Inti DharmaInti Dharma
← Kinh điển
Đại Thừa — Tạng Bắc Truyền · Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Việt dịch)

Hợp Bộ Kim Quang Minh Kinh quyển 2

Tên chữ Hán:合部金光明經

📖10,044 từ · ~40 phút đọc
2
Bản dịch đầy đủ (Tiếng Việt)

PHẨM THỨ TƯ : SÁM HỐI

Lúc bấy giờ, Bồ tát Tín Tướng liền ở đêm ấy mơ thấy chiếc trống vàng hình dáng lớn đẹp. Ánh sáng của trống ấy soi khắp ví như ánh sáng mặt trời. Ở trong ánh sáng lại được thấy mười phương vô lượng vô biên các đức Phật Thế Tôn ngồi trên tòa ngồi lưu ly dưới những cây báu, cùng với vô lượng trăm ngàn quyến thuộc vây quanh vì họ nói pháp.

Thấy có một người tợ như Bà la môn dùng dùi đánh trống, phát ra âm thanh lớn. Âm thanh ấy diễn nói kệ tụng Sám Hối. Bồ tát Tín Tướng từ mộng tỉnh ra rồi, chí tâm nhớ nghĩ kệ tụng Sám Hối đã nghe trong mơ.

Qua đêm đến sáng, ông ra khỏi thành Vương Xá. Bấy giờ, cũng có vô lượng vô biên trăm ngàn chúng sinh cùng với Bồ tát đều sang núi Kỳ Xà Quật, đến chỗ đức Phật. Đến chỗ đức Phật rồi, ông đảnh lễ dưới chân đức Phật, nhiễu quanh bên phải ba vòng, lui về ngồi một bên, lòng cung kính chắp tay chiêm ngưỡng tôn nhan, đem những điều thấy trống vàng và kệ Sám Hối trong giấc mơ ấy, hướng về đức Như Lai nói :

Giấc mơ đêm trước

Nhớ giữ hết lòng :

Mơ thấy trống vàng

Diệu sắc rực sáng

Sáng ấy rất thịnh

Sáng hơn mặt trời

Mười phương khắp soi

Hằng sa thế giới

Nhân ánh sáng ấy

Thấy các Như Lai

Ngồi tòa lưu ly

Dưới những cây báu

Đại chúng vô số

Nghe pháp vây quanh.

Thấy Bà la môn

Đang đánh trống vàng

Trong tiếng trống ấy

Nói kệ như vậy.

Diệu âm phát ra

Của trống vàng này

Có thể trừ diệt

Ba đời khổ cực

Địa ngục súc sinh

Ngã quỉ vân vân...

Bần cùng khốn khó

Và các “hữu” khổ.

Trống này hiện ra

Tiếng kêu nhiệm mầu

Hay trừ não hại

Chúng sinh các loại.

Bố úy đoạn tan

Vô cụ được thành

Giống như chư Phật

Vô sở úy được.

Chư Phật thánh nhân

Công đức đã thành

Lìa khỏi sanh tử

Đến bờ Đại Trí.

Như vậy chúng sinh

Công đức được thành

Định và trợ đạo

Giống như biển cả

Trống này hiện lên

Như vậy diệu âm

Khiến chúng sinh được

Phạm âm sâu sắc

Chứng Phật không trên (vô thượng)

Quả Bồ đề tôn

Chuyển pháp vô thượng

Vi diệu thanh tịnh

Trụ thọ (mạng) không lường

Kiếp chẳng nghĩ bàn

Chánh pháp diễn nói

Chúng sinh ích lợi

Hay hại não phiền

Các khổ tiêu tan

Tham, sân, si hoặc

Đều khiến tịch diệt.

Nếu có chúng sinh

Ở Địa ngục thành

Lửa lớn bừng cháy

Thiêu nướng thân ấy

Nếu nghe trống vàng

Tiếng vi diệu vang

Nghe lời trống phát

Liền tìm lễ Phật.

Cũng khiến chúng sinh

Túc mạng biết rành

Trăm, ngàn đời trước

Đến ngàn vạn ức

Chánh niệm giữ lòng

Chư Phật Thế Tôn

Cũng nghe lời nói

Vô thượng vi diệu.

Diệu âm phát sinh

Từ trong trống vàng

Lại khiến sinh chúng

Gặp chư Phật thánh

Tất cả những là

Nghiệp ác lìa xa

Khéo tu vô lượng

Những nghiệp bạch tịnh.

Chư thiên, người đời

Chúng sinh mọi loài

Theo suy nghĩ họ

Nguyện cầu đã có

Như vậy trống vàng

Âm thanh vang lên

Đều khiến có thể

Thành tựu đầy đủ.

Nếu có chúng sinh

Đọa địa ngục thành

Lửa mạnh bừng cháy

Thiêu đốt thân ấy

Không ai đỡ đần

Các nạn chuyển vần...

Khiến những người đó

Đều diệt các khổ.

Nếu có chúng sinh

Bị khổ hoành hành

(Quả) Báo ba đường dữ

Và loài người nữa

Như vậy trống vàng

Âm thanh vang lên

Có thể diệt hết

Tất cả các khổ.

Không nơi về nương

Người cứu cũng không

Ta vì bọn họ

Làm chỗ nương, hộ.

Các đấng Thế Tôn

Nay sẽ chứng biết

Lâu rồi với con

Sinh đại bi tâm

Nơi nơi tại khắp

Mười phương chư Phật

Hiện tại Thế Hùng

Đấng Lưỡng Túc Tôn !

Con vốn tạo tác

Nghiệp ác chẳng lành

Nay sám hối trước

Các đấng Thập Lực !

Chẳng biết hồng ân

Cha mẹ, Thế Tôn

Chẳng rõ thiện pháp

Tạo tác mọi ác,

Tự thị giống dòng

Của cải giàu sang

Tuổi trẻ phóng dật

Làm các hạnh ác,

Lòng nghĩ chẳng lành

Miệng làm nghiệp ác

Theo lòng tạo tác

Chẳng thấy lỗi lầm,

Phàm phu ngu làm

Tối che chẳng biết

Gần gũi bạn ác

Lòng loạn não phiền,

Năm dục nhân duyên

Lòng sinh sân nhuế

Chẳng biết chán chê

Nên làm mọi ác.

Phi thánh(chẳng phải thánh) cận kề

Nhân sinh ganh ghét

Bần cùng nhân duyên

Gian dối làm ác

Hệ thuộc người khác

Thường có kinh hoàng

Tự tại chẳng được

Mà tạo các ác.

Tham dục, sân, si

Nhiễu động lòng kia

Khát ái bức bách

Tạo tác mọi ác.

Nương nơi ăn mặc

Và cả nữ sắc

Các kết não phiền

Tạo tác mọi ác.

Thân miệng ý ác

Ba nghiệp nhóm gom

Như vậy mọi tội

Nay xin Sám Hối !

Hoặc chẳng kính nhường

Phật, Pháp, Thánh tăng

Như vậy các tội

Nay đều Sám Hối !

Hoặc chẳng kính nhường

Duyên Giác Bồ tát

Tội lỗi như trên

Nay xin Sám Hối !

Do vô trí nên

Bài báng pháp chân

Chẳng biết cung kính

Cha mẹ tôn trưởng

Mọi tội như trên

Nay xin Sám Hối !

Ngu hoặc che tối

Kiêu mạn buông lung

Nhân tham, si, sân

Tạo tác các ác

Mọi tội như trên

Nay đều Sám Hối !

Con nay cúng dường

Vô lượng vô biên

Những đức Phật của

Thế giới ba ngàn (đại thiên) !

Con sẽ cứu bạt

Tất cả mười phương

Vô lượng sinh chúng

Chịu các khổ nàn !

Con sẽ an chỉ

Chẳng thể nghĩ bàn

A tăng kỳ chúng

Trụ mười địa yên !

Người đã dừng yên

Trụ ở Thập Địa

Thì khiến đủ đầy

Chính Giác Như Lai !

Vì một sinh chúng

Ức kiếp tu hành

Khiến vô lượng chúng

Biển khổ qua nhanh !

Con sẽ vì hết

Tất cả chúng sinh

Diễn nói biển pháp

Vi diệu thậm thâm

Gọi là Kim Quang

Diệt trừ các ác !

Ngàn kiếp tạo tác

Nghiệp ác nặng nề

Nếu chí tâm mà

Một lần sám hối

Như vậy mọi tội

Đều tận diệt tan.

Ta nay đã nói

Về pháp Sám hối

Kim Quang Minh này

Thanh tịnh vi diệu

Mau chóng diệt ngay

Nghiệp chướng tất cả.

Ta sẽ an chỉ

Thập địa trụ yên

Mười thứ bảo trân

Dùng làm chân cẳng

Thành Phật vô thượng

Công đức quang minh

Khiến các chúng sinh

Qua biển ba hữu.

Chư Phật sở hữu

Pháp tạng thậm thâm

Chẳng thể nghĩ bàn

Vô lượng công đức

Nhất thiết trí thông

Nguyện đều cụ túc

Với trăm ngàn thiền

Giác đạo, lực, căn

Chẳng thể bàn nghĩ

Các Đà la ni

Thế Tôn mười lực

Ta sẽ thành được.

Chư Phật Thế Tôn

Có từ bi lớn

Sẽ chứng lòng thành

Thương nhận hối tâm.

Nếu ta trăm kiếp

Mọi ác tạo nên

Do nhân duyên đó

Sinh đại ưu khổ

Thiếu thốn bần cùng

Buồn rầu kinh sợ

Nghiệp ác bàn hoàn

Khiếp nhược trong lòng

Ở khắp mọi chỗ

Tạm không lạc hoan

Mười phương hiện tại

Đại bi Thế Tôn

Có thể trừ hết

Bố úy chúng sinh.

Nguyện xin thọ con

Thành tâm Sám hối

Khiến con sợ hãi

Đều được tiêu tan.

Nghiệp bẩn phiền não

Sở hữu của con

Nguyện xin hiện tại

Chư Phật Thế Tôn

Dùng Đại bi thủy

Tẩy trừ sạch trơn.

Quá khứ các ác

Nay hối lỗi hết,

Tội hiện tạo nên

Thành tâm phát lộ,

Việc ác chưa làm

Chẳng dám làm nữa,

Nghiệp ác đã làm

Chẳng dám che giấu.

Ba thứ nghiệp thân

Nghiệp miệng có bốn

Ba nghiệp ý làm

Nay đều Sám hối.

Việc làm miệng thân

Và cả ý nghĩ

Mười nghiệp chẳng lành (ác)

Tất cả Sám hối.

Mười ác lìa nhanh

Tu hành mười thiện

Thập Trụ dừng yên

Chứng được mười lực.

Nghiệp ác tạo nên

Đáng chịu ác báo

Nay trước Thế Tôn

Thành tâm Sám hối.

Nếu nước này cùng

Những thế giới khác

Sở hữu pháp lành

Đều đem hồi hướng

Thì con tu hành

Thân miệng ý thiện

Nguyện đời sau thành

Được đạo Vô Thượng !

Nếu tại thế gian(các cõi hữu)

Sáu đường hiểm nạn

Không trí ngu đần

Tạo tác các ác

Nay trước Thế Tôn

Đều xin Sám hối !

Sở hữu thế gian

Sinh tử hiểm nạn

Đủ thứ dâm bôn

Gặp nạn phiền não

Những nạn như trên

Con nay Sám hối !

Nạn khinh tháo tâm

Nạn gần bạn ác

Nạn hiểm thế gian (tam hữu)

Và nạn ba độc

Khó gặp không nàn (nạn)

Khó gặp lúc tốt

Tu đức gian nan

Gặp Phật cũng khó

Những khó như trên

Nay đều Sám hối !

Chư Phật Thế Tôn

Con theo y chỉ

Vậy nên nay con

Kính lễ biển Phật !

Sáng rực sắc vàng

Tu Di không khác

Vậy nên nay con

Đảnh lễ Tối Thắng !

Sắc ấy vô thượng

Giống như vàng ròng

Nhãn mục sạch trong

Như lưu ly biếc.

Công đức uy thần

Danh xưng hiển trước

Đại bi Phật nhật(mặt trời Phật đại bi)

Diệt mọi tối tăm

Thiện tịnh không bẩn

Lìa những bụi ngăn

Phật nhật vô thượng

Sáng soi khắp cùng

Lửa phiền não rực

Khiến lòng nóng bừng

Chỉ Phật trừ được.

Như trăng thanh lương

Ba mươi hai tướng

Tám mươi vẻ đẹp

Trang nghiêm thân ấy

Nhìn ngắm không nhàm (chán).

Công đức lồng lộng

Lưới sáng hiển quang

Ba cõi trụ an

Như nhật chiếu thế (như mặt trời soi thế gian)

Như lưu ly trong

Sạch không tỳ vết

Diệu sắc mênh mông

Chủng loại đều khác

Sắc ấy đỏ hồng

Như nhật mới mọc

Pha lê bạch ngân

Điểm tô lưới sáng

Đủ thứ như trên

Trang nghiêm Phật nhật

Biển cả tử sinh

Ở trong ba hữu

Sóng quét nước tràn

Não loạn lòng con

Vị ấy khổ độc

Rất là thô nhám

Lưới sáng Như Lai

Hay khiến khô hết

Diệu thân đoan nghiêm

Tướng tốt thù đặc

Kim sắc quang minh

Chiếu khắp tất cả

Biển trí mông mênh

Rộng đầy ba cõi

Vậy nên nay con

Cúi đầu kính lễ.

Như nước biển cả

Biết lượng khó khăn

Đại địa vi trần

Chẳng thể xưng kể

Những Tu Di sơn

Khó thể độ lượng

Bờ cõi hư không

Cũng chẳng thể được

Cũng vậy Thế Tôn

Công đức vô lượng,

Mọi người có tâm

Không có thể biết,

Ở kiếp không lưòng

Hết lòng suy nghĩ

Chẳng thể biết thông

Bờ công đức Phật.

Các núi trên đất

Còn có thể lường,

Giọt nước biển cả

Còn thể tính thông.

Công đức chư Phật

Không ai biết được !

Tướng tốt nghiêm trang

Khen ngợi danh xưng

Như vậy công đức

Khiến chúng đều được !

Con do nghiệp lành

Cùng các nhân duyên

Chẳng lâu lai thế (đời sau)

Phật đạo sẽ thành.

Tuyên giảng diệu pháp

Lợi ích chúng sinh

Độ thoát tất cả

Các khổ không lường,

Các ma phục hàng

Và cả quyến thuộc.

Chuyển diệu pháp luân

Vô Thượng thanh tịnh

Trụ thọ (mạng) không lường

Chẳng nghĩ bàn kiếp,

Sung túc chúng sinh

Vị pháp cam lộ.

Con sẽ đầy đủ

Sáu Ba la mật

Giống như chư Phật

Quá khứ đã thành !

Đoạn các phiền não

Trừ tất cả khổ

Diệt hết tham, sân

Và si vân vân...

Chúng con nhớ nghĩ

Túc mạng của mình

Trăm, ngàn kiếp sống

Trăm ngàn ức sinh (đời sống)

Thường phải chí tâm

Chánh niệm chư Phật

Nghe nói pháp chân

Vi diệu Vô thượng.

Con nhân nghiệp lành

Thường gặp chư Phật

Các ác lìa nhanh

Tu các nghiệp thiện.

Tất cả chúng sinh

Thế giới sẵn có

Khổ não không lường

Con sẽ diệt hết !

Nếu có chúng sinh

Các căn hủy hoại

Chẳng được hoàn toàn

Đều khiến đầy đủ.

Thế giới mười phương

Bệnh khổ sẵn có

Thiếu thốn gầy mòn

Không người cứu hộ

Khiến giải thoát liền

Những khổ như vậy,

Thế lực hoàn toàn

Bình phục như cũ.

Nếu phạm phép vương (vua)

Sắp phải chết chém

Sợ hãi không lường

Ưu sầu khổ não

Những người như trên

Đều khiến giải thoát !

Nếu chịu cùm gông

Đánh đập trói buộc

Đủ thứ khốn cùng

Bức thiết lấy thân,

Trăm ngàn vô số

Kinh sợ lo buồn

Đủ thứ nỗi sợ

Nhiễu loạn tấm lòng

Vô lượng khổ não

Như vậy vân vân...

Nguyện khiến tất cả

Được giải thoát liền !

Nếu có sinh chúng

Đói khát nhiễu phiền

Khiến được mọi thứ

Đồ ăn uống ngon !

Người mù được thấy

Điếc nghe rõ ràng

Kẻ câm nói được

Áo kẻ trần truồng

Người nghèo cùng khốn

Liền được bảo tàng

Kho lẫm đầy ắp

Thiếu thốn không còn...

Tất cả đều thọ

Khoái lạc bình an

Thậm chí không có

Một người chịu khổ

Chúng sinh nhìn nhau

Mặt mày hòa nhã

Hình dáng đoan nghiêm

Người ưa gặp gỡ

Lòng nghĩ đến luôn

Việc thiện người khác

No đủ uống ăn

Đầy đủ công đức.

Theo ý chúng sinh

Suy nghĩ mong muốn

Đều nguyện được thành

Đủ thứ kỹ nhạc

Không hầu, đàn tranh( Không hầu tên một thứ đàn)

Cầm, sắt, trống, thổi...

Đủ thứ như trên

Âm thanh vi diệu

Giang hà, trì chiểu ( chiểu :cái ao hình cong)

Suối chảy các dòng (nước)

Hoa vàng cùng khắp

Và hoa Ưu Bát

Theo ý chúng sinh

Nghĩ đến cầu xin

Liền được đủ thứ.

Y phục, uống ăn

Tiền tài trân bảo

Lưu ly, kim ngân

Chân châu, bảo ngọc

Anh lạc lẫn xen

Nguyện cho sinh chúng

Chẳng nghe ác thanh

Thậm chí không có

Điều ác để nhìn.

Nguyện cho sinh chúng

Sắc mạo đẹp xinh

Với nhau mỗi mỗi

Đều ái niệm chung.

Đồ dùng sinh sống

Có của thế gian

Theo sở niệm họ

Khiến đầy đủ liền.

Nguyện cho sinh chúng

Những việc cầu tìm

Mà họ cần đến

Theo niệm được liền !

Cây cối hoa hương

Thường theo thời tiết (Ấn Độ có ba mùa : Tam thời)

Mưa xuống bột hương

Và hương xoa thân

Chúng sinh hưởng thụ

Khoái lạc vui mừng !

Nguyện cho sinh chúng

Thường được cúng dường

Mười phương chư Phật

Nhiều chẳng nghĩ bàn

Diệu pháp vô thượng

Vô cấu sạch trong

Và những Bồ tát

Đại chúng Thanh Văn !

Nguyện cho chúng sinh

Thường được lìa khỏi

Tám nạn ba đường (ác)

Gặp chỗ không nạn

Kính hầu Thế Tôn

Đấng vua Vô Thượng !

Nguyện cho chúng sinh

Thường sống tôn quí

Của báu nhiều thêm

Yên ổn phong lạc

Thượng diệu hình dung

Trang nghiêm thân ấy

Công đức viên thành

Có danh xưng lớn !

Nguyện cho nữ nhân

Đều thành nam tử

Đầy đủ trí thông

Tinh cần chẳng nhác (lười biếng)

Tất cả đều hành

Theo Bồ tát đạo

Gìn lòng tu hành

Sáu Ba la mật

Thường thấy mười phương

Chư Phật không lường

Ngồi dưới cây báu

Trên lưu ly sàn (giường)

Thiền định trụ an

Tự tại khoái lạc

Diễn nói pháp chân

Người nghe ưa thích

Nghiệp ác sở tác

Hiện tại của con

Và đời quá khứ

Mà các hiểm nàn

Đáng được quả ác

Nhưng chẳng vừa lòng

Nguyện xin diệt hết

Khiến không có còn !

Nếu các sinh chúng

Ba “hữu” buộc ràng

Màn lưới sinh tử

Kín mít chắc bền

Nguyện dùng dao trí

Cắt đứt phá tan

Trừ các khổ não

Bồ Đề sớm thành !

Nếu Diêm Phù ấy

Và nhiều địa phương

Vô lượng thế giới

Sở hữu chúng sinh

Đã làm đủ thứ

Công đức diệu lành

Thì con hết lòng

Hoan hỷ theo họ

Do việc này con

Tùy hỷ công đức !

Việc làm nghiệp lành

Của thân miệng ý

Nguyện ở lai thế (đời sau)

Đạo Vô Thượng thành

Được sạch không bẩn

Quả báo cát tường !

Nếu có kính lễ

Khen Thập Lực Tôn

Lòng tin thanh tịnh

Không những nghi võng !

Có thể như trên

Nói lời Sám Hối

Liền được vượt lên

Sáu mươi kiếp tội !

Các thiện nam tử

Và thiện nữ nhân

Các vua Sát lợi

Và Bà la môn...

Nếu có cung kính

Xưng tán Thế Tôn

Chắp tay hướng Phật

Kệ này tán dương

Thì tại nơi sống

Thường biết túc mạng

Đầy đủ các căn

Thanh tịnh đoan nghiêm

Đủ thứ công đức

Đều được viên thành

Tại khắp mọi chỗ

Thường làm quốc vương

Được sự cung kính

Phụ tướng, đại thần

Chẳng phải ở chỗ

Năm, mười Thế Tôn

Gieo trồng công đức

Nghe sám hối pháp,

Mà ở không lường

Trăm ngàn vạn ức

Chỗ Phật Thế Tôn

Gieo trồng thiện căn

Nhiên hậu mới được

Nghe Sám Hối này.

PHẨM THỨ NĂM : NGHIỆP CHƯỚNG DIỆT

Hán dịch : Tam Tạng Pháp Sư Chân Đế - Đời Lương

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn thiện chánh phân biệt vào đến thâm pháp diệu hữu gọi là Thiền, từ lỗ chân lông phóng ra đủ thứ ánh sáng. Vô lượng trăm ngàn thứ sắc màu đều từ thân phát ra. Nhân bên trong ánh sáng này, tất cả đất nước chư Phật đều hiện ra trong ánh sáng.

Đời ác năm trược nhiều như cát sông Hằng mà thí dụ tính toán chẳng thể bì kịp ở mười phương được ánh sáng này soi đến. Những chúng sinh ở các cõi đó đã làm mười ác, nghiệp năm vô gián, bài báng Tam Bảo, bất hiếu với cha mẹ, Sa môn, Bà la môn, khinh mạn tôn trưởng... đáng đọa vào địa ngục, ngã quỉ, súc sinh... nhưng mỗi mỗi đều nhờ ơn ánh sáng đến chỗ họ ở. Những chúng sinh đó thấy ánh sáng ấy rồi thì ứng niệm an lạc.

Nhân uy lực của ánh sáng nên các chúng sinh trở nên đoan chính vi diệu, sắc tướng đầy đủ, phước đức trang nghiêm, đều được gần gũi các đức Phật Thế Tôn.

Lúc đó, đại chúng cùng Thiên Đế Thích và Nữ thần sông Hằng đều đến chỗ hội, lui ngồi một bên.

Đến đây, Thiên Đế Thích thừa thần lực của đức Phật, liền đứng dậy, trật áo vai phải, gối phải quì xuống đất, chắp tay hướng về đức Phật mà bạch đức Phật rằng :

– Thưa đức Thế Tôn ! Làm sao thiện nam tử, thiện nữ nhân nguyện cầu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, tu hành Đại Thừa, nhiếp thọ tất cả chúng sinh ? Những nghiệp chướng đó làm sao sám hối mà được giải thoát ?

Đức Phật dạy rằng :

– Hay thay ! Hay thay ! Này thiện nam tử ! Ông nay tu hành muốn vì vô lượng vô số vô biên chúng sinh, khiến cho họ được thanh tịnh giải thoát an lạc, thương xót chúng sinh ! Này thiện nam tử ! Tất cả chúng sinh vì nghiệp chướng nên rơi vào nhiều thứ tội, cần phải ngày đêm sáu thời trật áo vai phải, gối phải đặt xuống đất, chắp tay cung kính, một lòng một ý, miệng tự nói rằng : “Qui mạng đảnh lễ tất cả chư Phật Thế Tôn hiện tại mười phương thế giới đã được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, chuyển pháp luân, chiếu pháp luân, trì pháp luân, mưa xuống Đại pháp vũ, đánh lên trống Đại pháp, thổi loa Đại pháp, phát ra âm thanh vi diệu, dựng Đại pháp tràng, thắp đuốc Đại pháp vì muốn lợi ích an lạc cho chúng sinh, hành pháp thí dỗ dành tiếp dẫn, gánh vác tất cả chúng sinh, vì khiến cho vô lượng vô số chúng sinh được thanh tịnh, được an lạc, vì khiến cho đại chúng được đại quả báo, vì chư thiên, người đời được thanh tịnh. Như vậy Thế Tôn nên đáp ứng sự lễ bái cung kính ! Con dùng thân miệng ý đảnh lễ quy y chân thành. Những đức Thế Tôn này dùng chân thật tuệ, dùng chân thật nhãn, chân thật chứng minh, chân thật bình đẳng biết hết, thấy hết nghiệp thiện ác của tất cả chúng sinh. Con từ vô thỉ theo dòng sinh tử cùng tất cả chúng sinh đã tạo nghiệp chướng, bị sự ràng buộc của tham, sân, si.v.v... khi chưa biết Phật, khi chưa biết Pháp, khi chưa biết Tăng thì chưa biết thiện ác mà vì thân miệng ý bị vô lượng tội. Do lòng ác nên làm chảy máu thân Phật, bài báng chánh pháp, phá hòa hợp Tăng, giết hại A la hán, giết hại cha mẹ, mười pháp bất thiện tự làm, dạy người khác làm, thấy người làm tùy hỷ. Thân ba, miệng bốn, ý ba nghiệp hạnh, đối với các chúng sinh ngang ngược phát sinh sự chê bai, cân đong lừa dối lấy ngụy làm chân, đồ ăn uống bất tịnh đem cho chúng sinh, đối với cha mẹ sở hữu trong sáu đường sinh tử xúc phạm não hại nhau, vật dụng của chùa tháp, vật dụng của thường trụ tăng, vật dụng của tứ phương tăng sinh tâm trộm cắp cướp đoạt mà sử dụng tự tại. Như lời đức Phật nói, dạy bảo về pháp luật thì phân biệt lỗi lầm, học tập xằng bậy. Sư trưởng dạy bày chẳng tùy tùng nhau. Có người hành Thanh Văn, người hành Duyên Giác, người hành Đại thừa thì sinh lòng ưa nhục mạ khiến cho lòng những người tu hành thoái lui, sầu hận. Thấy có người hơn mình liền ôm lòng ganh ghét, pháp thí, tài thí mà sinh ra chướng ngại, vô minh che phủ, tà kiến nghi hoặc, sử ác tăng trưởng, ở chỗ chư Phật mà khởi lời nói ác, pháp nói phi pháp, phi pháp nói là pháp... Những tội như vậy, ngay như chư Phật bằng chân thật tuệ, chân thật nhãn, chân thật chứng minh, chân thật bình đẳng thấy hết biết hết. Phụng thừa đối trước chư Phật sám hối đều phát lồ hết, chẳng dám che dấu, tội chưa làm chẳng dám làm nữa, tội đã làm nay đều sám hối ! Nghiệp chướng sở tác đáng đọa vào đường ác, địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, A tu la... sinh chỗ mười hai nạn, nguyện xin nghiệp chướng sở hữu đời nay của con đều diệt trừ hết, đời vị lai chẳng thọ giống như việc tu hành đạo Tam Bồ Đề của những Đại Bồ tát đời quá khứ mà nghiệp chướng sở hữu đều đã sám hối. Như nghiệp chướng của con hôm nay cũng sám hối, đều phát lộ ra, chẳng dám che dấu, tội đã làm nguyện được tiêu trừ, ác đời sau lại chẳng dám làm. Cũng như các Bồ tát đời vị lai tu hạnh Tam Bồ Đề, nghiệp chướng sở hữu đều đã sám hối. Như nghiệp chướng của con hôm nay cũng sám hối, đều phát lộ ra, chẳng dám che dấu, tội đã làm nguyện được trừ diệt, ác đời sau chẳng dám làm nữa. Cũng như những Đại Bồ tát của thế giới mười phương hiện tại tu hạnh Tam Bồ Đề, nghiệp chướng sở hữu đều đã sám hối. Như nghiệp chướng của con hôm nay cũng xin sám hối, đều phát lộ ra, chẳng dám che dấu, tội đã làm nguyện được trừ diệt, ác đời sau chẳng dám làm nữa. Cũng như những Đại Bồ tát ba đời, quá khứ, vị lai, hiện tại, nghiệp chướng như vậy đều xin sám hối. Con cũng như vậy, nghiệp chướng sở hữu nay con cũng xin sám hối, đều phát lộ ra, chẳng dám che dấu, tội đã làm nguyện được trừ diệt, ác đời sau chẳng dám làm nữa”. Vậy nên thiện nam tử, nếu có tội lỗi trong một sát na chẳng được che dấu, huống gì là một ngày, một đêm. Này thiện nam tử! Nếu có người phạm tội mà nguyện được thanh tịnh, ôm lòng xấu hổ, tin vào đời vị lai nhất định có quả báo, sinh lòng rất sợ hãi, như vậy tu hành. Ví như trai gái, như lửa cháy đầu, như lửa cháy áo phải cứu cho mau tắt, lửa nếu chẳng tắt, lòng chẳng được yên ! Thiện nam tử này, nếu đã phạm tội thì cũng lại như vậy, liền nên sám hối, khiến cho tội diệt trừ. Đối với tất cả pháp, muốn cầu thanh tịnh, không các chướng ngại thì như vậy sám hối, tội sau này chẳng dám làm nữa. Nếu muốn sinh vào nhà giàu sang, vàng bạc, thóc gạo đầy ắp kho lẫm, phát khởi hạnh Đại thừa cũng nên sám hối, diệt trừ nghiệp chướng. Nếu muốn sinh vào gia đình hào quí Bà la môn đầy đủ bảy báu cũng nên sám hối diệt trừ nghiệp chướng. Nếu muốn sinh vào gia đình đại quý Sát lợi và Chuyển Luân Thánh Vương cũng nên sám hối, diệt trừ nghiệp chướng. Nếu muốn sinh lên trời Tứ Thiên Vương cũng nên sám hối, diệt trừ nghiệp chướng. Nếu muốn sinh lên trời thứ Ba mươi ba, trời Dạ ma, trời Đâu Suất Đà, trời Hóa Lạc, trời Tha Hóa Tự Tại cũng nên sám hối, diệt trừ nghiệp chướng. Nếu muốn sinh lên trời Phạm Phụ, Phạm Tịnh, Đại Phạm cũng nên sám hối, diệt trừ nghiệp chướng. Nếu muốn sinh lên trời Thiếu Quang, Vô Lượng Quang, Tịnh Quang cũng nên sám hối, diệt trừ nghiệp chướng. Nếu muốn sinh lên trời Thiếu Tịnh, Vô Lượng Tịnh, Biến Tịnh cũng nên sám hối, diệt trừ nghiệp chướng. Nếu muốn sinh lên trời Vô Dục, trời Vô Nhiệt, trời Thiện Kiến, trời A Ca Ni Sấc cũng nên sám hối, diệt trừ nghiệp chướng. Nếu muốn cầu quả Tu đà hoàn, quả Tư đà hàm, quả A na hàm, quả A la hán cũng nên sám hối, trừ diệt nghiệp chướng. Nếu muốn nguyện cầu ba minh, sáu thông, Bồ đề tự tại, Thanh Văn lực, Cứu cánh Thanh Văn Đại Tự Tại, Bích Chi Phật Bồ Đề Tự Tại địa cũng nên sám hối, diệt trừ nghiệp chướng. Nếu muốn nguyện cầu trí Nhất Thiết trí, Tịnh trí, Bất Tư Nghị trí, Bất Động Trí, Tam Miệu Tam Bồ Đề Chánh Biến trí cũng nên sám hối, diệt trừ nghiệp chướng. Vì sao vậy ? Này thiện nam tử ! Vì tất cả các pháp từ nhân duyên sinh. Lời Như Lai đã nói, tướng khác sinh, tướng khác diệt do nhân duyên khác vậy. Lúc đó, các pháp quá khứ đã diệt đã hết đã chuyển. Như vậy nghiệp chướng không còn sót lại nữa. Các hành pháp đó chưa được hiện sinh mà khiến cho được sinh ra, nghiệp chướng vị lai lại chẳng khởi lên nữa. Vì sao vậy ? Này thiện nam tử ! Vì tất cả pháp rỗng không. Như Lai đã nói, cũng không chúng sinh, cũng không người sống lâu (?), cũng không nhân ngã, cũng không sinh diệt, cũng không hành pháp. Này thiện nam tử ! Tất cả các pháp đều nương vào gốc. Gốc này cũng chẳng thể nói. Vì sao vậy ? Vì quá hơn tất cả tướng vậy. Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân vào đến chân lý như vậy mà sinh ra tín kính thì đó gọi là không chúng sinh mà có gốc. Do nghĩa này nên nói đến sám hối trừ diệt nghiệp chướng. Này thiện nam tử ! Có bốn thứ pháp thành tựu để thiện nam tử, thiện nữ nhân diệt trừ nghiệp chướng, được vĩnh viễn thanh tịnh. Những gì là bốn ? Một là chính tâm thành tựu. Hai là nghĩ đến nghĩa kinh thậm thâm chẳng sinh bài báng. Ba là đối với Bồ tát mới phát tâm khởi lên tâm Nhất Thiết trí. Bốn là đối với tất cả chúng sinh khởi lên lòng vô lượng Từ. Nếu có thể thành tựu bốn thứ pháp như vậy mà sám hối thì nghiệp chướng được trừ diệt vĩnh viễn.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn nói kệ rằng :

Chuyên tâm hộ ba nghiệp

Chẳng bài báng thâm kinh

Tạo tâm Nhất Thiết trí

Nghiệp chướng sạch, từ tâm.

Này thiện nam tử ! Lại có bốn thứ nghiệp chướng rất lớn khó có thể thanh tịnh. Những gì là bốn ? Một là đối với luật nghi của Bồ tát phạm ác rất nặng. Hai là đối với mười hai bộ kinh Đại Thừa mà lòng sinh ra bài báng. Ba là ở trong tự thân chẳng thể tăng trưởng tất cả thiện căn. Bốn là Tâm tham trước “hữu”.

Lại có bốn pháp đối trị diệt trừ nghiệp chướng. Những gì là bốn? Một là đối với tất cả các đức Như Lai trong thế giới mười phương chí tâm thân cận sám hối tất cả tội.

Hai là vì tất cả chúng sinh trong mười phương mà khuyến thỉnh các đức Phật nói các diệu pháp.

Ba là tùy hỷ công đức thành tựu sở hữu của tất cả chúng sinh trong mười phương.

Bốn là tất cả công đức căn lành sẵn có của mình đều đem hồi hướng về Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Khi đó, Thiên Đế Thích bạch đức Phật rằng :

– Thưa đức Thế Tôn ! Làm sao đối với hạnh Đại Thừa mà thiện nam tử, thiện nữ nhân có người hành, có người chẳng hành hạnh ấy ? Làm sao mà tùy hỷ được công đức thiện căn của tất cả chúng sinh ?

Đức Phật dạy rằng :

– Này thiện nam tử ! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân, ngày đêm sáu thời, trật áo vai phải, gối phải quỳ xuống đất chắp tay cung kính, một lòng một ý, miệng nói rằng : “Tất cả chúng sinh của thế giới mười phương tu thí, tu giới, tu định thì con nay đều tùy hỷ !” Do sự tùy hỷ như trước nên tôn thắng khả ái vô thượng vô đẳng đều tùy hỷ. Như vậy sở hữu thiện căn quá khứ vị lai đều tùy hỷ. Ở trong đời hiện tại, công đức phát tâm Bồ Đề sở hữu của Bồ tát sơ phát tâm, đại công đức tụ sở hữu của người hành hạnh Bồ tát hơn trăm đại kiếp, được Vô sanh pháp nhẫn, được bất thoái địa, gom công đức được Nhất sinh bổ xứ... Tất cả công đức như vậy đều dùng tùy hỷ khen ngợi đều như nói trên. Công đức của tất cả Bồ tát quá khứ, vị lai đều tùy hỷ khen ngợi cũng lại như vậy. Hiện tại mười phương thế giới, tất cả chư Phật Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri đã đủ đạo Tam Bồ Đề, vì độ thoát tất cả chúng sinh, chuyển vô thượng pháp luân, làm pháp thí vô ngại, thắp đuốc Đại pháp, đánh lên trống Đại pháp, thổi loa Đại pháp phát ra âm thanh vi diệu, dựng Đại pháp tràng... Tất cả chúng sinh đều nhờ ơn pháp thí đều được no đủ, khuyến hóa chúng sinh đều khiến cho họ tín thọ, vì muốn an lạc cho tất cả chúng sinh, ai niệm tất cả chúng sinh. Tất cả người trời đều nhờ ơn an lạc. Thiện căn công đức của Thanh Văn, Bích Chi Phật, Bồ tát đều đã tu tập lập thành. Nếu có chúng sinh chưa đủ các công đức như đây thì đều khiến cho họ đầy đủ. Con đều tùy hỷ mà khen ngợi họ. Nói như vậy cũng như sở hữu công đức của chư Phật, Bồ tát và chúng Thanh Văn của ba đời, con đều phát sinh tùy hỷ mà khen ngợi ”. Đúng vậy ! Này thiện nam tử ! Tùy hỷ có vô lượng vô số công đức tụ ! Ví như tất cả chúng sinh sẵn có của ba ngàn đại thiên hằng hà sa số thế giới đều thành A la hán, diệt tất cả các lậu mà có thiện nam tử, thiện nữ nhân trọn cả đời dùng y phục, ẩm thực, ngọa cụ, y dược tứ sự cúng dường thì công đức như vậy chẳng bì kịp tùy hỷ người tu công đức. Vì sao vậy ? Vì công đức trước có số có lượng, chẳng nhiếp lấy tất cả các công đức, còn công đức tùy hỷ này không lượng không số, có thể nhiếp lấy tất cả công đức của ba đời. Vậy nên, này thiện nam tử ! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân muốn tăng trưởng thiện căn của mình thì nên tùy hỷ người tu công đức như vậy. Nếu có nữ nhân muốn chuyển nữ nhân làm nam thân thì nên phải tùy hỷ người tu công đức như vậy !

Lúc đó, trời Đế Thích bạch đức Phật rằng :

– Thưa đức Thế Tôn ! Nguyện xin ngài vì con lại nói về công đức khuyến thỉnh ! Vì con muốn khiến cho Bồ tát vị lai được ánh sáng lớn và Bồ tát hiện tại phát nguyện tu hành.

Đức Phật dạy rằng :

– Này thiện nam tử ! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân cầu nguyện Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác thì phải tu hành đạo Đại thừa Thanh Văn, Duyên Giác. Nếu có chúng sinh chưa được tu hành thì ngày đêm sáu thời, trật áo vai phải, quì gối phải xuống đất chắp tay cung kính, một lòng một ý, miệng tự nói rằng : “Đảnh lễ tất cả chư Phật Thế Tôn mười phương hiện đã được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác có thể chuyển pháp luân Vô thượng ! Con hôm nay đều đảnh lễ khuyến thỉnh chư Phật chuyển pháp luân Vô thượng, thắp đèn Đại pháp, giữ gìn đạo lý của pháp, thí pháp vô ngại, thắp đuốc Đại pháp, mưa xuống Đại pháp vũ, đánh trống Đại pháp, thổi tù và Đại pháp phát ra âm thanh vi diệu, dựng Đại pháp tràng vì độ thoát tất cả chúng sinh... đều nói như trên cho đến người trời đều nhờ ơn an lạc”.

Lại nữa, này thiện nam tử ! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân muốn được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác thì nên tu hạnh Đại Thừa Thanh Văn, Duyên Giác ! Trong số ấy có người chưa tu hành thì ngày đêm sáu thời, trật áo vai phải, gối phải quì xuống đất, chắp tay cung kính, một lòng một ý, miệng tự nói lên rằng : “Đảnh lễ tất cả chư Phật Thế Tôn trong mười phương thế giới muốn bỏ ứng thân vào Niết Bàn thì hôm nay con cúi thỉnh chư Phật chớ Bát Niết Bàn, trụ lâu ở đời, độ thoát, đem an lạc cho tất cả chúng sinh... như đã nói ở trước cho đến người trời đều nhờ ơn mà an lạc !

Nay con đem công đức thiện căn khuyến thỉnh này để hồi hướng về Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Cũng như công đức sở hữu của các vị Đại Bồ tát quá khứ, vị lai và hiện tại đều hồi hướng về Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, con cũng như vậy, tất cả công đức khuyến thỉnh mà con có đều hồi hướng hết về Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác !”. Này thiện nam tử !

Giả dụ như có thiện nam tử, thiện nữ nhân dùng thất bảo chứa đầy trong ba ngàn đại thiên thế giới cúng dường Như Lai. Nếu lại có thiện nam tử, thiện nữ nhân khuyến thỉnh Như Lai chuyển Đại Pháp Luân thì phước công đức khuyến thỉnh ấy hơn phước kia. Vì sao vậy ?

Vì thiện căn trên đó tức là tài thí, còn công đức khuyến thỉnh tức là pháp thí. Này thiện nam tử ! Vả như bảy báu đặt ở ba ngàn đại thiên hằng hà sa số thế giới, nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân dùng bảy báu đầy hằng hà sa số thế giới đó mà cúng dường tất cả các đức Phật.

Nhưng nếu lại có thiện nam tử, thiện nữ nhân khuyến thỉnh Như Lai chuyển Đại Pháp Luân thì phước ấy hơn phước trên kia. Vì sao vậy ? Vì pháp thí ấy có năm thứ việc.

Những gì là năm ?

Một Pháp thí thì người và ta đều được lợi, còn Tài thí chẳng vậy.

Hai là Pháp thí có thể khiến cho chúng sinh ra khỏi ba cõi, còn Tài thí thì chẳng ra khỏi Dục giới.

Ba là Pháp thí thì lợi ích cho pháp thân, còn Tài thí thì tăng trưởng sắc thân.

Bốn là Pháp thí thì tăng trưởng đến vô cùng, còn Tài thí thì nhất định có cạn kiệt.

Năm là Pháp thí có thể đoạn trừ vô minh, còn Tài thí thì dừng phục lòng tham. Vậy nên, này thiện nam tử ! Công đức khuyến thỉnh vô lượng vô số, khó có thể ví dụ.

Như thuở xưa khi ta làm hạnh Bồ tát, như ở trước các đức Thế Tôn khuyến thỉnh chuyển Đại Pháp Luân. Do thiện căn này nên tất cả Đế Thích và Đại Phạm Vương khuyến thỉnh ta chuyển Đại Pháp Luân. Thế Tôn thỉnh chuyển Pháp Luân vì độ thoát và đem an lạc cho tất cả chúng sinh và các người, trời.

Ta ở thuở xưa, khi làm hạnh Bồ Đề đã khuyến thỉnh Như Lai ở đời lâu dài chớ Bát Niết Bàn. Nương vào công đức này nên ta được mười lực, bốn vô sở úy, bốn vô ngại biện, đại từ đại bi, được vô lượng vô số pháp bất cộng. Ta đã vào với Vô dư Niết Bàn mà Chánh pháp của ta trụ ở đời lâu dài.

Pháp thân của ta thì thanh tịnh vô tỷ với đủ thứ tướng mạo, vô lượng trí tuệ, vô lượng tự tại, vô lượng phước đức khó có thể nghĩ bàn. Tất cả chúng sinh nhờ ơn sâu từ nhuận mà trăm ngàn vạn ức kiếp nói chẳng thể hết. Vậy nên pháp thân của ta có thể nhiếp tàng tất cả pháp mà tất cả pháp chẳng thể nhiếp tàng pháp thân.

Pháp thân thường trụ chẳng rơi vào thường kiến, tuy lại đoạn diệt nhưng chẳng rơi vào đoạn kiến mà phá tan đủ thứ kiến của tất cả chúng sinh, có thể sinh ra tất cả chủng loại chân kiến, có thể cởi bỏ sự trói buộc cùng sự chẳng khác trói buộc của tất cả chúng sinh, có thể gieo trồng những cội rễ thiện của tất cả chúng sinh, có thể thành thục căn lành của tất cả chúng sinh, người đã thành thục thì có thể khiến cho được giải thoát, không tác không động, vô vi tịch mịch, an lạc tự tại, xa lìa rối loạn ồn ào, qua khỏi ba đời có thể thấy ba đời, qua khỏi cảnh giới của Thanh Văn, Duyên Giác, là sự tu hành của Đại địa Bồ tát, tất cả Như Lai đều không khác bản thể.

Nhờ lực thiện căn công đức khuyến thỉnh nên pháp thân như vậy hôm nay ta đã được. Vậy nên, này thiện nam tử ! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân vì được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác mà một câu, một kệ do giữ gìn, khuyến hóa và vì người giảng nói thì thiện căn công đức khó có thể hạn lượng, huống gì là khuyến thỉnh Như Lai chuyển Đại Pháp Luân, trụ thế lâu dài chớ vào Niết Bàn ?

Lúc đó, trời Đế Thích bạch đức Phật rằng :

– Thưa đức Thế Tôn ! Làm sao thiện nam tử, thiện nữ nhân vì được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác mà tu hành đạo Đại thừa Thanh Văn Duyên Giác ? Nếu có chúng sinh chưa được tu hành thiện căn công đức thì làm sao đem hết hồi hướng vì trí Nhất Thiết trí ?

Đức Phật dạy rằng :

– Này thiện nam tử ! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân muốn cầu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác thì tu hành đạo Đại thừa Thanh Văn Duyên Giác. Nếu có chúng sinh chưa được tu hành thì một ngày một đêm, một lòng một ý, miệng tự nói rằng : “Con từ vô thỉ sinh tử đến nay, thiện căn đã có của con đều đã thành tựu, ở chỗ Tam Bảo hoặc ở chỗ khác... cho đến súc sinh, người chẳng phải người.v.v... cho đến đem một thăng, một nhúm (toát : một đơn vị đo lường ngày xưa) đem bố thí cho tất cả, và dùng lời nói khéo léo hòa giải sự đấu tranh, ba qui y, học giới, tất cả thiện căn công đức đều do sám hối mà được, đều do tùy hỷ mà được, đều do khuyến thỉnh mà được. Những thiện căn đó đặt yên một chỗ rồi nhiếp lấy đồng thời tập hợp xưng lường đều đem bố thí trở lại cho tất cả chúng sinh, đã vĩnh viễn xả thí lại không lòng đoạt lấy, giải thoát chẳng nhiếp lấy. Như chư Phật Thế Tôn thấy biết chẳng thể nghĩ lường, trí tuệ của Phật, vô ngại, vô cấu. Tất cả thiện căn công đức như vậy, chư Phật đem bố thí trở lại cho tất cả chúng sinh mà chẳng trụ tướng tâm, chẳng xả tướng tâm. Con cũng như vậy, thiện căn công đức đều đem bố thí trở lại cho tất cả chúng sinh. Con nguyện cho tất cả chúng sinh đều được tay báu phá hư không sinh ra báu thỏa mãn nguyện của chúng sinh. Phú lạc vô tận, phước đức vô tận, diệu pháp vô tận, tự tại vô tận, bốn biện tài vô tận vì được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, vì được trí Nhất Thiết Trí nên con nay thí cho tất cả chúng sinh thiện căn công đức. từ thiện căn này lại thu hoạch vô lượng tất cả thiện căn, rồi con tập hợp xưng lường đem hết hồi hướng về Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Nhờ thiện căn này nên đều cùng với chúng sinh chung đến Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, được trí Nhất Thiết Trí. Như đức Đại Bồ tát thuở xưa tu hành đạo Bồ đề thì thiện căn công đức đều hồi hướng vì Nhất Thiết Chủng trí. Con cũng như vậy, thiện căn công đức cũng đều hồi hướng về Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác và nhân thiện căn này nên cũng cùng với chúng sinh đồng chung cùng một lúc được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Vì được trí Nhất Thiết Trí. Giống như thiện căn công đức của Đại Bồ tát vị lai cũng nên hồi hướng chung cùng với tất cả chúng sinh được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Con cũng như vậy, thiện căn công đức sẵn có của con cũng đem hồi hướng... như rộng nói ở trên. Giống như thiện căn công đức của đức Đại Bồ tát hiện tại hồi hướng về Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, cùng với tất cả chúng sinh chung được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Con cũng như vậy, thiện căn công đức sẵn có của con cũng cùng với chúng sinh chung đó... như rộng nói ở trên. Như các đức Phật khác ngồi dưới cây Bồ Đề Đạo Tràng, vô cấu thanh tịnh chẳng thể nghĩ bàn, trụ ở Pháp tạng vô tận, Đà la ni, Thủ Lăng Nghiêm tam muội, phá ma Ba Tuần và vô lượng binh chúng, nên thấy nên biết nên giác ngộ, nên thông đạt... Tất cả như vậy mà trong một sát na đều soi rõ hết. Rồi vào sau đêm chứng được đạo Cam Lộ, được pháp Cam Lộ. Con cũng như vậy, cùng với tất cả chúng sinh đồng chung thiện căn. Nhờ thiện căn này nên đều được đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, đồng được trí Nhất Thiết Trí giống như : đức Phật Vô Lượng Thọ, đức Phật Thắng Quang, đức Phật Diệu Quang - Đức Phật A Súc, đức Phật Công Đức Thiện Quang, đức Phật Sư Tử Quang Minh, đức Phật Bách Quang Minh, đức Phật Võng Quang Minh, đức Phật Bảo Tướng, đức Phật Bảo Viêm, đức Phật Viêm Quang Minh, đức Phật Viêm Thịnh Quang Minh, đức Phật An Cát Thượng Vương, đức Phật Vi Diệu Thanh, đức Phật Diệu Trang Nghiêm, đức Phật Pháp Tràng, đức Phật Thượng Thắng Thân, đức Phật Biến Khả Ái Sắc, đức Phật Quang Minh Biến Chiếu, đức Phật Phạm Tịnh Vương, đức Phật Thượng Tính.

Như vậy các đức Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri quá khứ, vị lai, hiện tại đều thị hiện ứng hóa được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, chuyển Vô Thượng Pháp Luân, vì muốn độ thoát, đem an lạc cho tất cả chúng sinh... nói rộng ra như trên. Con cũng vậy, đồng chung với chúng sinh được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, chuyển Đại pháp luân... nói rộng ra như trên”. Này thiện nam tử !

Nếu ông được Phẩm Diệt Nghiệp Chướng của vua mọi thứ kinh Kim Quang Minh này thì ông phải thọ trì, đọc tụng, nhớ nghĩ chẳng quên, vì người khác giải nói rộng rãi thì gom được vô lượng vô số công đức rộng lớn. Giống như tất cả chúng sinh sẵn có trong ba ngàn đại thiên thế giới, không có trước sau (cùng một lúc), đều được thành tựu thân người, được thân người rồi, được đạo Duyên Giác. Rồi nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân trọn đời cung kính lễ bái, tứ sự cúng dường từng vị Duyên Giác một.

Mỗi mỗi đều cung cấp bảy báu nhiều như núi Tu Di để cúng dường. Như vậy rồi từng vị Duyên Giác một đều vào Niết Bàn, người ấy, khởi dựng tháp bảy báu mà mỗi một tháp đều bằng thất bảo. Những gì là bảy báu?

Là : vàng, bạc, lưu ly, pha lê, mã não, xa cừ, báu xanh vàng.v.v... Những tháp ấy cao rộng mười hai do tuần. Ở chỗ những tháp này dùng những hoa hương tràng phan bảo cái... mỗi một thứ đồ cúng đều dùng để cúng dường.

Này thiện nam tử ! Ý ông thế nào ? Thiện nam tử, thiện nữ nhân đó được phước nhiều lắm không ?

– Rất nhiều, thưa đức Thế Tôn !

Đức Phật dạy rằng :

– Này thiện nam tử ! Phẩm Diệt Nghiệp Chướng của vua mọi kinh điển Kim Quang Minh vi diệu này, ông phải thọ trì đọc tụng, nhớ nghĩ chẳng quên, vì người khác giải nói rộng rãi thì công đức thiện căn như đã nói trước đối với công đức tụ sở đắc sau của ông trăm phần chẳng bì kịp một ! Dù trăm ngàn vạn ức phần tính toán, ví dụ đã chẳng thể bì kịp ! Vì sao vậy ? Vì thiện nam tử, thiện nữ nhân đó trụ ở trong Chính hạnh, khuyến thỉnh đấng Chánh Giác Thế Tôn của cõi Phật mười phương chuyển pháp luân Vô Thượng, đều khiến cho Như Lai hoan hỷ khen ngợi. Này thiện nam tử ! Như lời ta nói, trong tất cả sự bố thí thì Pháp thí là hơn hết, vậy nên này thiện nam tử ! Ở chỗ Tam Bảo thiết lễ cúng dường chẳng thể sánh được ! Thọ trì Tam Qui và các giới cấm chẳng thể sánh được ! Tam Bảo chẳng rỗng không chẳng thể sánh được ! Tam Bảo ba đời của tất cả thế giới mà khuyến thỉnh trụ thế lâu dài chẳng thể so sánh được ! Ba đời tất cả thế giới ở vô lượng kiếp, khuyến thỉnh Như Lai nói Chánh pháp thậm thâm, chẳng thể so sánh được ! Tất cả chúng sinh của tất cả thế giới tùy sức lực, tùy khả năng, tùy tấm lòng mà ở trong ba thừa khuyên phát tâm Bồ Đề, chẳng thể sánh được ! Ba đời chúng sinh của tất cả thế giới đều khiến cho họ không trở ngại, mau chóng được thành tựu công đức đủ đầy, chẳng thể sánh được ! Ba đời chúng sinh sẵn có của tất cả thế giới mà khuyên bảo khiến cho họ không ngăn ngại được Tam Bồ Đề, chẳng thể sánh được ! Ba đời chúng sinh của tất cả thế giới mà khuyên bảo khiến cho họ ra khỏi bốn đường ác, chẳng thể sánh được ! Ba đời chúng sinh của tất cả thế giới mà khuyên bảo khiến cho họ diệt hết nghiệp ác sâu, chẳng thể sánh được ! Tất cả khổ não mà khuyên bảo khiến cho họ được giải thoát, chẳng thể so sánh được ! Tất cả sợ hãi khốn khổ bức bách mà khuyên bảo khiến cho họ được giải thoát, chẳng thể sánh được! Ở trước chư Phật ba đời, thiện căn công đức sẵn có của tất cả chúng sinh mà khuyên bảo khiến cho họ đều đem tùy hỷ, tự phát nguyện Bồ Đề ba đời, chẳng thể sánh được! Ác hạnh, nhục mạ, đường nghiệp ác diệt trừ, tất cả thiện căn công đức đều nguyện nhiếp trì, sinh sống khắp nơi nơi đều khuyến thỉnh cung kính cúng dường tất cả Tam bảo, khuyến thỉnh khắp đều thanh tịnh phước hạnh, thành tựu viên mãn đạo Tam Bồ Đề, khuyến thỉnh viên mãn đầy đủ sáu Ba la mật, khuyến thỉnh chuyển Pháp Luân Vô Thượng, khuyến thỉnh trụ vô lượng kiếp, nói vô lượng diệu pháp thậm thâm... chẳng thể so sánh được !

Lúc đó, trời Đế Thích, nữ thần, sông Hằng, vô lượng những Phạm vương và Tứ Thiên Vương đứng dậy, đều trật áo vai phải, quì gối phải xuống dất, chắp tay đảnh lễ mà bạch đức Phật rằng :

– Thưa đức Thế Tôn ! Chúng con, tất cả được nghe vua của mọi kinh Kim Quang Minh này, nay phải thọ trì đọc tụng, vì người khác giải nói rộng rãi nên phải nương vào pháp này mà trụ. Vì sao vậy ? Thưa đức Thế Tôn ! Vì chúng con muốn cầu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác theo nghĩa này, đủ thứ tướng hạnh Chánh pháp vậy.

Lúc đó, Phạm vương và trời Đế Thích.v.v... đều vân tập đến chỗ nghe pháp, dùng đủ thứ hoa Mạn đà la mà tung lên trên đức Phật. Đất của ba ngàn đại thiên thế giới đều chấn động lớn, tất cả trống trời và các âm nhạc chẳng tấu mà tự kêu lên, phóng ra ánh sáng màu vàng đầy cùng khắp thế giới, phát ra tiếng nói rằng, kinh điển vi diệu Kim Quang Minh này đem từ ân đến kịp khắp nơi, đủ thứ lợi ích,đủ thứ thiện căn Bồ tát tăng trưởng, diệt trừ các nghiệp chướng.

Đức Phật dạy rằng :

– Đúng vậy ! Đúng vậy ! Đúng như lời ông nói ! Vì sao vậy ? Này thiện nam tử ! Vì ta nhớ từ thuở xưa đến đời này với hàng trăm ngàn atăngkỳ kiếp, có đức Bảo Vương Đại Viêm Chiếu Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri xuất hiện ở đời và trụ ở thế giới những sáu trăm tám mươi ức kiếp. Lần tập hội đầu tiên của ngài với trăm ngàn ức ức vạn chúng đều được A la hán, các lậu đã hết, đủ sáu thần thông, tự tại vô ngại. Lần tập hội thứ hai với chín mươi ngàn ức ức vạn chúng được A la hán, các lậu đều hết, ba minh sáu thông đều được tự tại. Lần tập hội thứ ba với chín mươi tám ngàn ức ức vạn chúng đều được A la hán, ba minh sáu thông tự tại vô ngại. Lúc đó, đức Như Lai Bảo vương Đại Viêm Chiếu cùng với những người trời, Phạm vương, Sa môn, Bà la môn và các nhân dân vì muốn độ thoát đem an lạc cho tất cả nên xuất hiện ở đời. Này thiện nam tử ! Ta vào lúc bấy giờ làm thân nữ nhân tên là Phước Bảo Quang Minh. Lần tập hội thứ ba, chỗ ngồi của ta ở hội gần gũi đức Thế Tôn, ta thọ trì đọc tụng kinh Kim Quang Minh này, vì người khác giải nói rộng rãi, được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Vậy nên đức Thế Tôn đã vì ta thọ ký rằng : Người con gái Phước Bảo Quang Minh này, ở đời vị lai, sẽ được làm Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri Minh Hành Túc Thiện Thệ Thế Gian Giải Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu Thiên Nhân Sư Phật Thế Tôn. Sau khi xả bỏ thân nữ, từ đó đến nay qua khỏi bốn đường ác, sinh trong cõi trời người, hưởng thụ niềm vui thượng diệu, tám mươi bốn trăm ngàn lần làm Chuyển Luân Vương, đến ngày hôm nay được làm Phật mà danh xưng vang lừng đầy khắp thế giới.

Lúc này, hội chúng mới thấy đức Như Lai Bảo Vương Đại Viêm Chiếu chuyển pháp luân Vô Thượng, nói pháp vi diệu. Từ cõi Ta Bà này đi về phương Đông kia, qua trăm ngàn hằng hà sa số cõi Phật, có thế giới tên là Bảo Trang Nghiêm, hiện nay đức Phật kia chưa Bát Niết Bàn còn hiện tại đang nói pháp vi diệu, hóa độ chúng sinh rộng rãi.

Lại nữa, nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nghe danh hiệu của đức Như Lai Bảo Vương Đại Viêm Chiếu này thì được Bất Thoái Chuyển ở Bồ tát địa đến Bát Niết Bàn. Nếu có người nữ nghe danh hiệu của đức Như Lai Bảo Vương Đại Viêm Chiếu thì đến lúc sắp mạng chung đức Thế Tôn đi đến chỗ người ấy. Được thấy đức Phật rồi thì họ rốt ráo chẳng lại thọ thân nữ. Này thiện nam tử ! Kinh điển vi diệu Kim Quang Minh này có đủ thứ lợi ích, đủ thứ căn lành của Bồ tát tăng trưởng, diệt trừ các nghiệp chướng. Này thiện nam tử ! Nếu có Tỳkheo, Tỳkheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di ở tại khắp nơi nơi vì người giảng nói Kinh điển vi diệu Kim Quang Minh này thì ở tại đất nước của họ đều được bốn thứ thiện căn công đức. Những gì là bốn?

Một là quốc vương không có các bệnh tật, phiền não và tất cả tai ách.

Hai là thọ mạng lâu dài không có chướng ngại.

Ba là không có những oán địch binh chúng dũng kiện không ai có thể thắng.

Bốn là an ổn khoái lạc, diệu pháp thường hưng thịnh. Vì sao vậy? Vì vua người như vậy thì Đế Thích, Phạm vương, Tứ Thiên Vương, chúng Dạ xoa thường đến thủ hộ họ. Này thiện nam tử ! Có việc như vậy không ?

Những vô lượng Đế Thích, Phạm Vương, Tứ Thiên Vương và chúng Dạ xoa đều cùng lúc đồng thanh đáp lời đức Thế Tôn rằng :

– Đúng vậy ! Đúng vậy ! Nếu ở tại đất nước có giảng nói kinh này thì quốc vương các nước đó được chúng tôi, bốn thiên vương thường đến ủng hộ, đi đứng chung cùng với các vua ấy. Nếu có tất cả tai chướng, oán địch thì chúng con, bốn thiên vương đều có thể tiễn đưa đi hết. Nếu có bệnh tật, phiền não, những điều chẳng vừa ý chúng con đều khiến cho trừ khỏi, tăng trưởng thọ mạng. Đối với pháp Cát tường, đối với pháp ái kính sức chúng con có thể khiến cho họ sinh lòng hoan hỷ. Chúng con cũng có thể làm cho binh chúng của những vua ấy đều dũng kiện !

Đức Phật dạy rằng :

– Hay thay ! Hay thay ! Này thiện nam tử ! Đúng như lời ông nói! Các ông hãy tu hành ! Vì sao vậy ? Vì các quốc vương này theo đúng như pháp tu hành. Tất cả nhân dân theo vua tu tập. Nếu có nhân dân có thể theo đúng như pháp tu hành thì các ông đều nhờ ơn mà sắc lực thắng lợi, cung điện sáng đẹp, quyến thuộc cường thịnh !

Các Đế Thích, Phạm Vương.v.v... bạch đức Phật rằng :

– Đúng vậy ! Thưa đức Thế Tôn !

Đức Phật dạy rằng :

– Ở đất nước này, nơi nơi giảng nói kinh điển vi diệu Kim Quang Minh thì đối với các đại thần, tể tướng của đất nước mong nhờ bốn thứ ân : Một là tương thân, hòa kính, ái niệm, tôn trọng, an nhẫn lẫn nhau. Hai là thường được lòng kính trọng của vị nhân vương (vua người), cũng được sự ái kính ủng hộ của Sa môn, Bà la môn, nước lớn, nước nhỏ. Ba là khinh tài, trọng pháp, chẳng cầu thắng lợi, thanh danh lan truyền khắp, mọi người khen ngợi ngưỡng mộ. Bốn là thọ mạng lâu dài, yên ổn khoái lạc. Như vậy là bốn thứ ân đức. Nếu có đất nước tuyên nói kinh này thì Sa môn, Bà la môn .v.v... được bốn thứ công đức. Những gì là bốn ? Một là y phục, ẩm thực, ngọa cụ, y dược. Hai là đều được an tâm ngồi thiền, đọc tụng. Ba là nương vào núi rừng được trụ yên vui. Bốn là nương vào tâm đều được thỏa mãn đầy đủ như ý. Đó gọi là bốn công đức. Nếu có đất nước giảng nói Kinh này thì tất cả nhân dân đều được giàu thịnh an vui, không có các dịch bệnh, khách thương buôn qua lại thu hoạch được nhiều của báu, đầy đủ bốn phước. Đó gọi là đủ thứ công đức lợi ích.

Lúc đó, Đế Thích, Phạm Vương, bốn Thiên vương và đại chúng của hội này, bạch đức Phật rằng :

– Thưa đức Thế Tôn ! Như vậy ý nghĩa kinh điển này rất sâu, nếu đời hiện tại có đức Như Lai, ba mươi bảy phẩm trợ đạo.v.v... thì trụ thế chưa diệt. Nhưng nếu khi kinh điển này tận diệt thì Chánh pháp cũng diệt !

Đức Phật dạy rằng :

– Vậy nên, này thiện nam tử ! Đúng vậy ! Tướng mạo của kinh Kim Quang Minh này, một câu, một bài kệ, một phẩm, một bộ mà nếu một lòng nghe chân chính, một lòng gìn giữ chân chính, một lòng suy nghĩ chân chính, một lòng đọc tụng chân chính, một lòng vì người khác giảng nói rộng rãi thì được an vui mãi mãi.

Nguồn bản dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng KinhGiấy phép: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Việt dịch) · nguồn: rongmotamhon.net (Liên Phật Hội) · EN: AI translation from Vietnamese source, awaiting source English🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch bằng AI do Inti biên soạn: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến