Inti DharmaInti Dharma
← Kinh điển
Đại Thừa — Tạng Bắc Truyền · Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Việt dịch)

Di Sa Tắc Bộ Hoà Hề Ngũ Phần Luật quyển 25

Tên chữ Hán:彌沙塞部和醯五分律

📖8,332 từ · ~33 phút đọc
2

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản →
Bản dịch đầy đủ (Tiếng Việt)

LUẬT DI SA TẮC BỘ HÒA HÊ NGŨ PHẦN - QUYỂN 25

QUYỂN 25

Phần 5: NÓI VE CÁC PHÁP: PHÁ TĂNG, NGỌA cụ, TẠP

PHÁP, OAI NGHI, NGĂN BÔ TÁT, BIỆT TRÚ v.v...
Đoạn 1: NÓI VE PHÁP PHÁ TĂNG
Bấy giờ, lần thứ ba Điều-đạt suy nghĩ: Nay ta phá Tăng của Sa-
môn Cù-đàm, thì tên của ta được vang lừng, mọi người sẽ nói: Sa-môn
Cù-đàm có Đại thần lực mà Điều-đạt có thể phá được Tăng của ông
ta. Nghĩ như vậy rồi, Điều-đạt bèn nói với quyến thuộc: Ât-tỳ-phân-na,
Bà-tẩu-ban-na, Lô-hê-già, Lô-đế-xá-cù-gia, Ly-khiên-trà-đà-bà, Tam-
văn-đạt-đa... Trong số người đó, Tam-văn-đạt-đa-là bậc đại thông minh,
nói với Điều-đạt: Sa-môn Cù-đàm có đại oai đức, Tăng của ông ta làm
sao có thể bị phá được? Điều-đạt nói: Ta sẽ thuyết minh năm pháp giữa
Tăng, cần nên suốt đời thọ trì:
1. Không ăn muối.
2. Không ăn tô và sữa.
3. Không ăn cá thịt, nếu ăn thì pháp thiện không sinh.
4. Khất thực, nếu nhận sự mời ăn của người thì pháp thiện không
sinh.
5. Tám tháng của mùa Xuân và mùa hạ nên ngồi nơi đất trống,
bốn tháng mùa Đông thì ở trong am tranh, nếu nhận phòng xá của người
thì pháp thiện không sinh.
Dân chúng trong hai nước Ma-kiệt và Ương-già đều tin ưa khổ
hạnh. Chúng ta thực hành năm pháp này, số người theo ta chắc chắn
sẽ nhiều, đủ để phá Tăng. Tam-văn-đạt-đa nghe rồi cùng tán đồng với
Điều-đạt: Có thể chia rẽ được khối chúng Tăng của Đức Phật, tiếng tăm
sẽ được vang dội. Tam-văn-đạt-đa cũng theo luôn. Khi ấy, Điều-đạt có
người đệ tử Ưu-bà-tắc, tên là Hòa-tu-đạt, thường cúng dường Điều-đạt,
Điều-đạt nhiều lần thuyết phục nên ông ta cũng tán đồng. Hôm ấy vào
ngày mười lăm Bố-tát, giữa chúng Tăng, Điều-đạt nêu ra năm việc
trên, chính mình hành trù, xướng: Vị nào đồng ý năm điều ấy thì rút thẻ
này. Lúc này, năm trăm Tỳ-kheo đều rút thẻ, chỉ trừ Tôn giả A-nan và
một Tỳ-kheo Tu-đà-hoàn không rút trù. Hôm đó, Tôn giả Xá-lợi-phất,
Mục-liên, các đại La hán đều không có mặt trong kỳ Bố-tát ấy. Điều-
đạt hành trù xong, liền cùng năm trăm Tỳ-kheo hòa hợp Bố-tát. Tôn giả
A-nan và một Tỳ-kheo Tu-đà-hoàn không rút thẻ, liền bỏ đi ra, đến chỗ
Đức Thế Tôn, đầu mặt kính lễ sát chân, đem vấn đề ấy bạch Phật. Đức
Phật nhân việc đó nói kệ:
Người thiện, dễ hội nhau
Người ác, thiện khó hội
Người ác, dễ hội nhau
Người thiện, ác khó hội.
Bấy giờ, Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên nghe sự việc ấy, bèn đến
chỗ Đức Phật. Từ xa, Đức Phật thấy, Ngài bỗng vui khen ngợi:

– Thiện lai! Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên! Hai thầy có thể đến trong

chúng của Điều-đạt dẫn năm trăm Tỳ-kheo trở về.Hai vị thọ giáo, kính lễ sát chân Phật rồi đi.Khi ấy, Tỳ-kheo Tu-đà-hoàn đi theo Tôn giả A-nan, thấy Xá-lợi-phất, Mục-liên ra đi, bèn bùi ngùi khóc lớn.Đức Phật hỏi Tỳ-kheo ấy:

– Tại sao khóc như vậy?

Tỳ -kheo thưa:

– Xá-lợi-phất, Mục-liên là đệ tử bậc nhất của Đức Phật, nay cũng

đến với chúng Điều-đạt, con sợ hai Tôn giả học theo pháp của Điều-đạt, chính vì thế mà con khóc.Đức Phật nói với Tỳ-kheo ấy:

– Thôi đi, ông đừng khóc nữa! Xá-lợi-phất, Mục-liên, không bao

lâu họ sẽ dẫn năm trăm Tỳ-kheo trở về.
Khi Xá-lợi-phất, Mục-liên đi thẳng vào chỗ chúng của Điều-đạt,
thì Tam-văn-đạt-đa từ xa trông thấy liền chạy vào nói với Điều-đạt:
Xá-lợi-phất, Mục-liên là hàng đệ tử bậc nhất của Sa-môn Cù-đàm, nay
đến đây, nhằm phá ý định của các Tỳ-kheo, không nên nói chuyện,
cũng đừng nên mời ngồi. Điều-đạt chủ quan với năm pháp làm đường
hướng, không chấp nhuận lời của Tam Văn cũng không bận tâm đến
vấn đề. Khi Xá-lợi-phất và Mục-liên đến nơi, Điều-đạt bèn nói: Thiện
lai Xá-lợi-phất, Mục-liên có thể đến ngồi nơi chỗ này, rồi nói tiếp: Là
người có trí, điều gì trước chưa nghe, nay nghe để nhận lấy mà hành
trì. Hai vị, trước là hàng đệ tử bậc nhất của Sa-môn Cù-đàm, nay lại
đến đây làm đệ tử bậc nhất của tôi, âu cũng là điều tốt! Xá-lợi-phất và
Mục-liên im lặng không trả lời, Điều-đạt tưởng đó là chấp thuận lời nói
của mình. Điều-đạt liền phỏng theo nếp sống của Phật bảo Xá-lợi-phất
và Mục-liên: Quý thầy có thể vì chúng hội nói pháp, tôi bị đau lưng,
nằm nghỉ một chút. Điều-đạt xếp Tăng-già-lê thành bốn lớp để gối,
nằm nghiêng phía bên phải, hai chân chồng lên nhau, nhưng không hệ
niệm tiền nên chỉ trong giây lát ngủ muồi, lăn qua phía bên trái, xoải
người lên đất, ngáy khò khò... Khi ấy, Tôn giả Mục-liên hiện các thần
lực theo chuyên môn của mình còn Tôn giả Xá-lợi-phất nói các pháp
mầu, đoạn trước, đoạn sau cùng, chặng giữa đều thiện, nghĩa thiện, vị
thiện, với tướng phạm. Năm trăm Tỳ-kheo nghe rồi, liền nơi tòa ngồi xa
trần, lìa cấu, đối với các pháp, đặng mắt trong sạch, thấy pháp đắc quả
rồi, bèn nói với nhau: Chúng ta có thể đứng dậy trở về chỗ Đức Phật.
Hai Tôn giả Xá-lợi-phất, Mục-liên liền từ chỗ ngồi đứng dậy, cùng năm
trăm Tỳ-kheo trở về chỗ Đức Phật.
Lúc đó, Tam-văn-đạt-đa dùng ngón chân đụng nhẹ vào Điều-đạt
và mắng: Tôi tớ dòng họ Thích hãy thức dậy! Xá-lợi-phất và Mục-liên
dùng những phương tiện dẫn các Tỳ-kheo đi rồi! Điều-đạt thức dậy kinh
hãi mắng: Đích thị là Tỳ-kheo ác dục, mới đó có thiện ý, tại sao bỗng
lại sinh tâm ác dùng phương tiện dẫn hết Tỳ-kheo của ta đi! Vì quá giận
dữ và SỢ sệt nên máu nóng từ lỗ mũi trào ra, ngay nơi thân còn sống mà
đọa vào địa ngục.
Xá-lợi-phất và Mục-liên về đến chỗ Đức Phật rồi, đầu mặt đảnh
lễ sát chân, ngồi lui qua một bên.
Tôn giả Mục-liên bạch Phật:

– Con muốn khiến năm trăm Tỳ-kheo này thọ lại giới Cụ túc.

Đức Phật dạy:

– Khỏi phải thọ lại. Tại sao? Năm trăm Tỳ-kheo này ngu si nên

dùng pháp tưởng rút thăm, nay chỉ cho phép Tăng khiến họ tác pháp hốiquá Thâu-lan-giá.Tôn giả Mục-liên bạch Phật:

– Kỳ lạ thay! Bạch Đức Thế Tôn! Điều-đạt bắt chước Phật đọa

vào xứ khổ như thế.
Đức Phật dạy:

– Không phải chỉ bây giờ, Điều-đạt bắt chước Ta mà đọa vào địa

ngục, xưa kia cũng đã từng bắt chước Ta, phải đọa vào xứ khổ.
Tôn giả Mục-liên lại thưa hỏi Phật:

– Chuyện ấy như thế nào?

Đức Phật dạy:

– Thuở đời quá khứ, nơi chỗ rộng vắng có một ao nước, một con

voi lớn vào trong ao lấy ngó sen rửa sạch rồi ăn, sức khỏe được dồi dào.Lại có một con voi cũng bắt chước vào ao lấy ngó sen, không rửa mà ăn,đưa đến trọng bệnh rồi chết. Nhân sự việc này Đức Phật liền nói kệ:Đừng bắt chước voi chúaBắt chước không thể đượcBắt chước sai voi chúaNên ăn bùn rồi chết.Đức Phật bảo Mục-liên:

– Con voi lớn chính là thân Ta, còn con kia là Điều-đạt. Xưa bắt

chước Ta nên mới bỏ mạng, nay bắt chước Ta nên phải nhận lấy cáikhổ như vậy.Tôn giả Mục-liên bạch Phật:

– Kỳ lạ thay! Bạch Đức Thế Tôn: Điều-đạt theo Phật nghe pháp,

tụng tám mươi bốn ngàn pháp tạng, đặng năm thần thông, tại sao lạiphản, kiêu mạn đối với Đức Thế Tôn?Đức Phật dạy:

– Không những đời này mà xưa kia Điều-đạt cũng từng theo Ta

nghe pháp nhưng khinh mạn đối với Ta.
Tôn giả Mục-liên bạch Phật:

– Chuyện ấy như thế nào?

Đức Phật nói:

– Thuở đời quá khứ, có một Tượng sư (người nài dạy voi) rất cao

tay nghề điều phục voi, được nhà Vua đối xử rất trọng hậu. Khi ấy, có
một người đến chỗ vị Tượng sư, thưa: Dạy cho con nghề điều phục voi,
con xin làm đệ tử. Tượng sư liền dạy, không giấu một thuật nào. Người
kia biết được rồi, bèn sinh tâm đô" kỵ, đến chỗ nhà Vua tâu: Sự hiểu biết
của người kia đâu hơn gì tôi, tại sao cung cấp như thế mà không nghĩ gì
đến tôi? Nhà Vua kêu vị Tượng sư hỏi: Ông cùng đệ tử ông, ai hơn ai?
Tượng sư đáp: Xin nhà Vua cho phép lui về, sau bảy ngày sẽ thực hiện
pháp điều tượng. Nhà Vua chấp thuận. Tượng sư trong bảy ngày lại điều
khiển các con voi: Bảo tới thì đi thụt lùi, bảo lùi thì đi tới, bảo ngồi thì
bắt nó lại đứng, bảo đứng thì bắt nó lại ngồi, điều khiển các con voi với
những động tác ngược lại như vậy. Đúng bảy ngày, đối trước nhà Vua,
Tượng sư cùng đệ tử biểu diễn các thuật điều khiển voi. Ban đầu cả hai
người chưa ai có cái gì khác lạ, nhà Vua hỏi người đệ tử: Nhà ngươi có
thuật nào khác lạ hay không? Người đệ tử đáp: Tâu bệ hạ, không. Nhà
Vua lại hỏi người thầy của ông ta: Ngươi có phương pháp nào khác lạ
nữa hay không? Tượng sư đáp: Tâu bệ hạ, có. Nhà Vua bảo biểu diễn.
Tượng sư điều voi làm ngược lại những điều sai bảo, voi răm rắp làm
theo. Khi ấy, nhà Vua mới biết người đệ tử của Tượng sư trước đây đã
nói hư dối. Nhà Vua nổi giận, nói: Tại sao ngươi dám khi dối đối với
ta? Vị Tượng sư tâu với Vua: Người này là học trò của tôi, trước đây tôi
dạy cho nó hết lòng, nó chưa biết hết, thoáng chốc lại đã khinh dối, nay
xin được nói ví dụ, nguyện nhà Vua cho phép dẫn chuyện: Xưa kia có
một người, tháng cuối mùa Xuân mang đôi giày một lớp, đất nóng nên
giày bị co lại, giày siết chặt nên chân bị thương... Bổn ý là muốn bảo hộ
đôi chân thì phản lại làm cho đôi chân bị tổn thương. Tôi cũng như vậy,
trước kia dạy đệ tử, hy vọng là có ích, nhưng lại bị hại. Bấy giờ, Đức
Thế Tôn nói kệ:
Như người mang giày da
Dụng ý bảo vệ chân
Khi nắng nóng bất ngờ
Giày rút chân bị thương.
Thế gian kẻ ngu ác
Không nghĩ mình mang ơn
ơn thầy dạy kỹ thuật
Lại phản, vu khống thầy.
Đức Phật dạy:

– Tượng sư chính là tiền thân của Ta, người đệ tử là Điều-đạt, đời

nào cùng theo Ta thọ học mà trở lại khinh mạn đối với Ta.
Tôn giả Mục-liên bạch Phật:

– Bạch Thế tôn, thật hy hữu! Tôn giả Xá-lợi-phất một lần thuyết

pháp mà phá cả chúng của Điều-đạt.
Đức Phật dạy:

– Không những đời này, mà xưa kia Xá-lợi-phất cũng đã từng nói

pháp để phá chúng của Điều-đạt.
Mục-liên thưa hỏi:

– Chuyện ấy như thế nào?

Đức Phật nói:

– Thuở đời quá khứ, có một Xạ sư tên là Câu-hòa-ly. Có người

theo học pháp bắn, sáu năm dạy nên cầm cây cung như thế này, vót
cái tên như thế này, mà chưa dạy cách bắn. Sau đó, người đệ tử nghĩ:
Trong sáu năm ta học cầm cây cung, vót cái tên mà chưa bắn lần nào,
nay ta thử bắn xem sao. Người đệ tử nhắm bắn vào một cây đại thọ tên
xuyên thủng qua khỏi cây rồi rơi vào lòng đất. Người thầy nghe được
hỏi: Ông đã bắn một mũi tên phải không? Đệ tử đáp: Vâng, con đã
bắn. Người thầy lại hỏi: Ông bắn vào chỗ nào? Người học trò chỉ vào
cây đại thọ mà mình đã bắn. Người thầy nói: Ông đã thành xạ thủ, tôi
là hạng nhất ông là hạng hai. Người thầy lại nói: Nơi địa điểm đó có
năm trăm tên giặc cướp chặn đường, không ai dám đi qua nơi ấy. Ông
có thể đến tảo thanh đám cướp nơi trục lộ đó, sẽ có công rất lổn. Ông
thầy liền giao cho một chiếc xe ngựa, một mỹ nữ, cùng với cái bát bằng
vàng và năm trăm mũi tên. Bấy giờ, người đệ tử cưỡi xe, chở người nữ,
cầm cung như ý, mang năm trăm mũi tên vâng lệnh ra đi. Chính lúc ấy,
đám giặc đường đang cùng phân chia các vật, sai người canh phòng nơi
hiểm yếu. Người canh phòng từ xa thấy, vội vã chạy đến tâu với tướng
soái của giặc. Tướng soái của giặc nói với đồng bọn: Chúng ta làm giặc,
chưa từng thấy có một người, một mình dẫn một người đàn bà đi trên
trục lộ này. Người này chắc là kẻ dũng kiện không sợ bất cứ ai, nên để
họ đi qua, đừng gây nên phiền toái. Xạ thủ kia bèn dừng chân một nơi,
khiến người đàn bà bưng bát bằng vàng đến chỗ đám giặc, xưng tên
mình để khất thực. Người đàn bà ấy làm cho đám giặc rất thích, chúng
lại ham cái bát bằng vàng, liền cùng nhau nghị bàn: Nữ sắc như thế đó,
bát bằng vàng như thế đó, tại sao chúng ta lại cho phép họ đi. Tướng
soái của giặc lại nói: Người kia chắc tự lượng sức của mình không sợ
nên mới làm việc như vậy, cần phải nhẫn nại, chận sự nóng giận, đừng
nên chiêu lấy tai họa. Đồng bọn nghe rồi bèn cho đầy bát với thức ăn
ngon. Người đàn bà mang thức ăn trở lại, xạ thủ kia lại bảo đến nói:
Các ông chia vật, cho tôi một phần với. Đám giặc cả giận: Con mẹ này
là người gì lại dựa vào người chồng kia dám khinh cả bọn mình. Chúng
ta phải giết ngay, đừng ôm lấy cái nhục này. Tướng soái của giặc vẫn
nói như trước. Đám giặc chia cho một phần rồi quay trở lại. Xạ thủ kia
lại bảo đến nói với đám giặc: Có thể cùng tôi chiến đấu chứ không thể
để yên như thế này được. Lũ giặc lại nói: Người này thừa thắng xông
lên, khinh miệt ta quá đáng, không thể nhẫn chịu được. Tướng soái của
giặc khuyên dụ nhưng không được. Cơn giận của đám giặc nổi lên quên
lường được sự nguy hại cùng nhau dùng sức tiến đánh hai con người kia.
Người xạ thủ liền bắn một phát, giết ngay một người, bốn trăm chín
mươi chín phát, giết chết bốn trăm chín mươi chín tên, còn một phát để
hầu tên tướng soái, song tên giặc lẫn tránh theo người phụ nữ nên không
bắn được. Tay xạ thủ bèn khiến người đàn bà lõa hình đứng trước tên
giặc, tên tướng soái tâm loạn, nhân đó bị một phát, chết luôn. Cám cảnh
này, người đàn bà kia liền nói kệ:
Tuy có cung tên bén
Chưa từng bắn một phát
Tử thương đã đầy dẫy
Tại sao không hối hận?
Người xạ thủ cũng dùng kệ trả lời:
Ta có cung kỳ diệu
Tâm hợp nên tay cung
Giết một sinh vui liền
Tại sao phải ăn năn.
Ta vốn đi đường này
Vì người trừ oán hại
Không hề tiếc thân mạng
Để thành người dũng kiện.
Đức Phật dạy:

– Người thợ bắn kia là tiền thân của Ta, người đệ tử của người

thợ bắn là Xá-lợi-phất, năm trăm tên giặc là năm trăm Tỳ-kheo hiện
nay, tướng soái của giặc chính là Điều-đạt. Xưa kia Xá-lợi-phất dùng
những mũi tên phá lũ giặc, nay một thời thuyết pháp phá chúng của
Điều-đạt.
Tôn giả Mục-liên lại bạch Phật:

– Bạch Thế tôn, lạ lùng thay! Điều-đạt mắng: Tỳ-kheo ác dục,

liền khi ấy thân còn sông mà đọa vào địa ngục.
Đức Phật dạy:

– Không những bây giờ mà xưa kia Điều-đạt cũng đã từng dùng ác

khẩu, hiện còn sống mà thọ đại khổ.
Mục-liên lại hỏi:

– Chuyện ấy như thế nào?

Đức Phật dạy:

– Thuở đời quá khứ, bên bờ ao của nước A-lan-nhã, có hai con

nhạn cùng một con rùa kết làm bạn thân, sau một thời gian, nước trongao bị khô cạn, hai con nhạn bàn bạc với nhau: Nay ao nước này bị khôcạn, bạn thân của ta chắc bị đại khổ. Nghĩ rồi nói với rùa: Nước trongao bị cạn, bạn không có cách nào sống được, bạn có thể ngậm giữa cáicây, chúng tôi mỗi đứa ngậm một đầu, đem bạn đến chỗ nhiều nước,nhưng với điều là khi ngậm cái cây, bạn thận trọng đừng nên nói. Đồngý, chúng liền thực hiện, nhưng khi bay ngang qua một xóm nọ, đám trẻnít thấy vậy đều la ầm lên: Nhạn ngậm rùa bay đi! Nhạn ngậm rùa bayđi!! Con rùa liền nổi giận buông miệng nói: Việc này dính dự gì đếnchúng bây? Miệng rùa tuột ra khỏi cây, rùa rớt xuống đất chết ngay.Bấy giờ, Đức Thế Tôn nhân việc này nói kệ:Đời sông kẻ sĩBúa ở trong miệngSở dĩ chém mìnhDo nơi lời ác.Nên chê lại khenNên khen lại chêTự nhận lấy họaTrọn không có vui.Nếu giành nhau tài lợiÁc ấy chưa phải lớnTâm ác hướng về PhậtÁc đây mới là to.A-phù có trăm ngànNỉ-la, ba mươi sáuÁc ý với người hiềnPhải đọa địa ngục ngay.Đức Phật dạy:

– Con rùa kia chính là Điều-đạt, xưa kia do nói lời giận mà chết

đau khổ, nay lại giận mắng, đọa vào đại địa ngục.
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:

– Nếu Ta thấy nơi Điều-đạt có một pháp thiện bằng sợi lông thì

hoàn toàn không ghi nhận sự đọa vào đại địa ngục thọ một kiếp khổ của
Điều-đạt. Ví như một người bị chìm dưới hầm phân, nếu có người muốn
cứu họ, mà không thấy nơi thân họ có một chỗ nào sạch, bằng một sợi
lông để có thể cầm được. Ta quán sát nơi Điều-đạt cũng lại như vậy.
Đức Phật lại bảo các Tỳ-kheo:

– Ta không thấy pháp nào phá hoại tâm đạo vô thượng của con

người bằng tiếng khen và lợi dưỡng. Điều-đạt sở dĩ phá Tăng là do lợi
dưỡng. Điều-đạt gây tạo tám phi pháp cho nên phá Tăng: lợi, không
lợi, khen, không khen, kính, không kính, ưa ác và nhận thức làm theo
điều ác.
Tôn giả Ưu-ba-ly thưa hỏi Phật:

– Thế nào được gọi là phá Tăng?

Đức Phật dạy:

– CÓ bốn việc gọi là phá Tăng: Nói năm pháp, tự hành trù, rút

thăm, trong nội giới làm Tăng sự riêng.
Tôn giả ưu-ba-ly lại hỏi:

– Thế nào gọi là Tăng không hòa hợp mà chẳng phải phá?

Đức Phật dạy:

– Nếu Vua trợ lực phá Tăng, khiến cho Tăng không hòa hợp, thì

chẳng phải phá. Nếu Đại thần, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, Tỳ-kheo-ni, Thức-
xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, một Tỳ-kheo cho đến bảy Tỳ-kheo trợ lực
phá Tăng cũng như vậy. Nếu không hỏi Thượng tọa mà hành Tăng sự,
tức là không hòa hợp mà cũng chẳng phải phá Tăng, nếu không cùng
đồng thọ thực, trong khi ăn, khác chỗ ngồi, tranh cãi mạ lị cũng như vậy.
Chủ yếu phải là ở trong một giới, tám Tỳ-kheo, chia làm hai bộ, làm
Tăng sự riêng thì mới gọi là Tăng bị phá.
Tôn giả Ưu-ba-ly lại hỏi:

– Trong số đó, ai là người phá Tăng?

Đức Phật dạy:

– Người nào chủ động.

Tôn giả Ưu-ba-ly lại hỏi:

– Ai là người phải đọa vào đại địa ngục một kiếp mà không thể

cứu?
Đức Phật dạy:

– Người nào đóng vai chủ động.

Tôn giả Ưu-ba-ly lại hỏi:

– Hễ người phá Tăng đều bị đọa vào đại địa ngục thọ khổ một

kiếp phải không?
Đức Phật dạy:

– Không nhất thiết đều bị đọa vào đại địa ngục một kiếp để thọ

khổ. Có tám người phá Tăng thọ một kiếp khổ nơi đại địa ngục: Hoặc
pháp, pháp tưởng mà nói là phi pháp; hoặc phi pháp, phi pháp tưởng mà
nói là pháp; hoặc pháp, phi pháp tưởng mà nói là pháp; hoặc phi pháp,
pháp tưởng mà nói là phi pháp; hoặc pháp, phi pháp, pháp tưởng mà nói
là pháp; hoặc pháp, phi pháp nghi mà nói là pháp; hoặc pháp phi pháp
nghi mà nói là phi pháp. Có sáu người phá Tăng không bị đọa vào đại
địa ngục một kiếp để thọ khổ: Hoặc pháp, pháp tưởng mà nói là pháp;
hoặc phi pháp, phi pháp tưởng mà nói là phi pháp; hoặc pháp, phi pháp
tưởng mà nói là phi pháp; hoặc phi pháp, pháp tưởng mà nói là pháp;
hoặc pháp, phi pháp, phi pháp tưởng mà nói là phi pháp; hoặc pháp, phi
pháp, pháp tưởng mà nói là pháp.
Đoạn 2: NÓI yỂ PHÁP NGỌA cụ
Đức Phật ở tại thành Vương-xá. Bấy giờ, Tỳ-kheo Át-bệ hầu Phật,
sau đó đắp y bưng bát vào thành khất thực, oai nghi rõ nét, ngó xuống
đất mà đi. Có một Trưởng giả thấy, khởi ý nghĩ: Ta chưa từng gặp một
người nào như thế này, bèn đến hỏi:
Thầy là ai? Thầy là đệ tử ai? Xuất gia với ai? Phụng hành đạo
pháp của vị nào?
Khi ấy, Đức Phật mới thành đạo, người đời đều gọi Ngài là Đại
Sa-môn. Vị Tỳ-kheo trả lời:
Tôi tên Át-bệ, Đại Sa-môn là thầy của tôi, tôi xuất gia với Ngài,
phụng hành đạo pháp của Ngài.
Ông Trưởng giả nghe rồi, khen:

– Chưa từng có người nào như vầy, tự có oai nghi như vầy, mà theo

Đại Sa-môn xuất gia, phụng hành đạo pháp của Người.
Ông Trưởng giả lại hỏi:

– Hiện nay thầy ở đâu?

Tỳ-kheo đáp:

– Tôi ở nơi A-lan-nhã, bên cây Sơn Nham, chỗ đất trống gò mả là

chỗ của tôi.
Ông Trưởng giả nghe rồi lại càng thêm hoan hỷ, khen:

– Oai nghi rõ nét hòa nhã, vị này chắc chắn là hơn hết, mà lại ở

chỗ vắng vẻ như vậy!
Ông Trưởng giả lại hỏi:

  • Lấy thứ gì trải ngồi?
  • Tôi dùng cỏ Thi, cỏ Câu-thi, cỏ Bà-bà, cỏ Văn-nhu, cho đến lá

cây... kể cả cát đất, tôi đều có thể trải ngồi.
Ông Trưởng giả nghe rồi lại thêm vui mừng cung kính, khen:

– Lại có thể sống với nếp sống thiểu dục như vậy!

Ông Trưởng giả lại hỏi:

– Nếu tôi vì Đại đức làm cái phòng thì có thể thọ dụng hay

không?
Vị Tỳ-kheo trả lời:

– Đức Thế Tôn chưa cho phép chúng tôi thọ dụng phòng xá.

Ông Trưởng giả thưa:

– Đại đức có thể đem vấn đề này bạch Phật, tôi cũng sẽ đích thân

đến bạch.
Át-bệ im lặng nhận lời đề nghị. Sau khi thọ trai xong, trở lại chỗ
Đức Phật, đầu mặt kính lễ sát chân, rồi đem vấn đề bạch Phật. Nhân
việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, khen người thiểu dục, tri túc,
khen giới, khen người trì giới rồi bảo các Tỳ-kheo:

– Từ nay cho các Tỳ-kheo nhận các phòng xá của người cúng.

Ông Trưởng giả kia, sau đó đến chỗ Đức Phật, từ xa thấy dung
mạo của Đức Thế Tôn thù thắng đặc biệt, giông như núi vàng, trong
lòng đầy ắp sự vui mừng, cung kính, đến trước Đức Phật kính lễ sát
chân, rồi lui qua một bên. Đức Phật vì ông nói các pháp diệu... cho đến
khổ, tập, tận, đạo. Ngay từ chỗ ngồi, ông đặng mắt pháp trong sạch,
thấy pháp đắc quả, thọ Tam quy và Ngũ giới, rồi bạch Phật:
Bạch Đức Thế Tôn! Con muốn cất phòng xá cúng dường cho các
Tỳ-kheo, xin Ngài chấp thuận.
Đức Phật đồng ý bằng sự im lặng.
Ông Trưởng giả biết Đức Phật chấp thuận rồi, liền từ chỗ ngồi
đứng dậy, đến trước kính lễ sát chân Phật, đi quanh bên phải ba vòng
rồi cáo lui.
Liền trong ngày ấy, ông cho cất sáu mươi phòng xá, lại cúng
dường ẩm thực cho Phật và Tăng. Toàn gia quyến của ông đều cùng
nhau lo liệu cúng dường những mỹ vị quý giá nhất trong đời không thiếu
một thứ gì. Người bửa củi, người lấy nước, người làm thức ăn, người
quét dọn, người rưới nước hoa trên đất, kẻ trải chỗ ngồi, người rải hoa,
kẻ trải tòa cao.
Bấy giờ, trong thành Xá-vệ có Trưởng giả tên là Tu-đạt-đa, xuất
ba mươi vạn kim tiền cho người nơi thành Vương-xá vay, hằng năm đến
thu về. Ông Trưởng giả thành Vương-xá thường ra một do-tuần nghinh
đón, đãi đại tiệc. Đến lần này không có Trưởng giả ra tiếp, Tu-đạt-đa
lại có suy nghĩ: Ông ta, hoặc bị nạn của nhà Vua hay nạn nước, lửa, giặc
cướp, nhân, phi nhân nên không ra nghinh đón? Khi đến nơi, Tu-đạt-đa
tới nhà ông Trưởng giả trước, thấy bày biện trân trọng các thức ăn mỹ
vị, hỏi:

– Ông làm đám cưới, mở hội hay rước nhà Vua?

Ông Trưởng giả trả lời:

– Chẳng phải làm đám cưới, mở hội, cũng chẳng phải rước nhà

Lại hỏi:

– Không vậy, tại sao sửa soạn thức ăn uống mỹ diệu thế này?

Ông Trưởng giả nói:

– Đức Phật ra đời có đại oai đức, các đệ tử của Ngài cũng đều như

Vua.vậy. Nay tôi thỉnh quý Ngài để cúng dường, cho nên không ra để cùngnghinh đón ông được.Tu-đạt-đa nói:

– Tôi cũng thường nghe nói Phật ra đời, hiệu là Như Lai ứng

Cúng Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải,
Vô Thượng Sĩ, Điều Ngư Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.
Người mà nay ông thỉnh là Phật sao? Hay không phải là Phật?
Trưởng giả đáp:

– Chính là Phật.

Lại hỏi:

– Hiện nay Ngài ở đâu?

Ông Trưởng giả kia liền để trống vai bên phải, đầu gối bên phải
chấm đất, tay bên phải chỉ về chỗ Đức Phật ở, nói:

– Phật ở nơi đó.

Tu-đạt-đa nghe rồi, vui mừng phấn khởi, để trống vai bên phải
vọng hướng về chỗ Đức Phật ở kính lễ Ba lần. Đêm đến, ông ta niệm
danh hiệu: Nam mô Phật. Dù nhọc mệt ông vẫn ngủ được. Người thiện
tri thức đời trước của ông ta là vị thần ủng hộ. Vị thần nghĩ: Ta sẽ khiến
ông Trưởng giả này không phải đợi qua một đêm, mới được thấy Đức
Phật. Vị thần liền khiến cho trong đêm sáng rực lên, Tu-đạt-đa tưởng là
trời đã sáng, liền thức dậy đến cửa thành, cửa thành tự mở, ra khỏi cửa
tự đóng, bỗng nhiên trời tối lại. Tu-đạt-đa hoảng sợ nghĩ và nói: Vừa rồi
ta đâu phải là cuồng! Vị thần biết ý niệm đó, liền nói kệ:
Nay là lúc đến Phật
Mỗi một bước chân đi
Lợi hơn thí ngàn vàng
Voi ngựa không sánh kịp.
Vị thần lại nói: Đừng hốt hoảng. Đừng sợ hãi, cứ tiến bước, tiến
bước trong giây lát sẽ thấy Phật. Tu-đạt-đa nghe rồi sự sợ hãi biến mất,
hăng hái bước tới, từ xa thấy Đức Thế Tôn dung mạo thù đặc, giống như
núi vàng.
Đức Thế Tôn thấy ông Trưởng giả, khen:

– Lành thay! Đến đây Tu-đạt-đa!

Tu-đạt-đa nghe, rất vui mừng: Đức Phật lại biết luôn cả tên do cha
mẹ ta đặt! Tu-đạt-đa đầu mặt kính lễ sát chân, rồi ngồi lui qua một bên.
Đức Phật vì Trưởng giả nói các pháp diệu... cho đến khổ, tập, tận, đạo.
Ngay nơi chỗ ngồi, ông ấy đặng mắt pháp trong sạch. Thấy pháp đắc
quả rồi, Tu-đạt-đa liền thọ Tam quy, Ngũ giới và bạch Phật:

– Bạch Đức Thế Tôn! Nguyện Phật và Tăng nhận lời mời của con,

an cư mùa hạ nơi thành Xá -vệ.Thỉnh Ba lần như vậy, Đức Phật đều im lặng, đến lần thứ tư Ngàimới bảo:Nếu chỗ nào không có sự ồn ào, yên tịnh, không có tiếng động,chư Phật mới an cư nơi đó.Ông Trưởng giả bạch Phật:

– Con đã hiểu lời dạy của Đức Thế Tôn, xin Ngài sai một Tỳ-

kheo, người có kinh nghiệm cho việc thiết lập này.
Đức Phật hỏi:

– Nay ông muôn vị nào?

– Bạch Thế tôn! Con muốn nhờ Tôn giả Xá-lợi-phất.

Đức Phật liền nói với Tôn giả:

– Thầy có thể đến đó làm người trông coi công việc.

Tôn giả vâng lời ra đi.Bấy giờ, vị Trưởng giả thành Vương-xá, vào buổi sáng đích thânđến bạch Phật:

– Thức ăn đã sửa soạn xong, xin Thánh tri thời.

Đức Phật cùng Tỳ-kheo Tăng mặc y bưng bát, kẻ trước người sau
vây quanh đến nơi nhà thọ trai, an tọa theo thứ tự.
Ông Trưởng giả tự tay sớt thức ăn, ăn xong dâng nước rửa rồi bạch
Phật:

– Bạch Đức Thế Tôn! Con xin dâng cúng ngôi vườn và phòng xá

này cho Tăng bôn phương
Đức Phật nhận lời bằng sự im lặng. Biết Đức Phật nhận lời rồi,
Trưởng giả lấy chiếc ghế nhỏ ngồi phía trước, Đức Phật bèn vì ông, tùy
hỷ nói kệ chú nguyện:
Vì ngăn gió lạnh nóng
Và ngăn các thú dữ
Che mưa sương và bụi
Cùng trừ nạn mòng muỗi.
Cúng dường người trì giới
Tọa thiền, thuyết, tụng pháp
Ai nghe hiểu nghĩa này
Trừ hết các gốc khổ.
Đức Phật nói kệ rồi, lại nói các pháp diệu, chỉ vẽ điều lợi ích để
được hoan hỷ rồi trở về trú xứ.
Ngày về, Trưởng giả Tu-đạt đưa Tôn giả Xá-lợi-phất trở lại thành
Xá-vệ. Qua các xóm làng, nơi nào Trưởng giả cũng đều rao truyền:
Đức Phật ra đời, có đại oai đức, các đệ tử của Ngài cũng như vậy, tôi đã
thỉnh Ngài an cư nơi thành Xá-vệ, các người ai nấy đều sửa soạn nhà
cửa, tu bổ đường sá và các cầu đò, chuẩn bị mọi thứ để đón Đức Thế
Tôn. Dân chúng nơi các xóm làng ấy nghe rao truyền như vậy, biết Đức
Phật Thế tôn sẽ đi qua nơi mình ở nên rất vui mừng ghi nhận làm theo
lời rao kia một cách cung kính. Trưởng giả Tu-đạt, khi đến Xá-vệ nghĩ:
Chỗ nào tốt nhất để cất Tinh xá? Chỗ duy nhất nơi thành này là Kỳ lâm
của Đồng Tử, nơi có vườn cây ăn trái quý giá, cảnh sắc tốt tươi, nước
trong thanh khiết, suối róc rách, ao tắm, hoa thơm thật hoàn chỉnh, ta
nên mua nơi đó để xây cất. Nghĩ rồi liền đến chỗ chủ nhân ngôi vườn,
ngỏ lời:

– Tôi muốn mua sở vườn, ông có thể bán không?

Đáp:

– Ông hãy dùng kim tiền trải khắp hết mặt đất, không bỏ trống

một chỗ nào, được như vậy tôi sẽ cùng ông trao đổi.Tu-đạt liền dùng kim tiền trải khắp mặt đất.Kỳ-đồng-tử bảo:

– Nói đùa như thế thôi, chứ tôi không muốn trao đổi.

Tu-đạt nói lại:

– Điều kiện này là từ lời của ông nói làm thành một giá trị, đâu

được hối tiếc để làm khác đi.Hai bên giằng co tranh cãi nên phải đưa đến cửa quan. Quan ytheo pháp luật xử, Tu-đạt thắng cuộc.Kỳ-đồng-tử hỏi Tu-đạt:

– Vì lý do gì mà ông không tiếc vàng bạc để mua khu vườn này

với giá như vậy?
Tu-đạt trả lời:

– Đức Phật ra đời, có đại oai đức, các đệ tử của Ngài cũng như

vậy. Tôi đã mời Ngài đến an cư nơi đây, do đó, tôi trút hết gia tài cũngkhông hề tiếc nuối.Kỳ-đồng-tử lại nói:

– Nếu để tôi được đặt tên vườn là Tinh xá Kỳ viên, thì tôi sẽ để

cho.
Tu-đạt nói:

– Tốt!

Tu-đạt liền ra lệnh đem kim tiền trải lên mặt đất, tính luôn cả
những gốc cây cũng đều trải cho đầy đủ. Sau đó, Tôn giả Xá-lợi-phất
lấy dây đo đạc, tính toán làm chỗ đi kinh hành, giảng đường, nhà giữ
ấm, nhà ăn, nhà tắm, và các phòng xá, tất cả đều đầy đủ tiện nghi. Khi
ấy, các phòng xá dùng bùn trét không được kín, gió bụi, rắn, chuột vào
phá ngọa cụ của Tăng, gây xúc não cho các Tỳ-kheo. vấn đề này được
bạch Phật. Phật dạy: Cho phép dùng bùn bọc trong ngoài và các ngưỡng
cửa. Tăng nên sắm búa, rìu, dao, cưa..., ghế thang các dụng cụ để làm
nhà, cũng cho phép những chỗ bị nước tạt làm cửa sổ có vòng móc phên
che, làm khóa cửa. Không cho phép làm như cán dao đeo nơi lưng, vi
phạm, phạm Đột-kiết-la. Có các Tỳ-kheo chấp tác bị đất bùn làm nhớp
thân cần phải tắm, Phật cho phép tắm. Chỗ tắm có bùn... Phật dạy: Cho
phép dùng gạch đá hay tấm ván để trên mặt đất. Có các Tỳ-kheo ở nơi
gò mả lượm được phu cụ, giường dây không dám lấy. Phật dạy: Cho
phép lấy, nếu lớn nên cắt ra.
Bấy giờ, giữa hai thành Vương-xá và Xá-vệ có một trú xứ, các cư
sĩ đem cúng cho các Tỳ-kheo mà không có ai ở. Phật dạy: Cho phép các
bạch y mời tri sự ở và cung cấp cho họ mọi thứ cần dùng. Khi ấy, các
trú xứ không có hàng rào, bò ngựa vào ra làm hư hoại chỗ kinh hành,
Đức Phật dạy: Cho phép đào hào và rào chung quanh. Bò ngựa vẫn tìm
cách vào được. Phật dạy: Cho phép dùng các loại cây gai kéo chung
quanh. Bò ngựa vẫn tuông phá vào được. Phật dạy: Cho phép đắp đất
làm tường hoặc xây tường gạch, bên trên có mái che, cho phép làm nhà
canh giữ. Hư cũng cho phép làm lại, cho phép làm hai phên cửa. Có các
Tỳ-kheo dùng nhánh dương chà răng, rửa tay, rửa mặt, rửa chân trong
phòng, làm cho đất bị ẩm thấp, hư ngọa cụ của Tăng. Phật dạy: Không
nên làm như vậy. Có các Tỳ-kheo già bệnh khi trời lạnh không thể ra
ngoài rửa được. Phật dạy: Cho phép dùng các chậu đựng nước rửa và
viên gạch dùng kê chậu. Có phòng xá bị đất bũn nổi lên. Phật dạy: Nên
dùng đất bùn để trét và dùng một trong mười loại y trải lên trên. Có
các Tỳ-kheo hạ tọa rửa chân trước, sau đó Thượng tọa đến rửa chân,
vị hạ tọa rửa chưa xong, bị đuổi đi. Phật dạy: Nếu hạ tọa rửa trước nên
cho phép rửa cho xong. Có các Tỳ-kheo kinh hành nơi đất trống, khi
trời mưa y bị ướt, nên phế bỏ việc kinh hành. Phật dạy: Cho phép làm
cái hành lang. Có các Tỳ-kheo đi trong sân, khi trời mưa đất nhão nhớp
chân. Phật dạy: Cho phép làm đá gạch lót làm đường đi. Có các Tỳ-
kheo ở chỗ không có nước. Phật dạy: Cho phép đào giếng, hoặc nước
ao tác tịnh. Các Tỳ-kheo muốn làm nệm trải trên giường. Phật dạy: Cho
phép dùng một trong mười thứ y rồi độn lông dê, lông lạc đà, hoa Kiếp
bối... cho đến loại cỏ mềm vào bên trong để làm nệm. Các Tỳ-kheo làm
nệm quá dày. Phật dạy: Dày nhất là tám ngón tay, cho phép Tăng làm
một loại dành cho Tăng bốn phương và làm một loại riêng. Phu cụ của
Tăng hư hoại, không biết làm thế nào, bạch Phật. Phật dạy: Nên nhờ
người giặt vá tu bổ lại.
Lúc này, các Tỳ-kheo phân ngọa cụ cho Tăng hàng ngày. Phật
dạy: Không nên làm như vậy, cho phép ngày cuối mùa Xuân, ngày đầu
mùa hạ khi kiết giới An cư thì phân ngọa cụ. Lục quần Tỳ-kheo chọn
lựa phòng tốt, ngọa cụ tốt để lấy phần. Phật dạy: Không nên làm như
vậy, nên bạch nhị Yết-ma sai một Tỳ-kheo làm người phân ngọa cụ.
Tỳ-kheo được sai nên ghi rõ để biết ngọa cụ nào thuộc phòng nào, tùy
theo thứ cấp Thượng tọa mà chia, nếu có dư mà còn tốt, Thượng tọa cần
thì nên đưa, nếu Thượng tọa không cần thì tiếp theo, tùy theo hạ tọa,
theo chỗ ngồi mà phân. Nếu có Tỳ-kheo đến sau, tùy theo lớn nhỏ, theo
thứ tự phân bô', từ phòng kế lần lượt cho đến phòng chót, nếu hạ tọa
không có phòng thì thôi. Các Tỳ-kheo muốn làm giường dây, giường
cây mới. Phật dạy: Cho phép làm. Nếu không có thợ khéo thì Tỳ-kheo
có thể tự làm cũng được. Cho phép dùng mười loại tơ sợi, làm giường
dây cũng được. Có các Tỳ-kheo muốn độn nệm trong giường dây, Phật
cho phép độn. Có các Tỳ-kheo đi đứng trên giường dây, dây bị đứt.
Phật dạy: Không nên đi đứng trên giường dây. Có các Tỳ-kheo nhỏ
người thấp, muốn móc cái y hay lấy cái y trên giá, vói không tới. Phật
dạy: Cho phép chánh niệm, quỳ gối trên giường dây để lấy. Có các Tỳ-
kheo-ni ngồi trên giường dây có độn, nguyệt thủy nhớp, bất tịnh, thối
nát, hư hoại. Phật dạy: Tỳ-kheo-ni không nên ngồi trên giường dây có
độn. Có Sa-di nhỏ nằm trên giường dây có độn, đái dầm, bất tịnh, hư
mục. Phật dạy: Sa-di nhỏ cũng không được nằm trên giường dây có độn.
Có các Tỳ-kheo ở trên giường cao mà nghe kinh, hỏi nghĩa. Phật dạy:
Nghe kinh, hỏi nghĩa đều nên ngồi nơi chỗ thấp. Trong sân của trú xứ
các Tỳ-kheo cỏ mọc, Phật cho phép khiến tịnh nhân dọn theo luật. Nơi
phòng bị bụi bặm làm nhớp giường, ngọa cụ, Phật cho phép tùy ý lau
quét. Khi đại hội, các Tỳ-kheo đến đông, phòng xá lớn mà thiếu chỗ ở.
Phật dạy: Trong phòng theo thứ tự trải ngọa cụ vừa đủ nằm mà nằm,
nếu muốn dùng y ngăn phía trước thì cho phép, vị nào cũng được ngăn.
Nếu đủ thì tốt, bằng không đủ thì bên ngoài có chỗ đất trống nào cho
phép làm am thất, Tỳ-kheo cựu trú nên đứng ra làm. cất am thất, đại
hội xong, không giở bỏ, bị lửa cháy, cháy luôn cả trú xứ, Đức Phật dạy:
Đại hội xong, phải giở bỏ rồi mới đi. Nếu Tỳ-kheo cựu trú tiếc không
cho giở, Tỳ-kheo khách phải dặn dò Tỳ-kheo cựu trú rồi mới đi. Lúc
trời mưa lớn, các Tỳ-kheo không có chỗ tụ hội. Phật dạy: Cho phép làm
nhà lớn. Mùa lạnh, các Tỳ-kheo tụ tập bị rét, Đức Phật dạy: Cho phép
làm nhà sưởi ấm.
Bấy giờ, do Tỳ-xá-khư-mẫu muôn xây dựng nên Tôn giả Xá-
lợi-phất cho xây cất nhà lớn mới, bà đem lúa gạo đến cúng cho Tăng
bốn phương, các Tỳ-kheo không dám thọ. Phật dạy: Nếu vì Tăng bốn
phương, khi làm cho phép tùy ý thọ thực. Có các Tỳ-kheo khất thực,
trở lại cúng cho Tăng bốn phương, không biết ai nên thọ. Phật dạy: Vì
Tăng bốn phương mà làm thì được thọ thực. Có phòng xá bị hư hoại, các
Tỳ-kheo không sửa chữa. Phật dạy: Nên khuyến hóa, bạch nhị Yết-ma
giao cho kẻ đạo tục muôn sửa chữa, cho họ sửa chữa. Một Tỳ-kheo nên
xướng đọc:
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Cái phòng... hư hoại không có người
sửa chữa, kẻ đạo tục... muốn sửa chữa, nay Tăng giao cho người ấy sửa
chữa. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Đây là
lời tác bạch.
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Cái phòng... hư hoại... cho đến câu:
Nay Tăng trao cho người ấy sửa chữa. Các Trưởng lão nào đồng ý thì
im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.
Tăng đã đồng ý giao cho... sửa chữa phòng cũ, sô"... rồi. Tăng đồng
ý nên im lặng. Việc như vậy, thọ trì như vậy.
Nếu muốn đề tên người đàn-việt đã sửa chữa vào phòng ấy thì
cho phép đề. Ngọa cụ cũng như vậy.
Có một trú xứ nước lớn bị ngập. Các Tỳ-kheo ai nâ"y lo dọn dẹp
ngọa cụ phòng của mình, phòng không có Tỳ-kheo ở, không ai thu dọn,
bị nước trôi và hư mục, sau đó những người đàn-việt của những phòng
ấy thấy vậy, nổi sân, chê trách các Tỳ-kheo: Tại sao chỉ có ngọa cụ
phòng của tôi cúng bị ướt, hư hoại mà thôi?! Đức Phật dạy: Nếu khi bị
thủy hỏa nên la lớn, đánh kiền chùy khiến cho tất cả Tăng đều cùng
nhau hỗ trợ dọn dẹp. Nếu vị nào không hỗ trợ dọn dẹp thì phạm Đột-
kiết-la.
Bấy giờ, La-hầu-la đến thôn Na-la, một người Ưu-bà-tắc thân tín
vì La-hầu-la cất một cái phòng, khi cất xong, La-hầu-la có một duyên
sự nhỏ nên du hành trong nhân gian.
Lúc đó, Tôn giả A-nan đến nơi thôn kia, vị ưu-bà-tắc ấy lại đem
phòng cúng cho Tôn giả A-nan. Khi La-hầu-la trở về, bảo Tôn giả A-
nan đi chỗ khác. A-nan nói: Trước kia tuy người ta cúng cho thầy, nhưng
thầy đi, sau đó người ta cúng cho tôi thì phòng này là của tôi. Thế là cả
hai vị đều đến người Ưu-bà-tắc hỏi để họ quyết định là phòng của ai.
Người ưu-bà-tắc trả lời: Tuy trước kia tôi cúng cho Tôn giả La-hầu-la,
nhưng La-hầu-la bỏ đi, sau đó tôi mới cúng cho Tôn giả A-nan. Các Tỳ-
kheo bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo
các Tỳ -kheo:
ưu-bà-tắc không những đời này mà xưa kia cũng đã từng làm như
vậy.
Các Tỳ-kheo thưa hỏi:

– Chuyện ấy xảy ra như thế nào?

Đức Phật dạy:

– Thuở đời quá khứ, có nhà Vua tên là Bà-lâu, trong cương giới

nước của Vua có hai vị Tiên, một tên là La-hầu-la ưa tọa thiền, một
tên là A-nan đa văn vô úy. Nhà Vua kia, trước thấy La-hầu-la, rất kính
trọng nên cất một cái phòng để cúng. Phòng làm xong thì La-hầu-la
xuất hành trong nhân gian. Sau đó, A-nan lại đến, nhà Vua cũng kính
trọng nên đem cái phòng đó cúng cho A-nan. Khi La-hầu-la về, bảo A-
nan đi và nói: Phòng này là của tôi. A-nan cũng nói phòng này là của
mình. Cả hai đều đến nhà Vua hỏi, để quyết định là phòng của ai. Nhà
Vua nói: Tuy trước đây tôi cúng cho La-hầu-la, nhưng La-hầu-la bỏ đi,
sau đó tôi mới cúng cho A-nan, vậy nay là phòng của A-nan. Bấy giờ,
các thiên, long, quỷ, thần đều nói: Nhà Vua này làm phi pháp, tại sao
trước đã cúng cho La-hầu-la, sau lại tự ý đoạt lại cúng cho A-nan, chúng
ta sẽ phá hoại quyến thuộc của nhà Vua. Họ liền cùng nhau đến cung
Vua, dùng đá ném, đánh giết hại quyến thuộc của nhà Vua. Nhân việc
này, Đức Phật nói kệ:
Vua cúng không trước sau
Tiên nhân cùng tranh cãi
Làm cho quỷ thần giận
Chuốc hại quyến thuộc mình.
Nếu xử sự theo ái
Không được người trí khen
Do vậy nên xả ái
Hoan hỷ nói đúng nghĩa.
Đức Phật dạy:

– Tiên nhân tên La-hầu-la trước kia, nay là La-hầu-la. Tiên nhân

tên A-nan trước kia, nay là A-nan. Quốc vương trước kia, nay là ưu-bà-
tắc.
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
Từ nay không cho phép nhận phòng trước đó thí chủ đã cúng cho
người khác, vị nào phạm, phạm Đột-kiết-la.
Bấy giờ, Đức Phật cùng đại Tỳ-kheo Tăng một ngàn hai trăm năm
mươi vị đầy đủ du hành trong nhân gian, ở nước Câu-tát-la hướng đến
ấp Ngật-la Ngật-liệt. Tại đó có năm Tỳ-kheo cựu trú, nghe Phật cùng
đại chúng sẽ đến, cùng nhau nghị bàn: Trong chúng của Phật có các
Tôn giả Xá-lợi-phất, Mục-liên, chắc chắn sẽ gây xúc não cho chúng ta.
Chúng ta có thể phân chia phòng xá, ngọa cụ, vườn cây trái trong trú xứ
này làm năm phần thành tư hữu của mỗi người. Bàn bạc xong liền phân
chia. Đức Phật và chúng Tăng đến nơi, các Tỳ-kheo bảo: Các thầy mở
phòng trải ngọa cụ, chúng tôi cần có chỗ ở. Năm Tỳ-kheo nói: Đức Phật
là vị pháp chủ, mở cửa phòng hạng nhất mời Ngài ở, ngoài ra chúng
tôi đã phân chia hết, là vật riêng không phải thuộc của Tăng, quý vị có
thể vào trong xóm làng, tùy theo sự quen biết mà tìm chỗ ở. Khi ấy, hai
Tôn giả Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên không có chỗ ở, đêm ấy phải ngủ
nhờ nơi hiên phòng Đức Phật nghỉ. Sáng ngày, Đức Phật nhân việc này
tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo: Có năm thứ thuộc Tăng bốn
phương không được giữ lấy, không được bán, không được chia. Năm thứ
ấy là gì?
1. Đất của trú xứ.
2. Phòng xá.
3. Vật cần dùng.
4. Cây ăn trái.
5. Hoa quả.
Tất cả Tỳ-kheo Sa-môn Thích tử đều có phần trong đó. Ai giữ lấy,
bán hay phân chia đều phạm tội Thâu-lan-giá.
Chỗ năm Tỳ-kheo kia phân chia, sau đó Tăng bốn phương đến
tập hợp lại cùng nhau phân chia, tiếp đến Tỳ-kheo khách tới, nói: Mở
phòng để tôi vào ở. Các Tỳ-kheo tới trước nói: Chúng tôi là Tăng bôn
phương đến thì đây là phần của chúng tôi, đã cùng nhau chia rồi, không
thuộc về của thầy, thầy có thể đến trong xóm làng tìm nơi để ở. Tỳ-
kheo tới sau, bèn đến trong xóm làng tìm chỗ ở. Các bạch y nói: Thưa
Đại đức! Ớ nơi đó có Tăng phòng tại sao không ở mà đến đây? Các Tỳ-
kheo trở lại chỗ Tăng phòng, lúc ấy trời đã tối nên trên đường đi bị cọp
làm hại. Các Tỳ-kheo bạch Phật, nhân việc này, Đức Phật tập hợp các
Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo: Trước nay Ta há đã không nói, Tăng
bốn phương có năm thứ không được chiếm giữ, không được bán, không
được chia hay sao? Tại sao người bảo vệ trú xứ của Tăng lại không cho
Tỳ-kheo tới sau ở, để đến nỗi bị cọp làm hại?
Bằng mọi cách quở trách rồi, Đức Phật lại nói: Vị nào chiếm đoạt,
bán hay chia của Tăng bôn phương đều phạm tội Thâu-lan-giá.
Có các Tỳ-kheo ở bên bờ biển, cây gỗ khó được, không thể cất
thất để ở. Nơi đó lại có nhiều loại xương của loài cá lớn, muôn dùng
để cất, bạch Phật. Phật dạy: Được phép sử dụng. Các Tỳ-kheo sợ hôi
mùi xương cá. Phật dạy: Cho phép dùng bùn có mùi thơm để trát. Có
các Tỳ-kheo xây dựng làm trú xứ cho Tăng, làm rồi, Tỳ-kheo khách
đến là bậc Thượng tọa, đuổi người ở trong phòng ra. Vị kia giận dữ nói:
Tôi xây dựng khổ cực mà không được ở yên, bạch Phật. Phật dạy: Cho
phép người chủ xây dựng tùy ý ở phòng nào mình thích. Các Tỳ-kheo
lại ở với thời gian dài, bạch Phật. Phật dạy: Nên tính theo công phu của
người kia nhiều hay ít, nhiều nhất là cho phép ở mười hai năm. Nên
bạch nhị Yết- ma trao cho. Một Tỳ -kheo đọc lớn:
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là... làm chủ xây
dựng, nay Tăng cho tùy ý ở phòng theo sở thích, thời gian là (bao nhiêu)
năm. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Đây là
lời tác bạch.
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là... làm chủ xây
dựng, nay Tăng cho tùy ý ở phòng theo sở thích, với thời gian là (bao
nhiêu) năm. Các Trưởng lão nào chấp thuận thì im lặng. Vị nào không
đồng ý xin nói.
Tăng đã đồng ý cho Tỳ-kheo tên là... tùy ý ở phòng theo sở thích
rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc như vậy, thọ trì như vậy.
Có các Tỳ-kheo làm giường cây, giường dây để trong phòng, hoặc
trét đất, hay khi tu bổ nho nhỏ, bèn xin chỗ tùy ý ở. Phật dạy: Không
nên xin. Nếu tu bổ phòng công phu ít nhất là một phần ba thì cho phép
đến xin Tăng chỗ ở tùy ý.
LUẬT DI SA TẮC BỘ HÒA HÊ NGŨ PHAN

Nguồn bản dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Internet Archive OCR)Giấy phép: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Việt dịch) · OCR Internet Archive · nguồn: archive.org · EN quarantined on 2026-07-06: previous bodyEn was short INTI-AI quote-widget noise, not a source English body. · EN: AI translation from Vietnamese source, awaiting source English🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch bằng AI do Inti biên soạn: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến