Inti DharmaInti Dharma
← Kinh điển
Đại Thừa — Tạng Bắc Truyền · Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Việt dịch)

Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh quyển 14

Tên chữ Hán:大方廣佛華嚴經

📖6,891 từ · ~28 phút đọc
2
Bản dịch đầy đủ (Tiếng Việt)

11. PHẨM TỊNH HẠNH THỨ MƯỜI MỘT

(Hán Bộ Phần Đầu Quyển 14)

Lúc bấy giờ Trí Thủ Bồ Tát hỏi Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát: "Phật tử! Bồ Tát làm thế nào thân, ngữ, ý, ba nghiệp được không lỗi lầm? Thân, ngữ, ý, ba nghiệp được chẳng tổn hại ? Thân, ngữ, ý, ba nghiệp được không thể bị hủy hoại? Thân, ngữ, ý, ba nghiệp được chẳng dao động? Thân, ngữ, ý ba nghiệp được thù thắng ? Thân, ngữ, ý, ba nghiệp được vô nhiễm? Thân, ngữ, ý, ba nghiệp được trí dẫn đạo?

Bồ Tát làm thế nào được sanh xứ đầy đủ? Chủng tộc đầy đủ? Gia thế đầy đủ? Sắc thân đầy đủ? Tướng mạo đầy đủ? Niệm đầy đủ? Huệ đầy đủ? Hạnh đầy đủ? Vô úy đầy đủ? Giác ngộ đầy đủ?

Bồ Tát làm thế nào được thắng huệ? Được đệ nhứt huệ? Được tối thượng huệ? Được tối thắng huệ? Được vô lượng huệ? Được vô số huệ? Được bất tư nghì huệ, Được vô giữ đẳng huệ? Được bất khả lượng huệ? Được bất khả thuyết huệ?

Bồ Tát làm thế nào được: nhơn lực, duyên lực, dục lực, phương tiện lực, sở duyên lực, căn lực, quan sát lực, xa ma tha lực, tỳ bát xá na lực, tư duy lực?

Bồ Tát làm thế nào được: uẩn thiện xảo, xứ thiện xảo, giới thiện xảo, duyên khởi thiện xảo, dục giới thiện xảo, sắc giới thiện xảo, vô sắc giới thiện xảo, quá khứ thiện xảo, vị lai thiện xảo, hiện tại thiện xảo?

Bồ Tát làm thế nào khéo tu tập: niệm giác phần, trạch pháp giác phần, tinh tấn giác phần, hỉ giác phần, xả giác phần, không giác phần, vô tướng giác phần, vô nguyện giác phần?

Bồ Tát làm thế nào được viên mãn: đàn ba la mật, thi ba la mật, sằn đề ba la mật, tỳ lê gia ba la mật, thiền na ba la mật, tỳ lê gia ba la mật, thiền na ba la mật, bát nhã ba la mật, từ, bi, hỉ, xả?

Bồ Tát làm thế nào được thập lực: xứ phi xứ trí lực, quả vị hiện tại nghiệp báo trí lực, căn thắng liệt trí lực, chủng chủng giới trí lực, chủng chủng giải trí lực, nhứt thiết chí xứ đạo trí lực, thiền giải thoát tam muội nhiễm tịnh trí lực, túc trụ niệm trí lực, vô chướng ngại thiên nhãn trí lực, đoạn chư tập trí lực?

Bồ Tát làm thế nào thường được sự thủ hộ cung kính cúng dường của: Thiên Vương, Long Vương, Dạ Xoa Vương, Càn thát bà Vương, A tu la Vương, Ca lâu la Vương, Khẩn na la Vương, Ma hầu la già Vương, Nhơn Vương, Phạm Vương?

Bồ Tát làm thế nào được mình là những chỗ: y tựa, cứu độ, chỗ về, chỗ đến, là đuốc, là sáng, là soi, là dẫn đạo, thắng đạo, phổ đạo cho tất cả chúng sanh?

Đối với tất cả chúng sanh, Bồ Tát làm thế nào là: đệ nhứt, là lớn, là thắng, là tối thắng, là diệu, là cực diệu, là thượng, là vô thượng, là vô đẳng, là vô đẳng đẳng?

Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát bảo Trí Thủ Bồ Tát: "Lành thay Phật tử! nay ngài vì muốn nhiều lợi ích, nhiều an ổn, thương xót thế gian, lợi lạc thiên nhơn mà hỏi những nghĩa như vậy.

Phật tử! Nếu Bồ Tát khéo dụng tâm thời được tất cả công đức thắng diệu, nơi Phật pháp được tâm vô ngại, được trụ nơi đạo của tam thế chư Phật, trụ theo chúng sanh hằng không bỏ rời, đều có thể thông đạt đúng các pháp tướng, dứt tất cả điều ác, đầy đủ tất cả điều lành, sẽ được hình sắc đệ nhứt như Phổ Hiền, đầy đủ tất cả hạnh nguyện, với tất cả pháp đều được tự tại, sẽ là đạo sư thứ hai của chúng sanh.

Phật tử! Bồ Tát dụng tâm thế nào mà có thể được tất cả thắng diệu công đức?

Phật tử lóng nghe đây:

Bồ Tát ở nhà, nên nguyện chúng sanh, biết nhà tánh không, khỏi sự bức ngặt.

Hiếu thờ cha mẹ, nên nguyện chúng sanh, kính thờ chư Phật, hộ dưỡng tất cả.

Vợ con hội họp, nên nguyện chúng sanh, oán thân bình đẳng, lìa hẳn tham trước.

Nếu được ngũ dục, nên nguyện chúng sanh, nhổ mũi tên dục, rốt ráo an ổn.

Kỹ nhạc tụ hội, nên nguyện chúng sanh, vui nơi chánh pháp, rõ nhạc chẳng thật.

Nếu ở cung thất, nên nguyện chúng sanh, vào nơi thánh địa, trừ hẳn uế dục.

Lúc đeo trang sức, nên nguyện chúng sanh, bỏ tư trang giả, đến chỗ chơn thật.

Lên trên lâu các, nên nguyện chúng sanh, lên lầu chánh pháp, thấy suốt tất cả.

Nếu có bố thí, nên nguyện chúng sanh, bỏ được tất cả, lòng không ái trước.

Chúng hội tu tập, nên nguyện chúng sanh, xả những tụ pháp, thành nhứt thiết trí.

Nếu ở ách nạn, nên nguyện chúng sanh, tùy ý tự tại, chỗ làm vô ngại.

Lúc bỏ cư gia, nên nguyện chúng sanh, xuất gia vô ngại, tâm được giải thoát.

Vào tăng già lam, nên nguyện chúng sanh, diễn thuyết các thứ pháp không tranh cãi.

Đến đại, tiểu sư, nên nguyện chúng sanh, khéo thờ sư trưởng, tập làm điều lành.

Cầu xin xuất gia, nên nguyện chúng sanh, được pháp bất thối,lòng không chướng ngại.

Thoát bỏ tục nhãn, nên nguyện chúng sanh, siêng tu căn lành, bỏ những tội ách.

Cạo bỏ râu tóc, nên nguyện chúng sanh, lìa hẳn phiền não, rốt ráo tịch diệt.

Đắp y ca sa, nên nguyện chúng sanh, lòng không nhiễm trước, đủ đạo đại tiên.

Lúc chánh xuất gia, nên nguyện chúng sanh, đồng Phật xuất gia, cứu hộ tất cả.

Tự quy y Phật, nên nguyện chúng sanh, nối thạnh Phật chủng, phát tâm vô thượng.

Tự quy y Pháp, nên nguyện chúng sanh, sâu vào kinh tạng, trí huệ như biển.

Tự quy y Tăng, nên nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, tất cả vô ngại.

Lục thọ học giới, nên nguyện chúng sanh, khéo học nơi giới, chẳng làm điều ác.

Thọ Xà Lê dạy, nên nguyện chúng sanh, đầy đủ oai nghi, chỗ làm chơn thật.

Thọ Hòa Thượng dạy, nên nguyện chúng sanh, vào trí vô sanh, đến chỗ vô y.

Thọ giới cụ túc, nên nguyện chúng sanh, đủ các phương tiện, được pháp tối thắng.

Nếu vào nhà cửa, nên nguyện chúng sanh, lên nhà vô thượng, an trụ bất động.

Nếu trải giường tòa, nên nguyện chúng sanh, trải mở pháp lành, thấy tướng chơn thật.

Chánh thân đoan tọa, nên nguyện chúng sanh, ngồi bồ đề toà, tâm không tham trước.

Lúc ngồi kiết già, nên nguyện chúng sanh, căn lành kiên cố, được bực bất động.

Tu hành nơi định, nên nguyện chúng sanh, dùng định phục tâm, rốt ráo không thừa.

Nếu tu pháp quán, nên nguyện chúng sanh, thấy lý như thật, trọn không tranh cãi.

Xả ngồi kiết già, nên nguyện chúng sanh, quan sát hành pháp, đều quy tan mất.

Lúc để chân đứng, nên nguyện chúng sanh, tâm được giải thoát, an trụ bất động.

Nếu cất chân lên, nên nguyện chúng sanh, khỏi biển sanh tử, đủ các pháp lành.

Lúc mặc quần dưới, nên nguyện chúng sanh, mặc những căn lành, đầy đủ hổ thẹn.

Chỉnh áo cột giải, nên nguyện chúng sanh, kiểm thúc căn lành, chẳng để tan mất.

Nếu mặc áo trên, nên nguyện chúng sanh, được căn lành lớn, đến bờ pháp kia.

Đấp tăng già lê, nên nguyện chúng sanh, vào ngôi đệ nhứt, được pháp bất động.

Tay cầm nhành dương, nên nguyện chúng sanh, đều được diệu pháp,rốt ráo thanh tịnh.

Lúc nhăn nhành dương, nên nguyện chúng sanh, tâm ý điều tịnh, nhai các phiền não.

Lúc đại tiểu tiện, nên nguyện chúng sanh, bỏ tham sân si, dẹp trừ điều tội.

Việc rồi đến nước, nên nguyện chúng sanh, trong pháp xuất thế, qua đến mau chóng.

Rửa ráy thân nhơ, nên nguyện chúng sanh, thanh tịnh điều nhu, rốt ráo không nhơ.

Xối nước trên tay, nên nguyện chúng sanh, được tay thanh tịnh, thọ trì Phật pháp.

Dùng nước rửa mặt, nên nguyện chúng sanh, được tịnh pháp môn, trọn không nhơ bợn.

Tay cầm tích trượng, nên nguyện chúng sanh, lập hội bố thí, bày đạo như Phật.

Tay cầm ứng khí, nên nguyện chúng sanh, thành tựu pháp khí, thọ trời người cúng.

Bước chân lên đường, nên nguyện chúng sanh, đến chỗ Phật đi, vào nơi vô y.

Nếu ở nơi đường, nên nguyện chúng sanh, hay đi đường Phật, hướng pháp vô dư.

Theo đường mà đi, nên nguyện chúng sanh, noi tịnh pháp giới,tâm không chướng ngại.

Thấy lên đường cao, nên nguyện chúng sanh, khỏi hẳn ba cõi, tâm không khiếp nhược.

Thấy xuống đường thấp, nên nguyện chúng sanh, tâm ý khiêm hạ lớn căn lành Phật.

Thấy đường quanh co, nên nguyện chúng sanh, bỏ đạo bất chánh, trừ hẳn ác kiến.

Nếu thấy đường thẳng, nên nguyện chúng sanh,tâm ý chánh trực,không dua không dối.

Thấy đường nhiều bụi, nên nguyện chúng sanh, xa lìa bụi bặm, được pháp thanh tịnh.

Thấy đường không bụi, nên nguyện chúng sanh, thường tu đại bi, tâm ý nhuần thấm.

Nếu thấy đường hiểm, nên nguyện chúng sanh, trụ chánh pháp giới, lìa những tội nạn.

Nếu thấy chúng hội, nên nguyện chúng sanh, nói pháp thậm thâm, tất cả hòa hiệp.

Nếu thấy trụ lớn, nên nguyện chúng sanh, lìa tâm chấp ngã, không có phẩn hận.

Nếu thấy tòng lâm, nên nguyện chúng sanh, chư thiên và nhơn, chỗ nên kính lễ.

Nếu thấy núi cao, nên nguyện chúng sanh, căn lành siêu thoát, không thể tột đảnh.

Lúc thấy cây gai, nên nguyện chúng sanh, chóng được cắt bỏ, những gai tam độc.

Thấy cây lá rậm, nên nguyện chúng sanh, dùng định giải thoát, để làm che chói.

Nếu thấy hoa nở, nên nguyện chúng sanh, các pháp thần thông, như hoa đua nở.

Nếu thấy cây hoa, nên nguyện chúng sanh, tướng tốt như hoa, đủ ba mươi hai.

Nếu thấy trái hột, nên nguyện chúng sanh, được pháp tối thắng, chứng đạo bồ đề.

Nếu thấy sông lớn, nên nguyện chúng sanh, được dự pháp lưu, vào Phật trí hải.

Nếu thấy bờ đầm, nên nguyện chúng sanh, chóng ngộ diệu pháp, nhứt vị của Phật.

Nếu thấy ao hồ, nên nguyện chúng sanh, ngữ nghiệp hoàn toàn, hay khéo diễn thuyết.

Nếu thấy giếng nước, nên nguyện chúng sanh, đầy đủ biện tài, diễn tất cả pháp.

Nếu thấy suối chảy, nên nguyện chúng sanh, thêm lớn phương tiện, thiện căn vô tận.

Nếu thấy kiều lộ, nên nguyện chúng sanh, rộng độ tất cả, dường như cầu đò.

Nếu thấy nước chảy, nên nguyện chúng sanh, được ý nguyện lành, rửa nhơ phiền não.

Thấy dọn vườn tược, nên nguyện chúng sanh, trong vườn ngũ dục, dọn sạch cỏ ái.

Thấy rừng vô ưu, nên nguyện chúng sanh, lìa hẳn tham ái, chẳng còn lo sợ.

Nếu thấy công viên, nên nguyện chúng sanh, siêng tu hạnh lành, đến Phật bồ đề.

Thấy người nghiêm sức, nên nguyện chúng sanh, trang nghiêm thân đẹp, ba mươi hai tướng.

Thấy không nghiêm sức, nên nguyện chúng sanh, bỏ những trang sức, đủ hạnh đầu đà.

Thấy người ham vui, nên nguyện chúng sanh, vui nơi chánh pháp, ưa thích chẳng bỏ.

Thấy không ham vui, nên nguyện chúng sanh, trong sự hữu vi, lòng không ưa thích.

Thấy người vui sướng, nên nguyện chúng sanh, thường được an vui, thích cúng dường Phật.

Thấy người khổ não, nên nguyện chúng sanh, được căn bổn trí, dứt trừ sự khổ.

Thấy người mạnh khỏe, nên nguyện chúng sanh, vào chơn thật huệ, trọn không bịnh Khổ.

Thấy người tật bịnh, nên nguyện chúng sanh, biết thân không tịch, lìa sự tranh cãi.

Thấy người xinh đẹp, nên nguyện chúng sanh, với Phật Bồ Tát, thường kính thường tin.

Thấy người xấu xí, nên nguyện chúng sanh, với điều bất thiện, chẳng ưa chẳng thích.

Thấy người báo ơn, nên nguyện chúng sanh, với Phật Bồ Tát, hay biết ơn đức.

Thấy người bội ơn, nên nguyện chúng sanh, với kẻ làm ác, chẳng trả thù oán.

Nếu thấy Sa Môn, nên nguyện chúng sanh, điều nhu tịch tịnh, rốt ráo đệ nhứt.

Thấy Bà La Môn, nên nguyện chúng sanh, giữ trọn phạm hạnh, lìa tất cả ác.

Thấy người khổ hạnh, nên nguyện chúng sanh, y nơi khổ hạnh, đến bực rốt ráo.

Thấy người hạnh tốt, nên nguyện chúng sanh, giữ bền chí hạnh, chẳng bỏ Phật đạo.

Thấy mặc giáp trụ, nên nguyện chúng sanh, thường mặc giáp lành, đến pháp vô sư.

Thấy không võ trang, nên nguyện chúng sanh, lìa hẳn tất cả, những nghiệp bất thiện.

Thấy người luận nghị, nên nguyện chúng sanh, đều dẹp phá được, tất cả dị luận.

Thấy người chánh mạng, nên nguyện chúng sanh, được mạng thanh tịnh, không dốg iả dạng.

Nếu thấy Quốc vương, nên nguyện chúng sanh, được làm pháp vương, thường chuyển chánh pháp.

Nếu thấy vương tử, nên nguyện chúng sanh, từ pháp hóa sanh, mà làm Phật tử.

Nếu thấy trưởng giả, nên nguyện chúng sanh, xét đoán sáng suốt, chẳng làm điều ác.

Nếu thấy đại thần, nên nguyện chúng sanh, hằng giữ chánh niệm, tập làm điều thiện.

Nếu thấy thành quách, nên nguyện chúng sanh, được thân kiên cố,tâm không hèn nhát.

Nếu thấy kinh đô, nên nguyện chúng sanh, công đức đồng nhóm, lòng luôn vui vẻ.

Thấy ở rừng vắng, nên nguyện chúng sanh, đáng được trời người, ca ngợi kính ngưỡng.

Vào xóm khất thực, nên nguyện chúng sanh, nhập thâm pháp giới, tâm không chướng ngại.

Đến cửa nhà người, nên nguyện chúng sanh, vào trong tất cả, cửa nhà Phật pháp.

Vào nhà người rồi, nên nguyện chúng sanh, được vào Phật thừa, ba thời bình đẳng.

Thấy không thí xả, nên nguyện chúng sanh, thường chẳng bỏ rời, pháp công đức lớn.

Thấy người thí xả, nên nguyện chúng sanh, được bỏ lìa hẳn, khổ ba ác đạo.

Nếu thấy bát không, nên nguyện chúng sanh, tâm ý thanh tịnh, trống sạch phiền não.

Nếu thấy bát đầy, nên nguyện chúng sanh, đầy đủ trọn vẹn, tất cả thiện pháp.

Nếu được cung kính, nên nguyện chúng sanh, cung kính tu hành, tất cả Phật pháp.

Chẳng được cung kính, nên nguyện chúng sanh, chẳng làm tất cả,những điều bất thiện.

Thấy người hổ thẹn, nên nguyện chúng sanh, đủ hạnh hổ thẹn, che giữ căn thân.

Thấy không hổ thẹn, nên nguyện chúng sanh, lìa bỏ không thẹn, trụ đạo đại từ.

Được thực phẩm ngon, nên nguyện chúng sanh, đều được mãn nguyện, không lòng tham muốn.

Được thực phẩm dở, nên nguyện chúng sanh, ai cũng đều được, pháp vị tam muội.

Được vật thực mềm, nên nguyện chúng sanh, huân tập đại bi, tâm ý nhu nhuyến.

Được vật thực cứng, nên nguyện chúng sanh, tâm không nhiễm trước, dứt hết tham ái.

Nếu lúc ăn cơm, nên nguyện chúng sanh, ăn món thiền duyệt, pháp hỉ no đủ.

Lúc thọ mùi vị, nên nguyện chúng sanh, được Phật hương vị, cam lộ đầy đủ.

Lúc ăn cơm xong, nên nguyện chúng sanh, việc làm đều xong, đủ những Phật pháp.

Nếu lúc thuyết pháp, nên nguyện chúng sanh, biện luận vô tận, tuyên rộng pháp yếu.

Lúc ra khỏi nhà, nên nguyện chúng sanh, thâm nhập Phật trí, khỏi hẳn ba cõi.

Nếu lúc xuống nước, nên nguyện chúng sanh, vào nhứt thiết trí, rõ ba thời đồng.

Tắm rửa thân thể, nên nguyện chúng sanh, thân tâm không nhơ, trong ngoài sáng sạch.

Mùa nắng nóng độc, nên nguyện chúng sanh, bỏ lìa khổ não, tất cả đều hết.

Hết nắng vừa mát, nên nguyện chúng sanh, chứng pháp vô thượng, rốt ráo mát mẻ.

Lúc đọc tụng kinh, nên nguyện chúng sanh, thuận lời Phật dạy, tổng trì chẳng quên.

Nếu được thấy Phật, nên nguyện chúng sanh, được vô ngại nhãn, thấy tất cả Phật.

Lúc ngắm kỹ Phật, nên nguyện chúng sanh, đều như Phổ Hiền, xinh đẹp nghiêm tốt.

Lúc thấy tháp Phật, nên nguyện chúng sanh, tôn trọng như tháp, thọ trời người cúng.

Cung kính xem tháp, nên nguyện chúng sanh, chư thiên và người, cùng nhau chiêm ngưỡng.

Đảnh lễ tháp Phật, nên nguyện chúng sanh, tất cả trời người, chẳng thấy đảnh được.

Đi nhiễu tháp Phật, nên nguyện chúng sanh, tu hành không trái, thành nhứt thiết trí.

Nhiễu tháp ba vòng, nên nguyện chúng sanh, siêng cầu Phật đạo, lòng không biếng trễ.

Khen công Đức Phật, nên nguyện chúng sanh, đều đủ công đức, ca ngợi vô tận.

Khen tướng hảo Phật, nên nguyện chúng sanh, thành tựu Phật thân, chứng pháp vô tướng.

Nếu lúc rửa chân, nên nguyện chúng sanh, đủ sức thần túc, chỗ đi vô ngại.

Ngủ nghỉ phải thời, nên nguyện chúng sanh, thân được an ổn, lòng không động loạn.

Ngủ vừa tỉnh giấc, nên nguyện chúng sanh, tất cả trí giác, ngó khắp mười phương.

Phật tử! Nếu chư Bồ Tát dụng tâm như vậy thời được tất cả công đức thắng diệu. Tất cả thế gian: chư thiên, ma, phạm, sa môn, bà la môn, càn thát bà, a tu la v.v... nhẫn đến tất cả Thanh Văn, Duyên Giác không thể làm lay động được.

12. PHẨM HIỀN THỦ THỨ MƯỜI HAI

Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát nói hạnh thanh tịnh không trược loạn đại công đức rồi, vì muốn hiển thị công đức của bồ đề tâm, nên nói kệ hỏi Hiền Thủ Bồ Tát:

Nay tôi đã vì chư Bồ Tát

Nói hạnh thanh tịnh Phật đã tu

Ngài cũng nên ở trong hội này

Diễn đạt tu hành công đức lớn.

Lúc đó Hiền Thủ Bồ Tát nói kệ đáp:

Lành thay xin ngài lóng nghe đây

Những công đức đó chẳng lường được

Nay tôi tùy sức, nói ít phần

Như một giọt nước trong biển lớn.

Nếu có Bồ Tát sơ phát tâm

Thệ cầu sẽ chứng Phật bồ đề

Công đức của kia không ngằn mé

Không thể cân lường, chẳng gì sánh.

Huống là vô lượng vô biên kiếp

Tu đủ địa, độ, các công đức

Mười phương tất cả chư Như Lai

Đều cùng ngợi khen chẳng hết được.

Vô biên công đức lớn như vậy

Nay tôi trong đây nói ít phần

Ví như chân chim vạch không gian

Và như hạt bụi trên đại địa.

Bồ Tát phát tâm cầu bồ đề

Chẳng phải không nhơn, không có duyên

Với Phật, Pháp, Tăng khởi lòng tin

Do đây mà sanh tâm rộng lớn.

Chẳng cầu ngũ dục và ngôi vua

Chẳng mong giàu, vui, danh tiếng lớn

Chỉ vì dứt hẳn khổ chúng sanh

Lợi ích thế gian mà phát ý.

Thường muốn lợi lạc các chúng sanh

Trang nghiêm cõi nước, cúng dường Phật

Thọ trì chánh pháp, tu trí huệ

Vì chứng bồ đề mà phát tâm.

Thâm tâm, tin, hiểu thường thanh tịnh

Cung kính, tôn trọng tất cả Phật

Nơi Pháp và Tăng cũng như vậy

Chí thành cúng dường mà phát tâm.

Thâm tín nơi Phật và Phật pháp

Cũng tin Phật tử đạo tu hành

Và tin vô thượng đại bồ đề

Do đây Bồ Tát phát tâm nguyện.

Tin là đạo nguồn, mẹ công đức

Nuôi lớn tất cả những pháp lành

Dứt trừ lưới nghi, khỏi vòng ái

Khai thị Niết Bàn, đạo vô thượng.

Tin không nhơ bợn, lòng thanh tịnh

Là cội cung kính, trừ kiêu mạn

Cũng là pháp tạng đệ nhứt tài

Là tay thanh tịnh thọ thiện hạnh.

Tin hay ban cho, không bỏn sẻn

Tin hay hoan hỉ vào Phật pháp

Tin hay thêm lớn trí, công đức

Tin quyết định được bực Như Lai.

Tin khiến lục căn sạch, sáng, lẹ

Tin sức kiên cố không bị hư

Tin hay dứt hẳn cội phiền não

Tin hay chuyển hướng Phật công đức.

Tin nơi cảnh giới không chấp trước

Xa lìa các nạn, được vô nạn

Tin hay vượt khỏi các đường ma

Thị hiện đạo giải thoát vô thượng.

Tin là giống công đức không hư

Tin hay sanh trưởng cây bồ đề

Tin hay thêm lớn trí tối thắng

Tin hay thị hiện tất cả Phật.

Cứ theo công hạnh nói thứ đệ

Tin là hơn hết, rất khó được

Ví như trong tất cả thế gian

Mà có như ý diệu bửu châu.

Nếu thường tin thờ nơi chư Phật

Thời hay trì giới và tu học;

Nếu thường trì giới và tu học

Thời hay đầy đủ các công đức.

Giới hay khai phát gốc bồ đề

Học là siêng tu bực công đức,

Nơi giới và học thường thuận làm

Thời được chư Phật luôn khen ngợi.

Nếu thường tin phụng nơi chư Phật

Thời hay trần thiết cúng dường lớn

Nếu hay trần thiết cúng dường lớn

Người này tin Phật bất tư nghì.

Nếu thường tin phụng nơi tôn pháp

Thời nghe Phật pháp không nhàm đủ

Nếu nghe Phật pháp không nhàm đủ

Người này tin pháp bất tư nghì.

Nếu thường tin phụng thanh tịnh tăng

Thời được tín tâm bất thối chuyển

Nếu được tín tâm bất thối chuyển

Người này tín lực không dao động.

Nếu được tín lực không dao động

Thời được lục căn sạch sáng lẹ

Nếu được lục căn sạch sáng lẹ

Thời hay xa lìa ác tri thức.

Nếu hay xa lìa ác tri thức

Thời được gần gũi thiện tri thức

Nếu được gần gũi thiện tri thức

Thời hay tu tập quảng đại thiện.

Nếu hay tu tập quảng đại thiện

Người này được thành nhơn lực lớn

Nếu người được thành nhơn lực lớn

Thời được thù thắng quyết định giải.

Nếu được thù thắng quyết định giải

Thời được chư Phật thường hộ niệm

Nếu được chư Phật thường hộ niệm

Thời hay phát khởi bồ đề tâm

Nếu hay phát khởi bồ đề tâm

Thời hay siêng tu Phật công đức

Nếu hay siêng tu Phật công đức

Thời được sanh vào nhà của Phật.

Nếu được sanh ở nhà chư Phật

Thời khéo tu hành phương tiện lớn

Nếu khéo tu hành phương tiện lớn

Thời tâm tin ưa được thanh tịnh.

Nếu được tâm tin ưa thanh tịnh

Thời được tâm tăng thượng tối thắng

Nếu được tâm tăng thượng tối thắng

Thời thường tu tập ba la mật

Nếu thường tu tập ba la mật

Thời được trọn đủ pháp đại thừa

Nếu được trọn đủ pháp đại thừa

Thời hay đúng pháp cúng dường Phật.

Nếu hay đúng pháp cúng dường Phật

Thời được tâm niệm Phật bất động

Nếu được tâm niệm Phật bất động

Thời thường thấy được vô lượng Phật.

Nếu thường thấy được vô lượng Phật

Thời thấy Như Lai thể thường trụ

Nếu thấy Như Lai thể thường trụ

Thời biết được pháp trọn bất diệt.

Nếu biết được pháp trọn bất diệt

Thời được biện tài vô chướng ngại

Nếu được biện tài vô chướng ngại

Thời hay khai diễn vô biên pháp.

Nếu hay khai diễn vô biên pháp

Thời hay từ mẫn độ chúng sanh

Nếu hay từ mẫn độ chúng sanh

Thời được tâm đại bi kiên cố.

Nếu được tâm đại bi kiên cố

Thời hay mến ưa pháp thâm diệu

Nếu hay mến ưa pháp thâm diệu

Thời hay xa lìa lỗi hữu vi.

Nếu hay xa lìa lỗi hữu vi

Thời lìa kiêu mạn và phóng dật

Nếu lìa kiêu mạn và phóng dật

Thời hay kiêm lợi tất cả chúng.

Nếu hay kiêm lợi tất cả chúng

Thời ở sanh tử không mỏi nhàm

Nếu ở sanh tử không mỏi nhàm

Thời được dũng kiện không ai hơn.

Nếu được dũng kiện không ai hơn

Thời hay phát khởi đại thần thông

Nếu hay phát khởi đại thần thông

Thởi biết hạnh tất cả chúng sanh.

Nếu biết hạnh tất cả chúng sanh

Thời hay thành tựu các quần sanh

Nếu hay thành tựu các quần sanh

Thời được trí khéo nhiếp chúng sanh.

Nếu được trí khéo nhiếp chúng sanh

Thời hay thành tựu pháp tứ nhiếp

Nếu hay thành tựu pháp tứ nhiếp

Thời cho chúng sanh lợi vô hạn

Nếu cho chúng sanh lợi vô hạn

Thời đủ phương tiện trí tối thắng

Nếu đủ phương tiện trí tối thắng

Thời trụ đạo dũng mãnh vô thượng.

Nếu trụ đạo dũng mãnh vô thượng

Thời hay xô dẹp những ma lực

Nếu hay xô dẹp những ma lực

Thời hay vượt khỏi cảnh tứ ma.

Nếu hay vượt khỏi cảnh tứ ma

Thời được đến nơi bực bất thối

Nếu được đến nơi bực bất thối

Thời được pháp nhẫn vô sanh lớn.

Nếu được pháp nhẫn vô sanh lớn

Thời được chư Phật thọ ký cho

Nếu được chư Phật thọ ký cho

Thời tất cả Phật hiện ra trước.

Nếu được chư Phật hiện ra trước

Thời rõ mật dụng thần thông lớn

Nếu rõ mật dụng thần thông lớn

Thời được chư Phật thường nhớ tưởng.

Nếu được chư Phật thường nhớ tưởng

Thời dùng Phật đức tự trang nghiêm

Nếu dùng Phật đức tự trang nghiêm

Thời được thân đoan nghiêm diệu phước.

Nếu được thân đoan nghiêm diệu phước

Thời thân chói sáng dường núi vàng

Nếu thân chói sáng dường núi vàng

Thời đủ ba mươi hai tướng hảo.

Nếu đủ ba mươi hai tướng hảo

Tám mươi tùy hảo đồng nghiêm sức

Nếu đủ tùy hảo đồng nghiêm sức

Thời thân sáng chói vô hạn lượng.

Nếu thân sáng chói vô hạn lượng

Thời được quang minh bất tư nghị

Nếu được quang minh bất tư nghị

Quang minh này hiện những liên hoa.

Những quang minh từ liên hoa hiện

Có vô lượng Phật ngự trên liên hoa

Thị hiện mười phương đều khắp cả

Đều hay điều phục các chúng sanh.

Nếu hay điều phục các chúng sanh

Thời hiện vô lượng thần thông lực.

Nếu hiện vô lượng thần thông lực

Thời trụ bất tư nghị cõi nước,

Thời diễn thuyết bất tư nghị pháp

Khiến bất tư nghị chúng hoan hỉ.

Thời dùng sức trí huệ, biện tài

Tùy tâm chúng sanh mà giáo hóa.

Nếu dùng sức trí huệ, biện tài

Tùy tâm chúng sanh mà giáo hóa

Thời dùng trí huệ làm tiên đạo

Thân, ngữ, ý, thường không lầm lỗi.

Nếu dùng trí huệ làm tiên đạo

Thân ngữ ý thường không lầm lỗi

Thời nguyện lực tất được tự tại

Tùy theo các loài mà hiện thân.

Nếu nguyện lực ấy được tự tại

Tùy theo các loài mà hiện thân

Thời lúc tùy chúng, mà thuyết pháp

Ấm thinh tùy loại, khó nghĩ bàn

Thời với tâm tất cả chúng sanh

Một niệm biết cả không thừa sót.

Nếu với tâm tất cả chúng sanh

Một niệm biết cả không thừa sót.

Thời biết phiền não không từ đâu

Trọn không còn chìm trong sanh tử.

Nếu biết phiền não không từ đâu

Trọn không còn chìm trong sanh tử

Thời được thân công đức pháp tánh

Dùng pháp oai lực hiện thế gian.

Nếu được thân pháp tánh công đức

Dùng pháp oai lực hiện thế gian

Thời được thập địa, mười tự tại

Tu hành các độ, thắng giải thoát

Thời được quán đảnh đại thần thông

Trụ nơi tối thắng các tam muội.

Nếu được quán đảnh đại thần thông

Trụ nơi tối thắng các tam muộI

Thời khắp mười phương chỗ chư Phật

Đáng thọ quán đảnh được thắng vị

Thời được tất cả Phật mười phương

Tay lấy cam lộ rưới trên đảnh

Thời thân đầy khắp như hư không

An trụ bất động khắp mười phương.

Nếu thân đầy khắp như hư không

An trụ bất động khắp mười phương

Thời chỗ sở hành không ai bằng

Chư thiên, người đời chẳng biết được.

Bồ Tát siêng tự tại hạnh đại bi

Nguyện độ tất cả đều trọn vẹn

Nếu ai nghe thấy mà cúng dường

Đều làm cho họ được an lạc.

Thần lực của chư Bồ Tát kia

Pháp nhãn toàn vẹn không thuyết giảm

Những đạo diệu hạnh thập thiện thảy

Thắng bửu vô lượng đều khiến hiện.

Như báu kim cang trong đại hải

Do oai lực này sanh các báu;

Không tăng, không giảm, cũng vô tận

Công đức của Bồ Tát cũng vậy.

Hoặc có quốc độ không có Phật

Bồ Tát nơi đó hiện thành Phật,

Nếu có quốc độ chẳng biết Pháp

Nơi đó Bồ Tát thuyết diệu pháp.

Không có phân biệt, không công dụng

Trong khoảng một niệm khắp mười phương

Như mặt nguyệt sáng chiếu khắp nơi

Vô lượng phương tiện độ quần sanh.

Ở trong mười phương các thế giới

Niệm niệm thị hiện thành Phật đạo

Chuyển chánh pháp luân vào tịch diệt

Nhẫn đến xá lợi phân bố rộng.

Hoặc hiện Thanh Văn cùng Độc Giác

Hoặc hiện thành Phật khắp trang nghiêm

Như vậy khai diễn pháp ba thừa

Rộng độ chúng sanh vô lượng kiếp.

Hoặc hiện thân đồng nam đồng nữ

Trời rồng nhẫn đến a tu la,

Cùng với ma hầu la già thảy

Tùy chúng sở thích đều khiến thấy.

Chúng sanh hình tướng đều chẳng đồng

Hành nghiệp, âm thinh cũng vô lượng

Tất cả như vậy đều hiện được

Hải ấn tam muội oai thần lực.

Nghiêm tịnh bất tư nghị quốc độ

Cúng dường tất cả chư Như Lai

Phóng đại quang minh vô lượng biên

Độ thoát chúng sanh cũng vô hạn.

Trí huệ tự tại, bất tư nghị

Ngôn từ thuyết pháp không chướng ngại

Thí, giới, nhẫn, tấn và thiền định

Trí huệ, phương tiện, thần thông thảy.

Tất cả như vậy đều tự tại

Do Phật hoa nghiêm tam muội lực.

Trong một vi trần nhập tam muộI

Thành tựu vi trần tất cả định,

Mà vi trần kia cũng không thêm

Nơi một hiện khắp vô biên cõi.

Trong một trần kia, nhiều quốc độ

Hoặc là có Phật, hoặc không Phật,

Hoặc là tạp nhiễm, hoặc thanh tịnh

Hoặc cõi rộng lớn, hoặc hẹp nhỏ

Hoặc có cõi thành, hoặc là hoại

Hoặc cõi chánh trụ, hoặc bàng trụ,

Hoặc như ánh nắng giữa đồng trống

Hoặc như lưới Thiên Đế trên trời.

Như chỗ thị hiện trong một trần

Tất cả vi trần đều như vậy,

Đây là những thánh nhơn cao cả

Tam muội, giải thoát thần thông lực.

Nếu muốn cúng dường tất cả Phật

Nhập nơi tam muội khởi thần thông

Hay dùng một tay khắp đại thiên

Cúng khắp tất cả vô số Phật.

Bao nhiêu hoa đẹp ở mười phương

Hương thoa, hương bột, báu vô giá

Đều từ trong tay xuất hiện ra

Cúng dường chư Phật ngự đạo thọ.

Bửu y vô giá, xen hương diệu

Bửu tràng phan, lọng đều xinh đẹp

Vàng rồng làm hoa, ngọc làm màn

Tất cả đều từ trong tay hiện.

Bao nhiêu vật tốt ở mười phương

Đáng đem phụng hiến đấng vô thượng

Trong tay tất cả đều hiện đủ

Trước cây bồ đề cúng chư Phật.

Tất cả kỹ nhạc ở mười phương

Chung, cổ, cầm, sắc đủ các loại

Đồng tấu hòa nhã âm thinh diệu

Đều từ bàn tay xuất hiện ra.

Bao nhiêu tán tụng ở mười phương

Ca ngợi thiệt đức của chư Phật

Như vậy các thứ diệu ngôn từ

Đều từ bàn tay mà khai diễn.

Bồ Tát tay mặt phóng tịnh quang

Trong quang rưới ra nước thơm sạch

Rưới khắp mười phương các quốc độ

Cúng dường tất cả Chiếu Thế Đăng.

Lại phóng quang minh diệu trang nghiêm

Xuất sanh vô lượng hoa sen báu

Hoa này hình sắc đều rất đẹp

Dùng đây cúng dường lên chư Phật.

Lại phóng quang minh hoa trang nghiêm

Các thứ diệu hoa họp làm trướng

Rải khắp cõi nước ở mười phương

Cúng dường tất cả đấng Đại Đức.

Lại phóng quang minh hương trang nghiêm

Các thứ diệu hương họp làm trướng,

Rải khắp cõi nước ở mười phương

Cúng dường tất cả đấng Đại Đức.

Lại phóng quang minh mạt hương tốt

Các thứ mạt hương họp làm trướng

Rải khăp cõi nước ở mười phương

Cúng dường tất cả đấng Đại Đức.

Lại phóng quang minh y trang nghiêm

Các thứ y phục họp làm trướng

Rải khắp cõi nước ở mười phương

Cúng dường tất cả đấng Đại Đức.

Lại phóng quang minh bửu trang nghiêm

Các thứ diệu bửu họp làm trướng

Rải khắp cõi nước ở mười phương

Cúng dường tất cả đấng Đại Đức.

Lại phóng quang liên hoa trang nghiêm

Các thứ liên hoa họp làm trướng

Rải khắp cõi nước ở mười phương

Cúng dường tất cả đấng Đại Đức.

Lại phóng quang anh lạc trang nghiêm

Các thứ chuỗi ngọc họp làm trướng

Rải khắp cõi nước ở mười phương

Cúng dường tất cả đấng Đại Đức.

Lại phóng quang minh tràng trang nghiêm

Bửu tràng rực rỡ đủ màu đẹp

Các loại vô lượng đều rất tốt

Dùng dây trang nghiêm các Phật độ.

Các thứ báu đẹp lọng trang nghiêm

Những phan lụa đẹp treo rủ xuống

Lạc báu ma ni, diễn Phật âm

Đem đến kính dâng cúng chư Phật.

Tay hiện đồ cúng bất tư nghị

Như vậy cúng dường một Đạo Sư

Nơi tất cả Phật đều như vậy

Đây là thần lực của Đại Sĩ.

Bồ Tát trụ trong môn tam muội

Các thứ tự tại nhiếp chúng sanh

Đều đem pháp công đức đã làm

Vô lượng phương tiện để chỉ dạy.

Hoặc dùng môn cúng dường Như Lai

Hoặc dùng môn nhẫn nhục bất động

Hoặc dùng môn khổ hạnh tinh tấn

Hoặc dùng môn thiền định tịch tịnh,

Hoặc dùng môn trí huệ quyết rõ

Hoặc dùng môn phương tiện tu hành

Hoặc dùng môn phạm trụ, thần thông

Hoặc dùng môn tứ nhiếp lợi ích,

Hoặc dùng môn phước trí trang nghiêm

Hoặc dùng môn nhơn duyên, giải thoát

Hoặc dùng môn căn, lực, chánh đạo

Hoặc dùng môn Thinh Văn giải thoát,

Hoặc dùng môn Độc Giác Thanh tịnh

Hoặc dùng môn Đại Thừa tự tại

Hoặc dùng môn Vô Thường những khổ

Hoặc dùng môn vô ngã vô thọ,

Hoặc dùng môn bất tịnh, ly dục

Hoặc dùng môn diệt tận tam muội.

Tùy theo chúng sanh bịnh chẳng đồng

Đều dùng pháp dược để đối trị.

Tùy theo chúng sanh tâm sở thích

Đều dùng phương tiện khiến đầy đủ.

Tùy theo chúng sanh hạnh sai biệt

Đều dùng chước khéo khiến thành tựu.

những tướng tam muội thần thông ấy

Tất cả trời người chẳng lường được.

Có diệu tam muội tên tùy lạc

Bồ Tát trụ đây, khắp quan sát

Tùy nghi thị hiện độ chúng sanh

Đều khiến vui lòng theo chánh pháp.

Trong thời gian, nạn cơ cẩn, tai

Ban cho thế gian đồ cần thiết

Tùy chỗ họ muốn đều khiến đủ

Khắp vì chúng sanh làm lợi ích:

Hoặc cho những vật uống, ăn ngon

Y phục, tư trang, những vật tốt

Cả đến ngôi vua, đều xả được

Khiến kẻ ưa thí theo chánh pháp.

Hoặc dùng tướng hảo trang nghiêm thân

Y phục thượng diệu, chuỗi ngọc báu

Tràng hoa nghiêm sức, hương thoa thân

Oai nghi đầy đủ, độ hàm thức.

Tất cả thế gian chỗ ưa chuộng

Sắc tướng, dung nhan, và y phục

Tùy nghi hiện đủ, vui lòng họ

Khiến kẻ ưa sắc theo chánh pháp.

Tiếng ca lăng tần già mỹ diệu

Ấm thinh diệu Câu chỉ la thảy

Những thứ phạm âm đều đầy đủ

Tùy lòng họ thích vì thuyết pháp.

Tám vạn bốn ngàn các pháp môn

Chư Phật dùng đây độ chúng sanh

Bồ Tát cũng theo pháp sai biệt

Tùy nghi theo đời mà hóa độ.

Chúng sanh khổ, lạc, lợi, suy thảy

Những việc thật hành của thế gian

Đều hay ứng hiện đồng với họ

Dùng đây phổ độ các chúng sanh.

Tất cả thế gian những khổ hoạn

Sâu rộng không bờ như đại hải

Đồng sự với họ đều chịu được

Khiến họ lợi ích được an vui.

Có người chẳng biết pháp xuất ly

Chẳng cầu giải thoát lìa ồn náo

Vì họ Bồ Tát hiện thí xả

Thường ưa xuất gia tâm tịch tịnh.

Nhà là chốn tham ái, ràng buộc

Muốn khiến chúng sanh, đều khỏi lìa

Nên hiện xuất gia được giải thoát

Với các dục lạc không ưa thích.

Bồ Tát hiện làm mười công hạnh

Cũng làm tất cả pháp đại nhơn

Làm hạnh chư Tiên đều không sót

Vì muốn chúng sanh được lợi ích.

Nếu có chúng sanh thọ vô lượng

Phiền não vi tế thích đầy đủ

Trong đó Bồ Tát được tự tại

Hiện thọ các khổ: già, bịnh, chết.

Hoặc kẻ tham dục, sân, ngu si

Lửa mạnh phiền não luôn hừng cháy

Bồ Tát thị hiện già, bịnh, chết

Khiến chúng sanh đó đều điều phục.

Như Lai thập lực, vô sở úy

Cùng với mười tám pháp bất cộng

Tất cả vô lượng các công đức

Đều đem thị hiện độ chúng sanh.

Thọ ký, giáo hóa và thần túc

Đều là sức tự tại của Phật

Chư Đại Sĩ kia đều thị hiện

Hay khiến chúng sanh đều điều phục.

Bồ Tát đem các môn phương tiện

Tùy thuận thế pháp độ chúng sanh

Ví như liên hoa chẳng dính nước

Tại thế như vậy, khiến người tin.

Là vua văn tài, học uyên bác

Ca vũ, luận bàn, người đều thích

Tất cả kỹ thuật trong thế gian

Như nhà ảo thuật đều hiện đủ.

Hoặc làm trưởng giả, chủ trong ấp

Hoặc làm thương mãi, người buôn bán

Hoặc làm quốc vương cùng quan lớn

Hoặc làm lương y, nhà hùng biện.

Hoặc làm cây to giữa cánh đồng

Hoặc làm thuốc hay, những kho báu

Hoặc làm bửu châu như ý vương

Hoặc đem chánh đạo dạy chúng sanh.

Nếu thấy thế giới mới thành lập

Chúng sanh chưa có vật cần dùng

Bấy giờ Bồ Tát làm công thợ

Vì họ bầy ra các nghề nghiệp.

Chẳng làm vật bức não chúng sanh

Chỉ nói chuyện thế gian lợi ích

Các luận: chú thuật, dược thảo thảy

Tất cả như vậy đều nói rành.

Thắng hạnh của tất cả tiên nhơn

Trời người, mọi loài đều tín ngưỡng

Những pháp khổ hạnh khó làm đó

Bồ Tát tùy nghi đều làm được.

Hoặc làm ngoại đạo người xuất gia

Hoặc ở núi rừng tự cần khổ

Hoặc để mình trần, không y phục

Mà làm sư trưởng của chúng kia.

Hoặc hiện những hạnh tà mạng thảy

Tập làm phi pháp cho là thắng

Hoặc hiện oai nghi, làm phạm chí

Ở trong chúng kia làm thượng thủ.

Hoặc chịu ngũ nhiệt, phơi dưới nắng

Hoặc giữ giới bò, chó và nai

Hoặc mặc áo rách, phụng thờ lửa

Vì độ chúng kia, làm sư trưởng.

Hoặc hiện yết kiến các thiên miếu

Hoặc lại hiện vào nước sông Hằng

Ắn củ, trái thảy, đều hiện làm

Nơi đó thường suy pháp tối thắng.

Hoặc hiện ngồi xổm, hoặc co chơn

Hoặc nằm cỏ gai, hoặc trên tro

Hoặc nằm trên chày, cầu xuất ly

Mà ở chúng kia làm sư thủ.

Như vậy các phái, các ngoại đạo

Quan sát ý giải cùng đồng sự

Hiện làm: khổ hạnh đời chẳng kham

Khiến họ xem thấy đều điều phục.

Chúng sanh mê lầm bẩm tà giáo

Trụ nơi ác kiến, thọ những khổ

Vì họ, phương tiện, nói diệu pháp

Đều khiến được hiểu lý chơn thật.

Hoặc theo chú ngữ nói tứ đế

Hoặc giỏi mật ngữ nói tứ đế

Hoặc dùng tiếng người nói tứ đế

Hoặc Trời mật ngữ nói tứ đế.

Phân biệt văn tự, nói tứ đế

Quyết định nghĩa lý, nói tứ đế

Khéo phá nơi người, nói tứ đế

Chẳng bị dao động, nói tứ đế,

Hoặc tiếng bát bộ, nói tứ đế

Hoặc tất cả lời, nói tứ đế

Tùy ngôn âm thế gian hiểu được

Diễn thuyết tứ đế, khiến giải thoát.

Tất cả bao nhiêu các Phật tử

Đều nói như vậy đủ tất cả

Biết cảnh giới lời bất tư nghị

Đây là thuyết pháp tam muội lực.

Nguồn bản dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng KinhGiấy phép: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Việt dịch) · nguồn: rongmotamhon.net (Liên Phật Hội) · EN: AI translation from Vietnamese source, awaiting source English🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch bằng AI do Inti biên soạn: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến