Inti DharmaInti Dharma
← Kinh điển
Đại Thừa — Tạng Bắc Truyền · Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Việt dịch)

Đại Bảo Tích Kinh quyển 111

Tên chữ Hán:大寶積經

📖9,613 từ · ~38 phút đọc
2

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản →
Bản dịch đầy đủ (Tiếng Việt)

XXXX. PHÁP HỘI TỊNH TÍN ĐỒNG NỮ THỨ BỐN MƯƠI

Như vậy, tôi nghe một lúc Đức Phật ở nước Xá Vệ tại vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc cùng chúng đại Tỳ Kheo năm trăm người câu hội.

Đại Bồ Tát tám ngàn người, tất cả đều là tri thức của mọi người.Các Ngài đã được đà la ni vô ngại biện tài, có đủ các nhẫn hàng phục ma oán đến các pháp đã được của Như Lai.

Danh hiệu của các Ngài là: Trì Thế Bồ Tát, Trì Đạo Bồ Tát, Trì Địa Bồ Tát, Trì Đại Địa Bồ Tát, Lạc Ý Bồ Tát, Linh Tín Lạc Bồ Tát, Diệu Sắc Trang Nghiêm Bồ Tát, Bửu Diệm Bồ Tát, Bửu Tràng bồ Tát, Bửu Tư Bồ Tát, Bửu Xứ Bồ Tát, Bửu Huệ Bồ Tát, Bửu Đức Bồ Tát, Bửu Quang bồ Tát, còn có chư Bồ Tát Hiền Kiếp mà Di Lặc Bồ Tát làm thượng thủ, còn có sáu mươi vô đẳng dụ tâm chư Bồ Tát mà Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát làm thượng thủ, còn có mười sáu Đại Sĩ mà Hiền Hộ Bồ Tát làm thượng thủ, còn có hai vạn Thiên Tử Đâu Suất đều ở trong pháp hội.

Bấy giờ Đức Thế Tôn ngồi tòa sư tử Đại Trang Nghiêm Tạng, vô lượng trăm ngàn đại chúng vây quanh, quang minh chiếu sáng như nhựt nguyệt, oai đức thù thắng như Đế Thích Phạm Vương, cao vọi vượt chúng như núi Tu Di, tia sáng chói rực như lửa đuốc lớn, nhìn ngó an tường như đại tượng vương, thuyết pháp vô úy như sư tử hống, che trùm đại chúng như La Hầu La Vương, tướng hảo trang nghiêm oai quang xí thạnh, phát xuất phạm âm vang khắp tam thiên Đại Thiên thế giới, vì muốn giác ngộ tất cả chúng sanh khiến đều an trụ thắng nghĩa quyết định nên ở giữa đại chúng rộng tuyên pháp yếu.

Ái nữ của vua Ba Tư Nặc tên Tịnh Tín tuổi còn ấu trĩ, dung mạo đoan nghiêm được mọi người ưa nhìn, đời trước gieo trồng gốc lành tu tập đại thừa, cùng năm trăm đồng nữ sau trước vây quanh tay cầm vòng hoa xuất thành Xá Vệ tiến đến rừng Kỳ Đà đảnh lễ chưn Phật hữu nhiễu ba vòng đứng qua một phía. Rồi ở trước Phật, nàng nói kệ rằng:

"Lâu tích phước thiện nghiệp thanh tịnh

Đầy đủ vô biên biển công đức

Khiến chúng tin ưa đều vui mừng

Nên tôi đảnh lễ đấng Mâu Ni

Hiển hiện oai quang tướng kỳ đặc

Khai thị pháp môn tạng trân bửu

Thân quang một tấm thường chiếu sáng

Tôi lễ Đại Huệ ao thanh lương

Cây to công đức phước vô tận

Tối tôn trong người đời khen ngợi

Bổn nguyện giới hạnh đã viên mãn

Nên tôi đảnh lễ đấng Ứng Cúng

An trụ diệu pháp thường yên lặng

Lòng thương chúng sanh như con một

Trí huệ thiện xảo biết các hành

Chỉ đường bình thản như Đạo Sư

Nếu có người kiên cố dũng mãnh

Từ bi lợi ích loài chúng sanh

Bồ Tát như vậy chánh tu hành

Duy nguyện Như Lai tuyên dạy họ

Thế nào sẽ được sức vững chắc

An trụ sanh tử hàng phục ma

Thế nào sẽ được pháp bình đẳng

Thế nào thành thục các chúng sanh

Thế nào như địa như hư không

Như phong như thủy cũng như hỏa

Thế nào tín tâm ở nơi pháp

Như Tu Di Vương Sư Tử Vương

Thế nào xa rời lòng ghét thương

Tâm sạch trách trực không siểm khúc

Thế nào xuất sanh thí giới nhẫn

Tinh tiến thiền định và giải thoát

Trí huệ phá các phiền não tối

Mà thường an lạc đại phương tiện

Tam muội tổng trì vô ngại biện

Trụ tứ vô lượng ngũ thần thông

Thế nào được ở gần chư Phật

Thường thọ hóa sanh hóa túc mạng

Đầu đà vô tránh ở lan nhã

Điều phục tâm mình dứt phiền não

Trì giới tu tập đạo Bồ Đề

Chứng đạo cam lồ hàng ma oán

Thí chúng an lạc chuyển pháp luân

Chánh đạo như vậy nguyện tuyên nói".

Đức Thế Tôn bảo Tịnh Tín đồng nữ rằng: " Bồ Tát nếu thành tựu được tám sức lực thì ở trong sanh tử kiên cố dũng mãnh không mỏi mệt.

Một là sức chí nguyện vì không dua dối. Hai là sức thắng giải vì lìa các ác. Ba là sức gia hạnh vì thường tu điều lành. Bốn là sức tịnh tín thâm tín nghiệp báo. Năm là sức Bồ Đề tâm vì chẳng cầu Tiểu thừa. Sáu là sức đại từ vì chẳng hại chúng sanh. Bảy là sức đại bi và kham nhẫn các ác. Tám là sức thiện hữu vì luôn luôn cảnh giác. Nầy đồng nữ! Đây gọi là tám sức lực, nếu Bồ Tát thành tựu sức lực nầy thì kiên cố dũng mãnh ở trong sanh tử không nhiễm trước".

Đức Thế Tôn lại nói kệ rằng:

"Chí nguyện dũng mãnh

Rời lìa siễm cuống

Thường hành chất trực

Đúng đường Bồ Đề

Dùng sức thắng giải

Xa lìa các ác

Thuần tu hạnh lành

An trụ chánh cần

Gia hạnh đầy đủ

Hằng khéo quan sát

Tinh tiến kiên cố

An lạc chúng sanh

Do sức tịnh tín

Biết rõ nghiệp báo

Tin nơi Phật trí

Nhiếp thọ thế gian

Sức tâm Bồ Đề

Xa lìa Tiểu thừa

Chẳng dứt Phật chủng

An trụ pháp tánh

Do sức đại từ

Bình đẳng chúng sanh

Không yêu không ghét

Chẳng làm giận hại

Do sức đại bi

Chịu được các ác

chẳng nhiễm sanh tử

Cũng không mỏi mệt

Do sức thiện hữu

Thường cảnh tỉnh nhau

Lòng chẳng thối chuyển

An trụ Bồ Đề

Người tinh tiến tu

Được tám sức nầy

Sẽ ngồi đạo tràng

Phá các chúng ma

– Lại nầy đồng nữ! Vì Bồ Tát đã thành tựu tám pháp nên an trụ nơi bình đẳng:

Một là tất cả chúng sanh bình đẳng vì bổn vô ngã. Hai là tất cả pháp bình đẳng vì các pháp tịch tĩnh. Ba là tất cả thế giới bình đẳng vì đều nhập vào không giới. Bốn là tất cả trí bình đẳng vì bình đẳng thuyết pháp.Năm là tất cả hành bình đẳng vì nhơn duyên vô tánh. Sáu là tất cả thừa bình đẳng vì đồng vô vi. Bảy là tất cả tâm bình đẳng vì tâm như huyễn. Tám là tất cả ma bình đẳng vì phiền não làm trước bất khả đắc. Đây là tám pháp an trụ bình đẳng".

Đức Thế Tôn lại nói kệ rằng:

"

Niệm niệm bất khả đắc

Người an trụ bình đẳng

Phải quan sát như vậy

Tất cả pháp bình đẳng

Bổn tánh thường không tịch

Văn tự có phân biệt

Các pháp vốn không khác

Mười phương các quốc độ

Biên tế bất khả đắc

Tánh nó như hư không

Phật quốc thường bình đẳng

Tam thế chư Như Lai

Trụ pháp giới bình đẳng

Vô biên trí giải thoát

Chư Phật đều như vậy

Chúng sanh bổn duyên khởi

Tất cả đều bình đẳng

Khéo biết họ sở hành

Dùng chỗ khai ngộ họ

Chúng sanh bao nhiêu thứ

Biết rõ như huyễn hóa

Trong ngoài vô sở thủ

Tự tánh thường thanh tịnh

Các thừa nói các pháp

Tánh vô vi bình đẳng

Đạo Sư thiện phương tiện

Phân biệt nói ba thừa

Hiện ở phiền não ma

Phiền não vô sở hữu

Thiên ma uẩn tử ma

Cảnh giới nó đều không

– Lại nầy đồng nữ! Vì Bồ Tát đã thành tựu tám pháp nên rời lìa ghét thương:

Một là từ, hai là bi, ba là thường làm lợi ích, bốn là chẳng nhiễm thế pháp, năm là chẳng luyến thân mình, sáu là thường tu định tâm, bảy là xả ly thân mạng, tám là quan sát phiền não. Tu tám pháp nầy thì có thể rời lìa ghét thương vậy".

Đức Thế Tôn lại nói kệ rằng:

"Mặc vững giáp từ tâm

Thương xót tất cả loài

An trụ tâm bình đẳng

Thì chẳng sanh yêu ghét

Người trí làm lợi ích

Thường ban cho an vui

Được lợi chẳng tự cao

Bị khi chẳng sanh giận

Chẳng bị tám gió động

Thì chẳng sanh yêu ghét

Với mình và với người

Chẳng nghĩ tưởng ghét yêu

Đều bỏ lìa ý tưởng

không luyến trước cảnh giới

Thường tự xem thân mình

Chẳng luyến tiếc thân mạng

Người trí nơi khổ vui

Bất động như hư không

Khéo quan sát phiền não

Lìa cả ngã ngã sở

Gìn lòng hằng như đất

Thì chẳng sanh yêu ghét

– Lại nầy đồng nữ! Vì Bồ Tát thành tựu tám pháp nên ở trong sanh tử không có mỏi mệt:

Một là vì thiện căn quảng đại. Hai là vì quan sát chúng sanh. Ba là vì thường được thấy Phật sắm đồ cúng dường. Bốn là vì được thấy vô lượng Phật độ. Năm là vì thường cầu Phật trí. Sáu là vì biết rõ sanh tử như mộng. Bảy là vì đối với pháp thù thắng không khiếp nhược. Tám là quan sát tiền tế và hậu tế đồng như thiệt tế".

Đức Thế Tôn lại nói kệ rằng:

"Nếu những người hành đạo

Tu lành không vết nhơ

Như không nguyệt thanh tịnh

Độ thoát khổ chúng sanh

Vì nhiếp các công đức

Ở sanh tử không mệt

Quan sát tánh chúng sanh

Bền vững tu tinh tiến

Nơi vô lượng Phật độ

Cung kính cúng dường Phật

Thế nên bực thập lực

Ở sanh tử chẳng mỏi

Vô lượng vô biên đời

Thuyết bất tư nghì pháp

Chẳng dứt giống Tam bửu

Sẽ thành giống Pháp Vương

Người kiên trì cấm giới

Ở sanh tử chẳng mệt

Biết rõ tánh sanh tử

Như mộng như mây chớp

Nơi pháp được giải thoát

Ở sanh tử chẳng mỏi

An trụ nơi Bồ Đề

Lòng mừng luôn vui vẻ

Đến nơi bờ phương tiện

Ở sanh tử không mệt

Thường tu pháp thù thắng

Như không nguyệt thêm tròn

Ưa thích Phật công đức

Ở sanh tử chẳng mỏi

Sanh tử không biên tế

Thường an trụ thiệt tế

Một niệm huệ tương ưng

Ở sanh tử không mệt

– Lại nầy đồng nữ! Vì Bồ Tát thành tựu tám pháp nên tâm giới bình đẳng:

Một là tâm như địa. Hai là tâm như thủy. Ba là tâm như hỏa. Bốn là tâm như phong. Năm là tâm như hư không. Sáu là tâm đồng pháp giới. Bảy là tâm đồng giải thoát. Tám là tâm đồng Niết Bàn. Đây gọi là tám thứ tâm giới bình đẳng".

Đức Thế Tôn lại nói kệ rằng:

"Tâm bình đẳng như đất

Gánh chở tất cả loài

Với thiện và với ác

Không có chỗ tăng giảm

Tâm bình đẳng như thủy

Rửa sạch các cấu dơ

Dưỡng dục các thế gian

Trừ khô khát phiền não

Tâm bình đẳng như hỏa

Đốt cháy tiêu phiền não

Ánh sáng như đuốc lớn

Không chỗ nào chẳng sáng

Tâm bình đẳng như phong

Không xứ sở không nương

Thổi bay hương giới văn

Khắp đến khứ lai kim

Tâm bình đẳng hư không

Lìa kiến chấp thanh tịnh

Khắp nhập vào tất cả

Mà chẳng theo chúng ma

Tâm bình đẳng pháp giới

Khéo được thường an trụ

Chẳng tăng cũng chẳng giảm

Thường nhập vào bình đẳng

Thanh Văn và Duyên Giác

Chỗ chứng được giải thoát

Không còn có trói buộc

Cũng không có cởi trói

Sanh tử và Niết Bàn

Không lai cũng không khứ

An trụ nơi tịch tĩnh

Đi khắp trong tam thế

Lại nữa, nầy đồng nữ! Có tám pháp mà Bồ Tát thành tựu được thì xuất sanh Bồ Đề:

Một là bố thí xuất sanh vì xả sở hữu vậy. Hai là trì giới xuất sanh vì không phạm lỗi vậy. Ba là nhẫn nhục xuất sanh vì không sân khuể vậy. Bốn là tinh tiến xuất sanh vì chẳng giải đãi thối thất vậy. Năm là thiền định xuất sanh vì hành phương tiện vậy. Sáu là huệ xuất sanh vì thọ trì đa văn vậy. Bảy là phạm trụ xuất sanh vì giải thoát tịch tĩnh vậy. Tám là thần thông xuất sanh vì thường tại chánh định vậy".

Đức Thế Tôn lại nói kệ rằng:

"Người thường hành bố thí

Rời lìa tham nhiệt não

Chẳng mong cầu quả báo

Hồi hướng Phật bồ đề

Trì giới tu Đại Thừa

Đập đánh không sân hận

Chí cầu đại an lạc

Trừ tập khi chứng diệt

Bồ Tát hành tinh tiến

Nhiều kiếp vì chúng sanh

Chịu khổ ở thế gian

Sức tinh tiến tăng trưởng

Người tu hành thiền định

Rời xa các hí luận

Đến bỉ ngạn thiền định

Mà chẳng theo thiền sanh

Đại huệ không gì bằng

Rời hẳn các chấp kiến

Biết rõ đời không tịch

Si tối dứt không thừa

Tịch tĩnh tu phạm trụ

Trừ sạch các ác đạo

Thường làm Thích Phạm Vương

Siêng tu các nghĩa lợi

Thần thông đạo Phật độ

Hầu Phật nghe Phật dạy

Khéo biết các tánh dục

Thuyết pháp độ chúng sanh

– Lại nầy đồng nữ! Vì thành tựu tám pháp mà Bồ Tát được đà la ni biện tài vô ngại:

Một là tôn trọng Phật pháp. Hai là kính thờ Hòa Thượng và A xà Lê. Ba là cầu pháp không chán. Bốn như chỗ được nghe mà thuyết pháp. Năm là chẳng bỏn xẻn chánh pháp. Sáu là chẳng rao lỗi người. Bảy là yêu kính pháp sư như Hòa Thượng. Tám là chẳng thấy lỗi người và khuyên người chừa lỗi".

Đức Thế Tôn lại nói kệ rằng:

"Chí nguyện thường cầu pháp

Thờ thầy gần thiện hữu

Rời xa ác tri thức

Được vô tận tạng trì

Đa văn không chán đủ

Dũng mãnh siêng cầu pháp

Như nghe mà diễn thuyết

Chẳng mong cầu lợi dưỡng

Được biện tài thanh tịnh

Khiến chúng đều hoan hỉ

Vui thích làm pháp thí

Rời xa bỏn xẻn ganh

Hành pháp vô sở trước

Chứng được đà la ni

Hộ giới tự quán thân

Chẳng tìm tội lỗi người

Từ bi làm y chỉ

Phát ngữ chẳng phi thời

Sẽ được vô ngại biện

Đến bỉ ngạn ngôn thuyết

Với người thuyết pháp giỏi

Yêu kính như thầy mình

ẩn lỗi khuyên rời lỗi

Được biển vô tận trì

– Lại nầy đồng nữ! Vì thành tựu tám pháp Bồ Tát ở trước chư Phật liên hoa hóa sanh:

Một là dầu cho đến mất mạng cũng chẳng nói lỗi người. Hai là khuyến hóa chúng sanh khiến quy y Tam Bảo. Ba là an trí tất cả nơi tâm Bồ Đề. Bốn là phạm hạnh không nhiễm. Năm là tạo lập tượng Phật đặt trên tòa sen. Sáu là chúng sanh ưu não khiến trừ ưu não. Bảy là với kẻ cống cao thường tự khiêm hạ. Tám là chẳng não hại người".

Đức Thế Tôn lại nói kệ rằng:

Dầu bị khổ bức thân

Trọn chẳng nói lỗi người

Thường ca ngợi Tam bảo

Hóa sanh ở trước Phật

Khuyên phát tâm Bồ Đề

Khiến cầu Nhứt thiết trí

Thường tu hành phạm hạnh

Hóa sanh ở trước Phật

Vàng ròng trang nghiêm tượng

Đặt trên tòa sen báu

Trừ ưu não chúng sanh

Hóa sanh ở trước Phật

Với kẻ kiêu mạn kia

Khiêm hạ như đệ tử

Chẳng để họ não phiền

Hóa sanh ở trước Phật

– Lại nầy Tịnh Tín! Có tám pháp mà Bồ Tát thành tựu công đức đầu đà thì thường thích an trụ nơi a lan nhã:

Một là thiểu dục. Hai là tri túc. Ba là mãn túc sở nguyện. Bốn là dùng thiện tự bồi dưỡng. Năm là thường trì thánh chủng. Sáu là thấy

Khổ sanh tử lòng thường chán lìa. Bảy là hàng quán vô thường. Tám là tín sâu vững chắc chẳng theo lời người khác".

Đức Thế Tôn lại nói kệ rằng:

"Thiểu dục tri túc bất phóng dật

Pháp hỉ các thiện làm tư dưỡng

Ưa thích thường tu nơi thánh chửng

Thấy khổ sanh tử sanh lòng sợ

Do đó thường thích hành đầu đà

Như tê một sừng ở cô độc

Quán pháp hữu vi khổ vô ngã

Huệ tâm thâm tín trụ chánh cần

Tự thấy nơi pháp chẳng theo người

Thường ở không nhàn được Phât khen

Đầu đà viễn ly không não hoạn

Không các tranh luận những tội lỗi

Xa lìa quyến thuộc tuyệt khen tặng

Do đó thích ở a lan nhã

– Lại nầy Tịnh Tín! Bồ Tát thành tựu tám pháp thì hàng phục ma oán:

Một là nhập vào tánh không. Hai là tin vô tưởng. Ba là tin vô nguyện. Bốn là biết rõ vô tác. Năm là trong không nghi hoặc. Sáu là nhẫn nơi vô sanh. Bảy là quyết liễu vô tánh. Tám là nơi tất cả pháp phương tiện quan sát chẳng hoại như như".

Đức Thế Tôn lại nói kệ rằng:

"Nơi không vô tướng và vô nguyện

Được ba giải thoát hàng ma oán

Hữu vi vô vi không hai tướng

Chứng nơi vô sanh được giải thoát

Các pháp vô sanh nhẫn như vậy

Người nầy hàng phục các ma oán

Ở trong vô sanh vô diệt nầy

Uẩn giới vô ngã dường như huyễn

Quyết định biết rõ pháp vô tánh

Chẳng hoại nơi như xảo phương tiện

Phân biệt các pháp là nghiệp ma

Xả ly phân biêt thì hàng ma

Trí huệ phương tiện làm cả hai

Hoặc có hoặc không vô sở trụ

Tu tập thắng pháp như vậy thảy

được thiện phương tiện diệu sắc thân.

– Lại nầy Tịnh tín! Bồ Tát thành tựu tám pháp thì chẳng rời lìa Bồ Đề:

Một là chánh kiến vì thành thục chúng sanh tà kiến vậy. Hai là chánh niệm vì bi mẫn chúng sanh tà niệm vậy. Ba là chánh ngữ vì thương các chúng sanh tà ngữ vậy. . Bốn là chánh nghiệp vì nhiếp các chúng sanh tà nghiệp vậy. Năm là chánh tinh tiến vì độ các chúng sanh tà cần vậy. Sáu là chánh mạng vì chẳng bỏ tà mạng chúng sanh vậy. Bảy là chánh tư duy vì khiến chúng sanh lìa tà tư duy vậy. Tám là chánh định vì phát khởi tăng tiến các chúng sanh tà định vậy".

Đức Thế Tôn lại nói kệ rằng:

"Người thành tựu chánh kiến

Giáo hóa kẻ tà kiến

Thường tu hành chánh niệm

Thương xót kẻ tà niệm

Thanh tịnh chánh ngôn thuyết

Thương các kẻ tà ngữ

An trụ nơi chánh nghiệp

Nhiếp những kẻ tà nghiệp

Thường tu hạnh chánh cần

Chẳng bỏ kẻ tà cần

Tương ưng chánh tịnh mạng

Nhiếp các kẻ tà mạn

Trí giả chánh tư duy

Thương xót kẻ tà tư

Thường an trụ chánh định

Nhiếp những kẻ tà định

Vô thượng bát chánh đạo

An ổn qua dòng dữ

Lại độ kẻ phiêu lưu

Là đạo đại Bồ Đề

Thanh Văn và Duyên giác

Bè cỏ chỉ tự độ

Bồ Tát rộng cứu độ

Như tối đại thuyền trưởng

– Lại nầy Tịnh Tín! Bồ Tát thành tựu tám pháp thì chứng đạo cam lộ

Một là an trụ pháp vô tránh. Hai là khéo giữ tâm vô chướng ngại. Ba là thường quán nghĩa như thiệt. Bốn là an trụ tâm Bồ Đề tu sáu niệm. Năm là tinh tấn tu tập các Ba la mật. Sáu là chứa họp thiện căn thành thục chúng sanh. Bảy là an trụ đại bi nhiếp thọ chánh pháp. Tám là được vô sanh nhẫn an trụ bất thối chuyển"

Đức Thế Tôn lại nói kệ rằng:

"Thường tu hạnh vô tránh

Trụ pháp đại Sa Môn

Xa rời lỗi sân khuể

Chứa họp các thiện căn

Khéo quán nghĩa chơn thiệt

Được những vô tận hiện

An trụ tâm Bồ Đề

Thường niệm nơi vô niệm

Tất cả Ba la mật

Siêng tu không thối chuyển

Được các phương tiện lực

Do đây độ chúng sanh

Hay đem của Pháp Vương

Từ bi ban tất cả

Mau chứng vô sanh nhẫn

Bất thối chuyển Bồ Đề

Nếu tu hành được vậy

Phật pháp chẳng khó được

Chẳng lâu hàng chúng ma

Chứng tối thượng Bồ Đề".

Nghe pháp xong, Tịnh tín đồng nữ vui mừng hớn hở bạch Đức Phật rằng: "Bạch Đức Thế Tôn! Thành tựu mấy pháp có thể chuyển được nữ thân?".

Đức Phật dạy: "Nầy Tịnh Tín! Thành tựu tám pháp thì có thể chuyển nữ nhân:

Một là chẳng ganh ghét. Hai là chẳng bỏn xẻn. Ba là chẳng dua nịnh. Bốn là chẳng sân. Năm là thiệt ngữ. Sáu là chẳng ác khẩu. Bảy là xả ly tham dục. Tám là rời các tà kiến.".

Đức Thế Tôn lại nói kệ rằng:

Chẳng tật đố người khác

Lìa bỏn xẻn ưa pháp

Chẳng có lòng siểm cuống

Chán ghét thân nữ nhơn

Tâm từ bỏ rời sân

Thường tu nói lời thiệt

Trừ tham lìa ác khẩu

An trụ trong chánh kiến

Nếu chán thân nữ nhơn

Nên tu pháp như vậy

Thì sẽ mau được chuyển

Thọ thân thiện trượng phu.

– Lại nầy Tịnh Tín! Nếu thành tựu tám pháp thì chuyển được nữ thân:

Một là tôn trọng chư Phật rất thích chánh pháp. Hai là cung kính cúng dường các Sa Môn Bà La Môn trì giới nhẫn nhục đa văn. Ba là đối với chồng con và cư gia chẳng sanh lòng luyến ái. Bốn là thọ trì cấm giới không khuyết phạm. Năm và với các người chẳng sanh tà niệm. Sáu là có ý nguyện tăng thượng chán lìa nữ thân. Bảy là an tru tâm Bồ Đề pháp đại trượng phu. Tám là xem gia nghiệp thế gian như ảo như mộng".

Đức Thế Tôn lại nói kệ rằng:

"Kính Phật rất ưa pháp

Tôn trọng giới văn Tăng

Chẳng sanh lòng tham ái

Thân nữ sẽ chuyển mau

Trì giới đủ tàm quý

Chẳng vọng niệm người khác

An trụ tâm Bồ Đề

Chẳng ưa pháp nhị thừa

Do đây mau chuyển được

Thân người nữ bất tịnh

Thắng chí tâm chán lìa

Tất cả đều như huyễn

Các pháp bổn bất động

Nhơn duyên tánh không tịch

Siêng tu pháp như thiệt

Chóng được thân trượng phu.

Bấy giờ Tịnh Tín đồng nữ đem tràng hoa vàng mà cô đang cầm tán lên trên Đức Phật, hoa ở trên hư không biến thành cung điện lâu các chơn kim, trong cung điện ấy có đức Hóa Phật ngồi tòa vàng. Năm trăm đồng nữ cũng cời đồ trang sức tán lên trên Đức Phật biến thành lâu các chơn kim ở trên hư không có trướng báu lọng báu các thứ trang nghiêm. Thấy đại thần biến ấy, năm trăm đồng nữ khác miệng đồng lời nói kệ rằng:

"Thế Tôn thù thắng nhứt loài người

Thương xót lợi ích các chúng sanh

Nay tôi đã phát tâm Bồ Đề

Chí nguyện tương ưng trụ điều phục

Làm thầy thế gian ban an lạc

Tôi phải cúng dường Nhơn Trung Tôn

Nghe pháp đã lìa các trần cấu

Chúng tôi chẳng còn những nghi lầm

Mới lìa thân nữ nhiều nhiểm ô

Phá hẳn phiền não hàng ma oán

Mười phương vô lượng câu chi Phật

Tôi sẽ hoan hỉ thường cúng dường

An trụ thí giới siêng tinh tấn

Nhẫn nhục thiền định khéo điều tâm

Trí huệ phương tiện nhiếp chúng sanh

Sẽ chứng tối thượng đạo Bồ Đề

Lợi ích vô lượng chúng Trời Người

đều khiến phát khởi tâm Đại thừa

Chúng tôi sẽ hay sư tử hống

Chúng tôi sẽ làm Thiên Nhơn Sư".

Đức Thế Tôn hiện mỉm cười. Theo lệ thường của chư Phật, lúc Đức Phật mỉm cười thì từ miệng Đức Phật có những tia sáng nhiều màu xanh vàng đỏ trắng hồng tía pha lê phóng ra chiếu khắp vô lượng vô biên thế giới cao đến trời Phạm Thế rồi trở về nhiễu Đức Phật ba vòng lại nhập vào đảnh của Phật.

Trưởng lão A Nan làm lễ bạch rằng:" Bạch Đức Thế Tôn! Do nhơn duyên gì mà hiện mỉm cười ?".

Đức Phật dạy: "Nầy A Nan! Ông có thấy Tịnh Tín đồng nữ chăng?

– Vâng, bạch Thế Tôn! Tôi đã thấy.

– Nầy A Nan! Tịnh Tín và năm trăm đồng nữ thọ trong loài người sẽ bỏ thân nữ sanh Trời Đâu Suất thừa sự cúng dường Di Lặc Thế Tôn và chư Như Lai trong Hiền kiếp. Quá tám vạn bốn ngàn câu chi na do tha kiếp. Tịnh Tín sẽ được làm Phật tại Điện Quang thế giới hiệu Quang Minh Trang Nghiêm Vương Như Lai, kiếp tên Thường Quang, Phật ấy thọ như Trời Đâu Suất mười hai ngàn tuổi, có vô lượng vô biên chúng Đại Bồ Tát làm quyến thuộc, mà năm trăm đồng nữ nầy sẽ là thượng thủ nhứt trong đại chúng ấy, cũng như hiện nay Văn Thù Sư Lợi làm thượng thủ trong sáu mươi Bồ Tát vậy.?

– Nầy A Nan! Nếu có nữ nhơn được nghe kinh nầy rồi họ trì đọc tụng, khi hết thân nữ nầy chẳng còn thọ thân nữ nữa và mau chứng được Vô Thượng Bồ Đề".

Đức Phật nói kinh nầy rồi, Tịnh Tín với năm trăm đồng nữ và tất cả thế gian Trời, Người, A Tu La nghe lời Phật dạy đều rất vui mừng tín thọ phụng hành.

XLI. PHÁP HỘI DI LẶC BỒ TÁT VẤN BÁT PHÁP THỨ BỐN MƯƠI MỐT

Như vậy tôi nghe một lúc đức Bà Già Bà ở thành Vương Xá trong núi Kỳ Xà Quật cùng chúng đại Tỳ kheo ngàn hai trăm năm mươi người câu hội và mười ngàn đại Bồ Tát.

Bấy giờ Di Lặc Bồ Tát đứng dậy trịch y vai hữu gối hữu chấm đất chắp tay hướng Phật mà bạch rằng: "Bạch Đức Thế Tôn! Nay tôi muốn đem ít pháp hỏi Đức Như Lai Ứng Chánh Biến Tri, chẳng hay Đức Thế Tôn có cho phép chăng?".

Đức Phật dạy: "Nầy Di Lặc! Tùy ý ông hỏi, Đức Như Lai Ứng Chánh Biến Tri sẽ phân biệt giải nói cho ông vui mừng.

Bạch Đức Thế Tôn! Đại Bồ Tát cứu cánh thành tựu mấy pháp chẳng thối chuyển Vô thượng Bồ đề, ở trong pháp thắng tiến chẳng thối chẳng chuyển, lúc hành đạo Bồ Tát hàng phục tất cả ma oán địch, như thiệt biết tự thể tướng của tất cả pháp, ở các thế gian tâm chẳng mỏi mệt. Do tâm chẳng mỏi mệt nên chẳng y nơi tha trí mau chóng thành tựu Vô thượng Bồ đề?".

Đức Phật dạy: "Lành thay, lành thay, nầy Di Lặc! Nay ông có thể hỏi Đức Như Lai về thâm nghĩa như vậy. Ông nên nhứt tâm lắng nghe, ta sẽ nói cho.

– Bạch Đức Thế Tôn! Tôi xin vui thích muốn nghe.

– Nầy Di Lặc! Chư đại Bồ Tát cứu cánh thành tựu tám pháp thì chẳng thối chuyển Vô thượng Bồ đề, ở nơi pháp thắng tiến chẳng thối chẳng chuyển, lúc hành đạo Bồ Tát hàng phục tất cả các ma oán địch, như thiệt biết tự thể tướng của tất cả pháp, ở các thế gian tâm chẳng mỏi mệt, vì tâm chẳng mỏi mệt nên chẳng y nơi tha trí, mau chóng thành tựu Vô thượng Bồ đề.

Những gì là tám pháp? Đó là chư đại Bồ Tát thành tựu thâm tâm, thành tựu hành tâm, thành tựu xả tâm, thành tựu thiện tri hồi hướng phương tiện tâm, thành tựu đại từ tâm, thành tựu đại bi tâm, thành tựu thiện tri phương tiện và thành tựu Bát nhã ba la mật.

Nầy Di Lặc! Thế nào là đại Bồ Tát thành tựu thâm tâm?

Nếu chư đại Bồ Tát nghe khen ngợi Phật và chê bai Phật, tâm họ cứu cánh nơi Vô thượng Bồ đề vững chắc chẳng động; nếu nghe khen ngợi Pháp và chê bai Pháp, tâm họ cứu cánh nơi Vô thượng Bồ đề vững chắc chẳng động; nếu nghe khen ngợi Tăng và chê bai Tăng, tâm họ cứu cánh nơi Vô thượng Bồ đề vững chắc chẳng động. Đây là chư đại Bồ Tát thành tựu thâm tâm.

Nầy Di Lặc! Thế nào là đại Bồ Tát thành tựu hành tâm?

Nếu chư đại Bồ Tát xa lìa sát sanh, xa lìa trộm cướp, xa lìa tà dâm, xa lìa vọng ngôn, xa lìa lưỡng thiệt, xa lìa ác khẩu, xa lìa ỷ ngữ, đây là cứu cánh thành tựu hành tâm.

Nầy Di Lặc! Thế nào là đại Bồ Tát thành tựu xả tâm?

Nếu chư đại Bồ Tát là chủ hay xả hay bố thí cho các Sa môn, Bà la môn, kẻ nghèo cùng ăn xin ăn mày, những kẻ hà tiện các thứ vật đựng đồ uống ăn y phục đồ nằm thuốc men, đây là cứu cánh thành tựu xả tâm.

Nầy Di Lặc! Thế nào là chư đại Bồ Tát cứu cánh thành tựu tâm khéo biết hồi hướng phương tiện?

Nếu chư đại Bồ Tát có tu bao nhiêu thiện căn từ ba nghiệp thân khẩu ý đều hồi hướng Vô thượng Bồ đề, đây là cứu cánh thành tựu tâm khéo biết phương tiện hồi hướng.

Nầy Di Lặc! Thế nào là chư đại Bồ Tát thành tựu tâm đại từ?

Nếu chư Bồ Tát cứu cánh thành tựu thân nghiệp đại từ, cứu cánh thành tựu khẩu nghiệp đại từ, cứu cánh thành tựu ý nghiệp đại từ, đây là cứu cánh thành tựu đại từ tâm.

Nầy Di Lặc! Thế nào là chư đại Bồ Tát thành tựu đại bi tâm?

Nếu chư đại Bồ Tát thành tựu thân nghiệp chẳng thể chê trách, thành tựu khẩu nghiệp chẳng thể chê trách, thành tựu ý nghiệp chẳng thể chê trách, đây là cứu cánh thành tựu tâm đại bi.

Nầy Di Lặc! Thế nào là chư đại Bồ Tát thành tựu thiện tri phương tiện?

Nếu chư đại Bồ Tát khéo biết thế đế, khéo biết đệ nhứt nghĩa đế, khéo biết cả hai đế,

Nầy Di Lặc! Thế nào là chư đại Bồ Tát thành tựu Bát nhã ba la mật?

Nếu chư đại Bồ Tát biết rõ như vầy: Y theo pháp nầy có pháp nầy, y theo pháp nầy sanh pháp nầy, đó là vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lão tử ưu bi khổ não, như thế thì chỉ có những khổ lớn tụ họp thôi.

Do pháp nầy không có nên pháp nầy không có, do pháp này diệt nên pháp nầy diệt, đó là vô minh diệt thì hành diệt, hành diệt thì thức diệt, thức diệt thì danh sắc diệt, danh sắc diệt thì lục nhập diệt, lục nhập diệt thì xúc diệt, xúc diệt thì thọ diệt, thọ diệt thì ái diệt, ái diệt thì thủ diệt, thủ diệt thì hữu diệt, hữu diệt thì sanh diệt, sanh diệt thì lão tử ưu bi khổ não diệt, như thề thì chỉ có khối khổ lớn diệt thôi. Đây là cứu cánh thành tựu Bát nhã ba la mật.

Nầy Di Lặc! Đây gọi là chư đại Bồ Tát cứu cánh thành tựu tám pháp chẳng thối chuyển Vô thượng Bồ đề, ở trong pháp thắng tiến chẳng thối chẳng chuyển, lúc hành đạo Bồ Tát hàng phục tất cả các ma oán địch, như thiệt biết tự thể tướng tất cả pháp, nơi các thế gian tâm chẳng mỏi mệt, vì tâm chẳng mỏi mệt nên chẳng y tha trí mau chóng thành tựu Vô thượng Bồ đề".

Đức Phật nói kinh nầy rồi, Di Lặc Bồ Tát cùng chư đại Bồ Tát, chư Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, Thiên, Long, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, Nhơn phi nhơn, tất cả đại chúng nghe lời Phật dạy đều rất vui mừng tín thọ phụng hành.

XLII. PHÁP HỘI DI LẶC BỒ TÁT SỞ VẤN THỨ BỐN MƯƠI HAI

Hán Dịch: Nhà Đường, Pháp Sư Bồ Đề Lưu Chi

Việt Dịch: Việt Nam, Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh

Như vầy tôi nghe một lúc Đức Phật ở nước Ba La Nại trong rừng Thí Lộc cùng chúng đại Tỳ kheo năm trăm người câu hội, tất cả đều là tri thức của đại chúng, danh hiệu các Ngài là:

A Nhã Kiều Trần Như, Ma Ha Ca Diếp, Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp, Già Gia Ca Diếp, Na Đề Ca Diếp, Xá Lợi Phất, Đại Mục Kiền Liên, A Nan, La Hầu La v.v... làm thượng thủ.

Còn có một vạn đại Bồ Tát câu hội. Danh hiệu các Ngài là:

Thiện Ý Bồ Tát, Tăng Thượng Ý Bồ Tát, Kiên Cố Ý Bồ Tát, Sư Tử Ý Bồ Tát, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Biện Tích Bồ Tát, Mỹ Âm Bồ Tát, Thắng Tràng Bồ Tát, Tín Huệ Bồ Tát, Thủy Thiên Bồ Tát, Đế Thắng Bồ Tát, Đế Thiên Bồ Tát, Vô Phan Duyên Bồ Tát, Cụ Biện Tài Bồ Tát, Thần Thông Diệu Hoa Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử v.v... làm thượng thủ.

Đức Thế Tôn có vô lượng trăm ngàn đại chúng vây quanh cúng dường cung kính mà vì họ thuyết pháp.

Bấy giờ Di Lặc Bồ Tát ở trong chúng đứng dậy trịch y vai hữu gối hữu chấm đất đảnh lễ chắp tay mà bạch Phật rằng: "Bạch Đức Thế Tôn! Tôi có chút nghi nay muốn thỉnh hỏi Như Lai, ngưỡng mong cho phép".

Đức Phật dậy: "Nầy Di Lặc! Nếu có chỗ nghi cho phép ông hỏi, ta sẽ giải nói cho ông vui mừng".

Được Phật hứa cho, Di Lặc Bồ Tát vui mừng hớn hở bạch Phật rằng: "Bạch Đức Thế Tôn! Bồ Tát thành tựu mấy pháp được lìa ác đạo và ác tri thức mà mau chứng Vô thượng Bồ đề?".

Đức Phật dạy: "Lành thay, lành thay, nầy Di Lặc! Nay ông thương xót tất cả muốn lợi ích an vui cho Trời Người mà hỏi nơi Như Lai về thâm nghĩa ấy. Ông nên lắng nghe khéo suy nghĩ, ta sẽ vì ông mà phân biệt giải nói.

– Vâng bạch Đức Thế Tôn! Tôi xin ưa thích được nghe.

– Nầy Di Lặc! Có một pháp mà Bồ Tát thành tựu thì lìa các ác đạo và ác tri thức mau có thể chứng được Vô thượng Bồ đề. Đó là phát tâm Bồ đề ý nguyện thù thắng.

Còn có hai pháp lìa các ác đạo và ác tri thức mau có thể chứng được Vô thượng Bồ đề. Một là với xa ma tha thường siêng tu tập, hai là với tỳ bát xá na thì được thiện xảo.

Còn có ba pháp lìa các ác đạo và ác tri thức mau có thể chứng được Vô thượng Bồ đề. Một là thành tựu đại bi, hai là tu tập pháp không, ba là nơi tất cả pháp chẳng sanh phân biệt.

Còn có bốn pháp lìa các ác đạo và ác tri thức mau có thể chứng được Vô thượng Bồ đề. Một là an trụ tịnh giới, hai là lìa các lưới nghi, ba là thích a lan nhã, bốn là khởi tâm chánh kiến.

Còn có năm pháp lìa các ác đạo và ác tri thức mau có thể chứng được Vô thượng Bồ đề. Một là an trụ pháp không, hai là chẳng cầu tìm lỗi người, ba là thường tự quan sát, bốn là yêu thích chánh pháp, năm là nhiếp hộ người.

Còn có sáu pháp lìa các ác đạo và ác tri thức mau có thể chứng được Vô thượng Bồ đề. Một là không có tham dục, hai là chẳng sanh sân khuể, ba là chẳng khởi ngu si, bốn là thường lìa thô ngữ, năm là an trụ tánh không, sáu là tâm như hư không.

Còn có bảy pháp lìa các ác đạo và ác tri thức mau có thể chứng được Vô thượng Bồ đề. Một là an trụ chánh niệm, hai là thành tựu trạch pháp, ba là phát khởi tinh tiến, bốn là thường sanh hoan hỷ, năm là thân được khinh an, sáu là trụ các thiền định, bảy là có đủ hành xả.

Còn có tám pháp lìa các ác đạo và ác tri thức mau có thể chứng được Vô thượng Bồ đề. Một là chánh kiến, hai là chánh tư duy, ba là chánh ngữ, bốn là chánh nghiệp, năm là chánh mạng, sáu là chánh tinh tiến, bảy là chánh niệm và tám là chánh định.

Còn có chín pháp lìa các ác đạo và ác tri thức mau có thể chứng Vô thượng Bồ đề. Một là xa lìa các pháp tham dục, ác bất thiện mà an trụ sơ thiền tầm từ hỉ lạc tâm nhứt cảnh tánh. Hai là xa lìa tầm từ an trụ nhị thiền nội tịnh hỉ lạc tâm nhứt cảnh tánh.

Ba là xa lìa hỉ an trụ tam thiền xả niệm huệ lạc tâm nhứt cảnh tánh. Bốn là xa lìa ưu khổ và hỉ lạc an trụ tứ thiền xả niệm thanh tịnh vô khổ vô lạc tâm nhứt cảnh tánh. Năm là vượt quá sắc tưởng không phan duyên dị biệt an trụ vô biên hư không xứ định.

Sáu là vượt qua vô biên hư không xứ định rồi có thể an trụ vô biên thức xứ định. Bảy là vượt qua vô biên thức xứ định rồi có thể an trụ vô sở hữu xứ định. Tám là vượt qua vô sở hữu xứ định rồi có thể an trụ phi tưởng phi phi tưởng xứ định.

Chín là vượt qua phi tưởng phi phi tưởng xứ định rồi có thể an trụ diệt thọ tưởng định.

Còn có mười pháp xa lìa ác đạo và ác tri thức mau có thể chứng được Vô thượng Bồ đề. Một là khéo có thể thành tựu kim cương tam muội. Hai là thành tựu xứ phi xứ tương ưng tam muội. Ba là thành tựu phương tiện hành tam muội. Bốn là thành tựu biến chiếu minh tam muội. Năm là thành tựu phổ quang minh tam muội. Sáu là thành tựu phổ biến chiếu minh tam muội. Bảy là thành tựu bửu nguyệt tam muội. Tám là thành tựu nguyệt đăng tam muội. Chín là thành tựu xuất ly tam muội. Mười là thành tựu thắng tràng tý ấn tam muội.

Nầy Di Lặc! Thành tựu các pháp như vậy rồi, Bồ Tát lìa các ác đạo và ác tri thức mau có thể chứng được Vô thượng Bồ đề".

Được nghe pháp rồi, Di Lặc Bồ Tát rất vui mừng trịch y vai hữu gối hữu chấm đất chắp tay cung kính ở trước Phật nói kệ tán thán:

"Phật ở kiếp quá khứ

Bỏ vợ con yêu thương

Đầu mắt và xương tủy

Đến bờ kia bố thí

Phật thường hộ cấm giới

Như trâu mao mến đuôi

Tối thắng không ngang sánh

Đến bờ kia trì giới

Phật dùng sức nhẫn nhục

Bỏ lìa các đấu tranh

Chẳng cầu tìm lỗi người

Đến bờ kia nhẫn nhục

Phật dùng sức tinh tiến

Được vô thượng tịch tĩnh

Cứu cánh thường an vui

Đến bờ kia tinh tiến

Phật dùng sức thiền định

Hay diệt trừ tội nhơ

Làm Đạo Sư Trời Người

Đến bờ kia thiền định

Phật dùng sức trí huệ

Khéo biết rõ các pháp

Tự tánh vô sở hữu

Đến bờ kia Bát nhã

Phật tại Bồ đề thọ

Hàng phục các quân ma

Đầy đủ trí tối thắng

Thành tựu đạo vô thượng

Đạo Sư sức vô úy

Nơi nước Ba La Nại

Chuyển pháp luân thanh tịnh

Dẹp phá các ngoại đạo

Trí huệ lớn vô thượng

Ra khỏi các thế gian

Hay phóng tịnh quang minh

Khéo nói các pháp yếu

Như Lai sắc thanh tịnh

Trí huệ và công đức

Vượt quá các thế gian

Hay đến nơi bờ kia".

Trưởng lão A Nan bạch Phật rằng: "Bạch Đức Thế Tôn! Di Lặc Bồ Tát nầy rất hi hữu hay thành tựu vô lượng biện tài tùy theo tâm niệm của chúng sanh mà bình đẳng thuyết pháp, nhưng đối với văn tự không có chỗ buộc dính".

Đức Phật dạy: "Đúng như vậy, đúng như lời ông nói. Nầy A Nan! Di Lặc Bồ Tát đâu phải chỉ có hôm nay ở trước ta nói kệ tán thán Đức Phật, mà từ quá khứ mười vô số kiếp, thuở ấy có Phật xuất thế hiệu Diệm Quang Du Hí Diệu Âm Tự Tại Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật Thế Tôn.

Bấy giờ có một Bà La Môn tên Hiền Thọ thân tướng đầy đủ ai thấy cũng đều vui mừng, từ trong vườn đi ra thấy Đức Như Lai đoan chánh thù diệu các căn tịch tĩnh được xa ma tha như ao nước trong sạch không bợn nhơ, có ba mươi hai tướng và tám mươi tùy hảo để tự trang nghiêm, như cây ta la nở hoa, như núi Tu Di cao vọt hơn cả, vẻ mặt tươi vui như trăng tròn, chiếu sáng rực rỡ như mặt nhựt tỏ rạng, thân hình tròn trịa như cây ni câu đà.

Thấy tướng thù thắng của Phật Như Lai, Hiền Thọ sanh lòng tịnh tín suy nghĩ rằng: Hi hữu Thế Tôn hay thành tựu vô lượng công đức trang nghiêm như vậy. Tôi cũng nguyện tương lai cũng thành tựu thân công đức như vậy.

Phát nguyện xong, Hiền Thọ reo mình xuống đất lại tự nghĩ rằng: Nếu đời đương lai tôi sẽ được thân Phật nguyện chưn Như Lai đạp lên mình tôi.

Biết ý nghĩ ấy, Đức Phật Như Lai liền lấy chưn mình dẫm lên thân Hiền Thọ. Lúc Đức Phật Như Lai hạ chưn xuống, Hiền Thọ được vô sanh pháp nhẫn. Đức Phật Như Lai ngó ngoái lại bảo chúng Tỳ kheo rằng các ông chớ đạp lên mình Hiền Thọ, tại sao, vì đây là đại Bồ Tát nay đã chứng vô sanh pháp nhẫn, lại hay thành tựu thiên nhãn thiên nhĩ tha tâm túc thần cảnh trí thông.

Hiền Thọ liền ở trước Đức Phật Diệm Quang nói kệ tán thán rằng:

Phật ở mười phương cõi

Tối tôn tối vô thượng

Siêu quá các thế gian

Nay tôi cúi đầu lạy

Như Lai đại quang minh

Chói che cả nhựt nguyệt

Siêu quá các thế gian

Nay tôi cúi đầu lạy

Ví như sư tử hống

Muôn thú điều kinh sợ

Thế Tôn đại oai đức

Xô dẹp các ngoại đạo

Tướng lông trắng giữa mày

Trong sáng như pha lê

Chiếu khắp các thế gian

Siêu quá hơn tất cả

Thế Tôn không ai bằng

Lòng chưn thiên bức luân

Thanh tịnh hóa thế gian

Hay chấn động trời đất

Thành tựu đạo xuất ly

Siêu quá biển phiền não

Đem các của công đức

Tùy ý ban tất cả

Như Lai giới thanh tịnh

Xuất sanh các công đức

Không có lòng thương ghét

Dường như cõi đại địa

Do nơi sức trí huệ

Biết rõ các pháp không

Chúng sanh và tghọ giả

Phân biệt bất khả đắc

Khéo rành tánh chúng sanh

Tâm hành và sở nguyện

Làm đèn sáng cho đời

Lợi ích tất cả loài

Thế gian khổ bức bách

Trôi chìm trong dòng sâu

Phật thường vì chúng sanh

Phát sức tinh tiến lớn

Thế Tôn lìa phiền não

Sanh lão và bịnh tử

Ở đời như hư không

Tất cả không nhiễm ô

Trí huệ oai quang lớn

Hay phá tất cả tối

Lìa hẳn tham sân si

Nay tôi cúi đầu lạy.

Hiền Thọ Bồ Tát được thần thông đến nay chẳng còn thối thất. Nầy A Nan! Hiền Thọ thuở ấy chính là Di Lặc đại Bồ Tát nay ở trong hội nầy vậy.

– Bạch Đức Thế Tôn! Di Lặc đại Bồ Tát từ lâu đã chứng vô sanh pháp nhẫn cớ sao chẳng được Vô thượng Bồ đề?

– Nầy A Nan! Bồ Tát có hai thứ trang nghiêm và hai thứ nhiếp thủ. Đó là nhiếp thủ chúng sanh và trang nghiêm chúng sanh, nhiếp thủ Phật quốc và trang nghiêm Phật quốc.

Thuở quá khứ lúc tu Bồ Tát hạnh, Di Lặc Bồ Tát thường thích nhiếp thủ và trang nghiêm Phật quốc, còn ta thì thường ưa nhiếp thủ và trang nghiêm chúng sanh. Di Lặc Bồ Tát tu Bồ Tát hạnh trải qua bốn mươi kiếp bấy giờ ta mới phát tâm Vô thượng Bồ đề, do vì ta có sức dũng mãnh tinh tiến nên siêu việt chín kiếp, ở trong Hiền kiếp nầy thành Vô thượng Bồ đề.

Nầy A Nan! Ta do mười pháp mà chứng Bồ đề: Một là hay xả thí vật sở ái, hai là hay thí vợ sở ái, ba là hay thí con sở ái, bốn là hay thí đầu sở ái, năm la hay thí mắt sở ái, sáu là hay thí ngôi vua sở ái, bảy là hay thí trân bửu sở ái, tám là hay thí máu thịt sở ái, chín là hay thí xương tủy sở ái, mười là hay thí thân phần sở ái. Ta thật hành mười pháp nầy mà được Vô thượng Bồ đề.

Nầy A Nan! Còn có mười pháp hay chứng Bồ đề: Một là hộ giới công đức, hai là thành tựu nhẫn nhục, ba là phát khởi tinh tiến, bốn là được các thiền định, năm là có đại trí huệ, sáu là thường chẳng bỏ lìa các chúng sanh, bảy là khởi tâm bình đẳng đối với chúng sanh, tám là thường tu tập pháp không, chín là khéo hay thành tựu tánh không chơn thiệt, mười là khéo hay thành tựu vô tướng vô nguyện. Ta thật hành mười pháp nầy mà được Vô thượng Bồ đề.

Nầy A Nan! Thuở quá khứ lúc hành đạo Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát chẳng có thể xả thí tay chưn đầu mắt, chỉ dùng thiện xảo phương tiện đạo hạnh an lạc mà tích tập Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

– Bạch Đức Thế Tôn! Thế nào là Di Lặc Bồ Tát thuở quá khứ lúc hành đạo Bồ Tát chỉ dùng thiện xảo phương tiện đạo hạnh an lạc mà tích tập Vô thượng Bồ đề?

– Nầy A nan! Thuở quá khứ lúc hành đạo Bồ Tát, Di Lặc ngày đêm sáu thời trịch y vai hữu gối hữu chấm đất chắp tay đảnh lễ ở trước chư Phật mà nói kệ rằng:

Nay tôi quy mạng lễ

Tất cả Phật mười phương

Bồ Tát chúngThanh văn

Đấng đại tiên thiên nhãn

Cùng lễ tâm Bồ đề

Lìa xa các ác đạo

Hay được sanh lên trời

Nhẫn đến chứng Niết bàn

Nếu tôi phạm chút tội

Theo tâm mà sanh ra

Nay tôi ở trước Phật

Sám hối cho tiêu diệt

Nay thân khẩu ý tôi

Chứa họp các công đức

Nguyện làm nhơn Bồ đề

Sẽ thành đạo Vô thượng

Trong quốc độ mười phương

Những người cúng dường Phật

Và Phật vô thượng trí

Nay tôi đều tùy hỉ

Có tội đều sám hối

Phước đức đều tùy hỉ

Nay tôi lễ chư Phật

Nguyện thành trí vô thượng

Chư Bồ Tát mười phương

Chứng được bực thập địa

Nay tôi cúi đầu lạy

Nguyện mau chứng Bồ đề

Được chứng Bồ đề rồi

Xô dẹp các quân ma

Chuyển pháp luân thanh tịnh

Lợi ích loài chúng sanh

Thường nguyện ở thế gian

Vô lượng câu chi kiếp

Gióng trống pháp lớn lên

Độ thoát khổ chúng sanh

Tôi bị ngập bùn dục

Bị dây tham trói buộc

Nhiều các thứ triền phược

Nguyện Phật thương xem xét

Chúng sanh dầu tội nặng

Chư Phật chẳng chán bỏ

Nguyện dùng đại từ bi

Độ thoát biển sanh tử

Hiện tại chư Thế tôn

Quá khứ vị lai Phật

Bồ Tát đạo đã làm

Nay tôi nguyện tu học

Đầy đủ Ba la mật

Thành tựu sáu thần thông

Độ thoát các chúng sanh

Chứng được đạo vô thượng

Biết rõ các pháp không

Không trụ không biểu thị

Chẳng sanh cũng chẳng diệt

Lại như đấng Đại Tiên

Khéo rõ pháp vô ngã

Không bổ đặc già la

Nhẫn đến không thọ giả

Nơi các sự bố thí

Chẳng chấp ngã ngã sở

Vì an lạc chúng sanh

Thí cho không bỏn xẻn

Nguyệt vật tôi bố thí

Chẳng cần công dụng sanh

Quan sát biết rõ không

Đủ Thí ba la mật

Trì giới không khuyết giảm

Được Phật tịnh thi la

Do vì vô sở trụ

Đủ giới Ba la mật

Nhẫn nhục như tứ đại

Chẳng sanh tâm phân biệt

Do vì không sân khuể

Đủ Nhẫn ba la mật

Nguyện dùng sức thân tâm

Phát khởi đại tinh tiến

Kiên cố không giải đãi

Đủ Cần ba la mật

Do như huyễn như hóa

Và dũng mãnh tinh tiến

Kim cương các tam muội

Đủ Thiển ba la mật

Nguyện chứng tam muội trí

Nhập vào tam giải thoát

Rõ tam thế bình đẳng

Đủ Huệ Ba la mật

Chư Phật diệu sắc thân

Quang minh oai đức lớn

Bồ Tát tinh tiến hạnh

Nguyện tôi đều tròn đầy

Di Lặc Bồ Tát ấy

Siêng tu hạnh như vậy

Đủ sáu Ba la mật

An trụ bực thập địa.

Nầy A Nan! Di Lặc Bồ Tát an trụ thiện xảo phương tiện như vậy tích tập Vô thượng bồ đề.

Nầy A Nan! Thuở xưa ta cầu đạo nhận lấy vô lượng khổ mới có thể tích tập Vô thượng Bồ đề.

Thuở xa xưa có Thái tử tên Kiên Nhứt Thiết Nghĩa đoan chánh đẹp lạ có đủ các tướng tốt ai thấy cũng đều vui mừng. Một hôm Thái tử du ngoạn thấy một bịnh nhơn đau khổ nặng, Thái tử xót thương hỏi thăm: Nay bịnh nầy của ngươi há lại không có thuốc để chữa lành sao? Bịnh nhơn nói kệ đáp Thái tử:

Bịnh tôi khó tìm thuốc

Thế gian chẳng có được

Huống là kẻ mắc bịnh

Người giỏi nói y phương

Thông đạt các sách vở

Dầu muốn trị bịnh nầy

Thuốc ấy khó có được.

Thái tử nói kệ bảo bịnh nhơn:

Vàng bạc châu ma ni

Nhẫn đến các voi ngựa

Cần gì xin người nói

Để trừ khổ cho người.

Bịnh nhơn lại nói kệ bạch Thái tử:

Nếu uống huyết Thái tử

Chắc tôi được an vui

Xin Thái tử vui lòng

Cho tôi hết đau khổ.

Thái tử liền nói kệ bảo bịnh nhơn:

Nếu tôi vì chúng sanh

Mà phải đọa địa ngục

Nhiều kiếp còn chịu được

Huống là thân huyết nầy.

Lúc Thái tử lấy dao bén đâm vào thân chảy máu bảo bịnh nhơn tùy ý uống chẳng hề có một niệm hối hận.

Nầy A Nan! Thái tử Kiến Nhứt Thiết Nghĩa thuở xưa kia chính là thân ta vậy. Nước bốn đại hải còn có thể đong lường, lúc hành đạo Bồ Tát ta xả thí máu nơi thân mình chẳng tính kể được.

Nầy A Nan! Thuở xa xưa có Thái tử tên Diệu Hoa đoan chánh đẹp lạ đủ các tướng tốt người thấy vui mừng. Một hôm Thái tử du ngoạn thấy một bịnh nhơn ốm gầy sanh lòng thương hỏi thăm: Nay bịnh của ngươi há lại không có thuốc chữa lành sao?

Bịnh nhơn nói kệ bạch Thái tử:

Thế gian có lương y

Chẳng chữa được bịnh tôi

Xin Ngài rủ lòng thương

Trừ đau khổ cho tôi

Thái tử nói kệ bảo bịnh nhơn:

Tất cả đều bố thí

Thân phần và trân bửu

Cần gì xin người nói.

Bịnh nhơn nói kệ bạch Thái tử:

Ví như đại dược vương

Tùy ý chữa lành bịnh

Cũng như nhựt nguyệt sáng

Chiếu khắp các thế gian

Nếu được tủy thân Ngài

Thoa khắp thân thể tôi

Bịnh nầy sẽ tiêu trừ

Mãi mãi được an vui.

Thái tử liền nói kệ bảo bịnh nhơn;

Nếu có các chúng sanh

Đập thân tôi lấy tủy

Vì lợi ích thế gian

Lòng tôi chẳng ưu não.

Thái tử liền tự đập nát thân lấy tủy cho bịnh nhơn tùy ý dùng không có chút niệm hối hận.

Nầy A Nan! Nên biết thuở xưa Thái tử Diệu Hoa kia chính là thân ta. Nước bốn đại hải có thể đong lường, thuở xưa ta hành đạo Bồ Tát xả thí xương tủy nơi thân mình không thể tính kể được.

Nầy A Nan! Thuở xa xưa có Quốc vương tên Nguyệt Quang đoan chánh đẹp lạ đủ tướng tốt người thấy vui mừng, du ngoạn thấy một người mù ăn xin, chạnh lòng thương nhà vua hỏi: Người cần dùng gì ta sẽ cấp cho, hoặc đồ ăn uống y phục đồ trang sức châu ngọc trân bửu, tùy ý người muốn đều sẽ được ban.

Người mù nói kệ bạch Quốc vương:

Đại vương như nhựt nguyệt

Quang minh soi thế gian

Đầy đủ thắng công đức

Chẳng lâu sanh lên trời

Tất cả màu sắc đẹp

Nay tôi đều chẳng thấy

Xin vua đại từ bi

Ban tôi mắt của vua.

Quốc vương nói kệ đáp người mù:

Người mau đến lấy mắt

Cho người được an vui

Người tôi đến đời sau

Được mắt Phật thanh tịnh

Tôi hành đạo Bồ Tát

Tất cả đều xả thí

Nếu tôi chẳng cho người

Thì trái với bổn nguyện.

Vua Nguyệt Quang liền tự móc tròng mắt mình thí cho người mù tùy ý dùng chẳng có một niệm hối hận. Nầy A Nan! Nên biết thuở xưa vua Nguyệt Quang kia chính là thân ta. Núi Tu Di còn có thể đo lường, lúc ta hành đạo Bồ Tát bố thí con mắt của mình chẳng thể kể đếm được.

Nầy A Nan! Di Lặc Bồ Tát lúc hành đạo Bồ Tát có phát nguyện rằng: Nếu các chúng sanh tham sân si mỏng thành tựu thập thiện bấy giờ tôi sẽ thành Vô thượng Bồ đề.

Nầy A Nan! Đời đương lai có thuở các chúng sanh tham sân si mỏng thành tựu thập thiện, bấy giờ Di Lặc Bồ Tát sẽ thành Vô thượng Bồ đề. Tại sao, vì do nơi bổn nguyện lực của Bồ Tát vậy.

Nầy A Nan! Thuở xưa lúc hành đạo Bồ Tát, ta phát lời rằng: Tôi nguyện sẽ ở nơi đời ác ngũ trược các chúng sanh ác tham sân si nặng, họ chẳng hiếu với cha mẹ chẳng kính bực tôn trưởng, nhẫn đến quyến thuộc chẳng hòa thuận nhau, bấy giờ tôi sẽ thành Vô thượng Bồ đề. Do bổn nguyện như vậy nên nay ta vào thành ấp tụ lạc, có nhiều chúng sanh khi mắng ta, họ dùng pháp đoạn pháp thường tụ chúng hội họp. Hoặc lúc ta đi khất thực, họ rải đất bụi, họ trộn thuốc độc cho ta ăn. Hoặc họ dùng nữ nhơn hủy báng ta.

Nầy A Nan! Nay ta do sức bổn nguyện khởi tâm đại bi vì các chúng sanh ấy thuyết pháp".

Trưởng lão A Nan bạch rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Đức Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh Giác hay làm việc khó hay nhẫn việc khó, người chẳng điều phục đều khiến điều phục, mang gánh những chúng sanh tội cấu như vậy mà thuyết pháp cho họ".

Đức Phật dạy: "Đúng như lời ông nói. Tại sao, vì do đại bi của Như Lai nhiếp lấy vậy.

– Bạch Đức Thế Tôn! Tôi nghe thệ nguyện vững chắc của Đức Như Lai mà toàn thân lông dựng đứng. Bạch Đức Thế Tôn! Kinh nầy tên là gì, chúng tôi phải phụng trì thế nào?

– Nầy A Nan! Kinh nầy tên là Di Lặc Sở Vấn, cũng tên là Vãng Tích Bổn Nguyện Nhơn Duyên, ông nên phụng trì như vậy".

Đức Phật nói kinh nầy rồi, Di Lặc Bồ Tát, Tôn giả A Nan, tất cả thế gian Trời, Người, A Tu La v.v... nghe lời Phật dạy đều rất vui mừng tín thọ phụng hành.

Nguồn bản dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng KinhGiấy phép: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Việt dịch) · nguồn: rongmotamhon.net (Liên Phật Hội) · EN: AI translation from Vietnamese source, awaiting source English🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch bằng AI do Inti biên soạn: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến