Inti DharmaInti Dharma
← Kinh điển
Đại Thừa — Tạng Bắc Truyền · Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Việt dịch)

Đại Bảo Tích Kinh quyển 77

Tên chữ Hán:大寶積經

📖10,450 từ · ~42 phút đọc
2

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản →
Bản dịch đầy đủ (Tiếng Việt)

XVII. PHÁP HỘI PHÚ LÂU NA THỨ MƯỜI BẢY

1. PHẨM BỒ TÁT HẠNH

Như vậy tôi nghe một lúc Đức Phật trong Trúc Viên thành Vương Xá cùng câu hội với chư đại Tỳ Kheo và chư Đại Bồ Tát số ấy đông vô lượng.

Bấy giờ Huệ Mạng Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử từ chỗ ngồi đứng dậy trịch y vai hữu gối hữu chấm đất chắp tay hướng Phật mà bạch rằng: "Bạch Thế Tôn! Tôi muốn hỏi ít lời mong Như Lai sót thương hứa cho".

Đức Phật phán: "Tuỳ ý ông hỏi, ta sẽ giải đáp cho ông vui mừng".

Tôn giả Phú Lâu Na bạch Đức Phật: "Nay tôi vì chư đại Bồ Tát là những nguời thật hành công đức cao thượng danh tiếng cao xa thường vì chúng sanh cầu sự an vui mà có lời thỉnh hỏi ".

Huệ Mạng Phú Lâu Na nói kệ rằng:

"Làm công đức tối thượng

Danh tiếng rất cao xa

Người giới tịnh ưa pháp

Tôi hỏi sở hành ấy

Sửa trị tâm thế nào

Rộng bố thí thế nào

Độ chúng sanh thế nào

Hỉ tâm thường hành đạo.

Bạch Thế Tôn! Nay tôi vì chư Đại Sĩ mà hỏi sự như vậy . Bồ Tát tu tập đa văn như biển cả chẳng cạn hết thế nào? Hay chứa họp đa văn bửu tạng hay ở các pháp được nghĩa quyết định ở các ngữ ngôn giỏi rõ chương cú thế nào?

Bồ Tát thế nào cầu

Đa văn như biển cả

Nơi pháp được định nghĩa

Hay giỏi biết Phật đạo

Thế nào ở một lời

Mà hiểu vô lượng nghĩa

Hay dùng sức trí huệ

Thông đạt tất cả pháp

Đa văn vô cùng tận

Gạn hỏi lòng chẳng động

Xót thương mà thuyết pháp

Để dứt chúng sanh nghi.

Bạch Thế Tôn! Nay tôi tùy theo trí lực của tự địa mà thỉnh hỏi Đức Như Lai và chư đại Bồ Tát thế nào được chẳng thối chuyển Vô Thượng Bồ Đề?

Thế nào rời lìa mạn

Được gặp gỡ chư Phật

Mau được tin thanh tịnh

Được tin vô thượng rồi

Bỏ được sự khó bỏ

Vứt bỏ tất cả rồi

Gắng tu đạo vô ngại

Thế nào ưa xuất gia

Nhàn tĩnh tu không trí

Thế nào chẳng nghịch pháp

Mong đáp đủ sự ấy.

Bạch Thế Tôn! Chúng tôi đều biết Đức Phật đã đủ cả trí huệ dã trọn tất cả Thần thông Ba la mật, ở trong tam giới là cao tôn đệ nhứt không ai sánh được, đại trí vi diệu đi không chướng ngại nơi trong các pháp, vì thế nên nay tôi thỉnh hỏi sự ấy.

Phật đủ thượng công đức

Đã vượt bờ thần thông

Được trí không chướng ngại

Tôi vì Bồ Tát hỏi

Giỏi học tất cả pháp

Công đức rất cao thắng

Phá tối sanh huệ sáng

Khiến chúng đều hoan hỉ

Oán thân không ghét thương

Không lo không khi dối

Đại chiến thắng vua chết

Dẹp phá chúng quân ma

Chẳng cầm nơi dao gậy

Hàng phục các oán địch

Thường có lòng từ bi

Bền giữ giới thanh tịnh

Thế Tôn không siểm khúc

Không mạn không cợt đùa

Chứng được trí giải thoát

Công đức rất tối thắng

Như xưa chỗ hành đạo

Thắng trí huệ đã được

Mong nay vì tôi nói

Tu thế nào được Phật".

Bấy giờ Đức Phật bảo ngài Phú Lâu Na rằng: "Lành thay tốt thay, ông có thể hỏi Phật sự như vậy. Lắng nghe suy nghĩ kỹ, sẽ vì ông mà nói chư Bồ Tát phát tâm tu hành chứa họp vô lượng Phật pháp".

Đức Thế Tôn nói kệ rằng:

"Nay ta nói Bồ Tát

Sơ phát tâm Bồ Đề

Thường dùng sức dũng mãnh

Ưa làm đạo Bồ Tát

Sở hành của Bồ Tát

Các công hạnh thâm tâm

Nơi Phật được thọ ký

Sự ấy sẽ lược nói

Thâm tâm lòng ưa pháp

Vô lượng và vô biên

Các thứ công hạnh tu

Chẳng do một sự thành

Hỉ tâm đã sung mãn

Mà thật hành bố thí

Thí xong lòng không hối

Trong tâm càng vui mừng

Bồ Tát suy nghĩ rằng

Chúng sanh thường nghèo cùng

Không có của đa văn

Tôi sẽ cầu cho họ

Chúng sanh thường nghèo cùng

Đều do nơi giải đãi

Tôi sẽ siêng tinh tiến

Từ đó được Bồ Đề

Tôi sẽ vì chúng sanh

Gia tâm tu nhẫn nhục

Mắng nhiếc chửi đánh chém

Nín nhận chẳng hề báo

Sẽ nghĩ ai mắng tôi

Kẻ mắng bất khả đắc

Người mạ lị sân hận

Thảy đều là không sự

Suy nghĩ như vậy rồi

Lòng không có giận hờn

Thường tu hành nhẫn nhục

Do đây thành Phật đạo

Chúng sanh không tâm lành

Vì họ tôi làm đèn

Cho họ có chỗ về

Không của cho họ của

Chúng sanh đáng xót thương

Đều cùng đi đường tà

Tôi sẽ độ thoát họ

Khiến an trụ Niết Bàn

Chúng sanh đều nghèo cùng

Không có của trí huệ

Tôi được Nhứt thiết trí

Khiến họ được sung túc

Chư Bồ Tát như vậy

Vì độ chúng sanh nên

Phát tâm cầu Bồ Đề

Hành các nguyện như vậy.

– Nầy Phú Lâu Na! Chư Đại Bồ Tát nhiều thứ nhơn duyên thị hiện tâm mình chẳng trụ một pháp nào cả. Tại sao vậy? Vì chư đại Bồ Tát học tất cả pháp rồi sau đắc đạo. Bồ Tát có bốn sự hi hữu, chẳng thấy có pháp khác hơn sự ấỵ Những gì là bốn?

Bồ Tát có thể ở nơi chúng sanh giải đãi mà siêng tu hành tinh tấn, đây gọi là sự hi hữu thứ nhứt.

Bồ Tát có thể ở giữa chúng sanh ngang ngược giận thù mà siêng tu hành nhẫn nhục, đây gọi là sự hi hữu thứ haị

Bồ Tát thấy các chúng sanh đi đường tà mà tự mình siêng tu hành chánh đạo, đây gọi là sự hi hữu thứ ba.

Bồ Tát vì độ chúng sanh chuyển khỏi sanh tử mà dùng thâm tâm phát Vô Thượng Bồ Đề, đây gọi là sự hi hữu thứ tư.

Bốn sự trên đây gọi là bốn sự hi hữu tối đại của Bồ Tát".

Đức Thế Tôn nói kệ rằng:

Thấy chúng sanh giải đãi

Lòng siêng tu tinh tấn

Tôi chẳng nên theo họ

Mà làm sự phi pháp

Chẳng bắt chước giận thù

Phật đạo chẳng giận thù

Thường tu tâm từ bi

Bồ Đề từ đó sanh

Chúng sanh ưa đường tà

Y chỉ nơi tà đạo

Bồ Tát cầu chánh đạo

Khiến người tu nẻo chánh

Thấy lỗi họa sanh tử

Nhứt tâm cầu Phật trí

Tôi được pháp vô thượng

Sẽ độ các chúng sanh

Bốn sự hi hữu ấy

Sự khác không hơn được

Do đây nên phải biết

Được rời pháp chướng ngại

Giả như áo mặc cháy

Đầu cháy còn chẳng chữa

Lòng giải đãi nếu khởi

Liền phải mau trừ diệt.

– Nầy Phú Lâu Na! Bồ Tát có bốn sự hay sanh tâm hỉ. Những gì là bốn?

Một là thấy các chúng sanh ở trong sanh tử chẳng tinh tấn được. Bồ Tát tự thấy mình ở trong Phật đạo tu hành tinh tấn bèn sanh hỉ tâm.

Hai là thấy các chúng sanh lòng họ thường giải đãi, Bồ Tát tự thấy mình ở trong Phật pháp tu tinh tấn nên sanh hỉ tâm.

Ba là thấy các chúng sanh sân hận tật đố, Bồ Tát tự thấy mình không sân không đố thường có lòng từ bi nên sanh hỉ tâm.

Bốn là Bồ Tát chẳng thấy người khác siêng tu Phật pháp bằng mình nên sanh hỉ tâm".

Đức Thế Tôn nói kệ rằng:

Thấy chúng sanh giải đãi

Tự mình tu tinh tấn

Vì thế Bồ Tát này

Tự sanh lòng vui sướng

Thấy sanh tử lỗi họa

Mà sanh lòng chán lìa

Kinh sợ ngục tam giới

Lòng siêng cầu bỏ lìa

Chúng sanh ưa giận thù

Tự mình thường từ bi

Vì thế Bồ Tát này

Lòng luôn khởi vui vẻ

Các việc chúng sanh làm

Thường là việc chẳng nên

Vì thế Bồ Tát cầu

Phật đạo tối vô thượng

Đây gọi là thiệt trí

Được chư Phật khen ngợi

Bồ Tát học trí này

Làm chỗ về cho chúng

Vì thế Bồ Tát này

Thường được lòng vui mừng

Từ hữu vi hư ngụy

Thường sanh pháp chơn thiệt.

– Lại này Phú Lâu Na! Bồ Tát có bốn pháp xa lìa được các nạn mà gặp chỗ không nạn, được gặp rồi không mất có thể tu hành Phật pháp.Những gì là bốn?

Một là Bồ Tát khiêm tốn dịu hòa, hễ thấy người thì chào hỏi trước, hòa nhan vui vẻ cùng họ nói chuyện, lúc nói luôn mỉm cười.

Hai là Bồ Tát nhứt tâm cầu pháp thường ưa thưa hỏi siêng cầu học hiểu không hề nhàm đủ.

Ba là Bồ Tát thường thích rảnh rang vắng vẻ một mình.

Bốn là tự mình an trụ đạo Vô Thượng Bồ Đề cũng giáo hóa chúng sanh an trụ Phật đạo.

Bồ Tát có bốn pháp trên đây nên được khỏi các nạn gặp được chỗ không nạn, gặp rồi chẳng mất có thể tu hành Phật pháp".

Đức Thế Tôn nói kệ rằng:

Trong lòng luôn hòa dịu

Thường ưa làm từ bi

Lúc cùng người nói chuyện

Khiêm tốn vui mỉm cười

Thường cầu pháp thâm diệu

Được chư Phật khen ngợi

Luôn giữ giới thanh tịnh

Ưa tu hạnh đầu đà

Dầu tu hạnh đầu đà

Cũng tu trí thâm diệu

Vì thế Bồ Tát này

Lìa nạn không gặp nạn

Thường ở trước chư Phật

Thỉnh hỏi những pháp sâu

Do đó trí huệ tăng

Chẳng sanh vào chỗ nạn

Thường thích ở vắng rảnh

Thanh tịnh tu đầu đà

Vì thế Bồ Tát này

Lìa nạn không gặp nạn

Những người có trí huệ

Thân cận bốn pháp này

Lìa được tất cả nạn

Thường được gặp chư Phật

Được gặp chư Phật rồi

Có đủ bất hoại tín

Hay phát thượng tinh tấn

Để cầu Phật trí huệ

Vì thế người cầu trí

Phải nên học chánh pháp

Nếu hay học chánh pháp

Được thành Phật chẳng khó".

2. PHẨM ĐA VĂN

Đức Thế Tôn bảo Ngài Phú Lâu Na: "Bồ Tát có bốn pháp thì hay tu tập đa văn bửu tạng, hay ở nơi các pháp được nghĩa quyết định, hay ở nơi các ngữ ngôn giỏi biết chương cú, dường như đại hải chẳng cạn hết được. Những gì là bốn?

Một là Bồ Tát cầu học mười hai bộ kinh, cầu học rồi đọc tụng, đọc tụng rồi ghi nhớ, ghi nhớ đúng rồi thật hành theo.

Hai là Bồ Tát ở trong tất cả pháp không y chỉ, dầu nhập thiền định mà không sở y chỉ, vì không sở y nên ở trong các pháp được trí bất trụ, được trí bất trụ rồi ở trong các pháp được tri kiến vô ngại, tại sao vậy, vì không có pháp bị tham làm chướng ngại vậy.

Ba là Bồ Tát do pháp nhơn duyên mà niệm Phật và niệm Phật pháp. Lúc niệm Phật và niệm Pháp, Bồ Tát chẳng thấy có pháp được tham ưa. Vi` chẳng tham ưa nên ở nơi tất cả pháp lòng không nắm lấy. Vì không chấp trước tất cả pháp nên Bồ Tát ở nơi sự vấn đáp đều không chướng ngại.

Bốn là Bồ Tát thành tựu vô sở đắc từ ở nơi việc làm đều vô ngại. Vô sở đắc từ là chẳng nhận thọ các sự tướng, tại sao vậy, vì nếu trụ tướng này hay trụ tướng kia thì hoặc sanh tham dục hoặc sanh sân khuể hoặc sanh ngu si, trụ tướng, sự tướng, vật tướng, ấm tướng, nhập tướng, giới tướng, pháp tướng phi pháp đều hoặc sanh tham dục sân khuể ngu si. Phàm có nhận thọ sự tướng đều gọi là tà kiến. Bồ Tát đều diệt tất cả tướng mà tu tập từ tâm vậy.

Vì chúng sanh bại hoại nên tướng cũng bại hoại, vì tướng bại hoại nên sự cũng bại hoại, vì sự bại hoại nên kiến cũng bại hoại. Bấy giờ Bồ Tát hoại tất cả pháp mà tu tập tâm từ. Từ như đây gọi là vô sở đắc từ, cũng gọi là Pháp từ và Phật từ.

Tại sao gọi là Phật từ, vì vô tác vô hoại vậy, vì như thiệt thông đạt tất cả pháp vậy".

Ngài Phú Lâu Na bạch: "Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là như thiệt thông đạt tất cả pháp ?".

Đức Phật dạy: "Này Phú Lâu Na! Chỗ được thông đạt đó chẳng nói là thị pháp, chẳng nói là phi pháp. Tại sao vậy, vì nếu nói có pháp thì tức là phi pháp. Nếu ở nơi pháp hữu pháp vô mà không có phi pháp thì ở trong ấy không có hí luận, nếu không hí luận thì gọi là Niết Bàn. Ông quan sát kỹ coi là cực viễn hay cực cận ?

-Bạch Thế Tôn! Chẳng xa chẳng gần. Tại sao, vì nghĩa như vậy không phương không xứ không nội không ngoại.

– Nầy Phú Lâu Na! Đúng như vậy, Đức Như Lai ở nơi pháp tác số.

-Bạch Thế Tôn! Ở nơi pháp nào mà Đức Như Lai vì nó tác số?

– Nầy Phú Lâu Na! Như các phàm phu chấp trước các pháp, Đức Như Lai chẳng được chẳng tu chẳng chứng chẳng thông đạt, pháp như vậy Như Lai vì nó tác số.

– Nầy Phú Lâu Na! Các pháp số ấy chẳng để phân biệt pháp vậy. Nay vì ông mà nói pháp tịch diệt đệ nhứt có thể nhiếp được Phật đạo.

– Nầy Phú Lâu Na! Đời sau có người ưa theo thế lợi, nếu nghe kinh này họ chẳng thích nghe nhận.

– Nầy Phú Lâu Na! Bồ Đề này của Phật, các ông chỉ do âm thanh chương cú mà biết chút ít thôi, còn nghĩa thú trong ấy các ông chẳng biết. Nghĩa thú ấy sâu xa chẳng thể lấy lời mà tuyên bày được, chỉ có người trí mới có thể khế hội được thôi".

Đức Thế Tôn nói kệ rằng:

"Người chẳng biết được nghĩa

Nghe Phật pháp thì khổ

Nếu người biết được nghĩa

Phật làm thầy cho họ

Người được Phật làm thầy

Thì ưa cầu Niết Bàn

Không có lòng tránh tụng

Hay suy gẫm chánh pháp

Trong ấy không pháp sanh

Cũng không có pháp diệt

Không sanh cũng không diệt

Là thiệt tướng các pháp

Nếu pháp đã không sanh

Thì không có tác khởi

Thị phi cùng nhứt dị

Trong pháp ấy đều không

Đây gọi là Niết Bàn

Trong ấy không có diệt

Nếu nói cực viễn cận

Hai thứ ấy đều không

Nếu người biết được không

Thì gọi biết Niết Bàn

Nếu người biết Niết Bàn

Thì gọi đệ tử Phật.

– Nầy Phú Lâu Na! Bồ Tát có bốn pháp này thì có thể tu tập đa văn bửu tạng, có thể ở nơi các pháp được quyết định nghĩa, ở nơi ngữ ngôn giỏi biết chương cú, dường như đại hải chẳng cạn hết được".

Đức Thế Tôn nói kệ rằng:

"Thường muốn cầu đa văn

Được chư Phật khen ngợi

Được thiệt nghĩa quyết định

Vì thế như đại hải

Có thể trong một chữ

Và với nghĩa một câu

Suốt ngàn vạn ức kiếp

Diễn nói mãi không hết

Thế nên cầu chánh pháp

Cầu được rồi suy gẫm

Chớ tham lấy pháp tướng

Chẳng tham được Phật khen

Tưởng nhớ chư Như Lai

Và nhớ nơi chánh pháp

Chẳng dùng lòng tham tranh

Mà cầu nơi Đạo Sư

Thường nơi các chúng sanh

Tu hành lòng từ mẫn

Mà chẳng chấp chúng sanh

Tan diệt tất cả pháp

Bồ Tát danh tiếng lớn

Tu tập pháp như vậy

Mau được đà la ni

Đa văn từ đây sanh

Dường như tánh hư không

Không tăng cũng không giảm

Pháp tánh cũng như vậy

Không tăng và không giảm

Phật dùng sức trí huệ

Thuyết pháp vô lượng kiếp

Thuyết pháp vô lượng số

Còn chẳng gọi là thuyết

Hết các tánh chúng sanh

Đều khiến được thân người

Đều cùng tu xuất gia

Đa văn như A Nan

Đà la ni Bồ Tát

Vì tất cả người ấy

Thuyết pháp ngàn ức kiếp

Trí huệ vẫn chẳng hết

Phật trí huệ vô đẳng

Đồng hư không vô lượng

Hư không không sanh khởi

Trí huệ cũng như vậy

Như rồng chẳng lấy nước

Mà hay mưa nhiều nước

Nước ấy không chỗ trụ

Mưa xuống không cùng tận

Bồ Tát cũng như vậy

Được đà la ni này

Các pháp không chỗ trụ

Thuyết pháp không cùng tận

Thế nên cầu đa văn

Cầu rồi chánh tư duy

Dùng pháp duyên niệm Phật

Đa văn từ đây sanh

Lòng từ khắp chúng sanh

Tan diệt tướng chúng sanh

Cũng diệt các pháp tướng

Đa văn từ đây sanh".

3. PHẨM BẤT THỐI

Đức Phật bảo Ngài Phú Lâu Na: "Bồ Tát thành tựu bốn pháp có thể chẳng thối chuyển nơi Vô Thượng Bồ Đề. Những gì là bốn?

Một là Bồ Tát nghe pháp chưa nghe suy nghĩ nghĩa lý chẳng vội liền nói là sai, do đây chẳng thối chuyển Vô Thượng Bồ Đề.

Nghe pháp chưa được nghe

Lòng Bồ Tát chẳng nghịch

Suy lường nghĩa lý ấy

Chẳng vội nói phi pháp

Nếu nghe nói pháp không

Thường tìm nghĩa lý ấy

Vì thế trí huệ tăng

Phật pháp từ đây sanh

Nghe pháp chưa từng nghe

Phải tìm cầu nghĩa lý

Chẳng thối chuyển Bồ Đề

Trí huệ được tăng trưởng

Nghe pháp chưa từng nghe

Chẳng sanh lòng ghét khinh

Chẳng sanh lòng siểm khúc

Sanh thì trái Bồ Đề

Nghe pháp chưa từng nghe

Phải tìm hiểu nghĩa ấy

Trước dầu chưa từng nghe

Phải nhứt tâm suy gẫm

Lúc người này cầu pháp

Thì được nghe chánh pháp

Thường được gặp chư Phật

Chẳng thối thất Bồ Đề

Đã được thấy Phật rồi

Thì có thể thỉnh hỏi

Người Thanh Văn được nghe

Đều lấy làm vui mừng

Người này rất hi hữu

Có thể hỏi như vậy

Chúng tôi còn vô tâm

Huống được nghe sự ấy

Thanh Văn khen hi hữu

Thiên thần đều vui mừng

Chư Phật khen tên hiệu

Đây là quả đa văn

Nếu có lúc thưa hỏi

Phật đáp được lời hỏi

Vô lượng các đại chúng

Đều được lợi ích lớn

Được nghe nơi Bồ Tát

Đa văn này hỏi đáp

Vô lượng chúng đều được

Pháp nhãn tối vô thượng.

– Nầy Phú Lâu Na! Do nhơn duyên ấy phải biết Bồ Tát nghe pháp chưa nghe tin nhận chẳng trái, chánh tâm suy gẫm chẳng vội nói sai thì có thể lợi ích vô lượng chúng sanh.

– Nầy Phú Lâu Na! Quá khứ xưa vô lượng vô biên bất tư nghị a tăng kỳ kiếp, bấy giờ có Phập hiệu là Nhứt Thiết Công Đức Quang Minh Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên

Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn, thọ tám mươi ức tuổi, hội thứ nhứt độ chúng Thanh Văn đệ tử chẳng thọ một pháp lậu tận giải thoát số đông như số cát sông Hằng chẳng tính đếm được, chúng Bồ Tát cũng đông nhiều như vậy. Sau khi Phật ấy diệt độ, chánh pháp trụ thế sáu vạn năm, vì lúc ấy Phật sắp nhập Niết Bàn có trăm ức Bồ Tát đồng hưng khởi thần lực để hộ pháp đều khắp trăm ức Diêm Phù Đề, trong mỗi Diêm Phù Đề đều có một Bồ Tát.

– Nầy Phú Lâu Na! Sau khi Phật Nhứt Thiết Công Đức Quang Minh Vương nhập diệt, chúng đệ tử lần lần giải đãi, chẳng còn tụng trì kinh sâu diệu như vậy. Kinh Chư Pháp Không kinh Tịnh Giới Đầu Đà đều lần lượt diệt mất, vì chúng chẳng có thể đọc tụng diễn nói vậy. Pháp ấy rộng lớn có tám trăm bốn vạn pháp tạng. Mỗi pháp tạng có sáu mươi tám trăm vạn ức na do tha tu đa la. Mỗi tu đa la có ba vạn sáu ngàn ưu đà na. Mỗi ưu đà na có bảy trăm sáu vạn ức kệ. Lúc tối hậu pháp sắp diệt ở trong ngần ấy pháp tạng còn dư lại chỉ có một tu đa la ưu đà na, bấy giờ có một Tì Kheo Pháp Sư tên Na La Diên ở trong Diêm Phù Đề này được Phật ban thần lực để hộ pháp. Pháp Sư Na La Diên ấy đa văn rộng rãi giỏi thuyết pháp nghiêm sức văn từ nghĩa lý rõ ràng, thường ưa nói pháp chưa từng nghe. Lúc thuyết pháp có đa số thính chúng trái nghịch huỷ báng. Pháp Sư Na La Diên liền nghĩ rằng, nơi pháp chưa từng nghe này thính chúng đây nghe chẳng tin được, chẳng thích nghe nhận, nếu nghe mà chẳng hiểu thì lòng họ chẳng tuỳ thuận trái nghịch phá hoại mà cho là chẳng phải Phật nói, chẳng phải Đại Sư dạy, tại sao, vì chúng nó chưa từng được nghe Sư Trưởng Hòa Thượng nói kinh như vậy, lại các hàng Trưởng Lão Tỳ Kheo cũng lại chẳng nói là được xoay vần nghe nơi Sư Trưởng Hòa Thượng, nay chư Tỳ Kheo chỉ còn dư một tu đa la ưu đà na, tại sao tôi chẳng ở riêng mình nơi rảnh rang vắng vẻ.

Pháp Sư Na La Diên suy nghĩ như vậy rồi, một mình vào thâm sơn.

Bấy giờ trong Diêm Phù Đề từ kiếp sơ đến nay có sáu vạn tám ngàn thành lớn, thành dài mười hai do tuần, rộng bảy do tuần trang nghiêm đẹp, đường sá tương đương nhân dân đông đúc an ổn giàu vui. Sau đó nối tiếp tạo tám mươi bốn ức thành nhỏ, có thành rộng bảy do tuần, hoặc rộng sáu năm bốn ba hoặc hai do tuần, thành nhỏ nhứt rộng một do tuần.

Lúc ấy trong Diêm Phù Đề có một thành lớn tên là An Lạc, trong thành ấy có một Trưởng Giả tên là Xà Nặc, ông này có một con trai tên là Ma Ha Nựu Ma Đà. Có một thiên thần đến nói với Trưởng Giả tử Ma Ha Nựu Ma Đà rằng:

Ngài phải siêng cầu pháp

Cầu rồi chánh tư duy

Công Đức Vương Như Lai

Đã ký ngài làm Phật.

Thiên thần nói kệ xong liền ẩn mất. Trưởng Giả tử đến thưa với cha rằng: Tôi muốn xuất gia ở trong pháp của Phật Nhứt Thiết Công Đức Quang Minh Vương tu phạm hạnh.

Xà Nặc Trưởng Giả nói kệ đáp rằng:

Nhà ta nhiều của báu

Bạc vàng vô số lượng

Diêm Phù Đề không có

Mà nhà ta có đủ

Ta tìm cầu của báu

Cho con hưởng dục lạc

Sao con đi xuất gia

Bị đời họ khinh miệt.

Ma Ha Nựu Ma Đà nói kệ đáp cha:

Tôi ưa thích cầu pháp

Cầu rồi chánh tư duy

Chẳng thích thọ giàu sang

Sẽ làm Phật trong đời

Chẳng cần gia nghiệp giàu

Tôi muốn tìm thiểu dục

Sản xuất những pháp tài

Nay phải đi xuất gia

Chư Phật xuất thế khó

Phật thuyết pháp cũng khó

Nay tôi gặp Phật pháp

Sao lại rời bỏ pháp.

Trưởng Giả tử đầu mặt lạy chưn cha, rồi đi ra mà nói kệ rằng:

Dầu có một ức cha

Và có trăm ức mẹ

Còn chẳng ngăn được tôi

Lòng tôi quyết xuất gia

Tôi bỏ thân thọ mạng

Cha me, thân tộc, của

Chỉ chẳng bỏ Phật pháp

Sẽ xuất gia cầu đạo.

Nói kệ xong Trưởng Giả tử xuất gia hành đạo, đến Pháp Sư Na La Diên cầu muốn nghe pháp. Pháp Sư liền giảng nói kinh chưa từng nghe.

Tỳ Kheo Ma Ha Nựu Ma Đà nghe kinh chưa từng nghe rồi thưa hỏi Pháp Sư Na La Diên rằng kinh này từ trước chưa từng nghe, ai đọc, ai tụng, ai thọ trì, từ đâu Ngài được nghe?

Pháp Sư Na La Diên nói: Ta do túc mạng thiện căn và cũng nhờ thần lực của Phật Công Đức Vương nên kinh thâm diệu ấy tự nhiên tại tâm.

Nghe Pháp Sư nói như vậy, Tỳ Kheo Ma Đà chuyên lòng suy gẫm liền sanh trí huệ, dùng sức phương tiện đại trí huệ gạn hỏi Pháp Sư Na La Diên. Pháp Sư ấy theo nghĩa giải đáp xong bảo Tỳ Kheo Ma Đà rằng thời kỳ Phật Nhứt Thiết Công Đức Quang Minh Vương có một Tỳ Kheo hỏi Phật về sự ấy như lời ông vừa hỏi và Phật cũng giải đáp như vậy. Tỳ Kheo Ma Đà nghe nói vui mừng lại thưa hỏi pháp sư, giải đáp xong Pháp Sư cũng bảo là xưa kia thuở Phật Công Đức Vương có một Tỳ Kheo hỏi như vậy và Phật cũng giải đáp như vậy.

Nghe xong Tỳ Kheo Ma Đà vui mừng rồi lại bạch hỏi Pháp Sư, giải đáp xong Pháp Sư lại cũng bảo là thuở Phật Công Đức Vương cũng có một Tỳ Kheo hỏi như vậy và Phật cũng giải đáp như vậy. Nghe Pháp Sư nói Ma Đà vui mừng bạch rằng thuở trước ngài theo Phật nghe được bao nhiêu sự vấn đáp như vậy.

Pháp Sư Na La Diên nói thôi chớ hỏi, sự ấy khó tin, những người chưa thiệt chứng pháp tăng thượng cũng khó tin.

Tỳ Kheo Ma Đà lại hỏi như vậy lần thứ hai thứ ba. Pháp Sư Na La Diên bảo thôi chớ hỏi, sự ấy khó tin. Nay bất đắc dĩ dùng thí dụ nói cho ông. Các người có trí do thí dụ mà được hiểu.

– Nầy Tỳ Kheo! Ở chỗ Phật Nhứt Thiết Công Đức Quang Minh Vương, ta được nghe tánh chúng sanh nhiều hơn địa chủng. Giả sử tất cả chúng sanh trong cõi tam thiên Đại Thiên, hoặc loài có sắc không sắc, loài có tưởng không tưởng, loài chẳng phải có tưởng chẳng phải không tưởng, đều làm cho tất cả đều được thân người đều có sức trí huệ, mỗi mỗi chúng sanh ấy trong khoảng khảy ngón tay có thể khởi hằng hà sa lời hỏi khác nhau. Này Tỳ Kheo! Cứ như vậy lần lượt đến vô dư thế giới mười phương, tất cả chúng sanh hoặc một kiếp hoặc hơn một kiếp phát khởi lời hỏi khác nhau. Lại có một người, có khả năng trong thời gian khảy ngón tay phát khởi ngần ấy lời hỏi của tất cả mọi người trước. Một người như vậy lần lượt lại hết tất cả vô dư chúng sanh hoặc một kiếp hoặc dưới một kiếp phát khởi các lời hỏi sai khác.

– Nầy Tỳ Kheo! Ý ông thế nào, những lời hỏi trên ấy có nhiều chăng?

-Bạch Pháp Sư! Rất nhiều, chẳng phải thí dụ mà có thể thí dụ được.

– Nầy Tỳ Kheo! Nay ta nói rõ với ông, chớ có nghi hối. Như tất cả vô dư chúng sanh ấy phát khởi lời hỏi sai khác hoặc trong một kiếp hoặc dưới một kiếp, ta theo Phật nghe lời hỏi đáp trong một pháp môn còn nhiều hơn. Như vậy hai môn ba môn đến muôn ngàn trăm ức môn. Này Tỳ Kheo! Ta sẽ lược nói tất cả bao nhiêu toán số danh tự vô lượng vô tận chẳng thể nghĩ bàn còn hơn các số này, ta đều tụng trì cả. Này Tỳ Kheo! Các lời đáp ấy đều ở trong một pháp môn, ta đều biết rõ. Đó là Đức Phật Công Đức Quang Minh Vương nói những câu đạo, câu môn, câu ấn, câu bổn sự, câu kim cương, câu trọng, câu bất khả động, câu khó thấu đáo.

– Nầy Tỳ Kheo! Trong một môn nhiếp tất cả pháp, đó là môn vô tác. Môn này là gốc của tất cả pháp tất cả câu, tất cả đều vào môn này. Tất cả tu đa la ưu đà na đều vào môn câu, phân biệt một chữ hay vào nhiều chữ. Này Tỳ Kheo! Như vậy, hay vào bảy vạn tám ngàn môn đà la ni, trong ấy có chín vạn hai ngàn các căn sai biệt. Trong môn chúng sanh hành ấy có tám vạn ức hình sắc nơi các loài sai khác. Các hình sắc ấy, ta biết tên nó. Trong mỗi mỗi sắc ta biết trăm tên hai trăm tên ba trăm tên nhẫn đến biết ngàn tên đều ở tại Diêm Phù Đề, và lại khắp đến mười phương Phật quốc, trong ấy có những duyên những danh tự ta đều biết được cả.

Tóm lại, bao nhiêu trí lực của Phật ở trong các pháp có những sai biệt hỏi đáp khác nhau ta đều biết được cả, đó là sức oai thần của Phật Công Đức Quang Minh Vương gia bị cho ta vậy.

Bấy giờ Tỳ Kheo Ma Đà thưa Pháp Sư Na La Diên rằng: "Ngưỡng mong Chánh Sĩ trở lại thành ấp tụ lạc để chuyển pháp luân của Phật Công Đức Quang Minh Vương, tôi sẽ hộ vệ để được lãnh thọ giáo pháp.

Pháp Sư Na La Diên bảo: Thôi chớ có thỉnh ta. Đời nay Tỳ Kheo phần nhiều giải đãi, không có ai quyết muốn chứa họp pháp lành.

Tỳ Kheo Ma Đà thưa từ này tôi ở nơi pháp lành quyết mong muốn chẳng dám giải đãi, mong Pháp Sư trở vào tụ lạc thuyết pháp, tôi sẽ theo hộ vệ thưa hỏi để được nghe kinh chưa từng nghe.

– Nầy Phú Lâu Na! Ma Đà Tỳ Kheo thuở ấy được phần đông đại chúng cúng dường cung kính. Thời nhơn gọi ông là người trì giới đa văn tối thượng công đức vô lượng.

Bấy giờ Tỳ Kheo Ma Đà vào thành ấp tụ lạc khen ngợi Pháp Sư Na La Diên để khiến chúng sanh vào chánh pháp, và cũng khiến Phật pháp được lưu bố khắp mọi nơi. Ma Đà dắt dẫn nhiều người cúng dường cung kính hộ vệ Pháp Sư Na La Diên để được nghe pháp. Sau đó, Pháp Sư Na La Diên được Ma Đà thủ hộ rồi vào thành ấp tụ lạc nói rộng đạo Bồ Đề của Phật Nhứt Thiết Công Đức Quang Minh Vương đã tu tập trong a tăng kỳ kiếp khiến lưu bố khắp nơi. Tỳ Kheo Ma Đà suốt trong một trăm năm thường theo Pháp Sư Na La Diên thưa hỏi chánh pháp thường là mới lạ chưa bao giờ nói lập lại. Nhờ Tỳ Kheo Ma Đà hộ trợ, Pháp Sư Na La Diên khiến vô lượng chúng sanh an trụ trong chánh pháp, vô lượng chúng sanh an trụ Phật Bồ Đề.

– Nầy Phú Lâu Na! Pháp Sư Na La Diên khéo giữ gìn chánh pháp khéo thuyết pháp thuở quá khứ ấy chính là Di Lặc Bồ Tát hiện nay vậy. Còn Tỳ Kheo Ma Đà hộ vệ Pháp Sư tá trợ thưa hỏi, do năng lực phước đức ấy sau khi mạng chung liền sanh nước Phật Thượng Chúng tại thế giới thứ mười ở Hạ phương. Ở trước Phật Thượng Chúng ấy, ông hỏi kinh Đoạn Nhứt Thiết Chúng Sanh Nghi. Phật ấy nhiều lời khen lành thay tốt thay rồi vì ông ấy mà nói kinh Đoạn Nhứt Thiết Chúng Sanh Nghi, lúc thuyết kinh ấy khiến vô lượng chúng sanh sơ phát tâm Bồ Đề liền nhập vào chánh định tụ. Sau đó ông ấy lại gặp Phật Tu Di Sơn thưa hỏi kinh Nhiếp Xuất Nhứt Thiết Pháp Môn khiến vô lượng chúng sanh chánh định tụ đều được Vô Thượng Bồ Đề. Sau đó ông ấy lại gặp Phật Sơn Vương thỉnh hỏi kinh Chư Pháp Môn khiến vô lượng chúng sanh quyết định nơi Vô Thượng Bồ Đề. Sau đó ông ấy lại gặp Phật Phạm Âm Thanh thỉnh hỏi kinh Nhiếp Nhứt Thiết Pháp khiến vô lượng chúng sanh quyết định Vô Thượng Bồ Đề. Lần lượt như vậy, Tỳ Kheo Ma Đà gặp chư Phật thỉnh hỏi kinh pháp làm cho vô lượng vô số chúng sanh an trụ Vô Thượng Bồ Đề, nếu ta có dùng một kiếp hay hơn một kiếp để thuật nói danh hiệu chư Phật ấy và những chúng sanh được an trụ Vô Thượng Bồ Đề cũng chẳng thể hết được.

– Nầy Phú Lâu Na! Vì thế nên biết rằng Đại Bồ Tát nghe kinh pháp chưa từng nghe mà suy gẫm nghĩa lý thì được công đức lợi ích lớn như vậy.

– Nầy Phú Lâu Na! Tỳ Kheo Ma Ha Nựu Ma Đà theo Pháp Sư Na La Diên nghe kinh pháp chưa từng nghe tùy thuận nghĩa thú ấy nay chính là Kiều Việt Đâu Bồ Tát vậy.

Thuở ấy Tỳ Kheo Ma Ha Nựu Ma Đà thủ hộ chánh pháp nghe kinh chưa từng nghe tùy thuận nghĩa thú chẳng chấp ngôn từ, do đó mà gặp vô lượng Phật được nghe vô lượng kinh thâm diệu. Do nơi thiện căn thuở xưa ấy nên nay ở trước ta, Phật Thích Ca Mâu Ni, cũng thỉnh hỏi kinh Nhiếp Nhứt Thiết PháP Đại Hải Pháp Môn. Lúc ta thuyết kinh ấy có vô lượng chúng sanh được lợi ích lớn".

Đức Thế Tôn muốn utyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng:

"Bồ Tát nghe chưa nghe

Phải suy nghĩa lý kinh

Chẳng nên vội nói rằng

Từ truước tôi chưa nghe

Nghe pháp chưa từng nghe

Chánh niệm suy nghĩa lý

Do đó trí huệ tăng

Như biển nhận các dòng

Đa văn càng tăng thượng

Trí huệ tăng cũng vậy

Được nghe các Phật sự

Rộng lợi ích chúng sanh

Họp đa văn như biển

Trí huệ không cùng tận

Giỏi biết được chương cú

Hạng nhứt trong sai biệt

Thế nên phải nên nghe

Pháp chưa từng được nghe

Cầu pháp chưa từng nghe

Được quả báo vô thượng.

– Lại này Phú Lâu Na! Hai là Bồ Tát chơn thiệt tinh tấn, Bồ Tát thành tựu pháp này thì chẳng thối chuyển Vô Thượng Bồ Đề. Đại Bồ Tát ở nơi sự cầu đa văn sanh lòng rất mong muốn, ở nơi sự rảnh rang vắng vẻ sanh lòng rất ưa thích, nhứt tâm siêng cầu Vô Thượng Bồ Đề, cầu rồi vì dứt sân khuể mà tu tập từ quán, vì dứt tham dục mà tu tập bất tịnh quán, vì dứt ngu si mà tu tập nhơn duyên quán.

– Nầy Phú Lâu Na! Những gì là Bồ Tát tinh tấn, Bồ Tát tu tập tinh tấn thế nào?

– Nầy Phú Lâu Na! Bồ Tát hoặc trong một kiếp hoặc dưới một kiếp, hoặc đi hoặc ngồi thường phát tinh tấn. Đây chẳng gọi là chơn thiệt tinh tấn.

Có Bồ Tát hoặc trong một kiếp hoặc dưới một kiếp tu hành tịnh giới khổ hạnh khó làm, đầy đủ đầu đà, tùy sở duyên sự sanh lòng nguyện cầu sâu mà rời lìa thiệt tướng các pháp, đây chẳng gọi là chơn thiệt tinh tấn.

-Bạch Đức Thế Tôn! Thế nào là Bồ Tát chơn thiệt tinh tấn được chư Phật khen, người trí thế tục chẳng chê ghét?

– Nầy Phú Lâu Na! Ở nơi kinh chưa từng nghe đúng pháp không sâu diệu không có chút tướng dạng hiệp đệ nhứt nghĩa, Bồ Tát chẳng trái chẳng nghịch biết rõ nghĩa ấy siêng phát tinh tấn lòng chẳng lui mất nghe nhận đọc tụng giải thuyết cho người. Đây gọi là Bồ Tát chơn thiệt tinh tấn. Vì nghe kinh thâm diệu thông đạt nghĩa lý chẳng trái chẳng nghịch, tinh tấn như vậy được chư Phật khen ngợi người trí thế gian chẳng chê trách được.

Thế nên Bồ Tát phát trang nghiêm như vầy: Chỗ mà chúng sanh thế gian chẳng thể thấu đáo được thì tôi ở trong ấy sẽ thấu đáo hết, chỗ mà chúng sanh thế gian có thể bị chìm mất tôi ở trong ấy chẳng nên để bị chìm, chỗ mà chúng sanh thế gian phải kinh sợ tôi ở trong ấy chẳng nên kinh sợ. Tại saỏ Vì tôi phát trang nghiêm chẳng hiệp với thế gian, vì rời lìa thế pháp mà tôi phát trang nghiêm chớ chẳng phải đi trong thế pháp mà tôi phát trang nghiêm, vì chẳng đi trong thế pháp mà tôi phát trang nghiêm chớ chẳng phải vì tùy theo thế pháp mà tôi phát trang nghiêm, vì chuyển thế pháp mà tôi phát trang nghiêm.

– Nầy Phú Lâu Na! Đây gọi là Bồ Tát chơn thiệt tinh tấn. Bồ Tát thành tựu pháp thứ hai này thì chẳng thối chuyển Vô Thượng Bồ Đề vậy".

Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng:

"Bồ Tát cầu thâm pháp

Thường siêng phát tinh tấn

Suy gẫm nghĩa lý ấy

Chẳng theo nơi âm thanh

Bồ Tát chẳng theo lời

Biết nói điều hư dối

Vì biết các pháp không

Chỉ cầu nơi lời lành

Nếu trong ngàn vạn ức

Vô lượng các kiếp số

Ngày đêm luôn đi ngồi

Chuyên tâm tu khổ hạnh

Mà chẳng tin thâm kinh

Thì chẳng phải tinh tấn

Thấu đáo nghĩa lý sâu

Chẳng gọi là giải đãi

Tinh tấn được như vậy

Là chỗ khen của Phật

Thế gian chẳng thấu đáo

Bồ Tát thấu đáo được

Thế gian bị sợ mất

Bồ Tát chẳng sợ mất

Chuyên tâm thường mong cầu

Pháp không tịch chơn diệu

Trong pháp không vô uý

Cũng không có lui mất

Vì trụ tướng ngã pháp

Nên sanh lòng sợ mất

Tán hoại tất cả pháp

Đây gọi đạo Bồ Đề

Chuyên tâm phát tinh tấn

Mau thành biển đa văn.

– Lại này Phú Lâu Na! Ba là Bồ Tát khéo biết ngũ ấm, khéo biết mười hai nhập, khéo biết thập bát giới, khéo biết mười hai nhơn duyên, vì khéo biết các pháp nên thành tựu trí vô y chỉ, vì được trí vô y chỉ nên ở nơi tất cả pháp chẳng niệm chẳng phân biệt, vì chẳng niệm chẳng phân biệt nên thuyết pháp cho chúng sanh phá tất cả kiến chấp khiến trừ thân kiến.

Bồ Tát thành tựu pháp thứ ba này thì chẳng thối chuyển Vô Thượng Bồ Đề".

Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng:

"Bồ Tát biết ngũ ấm

Mười hai nhập đều không

Biết rõ thập bát giới

Thông đạt mười hai duyên

Chẳng tùy theo năm ấm

Biết thân này hư dối

Nơi các nội ngoại nhập

Đều biết nó tánh không

Biết các pháp như vậy

Biết rồi nói với người

Vì thế nên Bồ Tát

Trí huệ càng cao lớn.

– Lại này Phú Lâu Na! Bốn là Đại Bồ Tát như sở kiết giới như sở thuyết giới đều khéo theo học không có khuyết phạm. Những gì là Bồ Tát học giới?

Học tất cả pháp là Bồ Tát học giới. Tại sao, vì Bồ Tát học tất cả pháp nên được trí tất cả pháp, do pháp trí ấy mà được vô phân biệt huệ, do huệ vô phân biệt ấy mà biết được tất cả sự. Biết tất cả sự thế nào? Bồ Tát biết hết tất cả nội sự, tất cả ngoại sự tất cả nội ngoại sự.

Cớ chi gọi là nội tên nội? Phàm bao nhiêu chỗ thọ có thể tham trước thì gọi là nội thân, từ mười hai nhơn duyên sanh, trong ấy chỉ có thế tục giả danh, đó là mắt này, tai này, mũi này, lưỡi này, thân này, ý này. Đây gọi là nội. Vì pháp này được phàm phu tham trước nên gọi là nội, họ bảo rằng tôi sẽ được mắt như vậy, được tai mũi lưỡi thân và ý như vậy chẳng làm tai mũi lưỡi thân và ý như vậy. Trong ấy chỉ do nghiệp duyên đã khởi mà có quả báo sanh nên gọi là nội, trong ấy sai biệt mà phàm phu tham trước gọi là mắt là tai mũi lưỡi thân ý đều gọi là nội cả.

– Nầy Phú Lâu Na! Nội gọi là hai. Sự ấy hư dối. Những người phàm phu tham trước nhận lấy nó mà sanh tranh cãi. Nơi ấy, Đức Như Lai từ trước đến nay biết nó đúng thiệt nên chẳng tham trước. Thế nào biết rằng Đức Như Lai biết nó đúng thiệt mà chẳng tham trước? Đức Như Lai ở trong pháp ấy chẳng làm về nương. Ai chẳng làm về nương? Đó là ái kiết. Mắt chẳng làm về nương, rời mắt chẳng làm về nương. Tai mũi lưỡi thân ý chẳng làm về nương, rời tai mũi lưỡi thân ý chẳng làm về nương. Tại sao, vì nơi các pháp, Đức Như Lai chẳng được nội chẳng được ngoại, thế nên trong pháp ấy Đức Như Lai chẳng làm về nương.

Đức Như Lai là đấng nói lời chơn thiệt, bảo các Tỳ Kheo rằng mắt chẳng phải là các ông cũng chẳng phải người khác. Tại sao, vì bổn thể nó bất khả đắc nên pháp nào là mắt, mắt ấy thuộc ai, pháp nào là tai mùi lưỡi thân ý, thuộc về ai. Tại sao, vì bổn thể nó bất khả đắc vậy.

– Nầy Phú Lâu Na! Mắt ấy, nay nên suy kiểm, tai mũi lưỡi thân và ý ấy, nay nên suy kiểm. Nơi pháp không chỗ tham thọ được. Tại sao, nếu có pháp nhận thọ thì sanh khổ não, vì sanh khổ não nên không có vui. Vì thế nên nơi pháp mà có nhận thọ thì đều thọ khổ não, nếu thọ khổ não thì chẳng rời lìa khổ. Đây gọi là suy kiểm mắt suy kiểm tai mũi lưỡi thân và ý, không có nhập xứ, tại sao, vì nếu có chỗ nhập thì có chỗ xuất. Thế nên Đức Như Lai nói mắt là không vô ngã vô ngã sở bổn tánh nó tự như vậy, tai mũi lưỡi thân ý không vô ngã vô ngã sở bổn tánh nó tự như vậy. Tánh ấy không có tánh, không có tánh như vậy thì không tác không hoại. Pháp tánh như vậy, hoặc chư Phật xuất thế hay chẳng xuất thế, tánh ấy luôn thường trụ. Ở nơi các pháp sanh, Đức Như Lai biết là chẳng sanh, nên Như Lai là đấng nói lời chơn thiệt mà nói rằng hoặc có Phật hay không có Phật tánh ấy thường trụ.

– Nầy Phú Lâu Na! Thế nào gọi là vô sanh, thế nào gọi là trí vô sanh? Này Phú Lâu Na! Các pháp bình đẳng gọi là vô sanh, đạo gọi là trí vô sanh. Khổ hêt gọi là vô sanh, đạo gọi là trí vô sanh. Đây là Như Lai nói có hai đế: thế đế và đệ nhứt nghĩa đế.

– Nầy Phú Lâu Na! Như Lai nói tướng khổ tức là nói vô tướng. Thế nào gọi là tướng khổ, đó là tướng vô vi, vô vi tức là vô tướng, người trí biết vô vi là vô tướng.

– Nầy Phú Lâu Na! Người trí thế nào biết vô vi là vô tướng? Đó là biết vô vi pháp không, biết là tịch diệt, biết là chỗ về, biết là lợi ích đệ nhứt, biết là không có nhiệt não. Người trí biết vô vi là như vậy, trong trí biết ấy cũng chẳng sanh tướng.

– Nầy Phú Lâu Na! Nếu người có tác thì có hoại, nếu không tác thì không hoại. Tướng không hoại là không, tướng không hoại là vô tướng, tướng không hoại là không nguyện.

– Nầy Phú Lâu Na! Không pháp không có người tác không có người hoại. Vô tướng và vô nguyện cũng không có người tác người hoại.

Đây gọi là tướng bất hoại là Vô Thượng Bồ Đề của chư Phật. Những gì là Vô Thượng Bồ Đề của chư Phật, đó là chư Phật sở bất đắc vậy.

-Bạch Thế Tôn! Những pháp gì là chư Phật sở bất đắc?

– Nầy Phú Lâu Na! Tất cả pháp là chư Phật sở bất đắc.

-Bạch Thế Tôn! Vì lẽ ấy mà tất cả pháp là Vô Thượng Bồ Đề của chư Phật chăng ?

– Nầy Phú Lâu Na! Đúng như vậy, tất cả pháp là Vô Thượng Bồ Đề của chư Phật đó chỉ là thế tục giả danh ngôn để nói thôi. Người chẳng tinh tấn khó hiểu khó biết. Tại sao, vì người chẳng tinh tấn chẳng tu tập được các pháp bình đẳng. Nếu bất bình đẳng thì trái chống với chư Phật.

– Nầy Phú Lâu Na! Người nào chẳng tu tập bình đẳng được?

– Nầy Phú Lâu Na! Tất cả thế gian hành bất bình đẳng. Trong Bồ Đề của chư Phật không có đẳng cũng không có bất đẳng. Ta do đạo ấy mà được Vô Thượng Bồ Đề. Do nhơn duyên ấy mà trong kinh Phật nói tất cả pháp ở trong chánh vị đều nhập tất định, đây gọi là môn tất định nhập Bồ Đề. Vì thế nên, này Phú Lâu Na, tất cả pháp đều là Bồ Đề vậy".

Bấy giờ Huệ Mạng Phú Lâu Na bạch rằng: "Hi hữu Thế Tôn! Vô Thượng Bồ Đề của chư Phật cũng định cũng bất định, cũng vào văn tự cũng chẳng vào văn tự, cùng vào ngữ ngôn cũng chẳng vào ngữ ngôn. Tại sao, bạch Thế Tôn, nay tôi theo Phật nghe nói kinh này, ở nơi các pháp tôi được quyết định quang minh. Tôi ở trong các pháp được quyết định quang minh như vậy, tôi ở trong một sự biết tất cả sự, ở trong tất cả sự biết một sự".

Đức Phật khen Ngài Phú Lâu Na rằng: "Lành thay, tốt thay, này Phú Lâu Na, ông có thể mau nhập được tất cả pháp lợi của chư Phật như vậy, phải biết thuở đời quá khứ ông đã từng cúng dường chư Phật gieo trồng các căn lành, hầu gần thỉnh hỏi. Này Phú Lâu Na!

Ta nhớ thuở quá khứ ở trong phần hư không của cõi đất này, ông đã từng ở chỗ sáu vạn tám ngàn Đức Phật được nghe nói kinh này, do vì thiện căn công đức ấy nên nay ông ở nơi các pháp được khắp quyết định quang minh.

-Bạch Thế Tôn! Nếu tôi đã ở nơi chư Phật ấy được nghe kinh này, tại sao tôi lại chẳng dùng một niệm phát Vô Thượng Bồ Đề?

– Nầy Phú Lâu Na! Ta nhớ thuở quá khứ ông đã có một kiếp phát tâm Vô Thượng Bồ Đề mà chẳng rời lìa các tâm khác nên lại thối thất. Do vì phước đức ấy, nay ta nói ông ở trong các Pháp Sư là tối đệ nhứt.

Bạch Thế Tôn! Tôi khi trước làm tội chướng gì nên trong một kiếp phát tâm Bồ Đề lại thối thất?

– Nầy Phú Lâu Na! Do vì theo y chỉ ác tri thức, lại vì chẳng có thể lưu bố rộng chánh pháp nên ông thối thất tâm Bồ Đề.

– Nầy Phú Lâu Na! Có bốn pháp thối thất tâm Vô Thượng Bồ Đề mà thành Thanh Văn thừa. Những gì là bốn?

Một là vì Bồ Tát thân cận ác tri thức nên có thể ở nơi thiện căn tăng thêm ác niệm viễn ly mà nói rằng: Cần gì phát tâm Bồ Đề như vậy, sanh tử dài lâu vô lượng khổ não qua lại trong năm loài được không nạn rất khó, gặp Phật càng khó mà sanh lòng tịnh tín lại khó hơn, dầu được gặp Phật nhưng xuất gia lại khó, đời nay ngươi được gặp không nạn chớ để mất, nơi chư Phật người chưa được thọ ký thiện căn chưa nhứt định, nếu chẳng được Niết Bàn thì phải luân chuyển năm loài. Người ấy nghe lời của ác tri thức nói trên đây rồi sanh lòng thối thất đạo Bồ Đề giải đài chẳng an vui. Đây là pháp ban đầu mà do đó Bồ Tát thối thất Bồ Đề thành Thanh Văn thừa.

Hai là Bồ Tát chẳng nghe các kinh đúng với Bồ Tát, đó là các kinh Bồ Tát Tạng, kinh Phát Bồ Đề Tâm, ,kinh Nhiếp Bồ Tát Sự, kinh đúng sáu Ba la mật, do vì chẳng nghe nên chẳng hành Bồ Tát hạnh chẳng học Bồ Tát đạo. Người này chẳng biết Bồ Tát nên thân cận pháp gì nên xa rời pháp gì, pháp nào nên thọ pháp nào chẳng nên thọ, pháp gì là Bồ Tát pháp, pháp gì là Thanh Văn pháp. Vì chẳng biết rõ ràng nên với pháp nên thân cận mà chẳng thân cận trở lại thân cận pháp chẳng nên thân cận, do đó nên thối thất đạo Vô Thượng Bồ Đề tâm giải đãi nhàm yếu bỏ phế bổn nguyện. Có pháp thứ hai này thì Bồ Tát thối thất Bồ Đề thành Thanh Văn thừa.

Ba là Bồ Tát chấp được các tham trước ngô ngã hành tà kiến sa vào biên kiến chìm trong ác kiến khó cứu khỏi. Người này được nghe kinh sâu diệu đúng đệ nhứt nghĩa không có mảy tướng dạng thì trái nghịch chẳng tin chẳng thông đạt được gây tội phá pháp, do đó mà sanh tại chỗ nạn chẳng gặp được Phật chẳng được nghe pháp, vì chẳng nghe pháp nên chẳng gặp giáo pháp chư Phật nên chẳng được gặp thiện tri thức, vì chẳng gặp thiện tri thức nên mất chỗ vô nạn mà sanh tại chỗ nạn, vì sanh chỗ nạn nên rời lìa thiện tri thức gặp ác tri thức, vì cùng tùng sự với ác tri thức nên quên mất bổn niệm, vì mất bổn niệm nên bỏ tâm Bồ Tát bỏ Bồ Tát thừa mà thối chuyển mất tâm Bồ Đề chỉ làm pháp sanh tử chẳng tu tập được hành pháp Đại thừa. Có pháp thứ ba này thì Bồ Tát thối thất Bồ Đề thành Thanh Văn thừa.

Bốn là Bồ Tát được nghe các kinh thâm diệu mà chẳng thâm tâm giáo hóa người khác, tâm niệm thối thất chỉ thích tu một mình lòng tham tiếc chẳng muốn tuyên nói, chẳng có thể dùng Chánh pháp nhiếp nhiều người, do căn bất thiện này mà mất trí niệm huệ, đã mất trí huệ niệm chẳng cùng người đọc tụng Đại thừa kinh chẳng đem pháp Đại thừa cùng người cộng đồng, người này chuyển thân đời khác, mất tâm Bồ Tát quên niệm Bồ Tát. Có pháp thứ tư này thì Bồ Tát thối thất Bồ Đề thành Thanh Văn thừa".

Đức Thế Tôn muốn tuyên rõ lại sự ấy mà nói kệ rằng:

"Thân cận ác tri thức

Giải đãi nơi Bồ Đề

Do vì duyên cớ ấy

Mất tâm thượng Bồ Đề

Sâu sanh ác ngã kiến

Sa vào biên tà kiến

Mà gây tội phá pháp

Sanh tại nơi nạn xứ

Sanh nơi nạn xứ rồi

Thì dứt tâm Bồ Đề

Quên mất bổn niệm trước

Do đó mất Bồ Đề

Người này chẳng nghe được

Pháp sanh Bồ Đề tâm

Tâm ấy nếu tăng trưởng

Thì thành được Bồ Đề

Được pháp diệu quảng đại

Tham lẫn chẳng muốn nói

Do vì duyên cớ ấy

Mà thối thất Bồ Đề

Bồ Tát cầu Đại thừa

Phải biết bốn pháp ấy

Nếu biết bốn pháp ấy

Bồ Đề sẽ được sanh

Vì thế nên xa rời

Bốn pháp ác như vậy

Siêng tu hành pháp không

Được gần thiện tri thức

Được kinh thâm diệu rồi

Chẳng nên tham bỏn xẻn

Lòng siêng nói dạy người

Do đây sanh Bồ Đề.

– Lại này Phú Lâu Na! Bồ Tát thành tựu bốn pháp tùy hồi hướng Bồ Đề tâm chẳng mất, tùy hồi hướng các thiện căn cũng chẳng mất. Những gì là bốn?

Bồ Tát trì giới thanh tịnh, ức niệm thành tựu có niệm an huệ, tâm siêng tinh tấn mà chẳng lười bỏ, thành tựu đa văn sanh huệ.

Bồ Tát có bốn pháp ấy thì tùy hồi hướng tâm Bồ Đề chẳng mất, tùy hồi hướng các thiện căn cũng chẳng mất".

Đức Thế Tôn muốn tuyên rõ lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng:

"Bồ Tát đủ trì giới

Chỗ ghi nhớ sâu xa

Tâm siêng thường tinh tấn

Đa văn trang nghiêm huệ

Bồ Tát thường thân cận

Bốn pháp như trên ấy

Tùy ý muốn khởi sự

Đều có thể thành tựu

Vì thế phải thường trì

Tịnh giới siêng tinh tấn

Chẳng dứt pháp ức niệm

Thường siêng cầu đa văn

Trì giới tịnh chỗ sanh

Ức niệm tịnh đại trí

Tinh tấn tịnh Phật pháp

Đa văn sanh đại huệ

Vì thế các Bồ Tát

Phải học bốn pháp trên

Học bốn pháp trên rồi

Sẽ chuyển vô thương luân.

– Lại này Phú Lâu Na! Bồ Tát có bốn pháp thì có thể lợi ích Bồ Đề: Trì giới là pháp lợi ích Bồ Đề, nhẫn nhục là pháp lợi ích Bồ Đề, tinh tấn là pháp lợi ích Bồ Đề, đa văn là pháp lợi ích Bồ Đề".

Đức Thế Tôn muốn tuyên rõ nghĩa mà nói kệ rằng:

"Bồ Tát tịnh trì giới

Lợi ích cho Bồ Đề

Nhẫn nhục và tinh tấn

Đa văn cũng như vậy

Người trì giới thanh tịnh

Sở nguyện đều được thành

Giới tịnh nhiều lợi ích

Bồ Đề được chẳng khó

Bồ Tát tu nhẫn nhục

Thân tướng trí huệ thành

Nên tu hành nhẫn nhục

Cầu Phật tướng trí huệ

Tinh tấn cũng có thể

Lợi ích nhiều Bồ Đề

Người luôn tu tinh tấn

Được Bồ Đề chẳng khó

Đa văn cũng lợi ích

Nghe rồi được gần pháp

Xa rời các phi pháp

Được Bồ Đề chẳng khó

Bốn pháp là chủng tử

Từ đó sanh Bồ Đề

Thế nên chư Bồ Tát

Phải gần bốn pháp ấy.

– Lại này Phú Lâu Na! Đại Bồ Tát thành tựu bốn pháp thì được thân sắc đầy đủ, tài vật đầy đủ, quyến thuộc đầy đủ, mạng chung thường chẳng sanh xứ ác nạn, thường gặp chư Phật, được chư Phật khen. Những gì là bốn:

Một là Bồ Tát hành từ chẳng sân chẳng não tất cả chúng sanh. Thế nào là Bồ Tát hành từ chẳng sân chẳng não tất cả chúng sanh ? Này Phú Lâu Na! Bồ Tát hành từ đối với chúng sanh phát khởi ý tưởng tôi thương mến cứu độ họ. Thấy chúng sanh thân khổ tâm khổ thì nghĩ rằng tôi phải siêng tu tinh tấn độ các chúng sanh ấy khỏi khổ sanh tử ban cho họ an vui. Bồ Tát phát tâm ấy rồi siêng tu tinh tấn, tu sáu Ba la mật: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí huệ.

– Nầy Phú Lâu Na! Bồ Tát nhơn Bát Nhã Ba la mật mà tròn đủ sáu Ba la mật. Những gì là Bồ Tát Bát Nhã Ba la mật, tại sao Bồ Tát do Bát Nhã Ba la mật mà siêng phát tinh tấn?

Bồ Tát suy gẫm: Pháp gì là ngã, pháp gì là ngã sở. Lúc suy như vậy, Bồ Tát chẳng thấy pháp là ngã, chẳng thấy pháp là ngã sở. Ở trong pháp ấy không ngã pháp không ngã sở pháp.

Vì rời lìa ngã, ngã sở nên Bồ Tát biết thân không, vì thân không nên chúng sanh không. Tại sao, vì trong các pháp ngã và ngã sở còn không huống là chúng sanh. Bồ Tát vì lìa rời ngã ngã sở như vậy nên biết chúng sanh không.

Vì chúng sanh không nên biết sắc ấm không. Vì sắc ấm không nên thọ tưởng hành thức bốn ấm cũng đều không. Vì biết các ấm không nên biết đại chủng không, đó là địa thủy hỏa phong hư không và thức đại chủng đều không.

Đại chủng ấy không có tác giả không có ai sai tạo tác. Nếu không tác giả thì pháp ấy là không. Vì biết các đại chủng tướng các đại chủng không nên Bồ Tát biết các nhập không, vì các nhập không nên tướng các nhập không.

Các nhập không tác giả không ai sai tạo tác, nếu không tác giả thì pháp ấy là không.

– Nầy Phú Lâu Na! Bồ Tát quán tất cả pháp không như vậy. Lúc quán tất cả pháp không chẳng thấy bổn thể các pháp chỗ có thể sanh được sân.

Đây gọi là Bồ Tát đại từ, là từ biết thân không, là từ chúng sanh không, là từ ấm nhập đại chủng không. Bồ Tát có thể hành đức từ như vậy thì gọi là hành tất cả pháp không từ. Đây là Bồ Tát hành nơi đại từ. Bồ Tát nầy rời lìa tâm ngã ngã sở rất sanh lòng cầu muốn Vô Thượng Bồ Đề, sanh lòng đại từ đối với chúng sanh. Nếu có chúng sanh chẳng biết được thiệt tướng như vậy nên Bồ Tát phát đại trang nghiêm. Tôi cứu họ nên gọi là từ, tôi làm nên gọi là bi. Bồ Tát thành tựu đại từ như vậy thì có thể ở nơi các chúng sanh có thể làm cứu độ làm chỗ về làm nhà làm chỗ ở có thể làm cứu cánh. Thế nên Bồ Tát phải tu hành đại từ như vậy chẳng tham trước nơi chúng sanh cũng chẳng sân hận. Đây gọi là Bồ Tát chúng sanh không từ chẳng có sân hận.

– Nầy Phú Lâu Na! Nếu Bồ Tát nhơn nơi đức từ nhơn nơi lợi ích nhơn nơi pháp không có thể vào tất cả pháp bất sanh bất diệt thì gọi là Bồ Tát thường hành đại từ.

Bồ Tát thông đạt các pháp như vậy thì các ma, ma dân và ma sở sử đều chẳng phá hoại được.

Bồ Tát thành tựu pháp ban đầu này thì có thể dứt được triền phược trong tất cả công đức, do đây được Bình đẳng Ba la mật".

Đức Thế Tôn muốn sáng tỏ sự ấy mà nói kệ rằng:

"Bồ Tát thường tu từ

Mà quán không như vậy

Biết ấm nhập giới ly

Trong đây không có ngã

Hai pháp ngã ngã sở

Cũng quyết định chẳng có

Vì chẳng được các pháp

Mà tu hành từ tâm

Chẳng y chỉ các pháp

Cũng chẳng phải chẳng y

Đây gọi các Phật đạo

Các pháp chẳng y chỉ

Hay được vô thượng nhẫn

Nhẫn thiệt tướng các pháp

Các pháp không sanh diệt

Hay thông đạt lý ấy

Những người có trí lớn

Thân cận nơi pháp ấy

Thường được thân sắc đẹp

Cũng được lạc thuyết biện

Thường được gặp chư Phật

Biết nghĩa lợi các pháp

Vì thế Bồ Tát này

Được đạo thượng vô vi.

– Lại này Phú Lâu Na! Hai là Đại Bồ Tát chuyên cần cúng dường cung kính chùa tháp chư Phật, dùng hương quí hoa đẹp thơm các chuỗi ngọc phan lọng kỹ nhạc các loại đồ cúng để cúng dường. Bồ Tát thành tựu pháp thứ hai này thì có thể đầy đủ tất cả công đức".

Đức Thế Tôn muốn sáng tỏ nghĩa này mà nói kệ rằng:

"Bồ Tát dùng hoa hương

Và phan lọng thượng diệu

Cúng dường chùa tháp Phật

Để cầu thượng trí huệ

Do duyên công đức này

Báo thân thường đoan chánh

Của nhiều châu báu đủ

Quyến thuộc đều thành tựu

Quyết định nơi Bồ Đề

Thường an trụ nơi pháp

Nơi nơi chỗ thọ sanh

Công đức càng cao thêm

Các vua chúa đều kính

Trời Rồng Thần thường mến

Tất cả các chúng sanh

Cũng đều chung cung kính

Nếu người cúng dường Phật

Hiện tại hoặc nhập diệt

Sanh ra được cúng dường

Thường ở chỗ không nạn.

– Lại này Phú Lâu Na! Ba là Đại Bồ Tát thường phải chuyên cần cúng dường chánh pháp. Sao gọi là chánh pháp? Thế nào gọi là cúng dường chánh pháp?

Đó là Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ như ý túc, Tứ thiền, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất giác ý, Bát chánh đạo, Chỉ quán, Minh giải thoát, Ba giải thoát môn, Tận trí vô sanh trí, đây gọi là chánh pháp.

Ở trong các pháp ấy đúng như lời mà thật hành tùy thuận chẳng trái nghịch sanh dục nguyện tinh tấn đầy đủ tu tập, đây gọi là cúng dường chánh pháp.

Lại chánh pháp là các kinh như vậy. Cúng dường pháp là tin hiểu suy tư phân biệt tùy thuận tâm chẳng trái nghịch.

Bồ Tát thành tựu pháp thứ ba này thì có thể được thành tựu đầy đủ tất cả công đức".

Đức Thế Tôn muốn sáng tỏ nghĩa này mà nói kệ rằng:

"Thường siêng cúng dường pháp

An trụ đúng như lời

Nghe pháp không thâm diệu

Tâm thuận không trái nghịch

Do đó thân đoan chánh
Cũng được lạc thuyết biện

Đầy đủ các công đức

Trí huệ càng cao thêm

Tâm cúng dường chánh trực

Không có ngã ngã sở

Do nhơn duyên trí này

Sanh ra được cúng dường

Được chư Phật khen ngợi

Thường thân cận bốn pháp

Sanh ra thường tôn quí

Công đức càng cao thêm".

Nguồn bản dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng KinhGiấy phép: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Việt dịch) · nguồn: rongmotamhon.net (Liên Phật Hội) · EN: AI translation from Vietnamese source, awaiting source English🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch bằng AI do Inti biên soạn: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến