 khổ kệ và một câu, tụng nghĩa Phật hứa khả. Câu đầu tiên “Trí Phật khó nghĩ bàn” nêu quả trí tuệ, ba khổ kệ tiếp theo tụng việc trong 3 đời. [88]
KINH VĂN
Khi ấy, đức Phật thuyết kệ rồi liền bảo Bồ Tát Di-lặc: “Nay giữa đại chúng này ta sẽ nói rõ với các ông. Này A-dật-đa! Vô số vô lượng a-tăng-kỳ Đại Bồ Tát này, từ trong lòng đất phóng vọt lên, trước đây các ông chưa từng nhìn thấy, đều là những Bồ Tát mà sau khi ta thành đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác trong cõi Ta-bà đã giáo hóa, chỉ bày, dẫn dắt, giúp điều phục tâm, khiến cho phát khởi tâm đạo.
“Các Bồ Tát này đều an trụ trong khoảng hư không bên dưới cõi Ta-bà, tụng đọc thông suốt Kinh điển, biết suy xét phân biệt, nghĩ nhớ chân chánh.
“Này A-dật-đa! Những vị thiện nam tử này không ưa thích chỗ đông người bàn luận, thường ưa thích nơi yên tĩnh; chuyên cần tu tập tinh tấn chưa từng dừng nghỉ, việc an trụ cũng không nương tựa trong hai cõi trời người; thường ưa thích trí tuệ sâu xa dứt sạch chướng ngại, lại cũng thường vui với pháp của chư Phật, một lòng tinh tấn cầu trí tuệ Vô thượng.”
Từ câu “Khi ấy, đức Phật thuyết kệ rồi” trở đi là đoạn lớn thứ hai thuộc phần Chánh thuyết, [là phần thứ ba của phẩm này]. Kinh văn phần này chia làm ba. Phần đầu tiên từ đây cho đến hết phẩm Thọ lượng của Như Lai, nội dung chính chỉ bày giảng giải [hình tích] gần đây, làm rõ [bản nguyên] xa xưa.
Phần thứ hai là phần đầu của phẩm Phân biệt công đức , nêu tổng quát việc thọ nhận [đức Như Lai] thụ ký pháp thân. Phần thứ ba là Ngài Di Lặc trình bày tổng quát những chỗ tự mình nhận hiểu. Phần đầu tiên “giảng giải việc gần, làm rõ việc xa” lại có 2 phần.
Trước tiên nói sơ lược ý nghĩa “giảng giải việc gần, làm rõ việc xa”, nêu việc [đại chúng] động vào tình chấp khởi sanh lòng nghi. Tiếp theo nói rộng ý nghĩa “giảng giải việc gần, làm rõ việc xa”, nêu việc dứt trừ nghi hoặc, sinh khởi niềm tin. [89]
Tổng đoạn thứ hai, phần nói sơ lược lại chia làm 2 đoạn. Đoạn thứ nhất mở ra chỉ bày sơ lược; đoạn thứ hai là nhân có lòng nghi nên mới thưa thỉnh.
Đoạn thứ nhất chỉ bày sơ lược lại chia ra trường hàng và kệ tụng, trong đó chỉ giải đáp 2 câu hỏi, không giải đáp câu hỏi về nhân duyên quy tụ. Do chưa được giải đáp nên có việc thưa thỉnh lần nữa.
Phần kinh văn trường hàng có hai câu giải đáp, hai phần giải thích, y theo kinh văn có thể hiểu được.
Câu “an trụ trong khoảng hư không bên dưới” nêu nghĩa như Thích luận [90] có nói về Hữu để tán tam-muội (有底散三昧), có 4 cách giải thích. Thứ nhất, “hữu” là ba cõi hiện hữu; [91] “để” là cõi phi tưởng phi phi tưởng, vì sâu xa thù thắng nên gọi là “để”. Thứ hai, “hữu” là hình tướng tên gọi; “để” là nghĩa không; vì không là tịch tịnh nên gọi là “để”. Thứ ba, “hữu” là có 2 bên phân biệt nên là thế tục, “để” là bờ bến trí tuệ đã viên mãn trọn đủ, nên gọi là “để”. Thứ tư, nay theo kinh này dùng “khoảng hư không bên dưới” làm “để”, không phải cõi trên, không phải cõi dưới, đó là biểu thị cho trung đạo là “để”. Đây là dựa theo giáo nghĩa để phân biệt. Đại lược là như thế.
Từ câu “tụng đọc thông suốt Kinh điển” [92] trở đi nêu ý nghĩa [đức Phật là] bậc thầy nên rõ biết [các Bồ Tát] đệ tử có đầy đủ trí đức và đoạn đức. [93] Ban đầu là song song tu tập trí đức và đoạn đức, tiếp theo là chứng đạt trí đức và đoạn đức. Đối với kinh điển “biết suy xét phân biệt” là tu tập trí đức; “nghĩ nhớ chân chánh” là tu tập đoạn đức. “Không ưa thích chỗ đông người” là chứng đạt đoạn đức; “chuyên cần tu tập tinh tấn” là chứng đạt trí đức.
Từ câu “không nương tựa trong hai cõi trời người” là nêu nghĩa về nơi chốn. Cõi người và cõi trời là nhị biên phân biệt, không trụ vào đó cũng không bám chấp. “Trí tuệ sâu xa dứt sạch chướng ngại” là nương vào trí tuệ không thể nghĩ bàn. “Thường vui với pháp của chư Phật” là vui với cảnh không thể nghĩ bàn; cảnh giới trí tuệ rất vi tế, không thuộc về cận xứ và hành xứ của hàng Bồ Tát.
KINH VĂN
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn muốn tuyên thuyết lại ý nghĩa trên nên nói kệ rằng:
Phần kệ tụng gồm 8 khổ rưỡi kệ, chia thành 2 tiểu đoạn. Tiểu đoạn đầu tiên có 5 khổ rưỡi kệ, tụng nghĩa giải đáp 2 câu thưa hỏi. Phần sau có 3 khổ kệ, tụng 2 ý giải thích. Đại lược là như vậy.
KINH VĂN
Khi ấy, Đại Bồ Tát Di-lặc cùng với vô số các vị Bồ Tát đều sinh lòng nghi hoặc, cho là việc chưa từng có, nên tự nghĩ rằng: “Làm sao đức Thế Tôn trong một thời gian ngắn có thể giáo hóa được vô lượng vô biên a-tăng-kỳ các vị Đại Bồ Tát như vậy, khiến cho đều trụ yên trong đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác?”
Đoạn thứ hai từ câu “Khi ấy, Đại Bồ Tát Di-lặc…” trở đi nêu ý nghĩa nhân vì có lòng nghi nên mới thưa thỉnh, gồm có 2 phần, kinh văn trường hàng và kệ tụng.
Phần kinh văn trường hàng có 2 tiểu đoạn. Tiểu đoạn thứ nhất là nói lên lòng nghi; tiểu đoạn thứ hai là thưa thỉnh [xin Phật giải đáp].
KINH VĂN
Nghĩ rồi liền thưa hỏi Phật: “Bạch Thế Tôn! Như Lai khi còn là thái tử, ra khỏi cung điện của họ Thích đi đến thành Già-da không xa, ngồi nơi Đạo trường mà thành đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, từ đó đến nay chỉ vừa hơn bốn mươi năm. Bạch Thế Tôn!
Làm sao trong khoảng thời gian ngắn ấy có thể làm nên Phật sự lớn lao, dùng oai thế của Phật, dùng công đức của Phật để giáo hóa vô số Đại Bồ Tát như thế, đều sẽ thành tựu đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác? Bạch Thế Tôn! Các vị Đại Bồ Tát này, giả sử như có người tính đếm trong muôn ức kiếp cũng không thể đếm hết đến người cuối cùng.
Các vị Bồ Tát này từ lâu xa đến nay đã trồng các căn lành nơi đạo tràng của vô lượng vô biên các đức Phật, thành tựu đạo Bồ Tát, thường tu hạnh thanh tịnh. Bạch Thế Tôn! Việc này trong đời thật rất khó tin.
Ví như có người tóc xanh dáng đẹp, tuổi chừng hai mươi lăm, chỉ vào người già trăm tuổi mà nói ‘đó là con tôi’; người già trăm tuổi cũng chỉ người trẻ tuổi mà nói ‘đó là cha tôi, đã sinh ra tôi và nuôi dưỡng’. Chuyện như vậy thật khó tin!
Tiểu đoạn thứ nhất nêu lòng nghi có 2 ý nghĩa. Thứ nhất là vì nghe phần trước [Phật nói sau khi thành đạo] dưới cội Bồ-đề mới giáo hóa [các Bồ Tát này] nên nay các vị đều trụ địa vị bất thối. Thứ hai là nghe [Phật nói] ta từ lâu xa đã giáo hóa chúng Bồ Tát này. Vì nghe hai lần thuyết dạy này không đúng như sự nhận hiểu bám chấp lâu nay nên khởi sinh lòng nghi. Từ câu “Nghĩ rồi liền thưa hỏi Phật” trở đi nêu việc khởi tâm nghi mạnh mẽ để thưa hỏi, chia thành 2 phân đoạn. Thứ nhất nêu pháp để nói chỗ nghi; thứ hai nêu thí dụ để nói chỗ nghi.
Phân đoạn thứ nhất nêu pháp có 3 ý.
Thứ nhất, nghi việc Phật thành đạo chỉ vừa gần đây mà chúng Bồ Tát được giáo hóa quá nhiều. Đây là do bám chấp nơi việc gần đây mà nghi ngờ việc xa xưa.
Thứ hai, từ câu “Bạch Thế Tôn! Các vị Đại Bồ Tát này” trở đi, nêu việc chúng Bồ Tát này đã rất đông mà hành trạng, quả vị đều thâm sâu vi diệu. Đây là do bám chấp việc xa xưa mà nghi ngờ việc gần đây.
Thứ ba, câu “Bạch Thế Tôn! Việc này trong đời thật rất khó tin” là phần kết lại để thưa thỉnh.
Phân đoạn thứ hai nêu thí dụ lại có 2 ý. Thứ nhất là mở ra trình bày các thí dụ; thứ hai là nêu nghĩa tương hợp với các thí dụ.
Ý thứ nhất, trình bày thí dụ lại có 3 tiểu ý.
Thứ nhất nêu thí dụ “tóc xanh dáng đẹp…” để ví như việc Phật thành đạo chỉ mới gần đây.
Thứ hai, “chỉ vào người già trăm tuổi” để ví với những Bồ Tát được Phật giáo hóa rất nhiều. Các bậc thầy ở Hoài Bắc nêu thí dụ để giải thích thí dụ. Thí dụ như người cha già uống thuốc hoàn xuân nên dung mạo trẻ lại trông giống như người mới tuổi 25; người con không dùng thuốc nên hình dạng như trăm tuổi. Nếu rõ biết tác dụng của thuốc thì không có sự nghi ngờ quan hệ cha con, chỉ vì không biết nên mới cho là kỳ lạ. Thật ra thì đức Như Lai dùng thuốc “thùy tích” [94] mà thị hiện vừa mới sinh ra ở thành Già-da; các vị Bồ Tát thì luận thẳng vào bản nguyên ban đầu nên vốn đã từ lâu xa phát tâm Bồ-đề, ngày nay trụ địa vị bất thối. Nếu là giữa Phật với Phật thì rõ biết ngay việc này, hàng Bồ Tát bên dưới không rõ biết nên không thể không có lòng nghi.
Thứ ba, câu “chuyện như vậy thật khó tin” là tiểu ý kết lại phần này.
KINH VĂN
Nay chuyện của Phật cũng giống như vậy, từ ngày thành đạo đến nay quả thật chưa bao lâu, còn đại chúng Bồ Tát này đã từ vô số ngàn muôn ức kiếp vì cầu Phật đạo mà chuyên cần tu tập tinh tấn, giỏi việc nhập, xuất và trụ trong vô số ngàn muôn ức pháp tam-muội, đạt được đại thần thông, từ lâu tu hạnh thanh tịnh, khéo tu tập tuần tự các pháp lành, giỏi việc vấn đáp, thật quý báu trong cõi người, thật rất hiếm có trong khắp thế gian.
Ý thứ hai từ câu “Nay chuyện của Phật cũng giống như vậy”, nêu nghĩa tương hợp với các thí dụ, có 2 tiểu ý.
Thứ nhất là tương hợp với thí dụ về việc gần đây, y theo kinh văn có thể hiểu được. [95]
Thứ hai từ câu “còn đại chúng Bồ Tát này” trở đi là tương hợp với thí dụ về việc xa xưa. Quán xét thấy các vị Bồ Tát này đã từ lâu trồng các căn lành, không phải chỉ mới phát tâm ở [cội Bồ-đề] nơi thành Già-da.
“Giỏi việc nhập, xuất và trụ” , có thể tuần tự nhập 9 bậc thiền định [96] là giỏi việc nhập định; nhanh nhạy phấn chấn như sư tử là giỏi xuất định; siêu việt là giỏi trụ trong định. Đây là giải thích theo Tạng giáo và Thông giáo.
[Bồ Tát] từ Sơ địa đến Thập địa gọi là giỏi việc nhập định. [Bồ Tát] Thập địa nhập trùng huyền môn, quay lại tu tập các pháp [từ lúc còn là] phàm phu, [97] gọi là giỏi việc nhập định. [Bồ Tát] Diệu Giác biến hiện viên mãn gọi là giỏi việc trụ trong định. Đây là giải thích theo Biệt giáo.
[Bồ Tát thành tựu] Tất pháp tánh tam-muội [98] gọi là giỏi việc nhập định; [thành tựu] Thủ-lăng-nghiêm [tam-muội] gọi là giỏi việc xuất định; [thành tựu] Vương tam-muội gọi là giỏi việc trụ trong định. Đây là giải thích theo Viên giáo.
“Khéo tu tập tuần tự các pháp lành”, dựa vào nhân khéo tu tập nên cuối cùng được quả là giỏi nhập định. Đại lược là như vậy.
“Giỏi việc vấn đáp” [99] là đầy đủ hai phẩm đức trang nghiêm, [100] là bậc tôn quý trong bảy hạng phương tiện nên gọi là “thật quý báu”.
KINH VĂN
Hôm nay đức Thế Tôn vừa nói: ‘Lúc ta thành đạo mới bắt đầu khiến họ phát tâm, giáo hóa chỉ bày dẫn dắt, khiến cho hướng về quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.’ Đức Thế Tôn thành Phật chưa bao lâu mà có thể làm được việc công đức lớn lao như vậy. Chúng con tuy tin rằng lời Phật dạy luôn thích hợp, những gì Phật nói ra chưa từng hư dối, sự hiểu biết của Phật thông suốt bao trùm, nhưng đối với hàng Bồ Tát vừa mới phát tâm, sau khi Phật diệt độ, nếu nghe những lời này có thể sẽ không tin nhận mà khởi sinh nhân duyên tội nghiệp phá hoại chánh pháp.
“Kính bạch Thế Tôn! Xin vì chúng con giảng giải thuyết dạy, dứt trừ lòng nghi của chúng con cũng như giúp cho các thiện nam tử đời sau khi nghe chuyện này cũng không sinh lòng nghi.”
Tiểu đoạn thứ hai từ câu “Hôm nay đức Thế Tôn vừa nói” trở đi là thỉnh cầu [Phật] giải đáp. Tiểu đoạn này lại có 3 phân đoạn.
Phân đoạn thứ nhất, từ câu “Hôm nay đức Thế Tôn…” là nêu lời Phật nói.
Phân đoạn thứ hai, từ câu “Chúng con tuy tin rằng…” trở đi nêu ý thưa thỉnh, chia thành 2 ý.
Ý thứ nhất nói việc hiện tại, “chúng con tuy tin rằng…”.
Ý thứ hai nói việc tương lai, từ câu “đối với hàng Bồ Tát vừa mới phát tâm” trở đi. [Bồ Tát mới phát tâm] do công phu tu hành còn cạn cợt dễ sinh tâm hủy báng. Bồ Tát mới phát tâm nếu hủy báng chánh pháp sẽ phải đọa vào đường ác. Bồ Tát bất thối tuy có thể tin, không hủy báng, nhưng [nếu chưa hiểu rõ sẽ] không tăng trưởng tâm đạo. Nếu như [được Phật] vì họ giảng giải phân biệt rõ thì người hủy báng [nhờ hiểu rõ] sẽ sinh lòng tin, người đã có lòng tin [nhờ hiểu rõ] sẽ tăng trưởng tâm đạo. Đại lược là như vậy.
Phân đoạn thứ ba từ câu “Kính bạch Thế Tôn!” trở đi, thưa thỉnh [đức Phật xin] giải đáp. Phân đoạn này có 2 ý.
Ý thứ nhất là “dứt trừ lòng nghi của chúng con”;
Ý thứ hai là câu “cũng như giúp cho các thiện nam tử đời sau”, xin dứt trừ lòng nghi trong tương lai.
KINH VĂN
Khi ấy, Bồ Tát Di-lặc muốn lặp lại ý nghĩa trên nên nói kệ rằng:
Phần kệ tụng có 14 khổ kệ, tụng lại ý nghĩa hai phần nêu pháp và nêu thí dụ ở trước, có 2 tiểu đoạn. Tiểu đoạn thứ nhất có 5 khổ kệ, tụng lại phần nêu pháp; tiểu đoạn thứ hai có 9 khổ kệ, tụng lại phần nêu thí dụ.
Tiểu đoạn thứ nhất nêu pháp có 3 phân đoạn. Phân đoạn thứ nhất có một khổ kệ, tụng lại nghĩa bám chấp việc gần đây. Phân đoạn thứ hai từ câu “Còn những Bồ Tát này” trở đi gồm 2 khổ và 3 câu kệ, tụng lại nghĩa nghi ngờ việc xa xưa. Phân đoạn thứ ba từ câu “Làm sao có thể tin” trở đi gồm một khổ và một câu kệ, tụng lại ý nghĩa tóm kết phần thưa thỉnh.
Tiểu đoạn thứ hai tụng lại ý nghĩa nêu thí dụ có 2 phân đoạn.
Phân đoạn thứ nhất gồm 2 khổ kệ, tụng lại nghĩa trình bày thí dụ.
KINH VĂN
Phân đoạn thứ hai từ câu “Nay Thế Tôn cũng vậy” trở đi gồm 7 khổ kệ, tụng nghĩa tương hợp với thí dụ trên, có 3 ý.
Ý thứ nhất gồm 2 câu, tụng lại nghĩa tương hợp với thí dụ nêu việc gần đây.
Ý thứ hai từ câu “Còn những Bồ Tát ấy” trở đi gồm 3 khổ rưỡi kệ, tụng lại nghĩa tương hợp với thí dụ nêu việc xa xưa.
Ý thứ ba từ câu “Chúng con nghe từ Phật” trở đi gồm 3 khổ kệ, tụng nghĩa tương hợp với phần thưa thỉnh xin Phật giải đáp. Đại lược là như vậy.
16. Giải thích phẩm Tuổi thọ của Như Lai
KINH VĂN
Phẩm Tuổi thọ của Như Lai, thứ mười sáu
Giải thích về tuổi thọ vô lượng
Trước tiên hãy nêu ra những cách giải thích khác nhau.
Ngài Tăng Duệ [101] trong lời tựa nói rằng: “Tuổi thọ dù vô lượng kiếp cũng chưa đủ nêu rõ sự trường cửu của Như Lai; phân thân dù vô số cũng không đủ làm khác đi bản thể của Như Lai. Cho nên, nói thọ lượng là để xác định tuổi thọ Như Lai không thể tính đếm, nêu phân thân là để làm rõ bản thể Như Lai không có khác biệt. Nói Phổ Hiền để hiển bày việc Như Lai vốn không [chỉ mới vừa] thành đạo [ở Già-da], [102] hiện Đa Bảo là làm sáng tỏ việc Như Lai vốn không nhập diệt.”
Ngài Đạo Lãng ở Hà Tây cho rằng: “Làm rõ pháp thân chân thật với hóa thân không khác, nên [thân Phật] còn hay mất đều cùng một lý. Phật Đa Bảo hiện ra là nêu rõ pháp thân thường còn; nêu thọ lượng là chỉ rõ tuổi thọ của Như Lai đồng như thái hư, không hạn lượng.”
Đạo Tràng Quán [103] nói rằng: “Hội ba về một, đó là khởi đầu của thừa; dứt ảnh lắng thần, đó là kết thúc của thừa. Dứt ảnh là ngưng bặt hình tích; lắng thần thì sáng tỏ bản nguyên. Cho nên, hình tích thì vô thường mà bản nguyên là thường.”
Lại có người chú giải rằng: “Sống chết không thể đếm bằng số nên gọi là thọ; dài ngắn vượt ngoài giới hạn nên gọi là lượng. Pháp thân không thuộc về hình dạng tuổi tác, bậc đại sĩ còn phải tu tập quán chiếu đến cùng cực [mới biết], không thể cho việc ngồi nơi Bồ-đề Đạo tràng [104] là mới thành Phật, trăm tuổi là già nua cần sự nuôi nấng.”
Ngài Trúc Đạo Sinh nói: “Sắc thân Phật do ứng hiện mà có, nên tuy có nhưng không phải hình tướng thật. Hình tướng đã không thật thì lẽ nào lại có tuổi thọ? Cho nên muôn hình tướng Phật cùng về một nơi, Phật xưa Phật nay cùng là một Phật. Phật xưa cũng như nay, nay cũng như xưa, không lúc nào không hiện hữu, không nơi nào không tồn tại. Nếu như có lúc không hiện hữu, có nơi không tồn tại, thì Phật cũng giống như chúng sanh. Nhưng Phật không phải vậy, cho nên nói tuổi thọ [của Phật] cùng cực tức là nói thành đạo nơi Bồ-đề đạo tràng. Thành đạo nơi đạo tràng lại không phải [mới vừa] thành đạo. Thành đạo đã không phải là thành đạo, lẽ nào lại còn có việc tuổi thọ lâu dài? [Cho nên ý niệm về tuổi thọ] dài ngắn đều không có, [mà chúng sanh đều thấy tuổi thọ] dài ngắn đó là thường còn.”
Các bậc thầy lớn trước đây như đã dẫn, phần nhiều đều lấy chỗ tuổi thọ không giới hạn để nêu nghĩa thường.
Những vị thầy gần đây thì cho rằng [kinh nói] tuổi thọ [Như Lai] cũng là hạn lượng, trước nói nhiều hơn cát sông Hằng, sau nói còn gấp nhiều lần số đó, rốt lại hạn lượng cùng cực vẫn là giới hạn, nên là vô thường.
Lại có người ngờ vực cho rằng, phẩm này nêu tuổi thọ [Như Lai] có hạn lượng lâu dài, mà hạn lượng đã là vô thường, sao có thể giải thích thành nghĩa thường?
Nay sẽ giải đáp những điều nói trên.
Tên phẩm này nói thẳng là “thọ lượng”, không nói là “tuổi thọ có hạn lượng”, không nói là “tuổi thọ không hạn lượng”. Nay người này giải thích là thường, người kia nói là vô thường, có chỗ nào là sai? Như trai cò kiềm chế nhau, đôi bên đều làm khó cho nhau. [105]
Nay tôi nhân nơi chỗ còn chưa rõ của hai bên mà nêu ra cho trọn đủ bốn cách giải thích:
Thứ nhất, [tuổi thọ] thật có hạn lượng nhưng nói là vô lượng, như trường hợp kinh A-di-đà.
Thứ hai, [tuổi thọ] thật không hạn lượng nhưng nói là có hạn lượng, như trong phẩm này, cũng như trong kinh Kim Quang Minh.
Thứ ba, [tuổi thọ] thật vô lượng, nói là vô lượng, như kinh Niết-bàn nói: “Chỉ Phật với Phật tuổi thọ mới là vô lượng.”
Thứ tư, [tuổi thọ] thật có hạn lượng, nói là có hạn lượng, như Phật tám mươi tuổi tuyên bố nhập Niết-bàn.
Kinh văn phẩm này có đủ bốn nghĩa như trên, lẽ nào chỉ có một nghĩa đúng còn ba nghĩa là sai hay sao?
Hỏi : Nếu phẩm Thọ lượng này nêu nghĩa thường thì so với kinh Niết-bàn có gì khác nhau?
Đáp : Nay xin hỏi ngược lại, lý Nhất thừa trong kinh Pháp hoa với lý nhất thừa trong kinh Thắng Man lại có gì khác nhau? Đại lược là như thế.
Còn nếu phân biệt để giải đáp thì Pháp hoa là nói lược nghĩa thường, Niết-bàn là nói rộng nghĩa thường. Thắng Man là dùng Nhất thừa để làm rõ Nhất thừa; Pháp hoa là hợp ba thừa để nêu Nhất thừa. Đại lược là như vậy.
Hỏi : Phật thành đạo gần đây là phương tiện; thành đạo từ lâu xa là chân thật. Như vậy thì kinh Hoa nghiêm nói tịch diệt nơi đạo tràng, kinh Đại Bát Niết-bàn nói rút ngắn chín kiếp [mà thành Phật] trước, [106] đều là nói thành đạo theo phương tiện. Nếu như thế, Pháp hoa đã khai mở nói việc thành đạo từ lâu xa, đến phẩm Bồ Tát Thường Bất Khinh sao đổi lại thành đạo gần đây? Do vậy nên biết là Pháp hoa đã trở lại nói phương tiện.
Nếu thế, đã nói hội ba thừa về một thừa rồi, lẽ ra không có hội ba thừa về một thừa nữa; nếu thế, việc bỏ ba thừa để hiển bày một thừa thì chư Phật đều như nhau; việc bỏ [phương tiện thành đạo] gần để hiển bày [thành đạo chân thật từ] lâu xa thì chư Phật cũng đều giống nhau.
Nếu thế, tất cả chư Phật cũng đều như thế, không riêng gì Phật Thích-ca [có tuổi thọ vô lượng]. Nếu chỉ riêng đức Thích-ca [có tuổi thọ vô lượng] thì những nghĩa trước đây đều không đúng.
Đáp : Kệ tụng trong kinh nói “Là phương tiện của ta, chư Phật cũng như vậy.” [107] Lại nữa, chư Bồ Tát được nghe về tuổi thọ của Như Lai rồi thì phát nguyện. “Nguyện chúng con đời sau… … cũng ngồi nơi Đạo trường, nói tuổi thọ lâu dài.” [108] Như vậy tức là chư Phật đều như nhau. Lại cũng không nói lệch về một bên là gần, một bên là xa. Cho nên biết rằng, mượn nghĩa không khởi đầu, không kết thúc, không gần, không xa để hiển bày pháp thân thường trụ; nói có khởi đầu, có kết thúc, có gần, có xa là luận giải tương ứng với việc thị hiện hình tích. Dùng nghĩa này để nhận hiểu tất cả các kinh thì chỗ đối duyên tuy có khác nhưng rốt cùng không có khác biệt. Đã thấu triệt các kinh thì không còn bị [luận thuyết của] các vị thầy dẫn dắt. [109]
Hỏi : Theo nghĩa suy ra thì “thường” có thể là như vậy, nhưng dẫn chứng kinh văn thì phải căn cứ vào đâu?
Đáp : Người sáng suốt thì xem trọng ở lý; kẻ mê muội chỉ bám chấp nơi câu chữ. Chỉ cần tìm cầu cách giải thích tương hợp với tông chỉ, đó là ý nghĩa chính của giáo pháp; nếu cứ bám chấp hình thức vụn vặt [110] mà truy hỏi phương tiện [111] thì nào có ích gì?
Lại nữa, giáo pháp vốn tùy theo duyên, duyên khác nhau thì thuyết giảng khác nhau. Hoặc tùy theo sự vui mừng, tùy theo chỗ nghi ngờ, tùy theo pháp đối trị, tùy theo sự tỏ ngộ. Giác ngộ tức là đã đến nơi rồi, còn loanh quanh trên đường làm gì? Cho nên nói “Niết-bàn là kho pháp bảo chân thật, chúng sanh tùy mọi cửa mà vào”, chính là ý nghĩa này vậy.
Lại nữa, kinh văn có những chỗ dài ngắn khác nhau. Trong kinh Niết-bàn, khi lấy sự thường trụ trong tương lai làm tông chỉ thì kinh văn dài; không lấy việc đã thành Phật từ lâu trong quá khứ làm tông chỉ thì kinh văn ngắn. Nếu theo chỗ dài, bỏ chỗ ngắn thì ắt là ma thuyết, chẳng phải Phật thuyết. Kinh Pháp hoa này, khi lấy việc đã thành Phật từ lâu trong quá khứ làm tông chỉ, số kiếp nhiều như số bụi trong các thế giới [112] thì kinh văn phải dài; khi nói sự thường trụ trong tương lai thì kinh văn lại ngắn; nếu theo chỗ dài, bỏ chỗ ngắn thì “đầu vỡ thành bảy phần, như chồi cây a-lê”. [113] Cũng như chiếu lệnh của vua ban ra, dù viết dài hay viết ngắn đều không thể vi phạm; nếu vi phạm thì phải chịu tội.
Phẩm Phương tiện nói rằng: “Tướng thế gian thường trụ, nơi đạo tràng rõ biết, Đạo sư thuyết phương tiện.” Câu kinh văn này là nói trong tương lai thường trụ chẳng diệt. Lại nói rằng: “Ta thường trụ cõi này.” Lại nói: “Phật thường ở núi Thứu, và những nơi chốn khác.”
Kinh Phổ Hiền quán nói rằng: “Thường ba-la-mật là nơi [Phật] thành đạo; Ngã ba-la-mật là nơi Phật an lập.” [114] Những câu kinh nêu nghĩa thường như thế này cũng không phải ít. Lại ngay trong kinh này, rất nhiều nơi nêu nghĩa pháp thân. Pháp thân lẽ nào không phải là thường?
Hỏi : Đã nêu pháp thân, lẽ ra nên bàn về ba phẩm đức [của Phật]? [115]
Đáp : Hai trí quyền thật chẳng phải là Bát-nhã đó sao? Thị hiện trong ba đời chẳng phải là giải thoát đó sao? Thật tướng từ nguồn cội ban sơ chính là pháp thân. Ba phẩm đức đã được nêu trong kinh văn như vậy.
Giải thích tên phẩm
Như Lai là danh hiệu chung của ba đời mười phương chư Phật, Nhị Phật, Tam Phật, [116] Bản Phật, Tích Phật. [117]
Thọ lượng (tuổi thọ) là nói việc nhận hiểu suy lường; nhận hiểu suy lường về công đức của Nhị Phật, Tam Phật, Bản Phật, Tích Phật trong ba đời ở khắp mười phương. Nay trong kinh này chính là nhận hiểu suy lường về công đức của Tam Phật bản nguyên, cho nên gọi là phẩm Tuổi thọ của Như Lai.
Như Lai có rất nhiều nghĩa, nay hãy tạm nói rõ về Nhị Như Lai và Tam Như Lai, những nghĩa khác dựa theo đó có thể hiểu được.
Trước hết giải thích về Nhị Như Lai. Luận Thành thật nói: “Như Lai, tức là nương theo đạo như thật đạt đến thành Chánh giác, nên gọi là Như Lai.” [118] Thừa là trí của pháp như như; thật là cảnh của pháp như như; tu tập đạo là nhân; thành chánh giác là quả.
Nếu chỉ luận riêng về nghĩa nương theo, [tức là trí], thì “như như” không có chỗ rõ biết (sở tri); nếu chỉ nêu riêng về nghĩa “thật”, [tức là cảnh], thì “như như” không có năng lực rõ biết (năng tri); nhưng cảnh và trí hòa hợp thì liền có nhân quả. Soi chiếu nơi cảnh chưa cùng tận gọi là nhân; rõ đến tận nguồn là quả. Thấu hiểu đạo thì thành tựu nghĩa, đó chính là “nương theo đạo như thật, đạt đến thành Chánh giác”. Đây là nghĩa chân thân, tức Pháp thân Như Lai.
Dùng trí như thật nương theo đạo như thật, đản sanh trong ba cõi, thị hiện thành Chánh giác, đó tức là Ứng thân Như Lai.
Về nghĩa Tam Như Lai, luận Đại trí độ nói: “Giảng giải như tướng pháp; thuyết dạy như tướng pháp, nên gọi là Như Lai.” Như là cảnh của pháp như như; chẳng phải nhân, chẳng phải quả. Dù có Phật hay không có Phật, tánh tướng vẫn thường như vậy. Biến hiện khắp nơi mà chẳng có gì khác là “như”; không dao động mà đến là “lai”. Đây là Pháp thân Như Lai.
Về trí của pháp như như, đó là nương theo đạo chân thật như như, đạt đến thành Diệu giác. Trí xứng như lý, từ nơi lý gọi là “như”; từ nơi trí gọi là “lai”, đây là Báo thân Như Lai. Cho nên luận nói: “Giảng giải đúng như tướng pháp… nên gọi là Như Lai.”
Dùng trí như như hợp với cảnh như như nên có thể ở khắp mọi nơi thị hiện thành Chánh giác. Ví như thủy ngân pha trộn với vàng ròng có thể tô phết thành cảnh sắc hình tượng; công đức cùng với Pháp thân có thể ứng hiện ở khắp mọi nơi. Đủ tám tướng thành đạo, [119] chuyển diệu pháp luân, đây là Ứng thân Như Lai. Cho nên luận nói: “Thuyết dạy đúng như tướng pháp, nên gọi là Như Lai.”
Pháp thân Như Lai gọi là Tỳ-lô-giá-na, [120] Hán dịch là Biến nhất thiết xứ (biến hiện khắp mọi nơi). Báo thân Như Lai gọi là Lô-xá-na, Hán dịch là Tịnh mãn (tròn đầy thanh tịnh). Ứng thân Như Lai gọi là Thích-ca-văn, Hán dịch là Độ ốc tiêu. [121] Đây chính là Tam Như Lai, không thể chấp giữ riêng lẻ chỉ một trong ba danh hiệu này.
Kinh Đại bát Niết-bàn nói rằng, pháp thân không phải [Niết-bàn], Bát-nhã cũng không phải [Niết-bàn], giải thoát cũng không phải [Niết-bàn]. Cần đầy đủ ba pháp mới gọi là tạng sâu kín, là Đại Niết-bàn; không thể là đồng nhất hay khác biệt, tuần tự hay đồng thời, tổng quát hay tách rời. Quán xét trọn vẹn đầy đủ ba pháp như vậy, tạm gọi tên là Như Lai. [122]
Kinh Phạm Võng kết lại, giáo nghĩa Hoa Nghiêm hình thành; lấy đài hoa làm gốc, cánh hoa làm ngọn; chỉ riêng vì một duyên mà thuyết giảng như vậy, nhưng gốc và ngọn vốn không thể tách lìa.
Kinh Tượng pháp quyết nghi kết lại, kinh Niết-bàn hình thành. Kinh văn nói: “Hoặc thấy đức Thích-ca là Phật Tỳ-lô-giá-na, hoặc thấy là Phật Lô-xá-na, đều do duyên trước mà nhìn thấy khác nhau, chẳng phải Phật có ba thân khác biệt.”
Kinh Phổ Hiền quán kết lại, kinh Pháp hoa hình thành. Kinh văn nói: “Thích-ca Mâu-ni gọi là Tỳ-lô-giá-na, chỉ là tên gọi khác, chẳng phải tánh thể khác biệt.”
Tổng kết ý nghĩa trong các kinh, nên biết rõ ràng rằng Tam Phật chẳng phải đồng nhất, chẳng phải khác biệt.
Hỏi : Phẩm này không nêu tên gọi Tam Phật như trên, vì sao đưa ra giải thích như vậy?
Đáp : Tuy không nêu tên nhưng ý nghĩa [Tam Phật] có đủ. Kinh văn nói “…không phải như vậy cũng không phải khác biệt; không giống như [chúng sanh trong] ba cõi nhìn thấy ba cõi…” Chính là phá bỏ nghĩa “như” thiên lệch mà hiển bày nghĩa “như” tròn đầy. Đây là nghĩa Pháp thân Như Lai.
Kinh lại nói rằng: “Như Lai thấy biết đúng thật tướng trạng của ba cõi.” Đây là trí như như xứng hợp với cảnh như như, là tri kiến Nhất thiết chủng trí, tức là Phật nhãn. Đây là nghĩa Báo thân Như Lai.
Kinh lại nói rằng: “Hoặc thị hiện thân mình, hoặc thị hiện thân Phật khác; hoặc thị hiện việc của mình, hoặc thị hiện việc của Phật khác.” [123] Đây là nghĩa Ứng thân Như Lai.
Nếu chỉ nói tánh đức của Tam Như Lai tức là nêu nghĩa đồng thời; nếu chỉ nói tu đức của Tam Như Lai tức là nêu nghĩa tuần tự. [124] Nếu kể trước tiên là Pháp thân, kế đến là Báo thân và sau cùng là Ứng thân thì cũng là tuần tự. Nay kinh này nói nghĩa Tam Như Lai tròn đầy trọn đủ, chẳng phải đồng thời, chẳng phải tuần tự; nếu chỉ lược nói nghĩa trước sau hay đồng thời thì không phải nghĩa trong riêng kinh này, huống chi là nghĩa Như Lai trong cả Tạng giáo và Thông giáo.
Lại nữa, trước thời kỳ thuyết kinh Pháp hoa cũng đã có nói về Như Lai theo nghĩa tròn đầy trọn đủ, cũng đồng như trong phần thuyết giảng về hình tích. Riêng việc nêu rõ hình tích để hiển lộ bản nguyên của Tam Như Lai thì kinh Pháp hoa này khác hẳn với các kinh khác.
Luận nói rằng: “Phật thị hiện thành Đại Bồ-đề Vô thượng là thị hiện ba loại Bồ-đề. Thứ nhất là Ứng hóa thân Bồ-đề, tùy chỗ ứng hiện tức là thị hiện; như kinh văn nói ‘ra khỏi cung điện của họ Thích’. Thứ hai là Báo thân Phật Bồ-đề, tu hành Thập địa trọn đủ, đạt được Niết-bàn thường trụ, như kinh văn nói: ‘Ta thành Phật đến nay đã vô lượng vô biên trăm ngàn muôn ức na-do-tha kiếp.’ Thứ ba là Pháp thân Phật Bồ-đề, là nói tánh của tạng Như Lai thanh tịnh, Niết-bàn không biến đổi. Như kinh văn nói: ‘Như Lai thấy biết đúng thật tướng trạng của ba cõi.’”
Kinh văn nêu đầy đủ ý nghĩa, luận đưa ra tên gọi, nếu không giải thích như trên làm sao tương hợp với kinh luận?
Tiếp đến giải thích về thọ lượng.
Thọ (壽) [là tuổi thọ,] hàm nghĩa thọ nhận (受). Chân như không ngăn cách với các pháp nên gọi là thọ nhận, [là nghĩa Pháp thân]. Lại nữa, cảnh và trí tương ưng nên gọi là thọ nhận, [là nghĩa Báo thân]. Lại nữa, một lần thọ báo trăm năm không đứt đoạn nên gọi là thọ nhận, [là nghĩa Ứng thân].
Lượng (量) là hàm nghĩa nhận hiểu suy lường. Chữ lượng dùng chung nghĩa [cả ba thân Phật], không riêng với thân nào. Nhận hiểu suy lường về Pháp thân Như Lai thì dùng lẽ như như là thọ mạng; Báo thân Như Lai thì dùng trí tuệ làm thọ mạng; Ứng thân Như Lai thì thọ mạng đồng theo các duyên.
Nhận hiểu suy lường thọ mạng [Như Lai có ba trường hợp,] hoặc có hạn lượng, hoặc không hạn lượng, hoặc không phải hạn lượng cũng không phải không hạn lượng.
Pháp thân Như Lai là thọ mạng theo lý như như; dù có Phật hay không có Phật, tánh tướng vẫn thường như vậy; không bàn đến sự tương ưng, cũng không tương tục, lại cũng không có hạn lượng, không phải không hạn lượng.
Kinh văn nói: “Không phải chân thật cũng không phải hư dối; không phải như vậy cũng không phải khác biệt.” [125] Đó là nhận hiểu suy lường về thọ mạng của pháp thân theo lý như như.
Nhận hiểu suy lường về thọ mạng của Báo thân Như Lai, dùng trí như như khế hợp với cảnh như như. Nương theo cảnh phát sinh trí là báo; trí ngầm hợp cảnh là thọ. Cảnh vốn đã vô lượng vô biên, thường trụ không diệt mất, nên trí cũng giống như vậy; như vật chứa lớn thì nắp đậy cũng lớn.
Kinh văn lại nói: “Trí lực Phật như vậy, ánh tuệ chiếu vô cùng, tuổi thọ vô số kiếp, từ lâu tu tập thành.” [126] Đây là nhận hiểu suy lường về thọ mạng của Báo thân Như Lai, dùng trí tuệ làm thọ mạng.
Nhận hiểu suy lường về thọ mạng của Ứng thân Như Lai, thọ mạng đồng với các duyên; duyên lâu dài thọ mạng cũng lâu dài, duyên ngắn ngủi thọ mạng cũng ngắn ngủi… Đều do ở duyên kia, đối với Như Lai nào có liên hệ gì?
Kinh văn nói rất nhiều lần thị hiện đản sinh, rất nhiều lần thị hiện diệt độ: “Ở mỗi nơi ta đều nói ra danh hiệu khác nhau, tuổi tác khác nhau.” Đây là nhận hiểu suy lường về thọ mạng Ứng thân Phật đồng với các duyên.
Lại nữa Pháp thân Phật thì không phải hạn lượng, cũng không phải không hạn lượng. Báo thân Phật trước khi [ngồi tòa] Kim Cang [thành đạo] là có hạn lượng, sau khi thành đạo là không hạn lượng. Ứng thân Phật tùy theo duyên thì có hạn lượng, ứng dụng không gián đoạn thì không hạn lượng. Xét chung trong việc nhận hiểu suy lường [thọ mạng Như Lai] thì có ba trường hợp thuộc về bậc thánh, một trường hợp thuộc về phàm phu. [127] Nếu nói có hạn lượng hoặc không thường còn thì đều không phải ý nghĩa Phật dạy. Những cách giải thích xưa nay đều là tăng thêm hoặc giảm bớt, cả hai cách ấy đều là hủy báng, vu khống cho Phật, đó chẳng phải ma thì là gì?
Bốn câu nhận hiểu suy lường như vậy là đã rõ nghĩa, nay vì người chưa hiểu nên lại nêu bốn câu với nghĩa thường, vô thường… [128] để phân tích giảng giải rõ hơn. Trước tiên sẽ xét riêng từng trường hợp, sau đó là nói chung.
Xét riêng trường hợp chẳng phải thường chẳng phải vô thường, vượt thoát cả hai là lẽ cùng cực, tức là Pháp thân Phật. Thường tức là Báo thân Phật; báo trí và báo cảnh tương hợp cũng chẳng phải thường chẳng phải vô thường, chỉ lấy chánh trí viên mãn thì chẳng sanh chẳng diệt.
Vượt khỏi tâm Kim Cang [thành đạo] về trước thì lấy thường là Báo thân; cũng thường cũng vô thường là Ứng thân; ứng dụng không dứt cũng là thường; nhiều lần tuyên bố sẽ nhập Niết-bàn cũng là vô thường. Kể từ tâm Kim Cang [thành đạo] trở về trước, trí tuệ công hạnh tăng tiến đều là vô thường, cho đến phàm phu sinh diệt sống chết đều là vô thường.
Ba thân Phật tương ứng với ba trường hợp, hết thảy phàm phu chung một trường hợp. [129] Đây là dựa theo giáo pháp của Biệt giáo mà phân biệt riêng [từng trường hợp]. Còn xét chung theo Viên giáo thì mỗi một Như Lai đều có đủ bốn trường hợp.
Trước hết nêu bốn trường hợp của Pháp thân. Thứ nhất, trường hợp chẳng phải thường chẳng phải vô thường, đây là cùng lúc phá trừ tám điên đảo của phàm phu và bậc thánh. Thứ hai, trường hợp thường là như hư không cho nên thường. Thứ ba, trường hợp vô thường là không có sự điên đảo sinh diệt của phàm phu. Thứ tư, trường hợp cũng thường cũng vô thường, đó là tịch lặng mà đồng thời soi chiếu.
Tiếp theo là bốn trường hợp của Báo thân. Thứ nhất, trường hợp chẳng phải thường chẳng phải vô thường, là vì trí khế hợp với cảnh. Thứ hai, trường hợp thường là vì vượt ra ngoài Nhị thừa. Thứ ba, trường hợp vô thường là vì không có sự điên đảo sinh diệt. Thứ tư, trường hợp cũng thường cũng vô thường, là vì có năng lực đồng thời soi chiếu.
Tiếp theo là bốn trường hợp của Ứng thân. Thứ nhất, trường hợp chẳng phải thường chẳng phải vô thường, là vì chẳng phải quả báo, chẳng phải sinh tử. Thứ hai, trường hợp thường là vì thường ứng hóa tương đồng. Thứ ba, trường hợp vô thường là vì cũng đồng với vô thường. Thứ tư, trường hợp cũng thường cũng vô thường, là vì cả hai tính chất đó cùng tồn tại.
Phàm phu đã xét riêng vào trường hợp vô thường, xét chung lại cũng có đủ bốn trường hợp, nhưng chỉ là theo lý của tánh đức mà thôi, không có cả tên gọi cho bốn trường hợp, huống gì lại có được công dụng vận hành? Có thể theo ý mà hiểu, không đợi phải nói ra.
Một thân Phật tức ba thân Phật, chẳng phải đồng nhất, chẳng phải khác biệt, cho nên biết rằng mỗi một thân Phật đều đầy đủ công đức thọ mạng của ba thân Phật, chỉ tùy duyên chiêu cảm [của chúng sanh] mà thấy có thọ mạng dài ngắn khác nhau. Kinh Đại Bát Niết-bàn nói rằng: “Hàng phàm phu và Nhị thừa thấy thọ mạng của Phật giống như ngày mùa đông; hàng Bồ Tát thấy giống như ngày mùa xuân; chỉ riêng Phật thấy được thọ mạng của Phật là vô lượng, giống như ngày mùa hạ.” [130]
Sở dĩ như vậy là vì phàm phu thấp kém, nghiệp chướng che lấp mê muội mờ tối; hàng Nhị thừa của Tạng giáo và Thông giáo tuy trừ được bốn trụ địa [131] nhưng chưa thấy được trung đạo; nếu xả bỏ thân phần đoạn sinh tử, thọ thân pháp tánh, cũng chưa phá hết vô minh; ở nơi sinh về kính phụng [chư Phật] cũng chỉ thấy được Thắng ứng thân; nên biết là Nhị thừa chỉ thấy [thọ mạng Như Lai] như thời gian ngày đông.
Nếu các Bồ Tát chưa lên hàng Thập địa, Thập trụ thì chỗ thấy cũng giống như đã nói trước; hoặc phá được vô minh cho đến chứng một phần pháp thân; dễ dãi mà nói thì tạm xem như đã thấy được thọ mạng Báo thân Phật, nhưng nghiêm khắc mà nói thì vẫn chỉ mới thấy được Thắng ứng thân. Chưa thấu tận cội nguồn Báo thân; chưa suốt đến cùng cực tánh pháp, nên chỗ thấy thọ mạng Như Lai vẫn chỉ còn như thời gian ngày xuân.
Chỉ riêng Phật với Phật đã cùng tánh tận nguồn, mới thấy thọ mạng Pháp thân Phật như ngày mùa hạ.
Kinh Đại Bát Niết-bàn nêu ra ba thí dụ để so sánh.
Thứ nhất, trong tất cả những gì thường tồn, hư không là hơn hết; trong tất cả thọ mạng, thọ mạng của Như Lai là hơn hết. Đây là so sánh thọ mạng Pháp thân vô thủy vô chung, tánh tướng ngưng lặng, không đồng với Ứng thân và Báo thân.
Thứ hai là ví như bốn con sông lớn đều chảy về biển lớn. Đây là so sánh như muôn điều lành do Báo thân tu tập đều cảm thành trong biển thọ mạng Phật.
Thứ ba là ví như bốn con sông lớn phát nguyên từ ao A-nậu-đạt. Đây là so sánh với thọ mạng của Ứng thân từ nơi Pháp thân và Báo thân lưu xuất, nên dài ngắn cũng giống như hai thân ấy.
Phẩm này nhận hiểu suy lường cùng giảng rõ chung về ba thân, nếu xét ý riêng thì chính là Báo thân. Vì sao vậy? Vì giải thích như vậy là thuận theo ý nghĩa, phù hợp với kinh văn.
Thuận theo ý nghĩa, vì nói trí tuệ báo thân trên dưới khế hợp nhau; ba thân linh hoạt đầy đủ, cho nên giải thích như trên là thuận theo ý nghĩa.
Phù hợp với kinh văn, vì kinh văn nói “Ta thành Phật đến nay đã hết sức lâu xa”, cho nên có thể trong ba đời làm lợi ích chúng sanh. Chỗ thành tựu ấy là Pháp thân, có khả năng thành tựu tức là Báo thân. Pháp thân và Báo thân tương hợp nên có thể làm lợi ích chúng sanh. Cho nên giải thích như trên là phù hợp với kinh văn.
Từ đó suy ra thì ý chính của phẩm này là luận về công đức của Báo thân Phật.
Lại nữa, đủ mọi công đức của ba thân Phật như vậy, tất cả đều đã thành tựu từ lâu nơi Đạo trường dưới cội Bồ-đề thuở xưa, nên gọi là bản nguyên; còn những công đức được thành tựu trong khoảng thời gian ở giữa cho đến đạo tràng tịch diệt ngày nay gọi là hình tích.
Các kinh khác nói về bản tích đều dạy rằng, Pháp thân và Báo thân thành tựu nơi đạo tràng tịch diệt là bản nguyên; từ đó khởi lên Thắng ứng thân và Liệt ứng thân là hình tích. Kinh Pháp hoa này nói rõ, cả ba thân thành tựu nơi đạo tràng tịch diệt cùng khoảng thời gian ở giữa đều là hình tích; lấy ba thân đã thành tựu nơi đạo tràng thuở xưa gọi là bản nguyên; cho nên so với các kinh đều khác biệt.
Nếu không có bản nguyên thì không dựa vào đâu để khởi xót thương hiển thị hình tích; nếu không có hình tích thì không lấy gì để hiển lộ bản nguyên. Bản tích tuy khác biệt nhưng chỗ không thể nghĩ bàn là đồng nhất. Nếu theo lời thầy Tăng Triệu thì lại có ý nói bản nguyên ở nơi đạo trường tịch diệt [hiện nay]. [132]
Lại nữa, bản nguyên ở nơi đạo trường tịch diệt lại có nhiều cách hiểu.
Hoặc lấy Niết-bàn làm bản, từ chân đế [133] khởi Ứng thân làm tích. Tích với bản đều là không, lời nói và suy nghĩ đều dứt sạch, cho nên chỗ không thể nghĩ bàn là đồng nhất.
Hoặc dùng tục đế [134] làm bản, từ tục đế khởi Ứng thân làm tích. Tích với bản đều sâu rộng, hàng Bồ Tát sơ địa [135] không thể suy nghĩ, bàn luận đến tận bờ mé, cho nên nói chỗ không thể nghĩ bàn là đồng nhất.
Hoặc dùng trung đạo làm bản, từ trung đạo khởi Ứng thân là tích. Tích với bản đều dứt sạch ngôn ngữ, đoạn tuyệt tư duy, cho nên nói chỗ không thể nghĩ bàn là đồng nhất.
Lại nữa, ba thân Phật này vốn chẳng phải chia ba, cũng chẳng phải đồng nhất. Chẳng phải chia ba, chẳng phải đồng nhất, lấy đó làm bản; vừa là ba vừa là một, lấy đó làm tích; tất cả đều dứt sạch ngôn ngữ, đoạn tuyệt tư duy, cho nên nói chỗ không thể nghĩ bàn là đồng nhất.
Chưa rõ các bậc thầy khác muốn chỉ vào đâu là chỗ bản tích đồng nhất không thể nghĩ bàn. Nay thâu tóm tất cả thành bốn cách hiểu, tất cả đều là chỗ không thể nghĩ bàn đồng nhất trong nghĩa tích; về xa xưa thì chỉ về bản địa, ba hay bốn cách hiểu trên đều không thể nghĩ bàn, lấy đó làm bản. Từ mỗi cách hiểu về bản mà [chư Phật] có sự thương xót thị hiện hình tích; lại dùng mỗi loại hình tích đó mà hiển lộ bản nguyên. Bản và tích tuy khác nhau nhưng chỗ không thể nghĩ bàn đều đồng nhất.
Cách hiểu bản tích như vậy làm sao không khác biệt với những kinh khác? Làm sao không khác biệt với các vị thầy khác?
Hỏi : Các kinh đều nói về giai vị tu hành, hoặc nhiều hoặc ít. Như kinh Hoa nghiêm nói 41 giai vị, kinh Bồ Tát Anh Lạc nói 52 giai vị; danh xưng ý nghĩa [các giai vị] đều rộng lớn. Kinh này từ đầu đến cuối đều không có việc ấy. Vì sao nói khác biệt?
Đáp : Ví như người đời xây dựng các loại sự nghiệp, thu thập đủ loại trân bảo quý báu, tranh cầu đủ các địa vị, nhưng nếu không tuổi thọ thì hết thảy những tiền bạc địa vị đó biết dùng vào việc gì? Kinh Đại Bát Niết-bàn nói, giống như vị trưởng giả sinh ra và nuôi nấng một đứa con, thầy tướng nói là có tướng chết yểu, không thể nối dõi; cha mẹ biết vậy rồi thì không yêu quý nữa, xem như cỏ rác. [136] Pháp môn cũng vậy, tu hành đủ các nhân, đạt được đủ các quả, hiện đủ loại thần thông, giáo hóa đủ mọi chúng sanh, thuyết dạy đủ các pháp, hóa độ đủ loại người, tất cả đều nằm trong biển thọ mạng Như Lai. Trong biển thọ mạng ấy thì cốt yếu là Pháp thân, Báo thân và Ứng thân. [137] Then chốt cốt yếu như vậy, nếu không phải khác biệt thì là gì?
KINH VĂN
Lúc bấy giờ, đức Phật nói với các vị Bồ Tát cùng tất cả đại chúng: “Này các thiện nam tử! Các ông nên tin hiểu lời chân thật của Như Lai.”
Rồi ngài lặp lại với đại chúng: “Các ông nên tin hiểu lời chân thật của Như Lai.”
Và lặp lại lần nữa với đại chúng: “Các ông nên tin hiểu lời chân thật của Như Lai.”
Bấy giờ, đại chúng Bồ Tát, đứng đầu là ngài Di-lặc, cùng chắp tay thưa Phật: “Bạch Thế Tôn! Nguyện Phật hãy nói ra, chúng con sẽ tin nhận lời Phật dạy.”
Sau khi bạch Phật ba lần như vậy rồi, các Bồ Tát lại nói thêm lần nữa: “Kính nguyện Phật nói ra, chúng con xin tin nhận lời Phật dạy.”
Khi ấy, đức Thế Tôn thấy các vị Bồ Tát không ngừng thỉnh cầu liên tiếp ba lần, liền dạy rằng:
Phần này giảng rộng ý nghĩa “chỉ bày việc gần, hiển lộ việc xa”. Kinh văn chia làm 2 phần. Trước tiên là răn dạy [đại chúng] phải có lòng tin, tiếp theo là nêu ý chính giải đáp. Đức Phật chỉ dạy, khuyên răn, đại chúng thọ nhận là tin. Kinh văn có 3 lần răn nhắc, 3 lần thỉnh cầu; rồi lặp lại thỉnh cầu, lặp lại răn nhắc. Trong phần Tích môn thì có 3 lần thỉnh cầu, 1 lần răn nhắc; trong phần này có 4 lần thỉnh cầu, 4 lần răn nhắc. Như vậy tổng cộng trước sau là 5 lần răn nhắc, 7 lần thỉnh cầu. Đây là đại sự cực kỳ đặc biệt nên mới phải ân cần trịnh trọng như vậy.
Kinh văn dùng chữ “誠諦 - thành đế”, thành là trung thực, chân thành; đế là xét kỹ, chắc thật. Không lừa dối chúng sanh nên lời nói đạt đến sự chân thật. Trước đây tùy theo tâm ý của bảy hạng phương tiện mà nói ra nên không gọi đó là trung thực, chân thành; ngày nay Phật tùy nơi Thánh ý tự nói ra để chỉ bày chỗ cốt yếu, cho nên nói là “thành đế”.
Bồ Tát đã kính vâng theo lời răn dạy chân thành nên chẳng dám khởi tâm nghi ngờ. Nghe rồi chấp nhận tin, tin rồi thọ nhận lời thành thật của Phật.
KINH VĂN
“Các ông hãy chú tâm lắng nghe thật kỹ về sức thần thông sâu kín của Như Lai.
“Trong thế gian này, tất cả chư thiên, loài người cho đến a-tu-la đều cho rằng: ‘Đức Phật Thích-ca Mâu-ni hiện nay là từ hoàng cung họ Thích xuất gia, đến ngồi nơi đạo tràng không xa thành Già-da, chứng đắc quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.’ Nhưng này các thiện nam tử, thật ra ta thành Phật đến nay đã vô lượng vô biên trăm ngàn muôn ức na-do-tha kiếp.”
Phần ý chính giải đáp chia ra văn trường hàng và kệ tụng. Kinh văn trường hàng lại chia làm hai tổng phần, thuyết giảng chánh pháp và nêu thí dụ. Tổng phần thứ nhất thuyết giảng chánh pháp lại chia làm hai phần. Thứ nhất là nói việc [đức Phật] ba đời làm lợi ích chúng sanh; thứ hai, tóm kết nêu việc [lời Phật] không hư dối, [chúng sanh được lợi ích chân thật].
Chúng sanh hữu tình chỉ thấy gần đây trong hiện tại Phật thọ 80 tuổi, chẳng biết được trong quá khứ Phật đã thành đạo từ vô số kiếp, trong tương lai Phật không hề diệt mất. Cho nên dựa vào ba đời mà chỉ bày việc gần, hiển lộ việc xa. Những lợi ích như vậy không chỉ riêng có với Phật Thích-ca Mâu-ni, tất cả chư Phật cũng đều như vậy. Cho nên tóm kết lại mà nói việc lời Phật không hư dối.
Trong tổng phần thuyết chánh pháp không nói về đời tương lai, trong kệ tụng nói thí dụ có đề cập đến. Đại lược là như vậy. [Phần thứ nhất có 2 tổng đoạn.]
Tổng đoạn thứ nhất nói về làm lợi ích chúng sanh trong quá khứ, kinh văn có 2 đoạn. Thứ nhất là từ câu “Các ông hãy chú tâm lắng nghe thật kỹ về sức thần thông sâu kín…” trở đi, nêu ra sự bám chấp vào cách hiểu gần đây của chúng sanh. Thứ hai là từ câu “Nhưng này các thiện nam tử…” trở đi là bác bỏ [cách hiểu] việc gần, hiển lộ việc xa xưa.
Đoạn thứ nhất lại chia làm 3 tiểu đoạn. Thứ nhất là nêu pháp mê lầm, thứ hai là nêu chúng mê pháp, thứ ba là nêu ý nghĩa đã mê từ xa xưa. [138]
Kinh văn nói “sức thần thông sâu kín”, vì một thân Phật tức là ba thân, đó gọi là sâu; ba thân Phật tức là một thân, đó gọi là kín. Lại nữa, những gì thuở xưa không thuyết dạy gọi là kín; chỉ riêng Phật tự rõ biết gọi là sâu.
“Sức thần thông” tức là chỗ hoạt dụng của ba thân. “Sức” là năng lực vận dụng tự do tự tại, tức là Ứng thân; “thần” là lý tự nhiên bất động, tức là Pháp tánh thân; “thông” là trí tuệ không ngăn ngại, không thể nghĩ bàn, tức là Báo thân. Chư Phật ba đời đều có đủ ba thân, nhưng trong các phần giáo pháp [phương tiện] giữ kín [điều này] không truyền dạy, nên tất cả trời, người, a-tu-la trong thế gian đều cho rằng Phật chỉ vừa mới có được ba thân từ khi thành đạo dưới cội cây Bồ-đề.
Do vậy mà bám chấp nơi việc [thành đạo] gần đây mà nghi ngờ việc [Phật vốn thành đạo từ bản nguyên] lâu xa. Câu này nói về bản nguyên, không đề cập hàng Nhị thừa, chỉ nói với Bồ Tát, vì Bồ Tát ở trong “tất cả trời, người, a-tu-la” thuộc 3 đường lành, còn [chúng sanh] trong 3 cảnh giới xấu ác thì tội nghiệp nặng nề, căn cơ trì độn, trí tuệ cạn cợt, không biết nói ra như vậy. [139] Cho nên Đại phẩm Bát-nhã nói “Đại thừa thù thắng vượt ngoài trời, người, a-tu-la”, cũng không nói đến ba đường ác.
Bồ Tát [trong phẩm này nói] có 3 hạng: Bồ Tát ở phương dưới đến, Bồ Tát từ các phương khác đến và Bồ Tát từ lâu đã trụ ở cõi này.
Bồ Tát ở phương dưới tức là những vị được Phật giáo hóa từ bản nguyên xa xưa, cho nên không nói ra việc bám chấp rằng Phật thành đạo gần đây.
Bồ Tát từ các phương khác đến và Bồ Tát đã trụ lâu ở cõi này lại cũng có 2 hạng.
– Thứ nhất là các Bồ Tát từ pháp thân ứng hóa sanh ra. Những vị này trong đời trước đã chứng được pháp nhẫn vô sanh, hoặc trước đây đã được nghe [Phật] nêu việc hiện nay để hiển bày chỗ bản nguyên; ví như chưa được nghe thì khi báo thân đã dứt, thọ thân pháp tánh, ở địa vị pháp thân cũng sẽ tự mình được nghe thuyết dạy [về thọ mạng] lâu dài [của Như Lai]. Cho nên hạng Bồ Tát từ Pháp thân ứng hóa sinh ra thì phần nhiều không nói lời bám chấp [việc Phật mới thành đạo] gần đây.
– Thứ hai là hạng Bồ Tát mới đạt được pháp nhẫn vô sinh trong đời này, cùng với những vị chưa đạt được pháp nhẫn vô sinh, cả 2 hạng đều nói những lời [bám chấp] như vậy.
Đoạn thứ hai từ câu “Nhưng này các thiện nam tử, thật ra ta thành Phật đến nay...” nêu rõ việc phá chấp trừ mê để làm rõ bản nguyên từ xa xưa. Phần kinh văn trước răn dạy “nên tin hiểu lời chân thật” chính là lời này.
Phần này lại chia làm hai tiểu đoạn. Thứ nhất là làm rõ việc xa xưa, thứ hai là từ câu “Từ đó đến nay, ta thường…” trở đi, nêu những sự giáo hóa thích hợp để làm lợi ích chúng sanh trong quá khứ.
Tiểu đoạn thứ nhất lại có 2 phân đoạn. Thứ nhất là thuyết chánh pháp để làm rõ việc xa xưa; thứ hai là nêu thí dụ việc suy lường cụ thể nội dung thuyết pháp. Từ khi thành Phật đến nay đã hết sức lâu xa, tức là bác bỏ ý nghĩa mới thành Phật gần đây ở Bồ-đề đạo tràng.
Phân đoạn thứ nhất phá trừ việc gần, hiển bày việc xa, lược nêu có 10 ý, như trong Pháp hoa huyền nghĩa đã nói. Đại lược là như vậy.
Ý chính của phần này là để phá sự bám chấp việc gần đây, hiển bày việc xa xưa. Phá việc gần đây là nói đối với tình chấp trừ bỏ nơi việc gần, làm rõ việc xa xưa, trừ bỏ những lời dạy [phương tiện về việc thành đạo] gần đây.
KINH VĂN
“Ví như có người lấy năm trăm ngàn muôn ức na-do-tha a-tăng-kỳ cõi thế giới đại thiên nghiền nát thành bụi nhỏ, [rồi mang theo] đi về hướng đông, qua năm trăm ngàn muôn ức na-do-tha a-tăng-kỳ cõi nước mới để rơi một hạt bụi; cứ đi mãi như thế cho đến khi rơi hết số bụi ấy. Này các thiện nam tử, các ông nghĩ sao, những thế giới như vậy có thể tính toán, suy xét đếm kể để biết được số lượng hay chăng?”
Bồ Tát Di-lặc và đại chúng cùng bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Những thế giới như vậy là vô lượng vô biên, không thể dùng phép tính toán để biết được, cũng không phải phạm vi tâm trí có thể suy xét đến. Cho dù tất cả các vị Thanh văn, Duyên giác dùng trí vô lậu cũng không thể suy xét biết được hạn lượng. Chúng con dù đã trụ nơi địa vị Bất thối nhưng đối với việc này cũng không thể thấu hiểu. Bạch Thế Tôn, những thế giới như vậy là vô lượng vô biên.”
Lúc bấy giờ, đức Phật bảo chúng Đại Bồ Tát: “Này các thiện nam tử! Nay ta sẽ nói thật rõ ràng với các ông: Nếu mang những thế giới [về phương đông] có bụi rơi xuống và cả những thế giới không có bụi rơi xuống, [140] tất cả đều nghiền nát ra thành bụi nhỏ, mỗi hạt bụi tính là một kiếp, thì thời gian ta thành Phật đến nay còn nhiều hơn số kiếp đó trăm ngàn muôn ức na-do-tha a-tăng-kỳ kiếp.
Phân đoạn thứ hai nêu thí dụ lại chia làm 3 ý. Thứ nhất là nêu thí dụ để hỏi; thứ hai là [đại chúng] đáp lại; thứ ba là nêu nghĩa tương hợp với thí dụ để làm rõ nghĩa lâu xa.
[Ý thứ nhất nêu thí dụ để hỏi], các kinh khác hoặc rằng số [kiếp] không thể nói hết, hoặc lấy bụi, cát… làm thí dụ, so với [cách thí dụ] ở đây còn nhiều hơn nữa. Chỉ riêng những thế giới có “để rơi một hạt bụi” đã là không thể nói hết, huống chi còn thêm những thế giới không để rơi bụi lên, lại có thể nói hết sao? Lại những thế giới có để rơi bụi và không để rơi bụi ấy đã là không thể nói hết, thì số bụi từ những thế giới ấy nghiền nát ra lại có thể nói hết sao? Huống chi lại còn nhiều hơn cả số đó, lại có thể nói hết sao?
Ý thứ hai từ câu “Bồ Tát Di-lặc và đại chúng…” trở đi là [đại chúng] đáp lại, nêu cả 3 hạng không thể rõ biết [số lượng trong thí dụ, gồm Thanh văn, Duyên giác và Bồ Tát].
Ý thứ ba nêu nghĩa tương hợp với thí dụ thì y theo kinh văn có thể hiểu được.
KINH VĂN
“Từ đó đến nay, ta thường ở tại thế giới Ta-bà này thuyết pháp giáo hóa, lại cũng ở nơi trăm ngàn muôn ức na-do-tha a-tăng-kỳ cõi nước khác dẫn dắt làm lợi ích cho chúng sinh.
“Này các thiện nam tử! Trong khoảng thời gian ấy, ta nói về những vị như Phật Nhiên Đăng v.v. lại nói việc các vị Phật ấy nhập Niết-bàn, như vậy đều là dùng phương tiện phân biệt để [giáo hóa].
“Này các thiện nam tử! Nếu có chúng sanh nào tìm đến chỗ ta, ta sẽ dùng Phật nhãn quán xét các căn lành như niềm tin, [sức tinh tấn] v.v. để xem là nhanh nhạy hay chậm lụt, rồi tùy chỗ thích hợp có thể hóa độ, ở mỗi nơi ta đều nói ra danh hiệu khác nhau, tuổi tác khác nhau, cũng thị hiện nói sẽ nhập Niết-bàn, lại dùng đủ mọi phương tiện thuyết dạy giáo pháp vi diệu, có thể khiến cho chúng sinh khởi tâm hoan hỷ.
Tiểu đoạn thứ hai từ câu “Từ đó đến nay, ta thường ở tại…” trở đi, nêu việc giáo hóa thích hợp làm lợi ích chúng sanh. Tiểu đoạn này chia làm 3 phân đoạn. Thứ nhất là nêu rõ những nơi Phật làm lợi ích chúng sanh. Thứ hai là quét sạch mối nghi về hình tích nói trên. Thứ ba là từ câu “Này các thiện nam tử! Nếu có chúng sanh nào tìm đến chỗ ta…” trở đi, nêu ý chính về sự giáo hóa thích hợp làm lợi ích chúng sanh.
Phân đoạn thứ nhất cần nêu rõ những nơi Phật giáo hóa làm lợi ích, vì phần trước nói đã thành Phật từ rất lâu xa [nhưng không nói] ở những nơi nào. Cho nên phần này nêu “thường ở tại thế giới Ta-bà này” cùng với các cõi nước khác mà làm các Phật sự, y theo kinh văn có thể hiểu được.
Phân đoạn thứ hai từ câu “Này các thiện nam tử! Trong khoảng thời gian ấy…” trở đi là quét sạch sự nghi ngờ bám chấp vào hình tích như trên, gồm có nghi nơi nhân và nghi nơi quả. Trước đây Phật thị hiện hình tích dạy việc tu hành tạo nhân nơi này nơi kia, lại nói ở nơi này nơi kia được thụ ký, tức là nghi nơi quả; nay quét sạch đi mối nghi này. Lại dẫn việc nêu Phật Nhiên Đăng… tức là quét sạch mối nghi về nhân. Lại nói về việc nhập Niết-bàn của các đức Phật ấy, tức là quét sạch mối nghi về quả. Những việc nhân quả như vậy cũng chẳng phải là một điều, tất cả do Phật phương tiện nói ra, chưa phải nghĩa chân thật rốt ráo, cho nên nói là quét sạch lòng nghi.
Hoặc có người nói, đức Thích-ca dùng phương tiện nói rằng “Phật Nhiên-đăng là thầy của ta”, nhưng thật sự đó chính là đức Thích-ca hóa hiện thành. Vốn không sanh hóa hiện có sanh, vốn không diệt hóa hiện có diệt, cho nên kinh văn nói “lại nói việc các vị Phật ấy nhập Niết-bàn”.
Nay cho rằng không phải như vậy, chỉ theo cách giải thích trước đây. Vì sao vậy? Vì Phật Nhiên Đăng vào thời ấy duyên đã thuần thục, nên dùng hình tượng Phật để giáo hóa; còn Phật Thích-ca duyên chưa thuần thục, nên chỉ làm Bồ Tát theo Phật được thụ ký. Được thụ ký tức là nghĩa quả; tu hành công hạnh tức là nghĩa nhân. Hiểu rõ kinh văn thì tự thấy đã đầy đủ ý nghĩa. Kinh văn nói “các vị Phật ấy” tức là nói [các vị Phật] trong khoảng thời gian giáo hóa ở giữa, không phải chỉ nói Phật Nhiên Đăng.
Lại nói việc làm lợi ích chúng sanh trong khoảng thời gian ở giữa; tức là lợi ích từ hình tướng và lợi ích từ âm thanh. Nếu chỉ nói Phật Nhiên Đăng thì ở đây có lợi ích từ hình tướng. “Lại nói việc các vị Phật ấy nhập Niết-bàn”, Phật đã nhập Niết-bàn rồi thì có sự trợ giúp hoằng dương giáo hóa, tức là có lợi ích từ âm thanh. Như vậy thì những lợi ích từ hình tướng và âm thanh đều thuộc về nhân trong khoảng thời gian ở giữa. Đã có hình tướng và âm thanh sanh ra, sanh ấy tất nhiên có diệt; diệt tức là nhập Niết-bàn, gọi đây là quả; không thể nói là ở khoảng trung gian ấy đã thành quả Phật rồi. Vì sao vậy? Vì trước hội Pháp hoa chưa nói việc [Thanh văn] thành Phật, làm sao có sự nghi ngờ đối với quả Phật?
Các nhà cựu giải cho rằng Phật Nhiên Đăng là do Phật Thích-ca hóa hiện thành, như vậy cũng không phải là hiểu. Trước khi thuyết Pháp hoa, kinh điển chưa nói việc đã thành Phật từ xa xưa, có giáo pháp nào nói Phật Nhiên Đăng là do Phật Thích-ca hóa hiện mà phải quét trừ mối nghi này?
Phân đoạn thứ ba từ câu “Này các thiện nam tử! Nếu có chúng sanh nào tìm đến chỗ ta…” trở đi là ý chính nêu việc giáo hóa thích hợp làm lợi ích chúng sanh. Đoạn này có 2 ý. Thứ nhất là nói nghĩa cảm ứng, thứ hai là nêu việc thi hành giáo hóa.
Ý thứ nhất, kinh văn nói “tìm đến chỗ ta” tức là nói những chúng sanh thuộc cả 2 căn cơ tiệm và đốn, [141] tức ngấm ngầm phù hợp với Pháp thân. “Dùng Phật nhãn quán xét”, nghĩa là đã thành Phật từ lâu xa, dùng Phật nhãn soi xét thì không có sai sót, từ đó mới khởi lên Liệt ứng thân hoặc Thắng ứng thân, phù hợp để làm lợi ích chúng sanh.
Căn cơ hiền thiện có 2 năng lực. Thứ nhất là chiêu cảm hoa báo [142] trong hai cõi trời, người. Thứ hai là chiêu cảm quả báo trong Phật đạo. Nếu dùng pháp nhãn để quán xét thì rõ biết được muôn duyên lành, dù nặng hay nhẹ cũng đều đạt được hoa báo, nhưng không thể rốt ráo rõ biết những duyên ấy cuối cùng đạt được quả báo trí tuệ giải thoát. Nếu dùng Phật nhãn soi chiếu trọn vẹn muôn điều lành thì rõ biết cặn kẽ từ đầu đến cuối. Kinh này xuyên suốt nêu rõ việc dùng Phật nhãn quán xét rõ biết muôn điều lành của chúng sanh rốt ráo đều được thành Phật. Đây là ý nghĩa chính của việc lớn lao là chư Phật ra đời.
Kinh văn nói “các căn lành như niềm tin…” tức là nói đến cả 5 căn [143] bao gồm tín căn. Tuệ căn là liễu nhân, tức nhân rốt ráo, các căn khác là duyên nhân, tức nhân hỗ trợ. Cả hai nhóm căn lành này, mỗi nhóm đều chia ra có nhanh nhạy, có trì độn, bao quát hết thảy các cơ duyên đốn, tiệm.
Đốn cơ gồm cả nhanh nhạy và trì độn, tức là các căn cơ của Viên giáo, Biệt giáo; tiệm cơ gồm cả nhanh nhạy và trì độn, tức là cơ duyên của Tạng giáo, Thông giáo. Lại nữa, căn cơ Tiểu thừa gọi là trì độn, so với căn cơ Đại thừa gọi là nhanh nhạy. Lại nữa, căn cơ Tiểu thừa gọi là nhanh nhạy, so với căn cơ của nhân thừa và thiên thừa là trì độn. Chúng sanh trong mười pháp giới có các căn lành, lấy sự nhanh nhạy hay trì độn gọi là cơ. Không nói đến các pháp xấu ác, vì pháp xấu ác không phải duyên nhân, không phải liễu nhân. Như Lai soi chiếu hết thảy căn cơ hiền thiện trong mười pháp giới, “rồi tùy chỗ thích hợp có thể hóa độ” mà hóa hiện hình tướng, âm thanh để làm lợi ích chúng sanh.
Ý thứ hai từ câu “ở mỗi nơi ta đều nói ra danh hiệu khác nhau…” trở đi nêu việc ứng hóa thích hợp, lại có 2 tiểu ý. Trước nói việc dùng hình tướng, âm thanh làm lợi ích, sau nói chúng sanh được lợi ích hoan hỷ.
Tiểu ý thứ nhất lại có 2 điều. Thứ nhất là nêu việc không có sinh mà hóa hiện sinh; thứ hai là nêu việc không phải diệt mà hóa hiện diệt.
“Ở mỗi nơi ta đều nói ra danh hiệu khác nhau…”, hình tướng đã hóa hiện thì có tên gọi; nhân nơi tên gọi mà nêu tánh thể. Căn cơ [chúng sanh] có chỗ cao thấp nên hình tướng hóa hiện cũng có hơn kém; hình tướng khác biệt nên tên gọi không giống nhau.
“Tuổi tác khác nhau” cũng tức là hình tướng hơn kém nhau. Hình tướng hơn tức là Thắng ứng thân; hình tướng kém tức là Liệt ứng thân. Tên gọi không giống nhau tức là hai vị Phật hóa hiện tuổi thọ có hạn lượng và không hạn lượng.
“Ở mỗi nơi”, nói theo thời gian tức là các cõi nước trong quá khứ đã tu hành nhân địa; nói theo không gian tức là các cõi nước trong mười phương. Nói tên gọi không giống nhau là dựa theo các cõi nước trong từng thời gian. Lại có pháp sinh ra tên gọi không giống nhau, như ứng thân hiện nay so với Phật Nhiên Đăng trong quá khứ.
Nếu dựa theo các cõi nước trong không gian thì cũng có tên gọi của pháp sinh ra, như ứng thân Phật hiện nay so với chư Phật phân thân, lại như trong kinh Hoa nghiêm, phẩm Danh hiệu Như Lai [144] kể ra biết bao nhiêu danh hiệu khác nhau của đức Phật Thích-ca Mâu-ni.
Lại như trong các kinh giải thích rằng, Phật có ba thân, danh hiệu không giống nhau, cho nên pháp thể của mỗi danh hiệu cũng đều khác biệt; hoặc nói Tỳ-na, hoặc Xá-na, hoặc Thích-ca… Pháp thân Phật thì gọi là Thật tướng như như, Đệ nhất nghĩa, Bát-nhã, Lăng-nghiêm… dùng những cách so sánh như vậy. Đây là nói dựa vào thân thị hiện trong pháp giới Phật có danh hiệu khác biệt nhau. Nếu nói về thân thị hiện trong 9 pháp giới khác thì danh hiệu rất nhiều, có thể dùng ý “vô lượng vô biên” để hiểu được.
“Tuổi tác khác nhau” tức là nêu nghĩa thọ mạng dài, ngắn. Theo như phần trước nói sự hóa hiện ứng thân của Phật; hoặc nói tuổi thọ 2 muôn, như thời Phật Ca-diếp; hoặc nói tuổi thọ 8 muôn, như thời đức Phật Di-lặc… đó là bổ sung cho nhau để nêu tuổi tác lớn nhỏ, theo thời gian hay không gian có thể biết được. Còn về Pháp thân, Báo thân và Ứng thân Phật thọ mạng dài ngắn thì như trong Pháp hoa huyền nghĩa đã nói. Đại lược là như vậy. Hoặc nói ba thân so sánh nhau để luận tuổi tác lớn nhỏ; hoặc nói 3 thân riêng biệt thì mỗi thân đều là nhỏ, hợp chung lại mà nói thì gọi là lớn, cũng ví như cụm ba dấu chấm. [145] Đại lược là như vậy. Đây đều là vì những chúng sanh thích hợp cần hóa độ mà ứng hiện thân cùng với tuổi thọ dài hoặc ngắn.
“Cũng hiện nói sẽ nhập Niết-bàn”, là đối với những chúng sanh cần phải diệt độ mới có thể hóa độ liền hiện tướng diệt độ, khiến cho họ lưu luyến khát ngưỡng mà được giải thoát. Ý nghĩa này được nêu ra trong phần nói thí dụ ở sau.
“Lại dùng đủ mọi phương tiện thuyết dạy giáo pháp vi diệu”, tức là thị hiện âm thanh làm lợi ích. [Thị hiện] thân nhỏ bé, tuổi thọ ngắn ngủi tức là thu-yết tiệm giáo, nên nói là “dùng đủ mọi phương tiện”; thân cao lớn, tuổi thọ lâu dài tức là thuyết đốn giáo, nên nói “giáo pháp vi diệu”.
Tiểu ý thứ hai, tuy ban sơ dùng tiệm giáo nhưng cuối cùng đều khiến cho thể nhập Đại thừa, nên nói là “khiến cho chúng sinh đều khởi tâm hoan hỷ”. Do đó sự hoan hỷ này tức là thi hành giáo hóa mang lại lợi ích. Đức Phật y theo bốn tất đàn để thi hành hai sự lợi ích từ hình tướng và âm thanh; chúng sanh được 4 sự lợi ích, [146] [chẳng hạn như] căn cơ xứng hợp thì vui, căn cơ trái nghịch thì buồn khổ… Kinh văn phần sau nói “đều là chân thật không hư dối” tức là ý nghĩa này.
KINH VĂN
“Thiện nam tử! Đức Như Lai thấy có những chúng sanh ưa thích pháp nhỏ, cấu nhiễm sâu dày, phước đức mỏng manh, nên vì những người ấy mà nói: ‘Ta xuất gia khi nhỏ tuổi, sau đó chứng đắc quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.’ Nhưng thật ra ta thành Phật từ lâu xa như đã nói trên, vì dùng phương tiện giáo hóa chúng sanh giúp họ thể nhập đạo Phật nên mới nói ra như vậy.
“Này các thiện nam tử! Những kinh điển mà Như Lai giảng giải đều là vì độ thoát chúng sanh; hoặc nói đó là thân mình, hoặc nói là thân Phật khác; hoặc thị hiện thân mình, hoặc thị hiện thân Phật khác; hoặc thị hiện việc của mình, hoặc thị hiện việc của Phật khác; những điều nói ra như vậy đều là chân thật không hư dối.”
Tổng đoạn thứ hai từ câu “Thiện nam tử! Đức Như Lai thấy có những chúng sanh…” trở đi là sức mạnh mẽ phấn chấn như sư tử [của Như Lai] làm lợi ích chúng sanh trong hiện tại. Pháp tam-muội này [147] có 10 công đức.
– Thứ nhất là phân biệt được căn cơ của người khác đã thuần thục hay chưa, có thanh tịnh hay không.
– Thứ hai là dùng Pháp luân của Như Lai để giáo hóa những ai chưa được độ, khiến tất cả đều vào được chánh pháp và giới luật.
– Thứ ba là đại nguyện rộng khắp mười phương, âm thanh cũng vậy; hoặc một âm thanh vang khắp, hoặc trăm ngàn muôn âm thanh đều lan tỏa khắp nơi, giáo hóa tất cả các loài chúng sinh.
– Thứ tư là chuyển bánh xe pháp vô thượng, hóa độ chúng sinh khiến đều đạt đến chỗ diệt độ; duy nhất chỉ Phật chuyển pháp luân được như vậy, người khác không thể.
– Thứ năm là có thể thị hiện xuất gia, cạo bỏ râu tóc, giữ giới thanh tịnh, cũng có thể khiến người khác ưa thích làm theo.
– Thứ sáu là tánh thể, công hạnh đều hợp với không tịch.
– Thứ bảy là phóng hào quang hoặc thị hiện Niết-bàn; hoặc trụ thế, hoặc diệt độ; hoặc thị hiện tướng tốt, hoặc ẩn giấu tướng tốt.
– Thứ tám là hàng phục bốn loại ma. [148]
– Thứ chín là khiến người khác thể nhập yếu chỉ tối thượng, tăng trưởng chỉ và quán.
– Thứ mười là đầy đủ căn bản mười nghiệp lành, gồm ba nghiệp của thân, bốn nghiệp của khẩu, ba nghiệp của ý. [149]
Kinh văn phần này chia làm 2 đoạn. Thứ nhất là nêu cơ duyên chúng sanh chiêu cảm; thứ hai là nói sự cảm ứng hóa hiện.
[Đoạn thứ nhất nêu cơ duyên chúng sanh chiêu cảm.] “Như Lai thấy” tức là dùng Phật nhãn soi chiếu; “có những chúng sanh ưa thích pháp nhỏ”, là chỗ thấy được căn cơ chúng sanh. Kinh Hoa nghiêm nói: “Đại chúng tuy đã thanh tịnh nhưng vẫn còn những người khác ưa thích pháp nhỏ, nếu nghe pháp Đại thừa sẽ sanh tâm nghi ngờ hối tiếc, suốt đêm dài sinh tử suy sụp buồn lo; vì thương những người ấy nên lặng yên chưa thuyết dạy.”
Lời kệ nói rằng:
Xét như kinh [Hoa nghiêm] ấy không có hàng Thanh văn Nhị thừa, chỉ nói đến những người tu hành chưa được lâu mà gọi là ưa thích pháp Tiểu thừa. Đại sư [151] nói: “Ưa thích pháp nhỏ không phải người tu Tiểu thừa, mà là những người ưa thích pháp hình tích gần đây [152] cho nên nói là nhỏ đó thôi.”
Nay sẽ nói bao quát tất cả, đó là: tham muốn ưa thích 25 cảnh giới hiện hữu là căn cơ của hàng trời người, “tìm đến chỗ ta” gọi là “pháp nhỏ”; tham muốn ưa thích Niết-bàn, mong cầu tự giải thoát, tức là căn cơ của hàng Nhị thừa “tìm đến chỗ ta” cũng gọi là ưa thích pháp nhỏ; ưa thích Phật đạo tuần tự thứ lớp, quanh co xoay vòng, tức là căn cơ của hàng Bồ Tát Tạng giáo “tìm đến chỗ ta”, cũng gọi là ưa thích pháp nhỏ.
“Phước đức mỏng manh” là 2 pháp lành duyên nhân và liễu nhân công năng hoạt dụng còn yếu ớt. Như kinh văn phần sau nói các con [của thầy thuốc] còn thơ dại.
“Cấu nhiễm sâu dày” là chưa dứt trừ được kiến hoặc và tư hoặc.
Hỏi : [Đức Phật] không phải sinh mà thị hiện có sinh ra, thi hành cả 2 cách giáo hóa đốn giáo và tiệm giáo, hàng bảy phương tiện có thể nói là ưa thích pháp nhỏ, còn căn cơ mà viên giáo, đốn giáo hướng đến lẽ ra phải là ưa thích pháp Đại thừa, vì sao lại nói chung đều là ưa thích pháp nhỏ?
Đáp : Phần trước chỉ nói lược qua ý nghĩa, nay sẽ giải thích rộng. Nói chung có 4 ý nghĩa.
Thứ nhất là dựa vào quá khứ, [những người này] tuy phát tâm Đại thừa mà không chuyên cần, tinh tấn, nhiều vướng mắc nơi tham dục xấu xa, không thể vượt thoát khỏi thế tục, nên gọi tham dục xấu xa đó là pháp nhỏ.
Thứ hai là dựa vào hiện tại, như khi Phật chưa ra đời, chư thiên và loài người [trong hạng này] tuy có cơ duyên Đại thừa nhưng tâm nhiễm thế tục, ưa thích bám chấp các tà kiến, cho nên gọi là ưa thích pháp nhỏ.
Hai ý nghĩa này tương đồng với phần sau nêu thí dụ [những đưa con uống nhầm thuốc độc] “lăn lộn trên mặt đất”.
Thứ ba là dựa vào sự tu hành, tuy không ưa thích pháp nhỏ cùng những tham dục xấu xa trong ba cõi, nhưng lại ưa thích sự đoạn diệt của ba thừa [153] nên cũng gọi là pháp nhỏ; tuy không ưa thích các quả vị thấp kém cạn cợt trong ba thừa, nhưng lại ưa thích các pháp tu tuần tự của Biệt giáo hướng đến Nhất thừa, không thể một lòng rộng tu theo pháp Viên giáo đốn ngộ, cho nên gọi là ưa thích pháp nhỏ.
Cả 3 ý nghĩa trên đều là dựa vào nhân môn để nêu việc ưa thích pháp nhỏ. Ý nghĩa thứ tư là dựa vào quả môn. [154] Ưa thích nghe pháp nhỏ nói việc thành đạo gần đây, [rằng Phật] ra khỏi cung điện của dòng họ Thích rồi mới đạt được quả vị Bồ-đề, không ưa thích nghe về đạo lớn lao sâu xa [nói việc đã thành Phật từ] rất lâu, cho nên nói là ưa thích pháp nhỏ. Tâm nhỏ hẹp này không phải ngày nay mới có, vì nếu trước đây ưa thích Đại thừa thì Phật đã không thuyết dạy việc mới thành đạo gần đây. Thuyết dạy việc mới thành đạo gần đây chính là vì những người ưa thích pháp nhỏ.
Đoạn thứ hai từ câu “nên vì những người ấy mà nói…” trở đi nói việc ứng thân hóa hiện trong hiện tại, lại chia ra làm 2 tiểu đoạn. Tiểu đoạn thứ nhất nói việc không có sinh mà thị hiện sinh ra; tiểu đoạn thứ hai nói việc không có diệt mà thị hiện diệt độ.
Tiểu đoạn thứ nhất nói việc thị hiện sinh ra lại có 2 phân đoạn. Thứ nhất nói việc thị hiện sinh, thứ hai nói về lợi ích.
Phân đoạn thứ nhất lại có 2 ý, thứ nhất nói thị hiện sinh, thứ hai nói không có sinh.
Ý thứ nhất nói thị hiện sinh tức là bản tích thị hiện có sinh; nói không có sinh là không phải chỉ vừa mới sinh gần đây, chỉ vì những người [ưa thích pháp nhỏ] này nên nói rằng Phật chỉ vừa thành đạo gần đây.
Phần trước nói có 2 căn cơ nhanh nhạy và trì độn đều chiêu cảm pháp thân, nay tức hóa hiện cả thắng ứng thân và liệt ứng thân. Liệt ứng thân là cảm ứng với căn cơ trì độn; thắng ứng thân là cảm ứng với căn cơ nhanh nhạy. Hai ứng thân này đều có đủ hai thân là sinh thân và pháp thân.
Nay nói về hai thân của liệt ứng thân. Dùng trí tuệ chân chánh gá vào thai mẹ, vừa sinh ra liền đi bảy bước như lời thuật lại của Ca-chiên-diên Tử, cho đến trải qua 6 năm khổ hạnh; đó gọi là sinh thân sinh ra. Còn pháp thân sinh ra tức là dùng 34 tâm [155] dứt trừ hết sạch phiền não kết tập mà chứng đạt năm phần pháp thân.
Sinh thân của thắng ứng thân sinh ra thì như các kinh Hoa nghiêm, Đại Bát Niết-bàn… đã nói, là khi ở trong thai mẹ Ma-da vẫn thường thuyết giảng giáo pháp Đại thừa cho các vị Bồ Tát; vừa ra khỏi [thai mẹ] liền đi về mười phương, mỗi phương bảy bước. Đây gọi là sinh thân sinh ra. Còn pháp thân sinh ra là ở nơi đạo trường tịch diệt, với tâm sau cùng của Kim cương định [156] dứt trừ vô minh, đạt trí tuệ tương ưng của bậc Diệu giác, soi chiếu khắp cùng pháp tánh, muôn đức trọn đủ, chủng trí viên mãn soi sáng khắp cùng. Đây gọi là pháp thân sinh ra.
[Về thị hiện] xuất gia, đối với liệt ứng thân là ra khỏi căn nhà sinh tử phần đoạn, thắng ứng thân là ra khỏi cả hai căn nhà sinh tử phần đoạn và sinh tử biến dịch.
Về chứng đạo Bồ-đề, liệt ứng thân phát khởi các trí tuệ vô lậu là tận trí và vô sinh trí do chứng đạt bốn thánh đế có tạo tác, [157] đó gọi là Bồ-đề; thắng ứng thân thì soi chiếu đạo Nhất thật của ba đế, [158] đạt Nhất thiết chủng trí, đó là Bồ-đề.
Ý thứ hai từ câu “Nhưng thật ra ta thành Phật từ lâu xa…” trở đi nêu rõ vốn thật không có sinh ra, chỉ là do hàng trời, người, a-tu-la nhìn thấy sinh thân và pháp thân [Phật] nên nói là vừa mới sinh ra. Điều đó không đúng, vì Phật đã đạt được sanh thân, pháp thân từ rất lâu rồi. Việc ngày nay sinh ra đó không phải thật sinh ra, cho nên nói “từ lâu xa như đã nói trên”. “Như đã nói trên” là lâu xa như phần trước đã dùng thí dụ để nói.
Từ câu “vì dùng phương tiện giáo hóa chúng sanh…” trở đi nêu ý: đã không phải thật sinh, vì sao lại thị hiện sinh ra? Đó là vì để làm lợi ích cho “những chúng sanh ưa thích pháp nhỏ, cấu nhiễm sâu dày, phước đức mỏng manh”, vì “giúp họ thể nhập đạo Phật”. Cho nên nói là “dùng phương tiện giáo hóa chúng sanh nên mới nói ra như vậy”. Vì không phải thật sinh mà thị hiện sinh ra, cho nên nói “mới nói ra như vậy”.
Các kinh khác bác bỏ việc sinh ra sinh thân của liệt ứng thân, cho là sinh mà không phải sinh, nhưng vẫn không bác bỏ việc sinh ra pháp thân của liệt ứng thân, sinh mà không phải sinh. Nay kinh Pháp hoa này chính là bác bỏ đến cả việc sinh ra pháp thân của thắng ứng thân, sinh mà không phải sinh. Vì sao vậy? Kinh nói “thật ra ta thành Phật từ lâu xa như đã nói trên”, cho nên biết rằng ngày nay việc sinh ra pháp thân của liệt ứng thân và thắng ứng thân đều bị bác bỏ, nên sinh mà không phải sinh; so với các kinh khác là mãi mãi khác biệt.
Phân đoạn thứ hai từ câu “Này các thiện nam tử! Những kinh điển mà Như Lai giảng giải…” nêu việc thị hiện sinh ra làm lợi ích về hình tướng và âm thanh, có 2 ý. Trước nói về hình tướng, âm thanh; sau nói việc không hư dối.
[Ý thứ nhất nói về hình tướng, âm thanh,] nêu việc thuyết pháp tức là dạy dỗ bằng âm thanh; chỉ bày tức là nêu quy củ bằng hình tướng. Hình tướng và âm thanh đều không ra ngoài hai nghĩa tự thân mình và thân Phật khác. Nếu nói pháp thân tức là “nói đó là thân mình”, nếu nói ứng thân tức là “nói là thân Phật khác”. Thêm nữa, nói gặp Phật Nhiên Đăng tức là “nói đó là thân mình”, nói Phật Nhiên Đăng là thầy ta tức là “nói là thân Phật khác”. Thị hiện chánh báo tức là “thị hiện thân mình”, thị hiện y báo tức là “thị hiện thân Phật khác”. Tùy theo ý người khác mà nói ra là thuyết về thân Phật khác, tùy theo ý mình nói ra là thuyết về tự thân mình. “Thị hiện việc của mình hoặc thị hiện việc của Phật khác” cũng đều phân biệt theo cách như vậy.
[Ý thứ hai nói việc không hư dối], từ câu “Những điều nói ra như vậy đều là chân thật không hư dối…” lại có 2 tiểu ý. Trước nêu nghĩa không hư dối, sau đó giải thích ý nghĩa không hư dối. Trước là nhấn mạnh vào lợi ích của [sự thuyết dạy bằng] âm thanh để nêu nghĩa không hư dối; sau dùng đồng thời 2 ý để giải thích ý nghĩa không hư dối.
Tiểu ý thứ nhất nêu nghĩa không hư dối. Vì cả 2 căn cơ tiệm và đốn đều nhận được lợi ích từ hình tướng và âm thanh, cho nên [lời Phật nói] không hư dối. Phần trước nói về quá khứ đã nêu rõ “tất cả đều hoan hỷ”, cũng tương tự như lợi ích của thế giới, nay lại nêu rõ “đều là chân thật không hư dối”. Hình tướng và âm thanh của thắng ứng thân và liệt ứng thân phù hợp với hai căn cơ nhanh nhạy và trì độn, giúp cho đều đạt được bốn tất đàn, cho nên không hư dối.
Luận Đại trí độ nêu rõ bốn tất đàn đều là chân thật, nên thế giới tất đàn là chân thật, đối trị tất đàn, vị nhân tất đàn cũng là chân thật. Nhưng nếu xét kỹ cả ba tất đàn này thì đều chỉ là chân thật của thế gian, mà chân thật đó cũng là không chân thật. Trong thế giới duyên khởi thì có ba sự chân thật thế gian này, nhưng trong đệ nhất nghĩa thì đó là không chân thật.
Nếu phân biệt nghĩa không thật và chân thật này dựa theo bản môn và tích môn, thì lợi ích của hai pháp tiệm, đốn cũng có chân thật và không chân thật.
Phương tiện thực hành theo tích môn chưa đạt được lợi ích của đạo chân thật, đó là nhân không thật. Bám chấp vào hình tích gần đây, chưa đạt được lợi ích chân thật của bản địa, tức là quả không thật.
Nay được nghe Phật thuyết dạy về tích môn, tất cả đều thể nhập thật tướng, tức là được lợi ích chân thật từ trong nhân; nghe Phật thuyết dạy về bản môn, liền dứt trừ tình chấp nơi [thị hiện] gần đây, đạt được lợi ích chân thật nơi quả địa dài lâu xa xưa.
Nay đạt được 2 sự chân thật [của bản môn] so với 2 sự không thật của tích môn, đó là nói theo chúng sanh viên đốn.
Đối với tích môn và bản môn cũng có một chân thật, một không chân thật. Đạt được hạnh trung đạo, đó là được lợi ích chân thật nơi nhân địa, nhưng còn chấp vào việc thành đạo gần đây, tức là quả không thật.
Nay nghe Phật thuyết dạy về nhân cũng không riêng được lợi ích chân thật, nghe thuyết dạy về quả xa xưa liền được lợi ích của quả chân thật. Đó là xưa kia có một [lợi ích] không chân thật, nay được một [lợi ích] chân thật, cho nên nói “đều là chân thật không hư dối”.
Hỏi : Đối với thật tướng Đại thừa hiển bày thuở xưa và nay, người đạt ngộ trước sau hẳn phải có khác biệt?
Đáp : Người vào trước, kẻ vào sau, đến khi vượt qua giáo pháp phương tiện [159] thì đều thể nhập trung đạo. Nhưng sự thể nhập có tuần tự, có tức thời, cho nên phân ra thành tiệm giáo, đốn giáo. Lấy ví dụ như việc thể nhập chân đế, người căn cơ trì độn thì dựa vào các pháp phân tích chia chẻ, như quán vô thường...; người căn cơ nhanh nhạy thì dùng pháp nhận rõ bản thể, như quán không; cho nên phân ra thành Tạng giáo, Thông giáo.
KINH VĂN
“Vì sao vậy? Vì Như Lai thấy biết đúng thật tướng trạng của ba cõi không có sinh tử, dù Phật ẩn hình hoặc ra đời, cũng không có việc ở đời hay diệt độ; không phải chân thật cũng không phải hư dối; không phải như vậy cũng không phải khác biệt; không giống như [chúng sanh trong] ba cõi nhìn thấy ba cõi. Những việc như vậy, Như Lai đều thấy biết sáng suốt không có sai lầm.
Tiểu ý thứ hai từ câu “Vì sao vậy? Vì Như Lai thấy biết đúng thật…” giải thích chung về sự không hư dối của việc làm lợi ích chúng sanh. Trước tiên giải thích [sự không hư dối của] việc làm lợi ích bằng hình tướng; sau đó giải thích về sự không hư dối của việc làm lợi ích bằng lời dạy. Trong phần này có 6 cách lập luận nêu rõ ứng thân không lìa pháp thân. [160] Pháp thân vô hình, không có sự sinh khởi hay diệt mất. Căn cơ của chúng sanh có sinh khởi, có diệt mất, chiêu cảm với pháp thân, do nguyện lực của Như Lai nên cùng khởi cùng diệt [với căn cơ chúng sanh], nhưng cái nhìn có sinh khởi, có diệt mất đó là phát xuất từ phía chúng sanh, cho nên dựa vào ba cõi mà nêu ra các vấn đề này.
Tiểu ý này lại có 2 điều. Thứ nhất là soi chiếu theo chân lý nên không hư dối. Thứ hai, từ câu “Chúng sanh vốn có đủ mọi loại căn tánh…” trở đi, nêu ý nghĩa xứng hợp căn cơ nên không hư dối. Vì thiết lập giáo pháp thấu đạt chân lý, xứng hợp căn cơ để giáo hóa chúng sanh nên không hư dối.
[Điều thứ nhất nêu việc soi chiếu:]
– “[Như Lai] thấy biết đúng thật” tức là trí tuệ chân thật, theo đúng chân lý mà soi chiếu sự đúng thật trong ba cõi. Theo lẽ như thật thì trong ba cõi không có tướng nguyên nhân. “Không có sanh tử” là không có sự khổ của 2 loại phần đoạn tử và biến dịch tử. [161]
– Nghiệp huân tập khởi gọi là “ẩn hình”, quả vô thường hiện gọi là “ra đời”. Lại cũng không có việc trụ nơi sanh tử thế gian cũng như diệt độ nhập Niết-bàn; cả hai điều này đều diệt mất nên nói “cũng không có việc ở đời hay diệt độ”.
– Không phải là chân thật của sự diệt độ, cũng không phải là hư dối của sinh tử, cho nên nói “không phải chân thật cũng không phải hư dối”.
– Không phải là ngăn cách khác biệt của thế gian, không phải là chân như của xuất thế, cho nên nói “không phải như vậy cũng không phải khác biệt”.
Bốn câu trên nêu ý nghĩa trung đạo. Nếu phủ định [hoặc xác định] cả 2 bên thì kết luận sẽ nghiêng về một bên. Lấy ví dụ như phủ định cả “không sanh, không tử” thì kết luận sẽ là sanh; xác định cả “là sanh là tử” thì kết luận là tử; phủ định cả “không ẩn hình, không ra đời” thì kết luận là ra đời; xác định cả “là ẩn hình, là ra đời” thì kết luận là ẩn hình; phủ định cả “không hư không thật” thì kết luận là thật; xác định cả “là hư là thật” thì kết luận là hư. Những cách lập luận như vậy nay đều bác bỏ; cho đến lập luận nghiêng về một bên, xen lẫn hai bên hoặc gồm đủ tất cả cũng đều phủ nhận. Như vậy mới có thể hiển lộ được ý nghĩa trung đạo.
“Không giống như [chúng sanh trong] ba cõi nhìn thấy ba cõi”, nghĩa là không giống như tướng trạng ba cõi mà hai hạng chúng sanh [162] trong ba cõi nhìn thấy, chỉ đức Phật là người duy nhất có thể [dùng trí tuệ] như thật soi chiếu cùng khắp tướng thật của ba cõi; nội tâm hàm chứa đầy đủ hoạt dụng của trí tuệ chân thật, cũng tùy ý tự nói ra, hoặc tự nói việc tự thân mình.
Cho nên Đại phẩm Bát-nhã nói: “Trong đệ nhất nghĩa không có chỗ phân biệt, nhưng đức Như Lai dùng trí tuệ quyền biến suy lường đúng thật, thấy biết tướng trạng của ba cõi giống như chúng sanh trong ba cõi nhìn thấy. [163] Dùng trí như thật thấy biết thật không có 2 cách chết, [164] nhưng tùy theo ý chúng sanh mà dạy về 2 cách chết, tự thân nói rằng có 2 cách chết; thật không có thối ẩn hoặc ra đời, nhưng tùy theo ý chúng sanh nói có ẩn hình, có ra đời; thật không có việc trụ thế hay diệt độ, nhưng tùy theo ý chúng sanh nói có trụ thế, có diệt độ; không có gì chân thật nhưng thuyết dạy sự chân thật của Niết-bàn; không có gì không thật nhưng thuyết dạy sự không thật của ba cõi; không có sự khác biệt của ba đời nhưng thuyết dạy có khác biệt; không có lẽ như của chân đế mà nói là có như;
tương đồng như chúng sanh trong ba cõi nhìn thấy tướng trạng ba cõi; tất cả như vậy đều là tùy theo ý chúng sanh mà nói, cho nên gọi là “hoặc nói thân khác”, “thị hiện việc của thân khác”.
Hai trí [quyền, thật] của Như Lai soi xét sáng rõ về tục đế và chân đế; cho nên cả 2 lợi ích từ hình tướng và lời nói [của Như Lai] đều chân thật không hư dối.
KINH VĂN
“Chúng sanh vốn có đủ mọi loại căn tánh, mọi sự tham muốn, hành vi, suy tưởng phân biệt khác nhau, vì muốn cho họ sinh khởi các căn lành nên [Như Lai] mới vận dụng không biết bao nhiêu là nhân duyên, thí dụ, ngôn từ để thuyết giảng đủ mọi giáo pháp; việc thi hành Phật sự chưa từng tạm dứt.”
[Điều thứ hai] từ câu “Chúng sanh vốn có đủ mọi loại căn tánh…” trở đi, giải thích việc xứng hợp căn cơ không hư dối, [có 3 khoản]. Trước tiên nêu việc căn cơ chiêu cảm, tiếp theo luận việc thi hành giáo hóa, cuối cùng là kết lại nghĩa không hư dối.
[Khoản thứ nhất nêu việc] chúng sanh có căn cơ nhanh nhạy, trì độn, tiệm, đốn chẳng đồng; tâm tánh, sự tham muốn, hành nghiệp, trí tuệ đủ loại khác biệt, [nhưng đức Phật] muốn cho mỗi chúng sanh đều được tăng trưởng các căn lành, cho nên mới thuyết dạy giáo pháp tự thân mình hoặc thân khác, các nhân duyên, thí dụ không hư dối.
Căn tánh tu tập tuần tự (tiệm) hoặc tức thời (đốn) [của chúng sanh] mỗi thứ đều có nhiều chủng loại, do vậy phải vận dụng vị nhân tất đàn. Vị nhân tất đàn chính là giúp sinh ra các căn lành. Căn lành cũng chính là tánh, do huân tập tham muốn mà thành tánh, vậy vì sao [kinh văn] trước nói đến tánh, sau mới nói đến tham muốn?
Giải thích rằng: Do nơi căn tánh ngày trước nên mới có thể khởi lên tham muốn ngày nay; cũng như nhân nơi phiền não mới có [thân] năm ấm, lại nhân nơi [thân] năm ấm mà có phiền não, không có điều nào là trước hay sau. Đối với căn tánh và tham muốn cũng vậy, phải do huân tập tham muốn mà thành tánh… [165]
Tham muốn cũng khác biệt ở 2 căn cơ tiệm và đốn, có đủ loại tham muốn khác nhau, do vậy nên vận dụng thế giới tất đàn.
Hành vi là khởi tạo hành nghiệp, tùy theo chỗ tham muốn mà tu các hạnh, do vậy nên vận dụng vị nhân tất đàn.
Trong chỗ tu hành nhiều ưa thích vướng mắc, dẫn đến có chướng ngại, do vậy nên dùng đối trị tất đàn.
Nhớ nghĩ suy tưởng cũng là trí tuệ, tức là trí hiểu biết tương tợ; [166] do tu hành nên có thể sinh ra chỗ hiểu biết. Đây là phương tiện, chưa xứng hợp với lẽ đạo vượt ngoài ngôn ngữ, cũng chỉ là chỗ thấy của niệm tưởng.
Chúng sanh với căn cơ tu tập tuần tự (tiệm) hoặc tức thời (đốn) đều ở trong các giai vị nội phàm, ngoại phàm, [167] có các căn lành cùng tham muốn. Do tham muốn nên tu hành; nhờ tu hành nên được trí hiểu biết tương tợ, do vậy nên vận dụng đệ nhất nghĩa tất đàn. Tùy theo chỗ nhận hiểu của chúng sanh nhờ suy tưởng nhớ nghĩ, Phật liền vì họ mà thuyết pháp, khiến cho sáng tỏ hiểu được chân lý rốt ráo. [168] Thậm chí [hàng Bồ Tát] sơ địa khi muốn tu hành lên nhị địa cũng suy tưởng nhớ nghĩ đến cảnh giới nhị địa, đó tức là niệm tưởng. Nếu phát sinh hiểu biết chân thật về cảnh giới nhị địa liền dứt trừ chỗ thấy của niệm tưởng, pháp ngôn ngữ diệt mất. Chỉ đạt đến quả Phật mới có thể rốt ráo xa lìa nhớ nghĩ suy tưởng, đạt được trí tuệ tịch tịnh thường soi chiếu mà thôi.
¡ [Khoản thứ hai] từ câu “vì muốn cho họ sinh khởi các căn lành…” trở đi [luận việc thi hành giáo hóa], nói việc đức Phật tùy theo căn cơ mà ban cho chúng sanh các lợi ích bằng cách thuyết dạy việc của mình và việc của Phật khác; đối với các căn cơ tuần tự (tiệm) hoặc tức thời (đốn) đủ loại khác nhau, vì muốn làm cho sanh khởi đủ mọi căn lành, nên thị hiện biết bao nhiêu là sự việc của thân mình và thân Phật khác; biết bao nhiêu là thanh âm giáo hóa của tự thân mình và của Phật khác, biết bao nhiêu là nhân duyên thí dụ.
Đối với căn cơ tu tập tuần tự (tiệm) thì dùng 4 cửa vào [169] của Tạng giáo cùng biết bao nhiêu là nhân duyên thí dụ; trong mỗi một cửa vào đó lại cũng có biết bao nhiêu [nhân duy-ên thí dụ]. Chẳng hạn như vì kẻ lười nhác mà thuyết dạy nhẫn chịu khổ nhọc; vì người ngã mạn mà thuyết dạy nhẫn chịu vô thường. Đại lược là như vậy. Đối với 4 cửa vào của Thông giáo cũng vậy.
Đối với căn cơ tu tập tức thời (đốn) như Biệt giáo, Viên giáo, mỗi giáo pháp lại cũng dùng 4 cửa vào với biết bao nhiêu đủ loại [phương tiện]. Chẳng hạn như 32 vị Bồ Tát [trong kinh Duy-ma-cật], [170] mỗi vị đều nói về thể nhập pháp môn bất nhị [khác biệt nhau]; trong kinh Hoa nghiêm nói đủ loại công hạnh, tướng mạo, đều là vì đủ loại căn cơ mà đưa ra “biết bao nhiêu là nhân duyên, thí dụ, ngôn từ để thuyết giảng đủ mọi giáo pháp”.
[Khoản thứ ba nói] “Việc thi hành Phật sự chưa từng tạm dứt” là tổng kết lại ý nghĩa không hư dối. Như trên đã nói biết bao nhiêu hình tướng, âm thanh của Phật này Phật khác, đều là vì để giúp cho chúng sanh thể nhập tri kiến Phật, không phải vì việc nhỏ là đạt đến quả vị Tiểu thừa trong hai cõi trời, người, cho nên nói đó là Phật sự. Nếu chỉ một người riêng được diệt độ, những người khác không được, thì chỗ làm Phật sự đó có chỗ bỏ phế. Bỏ phế tức là khiến cho chúng sanh không được lợi ích chân thật, sao có thể tương hợp với ý nghĩa “đều là chân thật không hư dối”?
Thế nào là “đều là chân thật”? Thuở xưa Phật nói ta ngồi nơi đạo tràng chẳng được một pháp thật nào; bảy hạng phương tiện đều không phải diệt độ rốt ráo; hai loại Niết-bàn [171] chỉ là phương tiện như nắm tay rỗng không. Cho nên biết rằng, chỉ thấy những điều không thật, chưa thấy “đều là chân thật”. Nếu thuở xưa bày ra bảy hạng phương tiện là quyền biến, rốt lại không thể nhập vào một pháp chân thật thì có thể nói đều là không thật. Nhờ không thật ấy dẫn dắt mà được thoát ra, không thể ra khỏi không thật mà lại không thể nhập thật, cho nên biết rằng những không thật thuở xưa đều là chân thật. Nói “đều là chân thật không hư dối”, “Phật sự chưa từng tạm dứt”, tức là ý nghĩa như vậy.
KINH VĂN
“Như vậy, từ khi ta thành Phật đến nay đã hết sức lâu xa, tuổi thọ đến vô lượng a-tăng-kỳ kiếp, thường trụ bất diệt. Các thiện nam tử! Tuổi thọ của ta vốn nhờ tu hành đạo Bồ Tát mà có được, đến nay vẫn chưa dứt, lại còn tăng thêm gấp nhiều lần. Ta nay không thực sự sẽ diệt độ nhưng lại nói rằng: ‘Ta sẽ diệt độ.’”
Tiểu đoạn thứ hai từ câu “Như vậy, từ khi ta thành Phật đến nay đã hết sức lâu xa…” trở đi, nêu ý nghĩa không có diệt độ mà thị hiện diệt độ, lại chia làm 2 phân đoạn. Phân đoạn thứ nhất nêu nghĩa không có diệt độ mà thị hiện diệt độ; phân đoạn thứ hai từ câu “Như Lai dùng phương tiện như vậy…” trở đi, nêu lợi ích của việc thị hiện diệt độ.
Phân đoạn thứ nhất lại có 2 ý . Ý thứ nhất nêu nghĩa vốn thật không có diệt độ. Ý thứ hai từ câu “Ta nay không thực sự sẽ diệt độ…” trở đi nêu nghĩa trong Tích môn nói việc diệt độ.
Ý thứ nhất từ câu “Như vậy, từ khi ta thành Phật đến nay…” trở đi nêu rõ quả vị Phật là thường, là “thường trụ bất diệt”; nhờ vào bốn chữ này để nêu rõ uy thế mạnh mẽ lớn lao trong tương lai thường trụ bất diệt, làm lợi ích chúng sanh.
Từ câu “tuổi thọ của ta vốn nhờ tu hành…” trở đi là nêu nhân so sánh với quả để nói việc thường trụ. Các nhà cựu giải dựa vào chỗ này để cho là nói nghĩa vô thường, rằng trước đây đã trải qua số kiếp như cát sông Hằng, nay “lại còn tăng thêm gấp nhiều lần”, dù có thần thông kéo dài tuổi thọ cũng vẫn là vô thường. Đó là nắm hiểu kinh văn sai lệch, phạm lỗi rất lớn.
Kinh văn nêu nhân để so sánh quả, quả đó không có số lượng. Kinh văn lại nói, từ lâu xa tu tập nghiệp lành nên được tuổi thọ vô số kiếp, không phải là do thần thông kéo dài tuổi thọ. Vì sao vậy?
Phật tu hành nhân viên mãn, khi vừa lên bậc sơ trụ liền được thường thọ; thường thọ ấy đã không phải là lấy số tuổi thọ nhân gấp bội lên, huống chi là tuổi thọ khi đã chứng quả? Vì sao lại vất bỏ quả được so sánh mà vội chấp vào nhân nêu ra để so sánh? Lại ví như chấp lấy nhân này thì cũng đã là thường, chẳng phải vô thường, cũng giống như khi còn là thái tử bổng lộc đã dùng không hết, huống chi lúc lên ngôi vua, bổng lộc ấy há có thể dùng hết được sao?
Kinh văn ở đây sáng tỏ rõ ràng, đâu cần nhận hiểu vòng vo vặn vẹo gây nghi ngờ cho người đời sau?
Ý thứ hai từ câu “Ta nay không thực sự…” trở đi, nêu nghĩa trong Tích môn nói việc diệt độ. Cả ba thân Phật đều có nghĩa “không diệt độ mà nói diệt độ”.
Như kinh Tịnh Danh [172] nói: “Pháp vốn không sanh, nay ắt không diệt”; tức là nói pháp thân không diệt. Lại nói: “Đó là nghĩa tịch diệt”; tức là nói diệt độ. Vì sao vậy? Nếu đã chứng đạt thấu triệt thì không nói tịch diệt; vì những người chưa thấu triệt nên mới nói tịch diệt. Nếu nói soi chiếu chỗ tịch tịnh tức là nói diệt độ; nói tịch tịnh mà soi chiếu tức là nói sinh khởi.
Pháp thân tuy không sinh không diệt nhưng cũng có sự sinh diệt. Nếu tâm mê muội bám chấp thì phiền não sinh mà trí tuệ diệt; nếu tâm giải thoát, không đắm nhiễm thì trí tuệ sinh, phiền não diệt. Diệt mê hoặc, sinh giải thoát, đó là diệt vô thường. Nếu giải thoát sinh, mê hoặc diệt, đó mới là tịch diệt. [173] Sự sinh diệt như vậy là dựa vào tánh pháp để biện luận. Nếu không có cả 2 duyên mê hoặc và giải thoát, ắt không nói là có sự sinh diệt này.
Báo thân không diệt mà nói có diệt. Ai có trí tuệ, ai có phiền não mà nói là trí tuệ có thể phá phiền não? Đây chính là nghĩa sáng tối không trừ bỏ nhau, [174] tức là nghĩa báo thân chẳng diệt. Chúng sanh chưa hiểu rõ nghĩa, nghe như vậy cho rằng [báo thân] đó tức là Phật, liền sinh tâm kiêu mạn phóng túng, không chịu tu tập đạo pháp. Cho nên nói rằng: “Đạo có thể diệt mê hoặc.” Lúc có phiền não thì không có trí tuệ, lúc có trí tuệ thì không có phiền não, chẳng phải là trí tuệ có thể diệt trừ phiền não đó sao?
Ứng thân không diệt mà nói có diệt. Ứng thân là tác dụng của pháp thân và báo thân. Thể tánh đã không diệt, tác dụng lẽ nào lại có chỗ cùng tận? Tức là nghĩa ứng thân không diệt. Chỉ vì chúng sanh nếu thường được thấy Phật liền sanh kiêu mạn phóng túng, nên Phật mới nói rằng: “Đêm nay ta sẽ diệt độ.”
Lại nữa, tự thể pháp thân rõ ràng là không diệt. Báo thân nếu nói không diệt là dựa vào pháp thân [mà nói]. Nếu dựa theo lý lẽ mà luận việc trí tuệ có công năng phá trừ [phiền não] thì đó là vì chỗ đạt ngộ mà phá trừ hay vì chưa đạt ngộ mà phá trừ? [175] Vì cả hai mà phá trừ hay chỉ vì riêng một bên mà phá trừ? Suy xét theo lý lẽ như vậy thì thấy không có công năng phá trừ, tức là ý nghĩa trí tuệ thật không diệt trừ mê hoặc. Thế nhưng khi có trí tuệ thì không có phiền não, tức là trí tuệ có khả năng diệt trừ mê hoặc.
Ứng thân nếu nói không diệt thì phải dựa vào pháp thân và báo thân [mà nói]. Pháp thân và báo thân đã thường trụ như nhiên thì ứng dụng của hai thân ấy cũng không dứt mất. Chúng sanh còn chưa được hóa độ hết thì [ứng thân Phật] không diệt độ.
[Cho nên, với] pháp thân thì dựa vào tự thể để luận việc không sanh diệt; báo thân thì chứng đạt thấu triệt nên không thể có việc sanh diệt; ứng thân thì [hóa hiện] tiếp nối liên tục nên không có sanh diệt. Đại lược là như vậy.
KINH VĂN
“Như Lai dùng phương tiện như vậy để giáo hóa chúng sanh. Vì sao vậy? Vì nếu Phật ở đời lâu dài thì những người phước mỏng không gieo trồng căn lành, sống nghèo khó hèn hạ, tham chấp năm món dục, đắm chìm trong mạng lưới nhớ nghĩ suy tưởng, thấy biết hư vọng. Nếu thấy Như Lai sống mãi ở đời không diệt độ, họ liền khởi tâm kiêu căng phóng túng, ôm lòng chán nản lười nhác, không nghĩ rằng khó được gặp Phật, không khởi tâm cung kính.
Phân đoạn thứ hai từ câu “Như Lai dùng phương tiện như vậy để giáo hóa…” trở đi nêu việc thị hiện diệt độ làm lợi ích chúng sanh, chia làm 2 ý. Ý thứ nhất nói không diệt độ thì chúng sanh chịu tổn hại; ý thứ hai từ câu “Cho nên Như Lai dùng phương tiện nói rằng…” trở đi nêu rõ, nếu nói việc diệt độ thì chúng sanh sẽ được lợi ích.
Ý thứ nhất có 2 tiểu ý. Trước nói việc không diệt độ sẽ có tổn hại; sau giải thích rộng việc không có diệt độ.
Tiểu ý thứ nhất nói việc có tổn hại, vì những người ưa thích pháp nhỏ như đã nói ở trước, nếu thấy Phật thường ở đời sẽ không gieo trồng căn lành; những kẻ nghèo khốn hèn kém không khởi sinh 2 loại pháp lành [176] nên không được lợi ích. Họ không dứt trừ kiến hoặc và tư hoặc, không dứt trừ 2 loại pháp xấu ác [177] nên phải chịu tổn hại.
“Tham chấp năm món dục, đắm chìm trong mạng lưới nhớ nghĩ suy tưởng.” Nhớ nghĩ suy tưởng tức là kiến hoặc; năm món dục tức là tư hoặc. Do những điều này mà chúng sinh nhiều cấu nhiễm nặng nề, cho nên [Phật] phải nói việc diệt độ. Nếu Phật không nói việc diệt độ thì 2 loại pháp xấu ác sẽ sinh khởi mà không diệt mất; 2 loại pháp lành bị hao tổn mà không sinh khởi.
Nếu y theo bốn tất đàn thì thị hiện diệt độ tức là 2 loại pháp xấu ác diệt đi, 2 loại pháp lành được sinh khởi.
Vì diệt 2 loại pháp xấu ác nên vận dụng đối trị tất đàn và đệ nhất nghĩa tất đàn. Đệ nhất nghĩa tất đàn diệt những điều xấu ác chưa sinh khởi; đối trị tất đàn diệt những điều xấu ác đã sinh khởi.
Vì làm sinh khởi 2 loại pháp lành nên vận dụng thế giới tất đàn và vị nhân tất đàn. Thế giới tất đàn làm sinh khởi những điều lành chưa sinh khởi; vị nhân tất đàn làm tăng trưởng những điều lành đã sinh khởi.
Lại nữa, thế giới tất đàn diệt trừ những điều xấu ác đã sinh khởi; đối trị tất đàn diệt trừ những điều xấu ác chưa sinh khởi, như thiền quán về năm ấm diệt được các điều xấu ác trong Dục giới, tức là thế giới tất đàn diệt trừ những điều xấu ác đã sinh khởi.
Vị nhân tất đàn làm tăng trưởng những điều lành đã sinh khởi; đệ nhất nghĩa tất đàn làm khởi sinh những điều lành vô vi chưa sinh khởi.
Tiểu ý thứ hai từ câu “Nếu thấy Như Lai sống mãi ở đời…” là giải thích rộng. Nếu [chúng sanh] thấy Phật thường ở đời liền “khởi tâm kiêu căng phóng túng, ôm lòng chán nản lười nhác”… cho nên có sự tổn hại; không thể sinh tâm cung kính cho nên không được lợi ích. “Kiêu căng phóng túng” là tăng thêm kiến hoặc; “chán nản lười nhác” là sinh khởi tư hoặc.
“Không nghĩ rằng khó được gặp Phật” tức là không khởi sinh hiểu biết kiến đế; [178] “không khởi tâm cung kính” tức là không thể khởi sinh tư duy theo chánh đạo.
Vì những ý nghĩa đó cho nên Phật phải thị hiện việc diệt độ. Nếu chúng sanh thấy nghe việc ba thân Phật [179] đều không diệt mất, liền hiểu theo nghĩa làm khởi sinh kiêu căng phóng túng, cho rằng “chúng sanh là như, Di-lặc là như, chỉ có nhất như, không có nhị như, tất cả đều bình đẳng, tức là chân thật”. [180] Do nghĩ như vậy liền sinh tâm kiêu mạn khinh thường, cho rằng hết thảy các phiền não vốn trước không sinh ra, nay cũng chẳng diệt đi thì cần gì phải tu tập đạo pháp; do đó liền mặc tình phóng túng lười nhác. Vì những người như vậy mà nói việc diệt độ, đây là ý nghĩa của tịch diệt.
Lại nữa, khi chúng sanh nghe rằng tất cả chúng sinh đều là tướng Bồ-đề; rằng tướng Bồ-đề là tướng phiền não; rằng sáng với tối không trừ bỏ nhau, cùng hiển lộ Bồ-đề của chư Phật... nghe như vậy rồi liền khởi sinh kiêu mạn phóng túng, không chịu tu tập điều lành, lười nhác buông lung. Vì những người như vậy nên Phật nói rằng, báo thân dùng trí tuệ có thể diệt trừ phiền não, trí Bồ-đề của Phật có thể diệt trừ sức vô minh lớn lao.
Ứng thân Phật không diệt mà thị hiện diệt độ, điều này dễ hiểu.
Nếu nói rằng pháp vốn không sinh, nay cũng không diệt, thì phải tu tập dứt trừ mê hoặc rồi mới đạt đến tịch diệt.
Kinh điển dạy rằng: Trí tuệ không dứt trừ phiền não, nhưng khi sáng thì không có tối. Chúng sanh ngày nay đầy các phiền não thì làm sao có thể có trí tuệ? Nên biết rằng trí tuệ có thể diệt trừ mê hoặc che chướng.
Chúng sanh nghe Phật nói việc diệt độ như vậy, liền đối với ba thân Phật đều sinh ý tưởng cho là khó gặp, khởi tâm cung kính.
KINH VĂN
Cho nên Như Lai dùng phương tiện nói rằng: ‘Các tỳ-kheo nên biết, rất khó được gặp chư Phật ra đời!’ Vì sao vậy? Những người phước mỏng, trải qua vô lượng trăm ngàn muôn ức kiếp, có khi được gặp Phật, có khi không được gặp Phật. Do vậy nên ta nói: ‘Các tỳ-kheo! Rất khó được gặp Như Lai.’ Những chúng sanh nói trên nghe được lời này ắt sẽ nghĩ rằng rất khó được gặp Phật, ôm lòng luyến mộ, khát ngưỡng đối với Phật, liền gieo trồng căn lành. Cho nên, Như Lai tuy không thật sự diệt độ nhưng nói rằng diệt độ.
“Lại nữa, này các thiện nam tử! Pháp của chư Phật Như Lai đều như vậy, vì hóa độ chúng sanh nên hết thảy đều chân thật không hư dối.”
Ý thứ hai từ câu “Cho nên Như Lai dùng phương tiện…” trở đi, nói việc diệt độ là có lợi ích, có 2 tiểu ý. Trước tiên xưng tán việc khó được gặp Phật, kế đến giải thích ý nghĩa khó gặp, cả ba thân Phật đều khó gặp.
[Tiểu ý thứ nhất xưng tán việc khó được gặp Phật.] Chúng sanh ưa thích pháp nhỏ, kiến hoặc và tư hoặc che chướng nặng nề, nếu nghe nói ba thân Phật không diệt mất ắt sẽ không tu tập đạo pháp, khó lòng khế hợp [chân lý].
[Tiểu ý thứ hai] từ câu “Vì sao vậy…” trở đi là phần giải thích. “Những người phước mỏng, trải qua vô lượng trăm ngàn muôn ức kiếp, có khi được gặp Phật, có khi không được gặp Phật.” Nếu được gặp ba thân Phật thì đó là người nhiều phước lành, ít nghiệp xấu ác, nên không phải vì hạng người này mà nói việc diệt độ. Hạng người này vẫn thường thấy Phật ở tại Linh sơn.
“Có khi không được gặp Phật…”, hạng người này phước lành ít, che chướng nặng nề, nên vì họ nói ba thân Phật rất khó gặp. Những chúng sanh này nghe vậy liền nghĩ, ba thân Phật tuy chẳng phải sanh, chẳng phải diệt, nhưng phải tu tập sinh khởi điều thiện, diệt trừ mê hoặc mới có thể được gặp; việc này thật không dễ dàng, cho nên nói là khó gặp.
“Ôm lòng luyến mộ, khát ngưỡng đối với Phật”, đây là nêu nghĩa thị hiện diệt độ không làm tổn hại. Diệt trừ kiến hoặc, tư hoặc nên gọi là không tổn hại; “liền gieo trồng căn lành” nên gọi là có lợi ích.
KINH VĂN
“Lại nữa, này các thiện nam tử! Pháp của chư Phật Như Lai đều như vậy, vì hóa độ chúng sanh nên hết thảy đều chân thật không hư dối.”
Phần thứ hai từ câu “Lại nữa, này các thiện nam tử…” trở đi, tóm kết ý nghĩa ba đời làm lợi ích chúng sanh, chúng sanh được lợi ích chân thật, chia làm 3 phần. Thứ nhất nêu việc chư Phật xuất hiện trong đời có năm sự uế trược, tất nhiên trước dạy ba thừa, sau quy về Nhất thừa; trước dạy tích môn thành đạo gần đây, sau nói bản môn thành đạo từ lâu xa, [nên nói “đều như vậy”]. Thứ hai nêu rõ tất cả đều là “vì hóa độ chúng sanh”. Thứ ba nói rõ “hết thảy đều chân thật không hư dối”.
KINH VĂN
“Ví như có vị thầy thuốc trí tuệ sáng suốt, biết rõ các phương thuốc, giỏi điều trị đủ các bệnh. Vị ấy có nhiều con, hoặc mười, hoặc hai mươi, thậm chí đến hàng trăm người con. Vị ấy có việc phải đi xa đến nước khác. Sau đó, những người con uống nhầm thuốc độc, bị thuốc phát tác làm cho mê loạn, lăn lộn trên mặt đất.”
Tổng phần thứ hai từ câu “Ví như có vị thầy thuốc…” trở đi là nói thí dụ, có 2 phần nêu thí dụ và nói nghĩa tương hợp với thí dụ.
Phần thứ nhất nêu thí dụ lại có 2 tổng đoạn. Tổng đoạn thứ nhất nêu thí dụ thầy thuốc trị bệnh cho con, tương ứng với phần trước nói việc chư Phật ba đời ứng hiện biến hóa thích hợp. Tổng đoạn thứ hai nêu thí dụ trị bệnh cho con, các con được lợi ích chân thật, tương ứng với phần trước nói ba đời chư Phật làm lợi ích chúng sanh không hề hư dối. Kinh văn phần trước không nói về tương lai, phần này nói đủ.
Tổng đoạn thứ nhất lại có 3 đoạn. Thứ nhất, thí dụ thầy thuốc có việc đi xa, tương ứng với việc chư Phật làm lợi ích chúng sanh trong quá khứ. Thứ hai, nói việc vị thầy thuốc quay về rồi lại ra đi, tương ứng với việc chư Phật ứng hóa trong hiện tại. Thứ ba, nói việc vị thầy thuốc lại quay về, tương ứng với việc chư Phật ứng hóa trong tương lai.
Phần nói việc [lợi ích chúng sanh] trong quá khứ, kinh văn có 2 ý. Thứ nhất là khai mở việc mới thành đạo gần đây, hiển bày việc đã thành đạo từ lâu xa. Thứ hai là nêu việc ứng hóa thích hợp trong quá khứ. Nay trong thí dụ chỉ nêu việc ứng hóa thích hợp.
Việc nêu nghĩa thích hợp [trong phần trước] lại có 3 ý. Thứ nhất là xứ sở thích hợp; thứ hai là quét sạch nghi ngờ về tích môn; thứ ba là nói ý chính ứng hóa. Nay trong thí dụ chỉ nói việc ứng hóa.
Phần trước nói việc ứng hóa lại có 2 ý. Thứ nhất nêu căn cơ chiêu cảm; thứ hai nêu ý chính ứng hóa. Nay trong thí dụ đều có đủ.
“Như có vị thầy thuốc” là thí dụ tương ứng với đoạn sau phần trên nói “ta sẽ dùng Phật nhãn quán xét”, nói nghĩa Phật có trí tuệ để ứng hiện. “Vị ấy có nhiều con” là thí dụ tương ứng với phần trên ở trước nói “có chúng sanh nào tìm đến chỗ ta”, tức là nói cơ duyên có thể chiêu cảm. Phần trước nói việc ứng hóa thích hợp nêu 2 ý, thứ nhất là lợi ích chúng sinh, thứ hai nêu sự hoan hỷ. Nay phần này chỉ nói thí dụ lợi ích chúng sanh. Phần trước nói lợi ích chúng sanh lại có 2 ý, thứ nhất là không phải sinh mà thị hiện sinh, thứ hai là không phải diệt mà thị hiện diệt. Nay chỉ nói thí dụ việc thị hiện diệt.
[Đoạn thứ nhất,] trước tiên nói “có vị thầy thuốc”. Thầy thuốc có 10 hạng.
– Hạng thứ nhất là thầy thuốc trị bệnh nhưng bệnh lại tăng thêm, không giảm bớt, hoặc có lúc đến mức phải chết. Hạng này thí dụ cho hàng ngoại đạo chấp không, [181] buông thả tâm ý làm việc xấu ác, dạy người khác sinh khởi tà kiến dứt mất căn lành. Pháp thân đã mất, sinh mạng trí tuệ cũng chết.
– Hạng thứ hai là thầy thuốc trị bệnh nhưng bệnh chẳng tăng thêm, cũng không giảm bớt. Hạng này thí dụ cho hàng ngoại đạo khổ hạnh chấp có, [182] như lao vào vách đá, nhảy vào đống lửa, chịu cực hình khổ sở cho đó là làm thiện, không đạt được thiền định. Không dứt được phiền não, tức là bệnh không giảm bớt, nhưng cũng không thể dứt mất căn lành, tức là bệnh không tăng thêm.
– Hạng thứ ba là thầy thuốc trị bệnh thuyên giảm, không tăng thêm. Cũng giống như thầy thuốc thế gian tuy trị được khỏi bệnh nhưng về sau bệnh lại tái phát. Đây tức là hàng ngoại đạo nhờ tu thiền định dứt trừ được phiền não. [183]
– Hạng thứ tư là thầy thuốc trị bệnh khỏi rồi không còn tái phát, nhưng không trị được hết tất cả bệnh. Đây là thí dụ cho hàng nhị thừa, có thể hóa độ được một vài hạng người đủ duyên, không thể hóa độ tất cả chúng sanh.
– Hạng thứ năm là thầy thuốc tuy có thể trị được tất cả các bệnh nhưng không có phương thuật khéo léo để dứt sự đau đớn. Luận Đại trí độ gọi đây là hóa độ vụng về, tức là thí dụ cho hàng Bồ Tát tu sáu ba-la-mật dùng tâm từ bi rộng độ chúng sanh.
– Hạng thứ sáu là thầy thuốc trị bệnh có phương thuật khéo léo, có thể trị dứt bệnh không còn đau đớn khổ não, nhưng không thể trị những bệnh nan y phải chết. Đây là thí dụ cho hàng Bồ Tát Thông giáo, thể chứng được pháp, có thể hóa độ cho hàng phàm phu luân chuyển trong ba cõi, [184] nhưng không thể hóa độ hàng Nhị thừa đã mất hạt giống Phật. [185]
– Hạng thứ bảy là thầy thuốc tuy có khả năng trị được những bệnh khó lành, nhưng không thể cùng lúc trị được tất cả các bệnh. Đây là thí dụ cho hàng Bồ Tát Biệt giáo.
– Hạng thứ tám là thầy thuốc có khả năng cùng lúc trị được tất cả các bệnh, nhưng không thể giúp cho bệnh nhân bình phục hoàn toàn như trước. Đây là thí dụ cho hàng Bồ Tát Viên giáo từ sơ tâm lên đến Thập tín.
– Hạng thứ chín là thầy thuốc có khả năng cùng lúc trị được tất cả bệnh, cũng có thể giúp cho bệnh nhân bình phục như trước, nhưng không thể làm cho khỏe mạnh hơn trước. Đây là thí dụ cho hàng Bồ Tát Viên giáo đạt đến tâm sau cùng. [186]
– Hạng thứ mười là thầy thuốc có khả năng cùng lúc trị được tất cả các bệnh đều bình phục, lại khiến cho bệnh nhân được khỏe mạnh hơn trước kia. Đây tức là thí dụ cho đức Như Lai.
Ba hạng thầy thuốc đầu tiên tức là người “thầy thuốc trước đây” (cựu y) được nói trong kinh Đại Bát Niết-bàn, là người thầy thuốc chỉ dùng sữa làm thuốc. [187] Bảy hạng thầy thuốc sau tức là “thầy thuốc đến sau” (khách y). Nói không có phương thuật tức là chỉ dùng các pháp vô thường, khổ v.v. như dùng các vị cay, đắng, chua… làm thuốc. Có phương thuật tức là thầy thuốc đến sau cuối cùng quay lại cho dùng sữa, đó mới là vị lương y sau cùng giỏi nhất.
Nói “lương y” tức là thầy thuốc giỏi. Bên trong có đủ tam đạt ngũ nhãn, [188] tức là 8 phương thuật khéo biết được tính chất các loại thuốc; giỏi việc chữa trị, tức là bên ngoài rõ biết nguyên nhân của bệnh nên có thể dùng thuốc.
“Trí tuệ sáng suốt” tức là nói 2 trí quyền và thật, rõ biết sâu xa tục đế và chân đế. “Biết rõ” tức là dùng 5 loại mắt quán sát rõ biết căn cơ nhanh nhạy hay chậm lụt, không hề sai lệch; “các phương thuốc” là nói 12 thể loại kinh điển văn từ nghĩa lý hết sức sâu xa, như các phương thuốc được tinh luyện kỹ lưỡng. Nương theo bốn pháp tất đàn để trị bệnh của chúng sanh, cũng như thầy thuốc “giỏi điều trị đủ các bệnh”.
Kinh Vô lượng nghĩa gọi [đức Phật] là Y vương, Đại Y vương. Vì là bậc đại y nên gọi là lương y. “Vị ấy có nhiều con”, nói “hoặc mười” là hàng Thanh văn, [189] “hoặc hai mươi” là nói hàng Duyên giác, [190] “thậm chí đến hàng trăm” là nói hàng Bồ Tát.
Nói Bồ Tát là con Phật có 3 ý nghĩa.
Ý nghĩa thứ nhất là hết thảy chúng sanh đều có đủ 3 loại tánh đức của tánh Phật, [191] tức là Phật tử. Do vậy kinh văn nói: “Nay khắp ba cõi này, đều thuộc về Như Lai; nên chúng sanh trong đó, đều là con Như Lai.”
Kinh văn ở đây nói “có nhiều con”, dựa theo 10 pháp tâm sở [192] tức là có 100 con. Tâm vương là chánh nhân Phật tánh, trí tuệ là liễu nhân tánh, ngoài ra 9 [tâm sở khác] nương giúp lẫn nhau sinh khởi nên là duyên nhân tánh. Một tâm sở khởi sinh thì 9 tâm sở khác giúp vào, như vậy thành số 100.
Tánh đức của Phật tử chẳng phải thiện, chẳng phải ác, nhưng thông cả thiện ác. Vì thế, 10 tâm sở này cùng với tâm vương gọi là các thông tâm sở. Do vậy, ba loại nhân của tánh đức đều thuộc về chánh nhân Phật tử.
Ý nghĩa thứ hai là vì thuở xưa đã kết duyên nên là con Phật, như 16 vị vương tử khi giảng lại kinh Pháp hoa, người nghe pháp cũng khởi sinh được chút hiểu biết, tức thành tánh liễu nhân; thuở xưa có tu hành đôi chút, là tánh duy-ên nhân; tánh chánh nhân là căn bản. Cả 3 nhân ấy đều thuộc duyên nhân, nhờ đó ngày nay mới phát sinh được sự hiểu biết một lẽ chân thật. Cho nên lấy sự kết duy-ên ngày xưa mà gọi là duyên nhân Phật tử, tức là 30 người con ở trong căn nhà đang cháy. Ở đây dựa theo 10 tín tâm, [193] khi một tín tâm sinh khởi tức là có đầy đủ 9 tâm kia, cho nên 10 tín tâm trở thành 100 tín tâm. Do vậy được kết duyên làm Phật tử.
Ý nghĩa thứ ba, do liễu nhân nên là Phật tử, tức là [những người] ngày nay được nghe kinh Pháp hoa, trụ yên trong trí tuệ chân thật, biết chắc mình sẽ được làm Phật, thấu hiểu rõ ràng về pháp Thanh văn, biết được kinh Pháp hoa này là vua trong các kinh; [những người ấy là] từ miệng Phật sanh ra, được một phần Phật pháp, cho nên gọi là Phật tử chân thật.
Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch bằng AI do Inti biên soạn: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.