Toh 555Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh
Tên Pāli / Sanskrit:Suvarṇaprabhāsottamasūtra
Kinh Ánh Sáng Hoàng Kim Thù Thắng có tầm quan trọng đặc biệt trong Phật giáo qua những giáo huấn về thanh tịnh hóa nghiệp. Phần lớn kinh được nhắm đến các quân vương, do đó có ý nghĩa sâu xa đối với các bậc cai trị—không chỉ ở Ấn Độ mà còn ở Trung Hoa, Nhật Bản, Mông Cổ và nhiều nơi khác—những người mong muốn bảo đảm sự thịnh vượng cho quốc gia qua sự thanh tịnh hóa đó. Việc trì tụng và thâm nhập kinh này được hiểu là có hiệu lực đối với sự thanh tịnh hóa cá nhân cũng như phúc lợi của quốc gia và thế giới. Trong kinh này, Bồ-tát Ruciraketu có một giấc mộng trong đó một lời cầu nguyện sám hối phát ra từ một chiếc trống bằng vàng sáng chói. Ngài thuật lại lời cầu nguyện ấy cho Đức Phật, và nhiều vị thần sau đó phát nguyện bảo hộ kinh và những người tuân giữ kinh. Lòng tín tâm của người cai trị đối với kinh được nhấn mạnh là quan trọng để quốc gia được lợi lạc. Gần cuối kinh có hai câu chuyện nổi tiếng về tiền thân của Đức Phật: câu chuyện vị y sĩ Jalavāhana cứu và ban phúc lành cho vô số con cá, và câu chuyện Thái tử Mahāsattva dâng hiến thân mình cho một con hổ cái đói cùng đàn con. Đây là bản dài nhất của Kinh Ánh Sáng Hoàng Kim Thù Thắng được lưu giữ trong Kangyur. Kinh gồm ba mươi mốt chương và được dịch sang Tạng ngữ chủ yếu từ bản dịch Hán ngữ của Nghĩa Tịnh vào đầu thế kỷ thứ chín.
Lưu tiến độ đọc kinh
Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.
Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh quyển 1
PHẨM THỨ NHẤT : TỰA
Tôi nghe như vầy, một thuở đức Thế Tôn (Bạc Dà Phạm) ở trên đỉnh núi Thứu Phong tại thành Vương xá với pháp giới thậm thâm thanh tịnh, nơi ở của Như Lai, cùng với chúng Đại Bí Sô, chín vạn tám ngàn người. Những vị ấy đều là A La Hán, có khả năng điều phục như đại tượng vương, các lậu đã trừ, không phiền não nữa, lòng giỏi giải thoát, tuệ giỏi giải thoát, việc làm đã xong, xả bỏ những gánh nặng, đạt được lợi mình, hết các hữu kết, được đại tự tại, trụ giới thanh tịnh, phương tiện khéo léo, trí tuệ trang nghiêm, chứng tám giải thoát, đã đến bờ kia.
Những vị ấy tên là : Cụ thọ A Nhã Kiều Trần Như, cụ thọ A Thuyết Thị Đa, cụ thọ Bà Thấp Ba, cụ thọ Ma Ha Na Ma, cụ thọ Bà Đế Lợi Ca, Đại Ca Diếp Ba, Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp, Dà Gia Ca Diếp, Na Đề Ca Diếp, Xá Lợi Tử, Đại Mục Kiền Liên... chỉ còn A Nan Đà trụ ở học địa. Những bậc Đại Thanh Văn như vậy.v.v... đều vào lúc quá trưa, ra khỏi định, đi đến chỗ đức Phật, đảnh lễ dưới chân đức Phật, đi nhiễu bên phải ba vòng, lùi về ngồi một bên.
Lại có Đại Bồ tát gồm trăm ngàn vạn ức người. Những vị ấy có uy đức lớn như Đại Long Vương, danh xưng nghe khắp, mọi người hay biết, thí giới thanh tịnh, thường ưa phụng trì nhân hạnh tinh tấn trải vô lượng kiếp, vượt qua những tịnh lực, chuyên niệm hiện tiền, mở mang cửa tuệ, khéo tu phương tiện, tự tại du hí, thần thông vi diệu, đạt được Tổng trì, biện tài vô tận, đoạn các phiền não, lụy nhiễm đều mất, chẳng bao lâu sẽ thành Nhất Thiết Chủng Trí, hàng phục ma quân, đánh lên trống pháp chế ngự những ngoại đạo khiến cho chúng khởi tịnh tâm, chuyển bánh xe diệu pháp độ chúng người trời, cõi Phật mười phương đều đã trang nghiêm, hữu tình sáu đường không ai chẳng nhờ ích lợi, thành tựu đại trí, đầy đủ đại nhẫn, trụ ở tâm đại từ bi, có lực lớn kiên cố, trải thờ các đức Phật chẳng Bát Niết Bàn,
phát lòng hoằng thệ đến tận đời vị lai, rộng ở chỗ Phật gieo trồng nhân tịnh, đối với pháp ba đời ngộ vô sanh nhẫn, vượt qua cảnh giới sở hành của hàng Nhị thừa, dùng đại thiện xảo hóa độ thế gian, đối với lời dạy của bậc đại sư đều có khả năng phu diễn pháp bí mật, tính không thậm thâm đều đã rõ biết, không nghi hoặc nữa.
Những Bồ tát ấy tên là : Bồ tát Vô Chướng Ngại Chuyển Pháp Luân, Bồ tát Thường Phát Tâm Chuyển Pháp Luân, Bồ tát Thường Tinh Tấn, Bồ tát Bất Hưu Tức, Bồ tát Từ Thị, Bồ tát Diệu Cát Tường, Bồ tát Quán Tự Tại, Bồ tát Tổng Trì Tự Tại Vương, Bồ tát Đại Biện Trang Nghiêm Vương, Bồ tát Diệu Cao Sơn Vương, Bồ tát Đại Hải Thâm Vương, Bồ tát Bảo Tràng, Bồ tát Đại Bảo Tràng, Bồ tát Địa Tạng, Bồ tát Hư Không Tạng, Bồ tát Bảo Thủ Tự Tại, Bồ tát Kim Cương Thủ, Bồ tát Hoan Hỷ Lực, , Bồ tát Đại Pháp Lực, Bồ tát Đại Trang Nghiêm Quang, Bồ tát Đại Kim Quang Trang Nghiêm, Bồ tát Tịnh Giới, Bồ tát Thường Định, Bồ tát Cực Thanh Tịnh Tuệ, Bồ tát Kiên Cố Tinh Tấn, Bồ tát Tâm Như Hư Không, Bồ tát Bất Đoạn Đại Nguyện, Bồ tát Thi Dược, Bồ tát Liệu Chư Phiền Não Bịnh, Bồ tát Y Vương, Bồ tát Hoan Hỷ Cao Vương,
Bồ tát Đắc Thượng Thọ Ký, Bồ tát Đại Vân Tịnh Quang, Bồ tát Đại Vân Trì Pháp, Bồ tát Đại Vân Danh Xưng Hỷ Lạc, Bồ tát Đại Vân Hiện Vô Biên Xưng, Bồ tát Đại Vân Sư Tử Hống, Bồ tát Đại Vân Ngưu Vương Hống, Bồ tát Đại Vân Cát Tường, Bồ tát Đại Vân Bảo Đức, Bồ tát Đại Vân Nhật Tạng, Bồ tát Đại Vân Nguyệt Tạng, Bồ tát Đại Vân Tinh Quang, Bồ tát Đại Vân Hỏa Quang, Bồ tát Đại Vân Điển Quang, Bồ tát Đại Vân Lôi Âm, Bồ tát Đại Vân Tuệ Vũ Sung Biến, Bồ tát Đại Vân Thanh Tịnh Vũ Vương, Bồ tát Đại Vân Hoa Thọ Vương, Bồ tát Đại Vân Thanh Liên Hoa Hương, Bồ tát Đại Vân Bảo Chiên Đàn Hương Thanh Lương Thân, Bồ tát Đại Vân Trừ Ám, Bồ tát Đại Vân Phá Ế... vô lượng Đại Bồ tát chúng như vậy .v.v... đều khi quá trưa, ra khỏi định, đi đến chỗ đức Phật, đảnh lễ dưới chân đức Phật, đi nhiễu về bên phải ba vòng,
lui ngồi một bên.
Lại có năm ức tám ngàn đồng tử Lị Xa Tỳ. Họ tên là: Sư Tử Quang đồng tử, Sư tử Tuệ đồng tử, Pháp Thọ đồng tử, Nhân Đà La Thọ đồng tử, Đại Quang đồng tử, Đại Mãnh đồng tử, Phật Hộ đồng tử, Pháp Hộ đồng tử, Tăng Hộ đồng tử, Kim Cương Hộ đồng tử, Hư Không Hộ đồng tử, Hư Không Hống đồng tử, Bảo Tạng đồng tử, Cát Tường Diệu Tạng đồng tử.... mà những người như vậy làm thượng thủ. Họ đều an trụ ở Bồ Đề Vô Thượng, ở trong đại thừa thâm tín hoan hỷ.
Họ đều vào lúc quá trưa, đi đến chỗ đức Phật, đảnh lễ dưới chân đức Phật, đi nhiễu về bên phải ba vòng, lui về ngồi một bên.
Lại có bốn vạn hai ngàn thiên tử. Họ tên là Hỷ Kiến thiên tử, Hỷ Duyệt thiên tử, Nhật Quang thiên tử, Nguyệt Kế thiên tử, Minh Tuệ thiên tử, Hư Không Tịnh Tuệ thiên tử, Trừ Phiền Não thiên tử, Cát Tường thiên tử... mà những thiên tử như vậy làm thượng thủ. Họ đều phát nguyện lớn, hộ trì Đại thừa, tiếp nối làm hưng thịnh chánh pháp, có thể khiến cho chẳng đoạn tuyệt. Họ đều vào lúc quá trưa, đi đến chỗ đức Phật, đảnh lễ dưới chân đức Phật, đi nhiễu về bên phải ba vòng, rồi lui về ngồi một bên.
Lại có hai vạn tám ngàn Long vương như : Liên Hoa long vương, Ê La Diệp long vương, Đại Lực long vương, Đại Hống long vương, Tiểu Ba long vương, Trì Sử Thủy long vương, Kim Diện long vương, Như Ý long vương... mà những long vương như vậy làm thượng thủ, đối với pháp Đại thừa, họ thường ưa thọ trì, phát tâm thâm tín, xưng dương ủng hộ, đều vào lúc quá trưa, đi đến chỗ đức Phật, đảnh lễ dưới chân đức Phật, đi nhiễu về bên phải ba vòng, rồi lui về ngồi một phía.
Lại có ba vạn sáu ngàn những dược (dạ) xoa chúng mà vua trời Tỳ Sa Môn làm thượng thủ. Chúng tên là Am Bà dạ xoa, Trì Am Bà dạ xoa, Liên Hoa Quang Tạng dạ xoa, Liên Hoa Diện dạ xoa, Diệu Mi dạ xoa, Hiện Đại Bố dạ xoa, Động Địa dạ xoa, Thôn Thực dạ xoa... Những dạ xoa như vậy đều yêu thích Chánh pháp của Như Lai, thâm tín hộ trì chẳng phát sinh lười mệt, đều vào lúc quá trưa, đi đến chỗ đức Phật, đảnh lễ dưới chân đức Phật, đi nhiễu quanh về bên phải ba vòng, rồi lui về ngồi một phía.
Lại có bốn vạn chín ngàn Yết Lộ Trà Vương mà vua Hương Tượng Thế Lực làm thượng thủ. Và còn Càn thát bà, A tô la, Khẩn na la, Ma hô lạc dà.v.v... tất cả thần tiên của núi rừng sông biển, cùng vương chúng sở hữu của các nước lớn, trung cung hậu phi, nam nữ tịnh tín, đại chúng người, trời.... đều vân tập lại hết, đều nguyện ủng hộ Đại Thừa Vô Thượng, đọc tụng, thọ trì, ghi chép, lưu bố... Tất cả đều vào lúc quá trưa, đi đến chỗ đức Phật, đảnh lễ dưới chân đức Phật, đi nhiễu quanh bên phải ba vòng, rồi lui về ngồi một phía.
Như vậy đại chúng Thanh Văn, Bồ tát, người trời, tám bộ long thần... đã vân tập rồi, mỗi mỗi đều hết lòng chắp tay cung kính, chiêm ngưỡng tôn dung, mắt chưa từng rời bỏ, nguyện ưa muốn nghe diệu pháp thù thắng. Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn, vào lúc xế trưa ngày hôm đó, ra khỏi định, quan sát đại chúng mà nói lời tụng rằng :
Diệu pháp Kim Quang Minh
Vua tối thắng các Kinh
Thậm thâm khó nghe được
Cảnh giới của chư Phật
Ta sẽ vì mọi người
Tuyên nói Kinh điển này
Cùng bốn phương bốn Phật
Uy thần chung hộ trì
Đông phương Phật A Súc
Nam phương Bảo Tướng Phật
Vô Lượng Thọ Tây phương
Bắc phương Thiên Cổ (Trống trời) âm
Ta lại diễn diệu pháp
Trong sám cát tường hơn
Hay diệt tất cả tội
Các nghiệp ác sạch trơn
Và tiêu mọi khổ hoạn
Thường cho vui không lường
Căn bản Nhất Thiết Trí
Các công đức trang nghiêm.
Chúng sinh thân chẳng đủ
Sắp tổn giảm mạng thân
Các tướng ác hiện tiền
Thiên thần đều lìa bỏ
Thân hữu ôm giận sân
Quyến thuộc phân ly hết
Đó, đây cùng trái ngang
Của quí đều tan mất
Sao xấu biến lạ lùng
Hoặc bị tà độc hại
Hoặc lại nhiều lo buồn
Bị mọi khổ ép bức
Ngủ thấy ác mộng luôn
Nhân đây sinh não phiền
Người đó phải tắm gội
Mặc áo sạch tinh thơm
Đối với vua Kinh diệu
Thậm thâm được Phật khen
Lòng chuyên chú không loạn
Đọc tụng, nghe, giữ gìn.
Do uy lực Kinh ấy
Các tai ngược lìa tan
Và mọi khổ nạn khác
Không gì chẳng tiêu tan.
Chúng bốn vua hộ thế
Và quyến thuộc đại thần
Những dạ xoa vô lượng
Đều ủng vệ một òng
Đại Biện Tài thiên nữ
Thủy thần sông Ni Liên
Thần mẹ Ha Lợi Để
Chúng Kiên Lao địa thần
Phạm vương, chúa Đế Thích
Khẩn na la, Long vương
Và vua chim Kim Sí
Chúng A Tô La thiên
Những thiên thần như vậy
Cùng đem theo bà con
Đều đến hộ người đó
Chẳng rời bỏ ngày đêm.
Ta sẽ nói Kinh đó
Phật hành xứ thậm thâm
Lời mật giáo chư Phật
Ngàn muôn kiếp nan phùng (khó gặp).
Nếu có nghe Kinh đó
Vì người khác tuyên dương
Hoặc lòng sinh tùy hỷ
Hoặc thiết lễ cúng dường.
Với những người như vậy
Sẽ ở kiếp không lường.
Thường được sự cung kính
Của trời, người, thần, rồng,
Phước tụ này vô lượng
Số hơn cát sông Hằng.
Người đọc tụng Kinh đó
Công đức ấy được liền
Cũng được các Bồ tát
Thâm hạnh mười phương tôn
Ủng hộ người trì pháp (Kinh)
Khiến lìa các khổ nàn.
Người cúng dường Kinh đó
Như trước tắm gội thân
Hoa thơm và ăn uống
Ý từ bi khởi luôn.
Nếu muốn nghe Kinh đó
Lòng vô cấu, sạch trong
Thường sinh niệm hoan hỷ
Các công đức lớn lên
Nếu đem lòng tôn trọng
Với người lắng nghe Kinh.
Thì sinh vào nhân đạo
Lìa xa các khổ nàn.
Thiện căn người đó chín (thục)
Được chư Phật ngợi khen
Mới được nghe Kinh đó
Và pháp sám hối chân.
PHẨM THỨ HAI : THỌ MẠNG NHƯ LAI
Bấy giờ, ở đại thành Vương Xá có một Đại Bồ tát tên là Diệu Tràng đã ở đời quá khứ, vô lượng câu chỉ na do tha trăm ngàn chỗ Phật thừa sự cúng dường, gieo trồng các căn lành. Lúc đó, Bồ tát Diệu Tràng một mình ở chỗ yên tĩnh, tác khởi suy nghĩ này : “Do nhân duyên gì mà thọ mạng của đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai ngắn ngủi, chỉ có tám mươi năm ?” Rồi ông lại suy nghĩ rằng : “Như lời đức Phật nói, có hai nhân duyên được thọ mạng lâu dài.
Những gì là hai ? Một là chẳng hại sinh mạng, hai là bố thí cho người khác đồ ăn thức uống. Nhưng đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai từng ở vô lượng trăm ngàn vạn ức vô số đại kiếp chẳng hại sinh mạng, hành Thập thiện đạo, thường đem đồ ăn thức uống ban cho tất cả chúng sinh đói khát, thậm chí cả máu thịt xương tủy của thân mình cũng đem thí cho khiến chúng sinh được no đủ, huống là đồ ăn thức uống”.
Khi vị Bồ tát ở chỗ đức Thế Tôn tác khởi ý niệm này thì do uy lực của đức Phật nên ngôi nhà ấy bỗng nhiên rộng rãi nghiêm tịnh với lưu ly xanh, đủ thứ các loại báu trang hoàng chan hòa màu sắc như cõi Phật thanh tịnh. Có hưương thơm vi diệu cả hương thơm nhà trời tràn đầy sực nức. Ở bốn mặt nhà ấy đều có tòa sư tử thượng diệu do bốn thứ báu tạo thành, trên tòa ấy trải áo báu của trời.
Ở những tòa này lại có hoa sen vi diệu được trang sức bằng đủ thứ trân bảo và đều có những đức Như Lai tự nhiên hiển hiện. Ở trên hoa sen có bốn đức Như Lai : Đức Bất Động ở phương Đông, đức Bảo Tướng ở phương Nam, đức Vô Lượng Thọ ở phương Tây, đức Thiên Cổ Âm ở phương Bắc. Bốn đức Như Lai đó đều đang ngồi kiết già, phóng ra ánh sáng lớn soi sáng khắp cùng đại thành Vương Xá và ba ngàn đại thiên thế giới này cho đến những đất nước chư Phật nhiều như cát sông Hằng trong mười phương, mưa xuống hoa trời, tấu lên nhạc trời...
Bấy giờ, ở trong Nam Thiệm Bộ Châu này và ba ngàn đại thiên thế giới mà chúng sinh sẵn có nhờ uy lực của đức Phật nên được hưởng thụ niềm vui thắng diệu, không có sự thiếu thốn. Người thân chẳng đủ nhờ ơn đó được đầy đủ, người mù có thể thấy, người điếc được nghe, người câm được nói, người ngu được trí, nếu người tâm loạn thì được tâm như cũ, nếu người không áo thì được y phục, người bị ác tặc thì được sự kính trọng của người, người có cấu bẩn thì thân thanh khiết.
Ở thế gian này, việc lợi ích sở hữu chưa từng có đều hiển hiện hết.
Bấy giờ, Bồ tát Diệu Tràng thấy bốn đức Như Lai và việc hy hữu thì vui mừng hớn hở, chắp tay một lòng chiêm ngưỡng tướng thù thắng của các đức Phật và cũng lại suy nghĩ về công đức không lường của đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai. Chỉ với thọ mạng của ngài thì Bồ tát sinh lòng nghi hoặc, sao đức Như Lai công đức vô lượng mà thọ mạng ngắn ngủi, chỉ có tám mươi năm ? Bấy giờ, bốn đức Phật bảo Bồ tát Diệu Tràng rằng :
– Này thiện nam tử ! Ông nay chẳng nên suy nghĩ về thọ mạng dài hay ngắn của đức Như Lai ! Vì sao vậy ? Này thiện nam tử ! Chúng ta chẳng thấy chư thiên, thế gian, Phạm, ma, Sa môn, Bà la môn, người, chẳng phải người.v.v... mà có thể tính toán biết thời lượng sống lâu của đức Phật, biết được giới hạn ấy, chỉ trừ đấng Vô Thượng Chánh Biến Tri !
Bốn đức Như Lai muốn nói về thọ lượng sở hữu của đức Phật Thích Ca Mâu Ni nên do uy lực của Phật nên trời Dục giới, trời Sắc giới, những rồng, quỉ thần, Càn thát bà, A tô la, Yết lộ trà, Khẩn na la, Mạc hô lạc dà và vô lượng trăm ngàn ức na do tha Đại Bồ tát đến tập hội vào trong nhà tịnh diệu của Bồ tát Diệu Tràng. Bấy giờ, bốn đức Phật ở giữa đại chúng muốn hiển bày thọ lượng (thời lượng sống lâu) của đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai mà nói kệ tụng rằng :
Nước tất cả các biển
Số giọt có thể lường
Không có thể tính biết
Thọ lượng Thích Thế Tôn !
Chẻ những núi cao diệu
Thành hạt cải đếm được
Không ai có thể tính
Thọ lượng đức Thích Tôn !
Tất cả đất đại địa
Có thể biết số trần (bụi)
Không ai có thể tính
Thọ lượng đức Thích Tôn !
Lượng hư không giả sử
Có thể đến tận biên (bờ cõi)
Không có thể đo biết
Thọ lượng đức Thích Tôn !
Nếu người trụ ức kiếp
Tận lực tính toán luôn
Cũng lại chẳng thể biết
Thọ lượng đức Thích Tôn !
Mạng chúng sinh chẳng hai
Và thí cho uống ăn
Do hai thứ nhân ấy
Dược thọ mạng viễn trường.
Vậy nên đấng Đại Giác
Thọ mạng khó biết lường.
Như kiếp không bờ cõi
Thọ lượng cũng như trên
Này Diệu Tràng phải biết
Khởi nghi hoặc chẳng nên !
Tối Thắng thọ vô lượng
Không thể biết đoản, trường !
Bấy giờ, Bồ tát Diệu Tràng nghe bốn đức Như Lai nói về thọ lượng vô hạn của đức Phật Thích Ca Mâu Ni mà bạch rằng :
Thưa đức Thế Tôn ! Làm sao đức Như Lai thị hiện thọ lượng ngắn ngủi như vậy ?
Bốn đức Thế Tôn bảo Bồ tát Diệu Tràng rằng :
-Này thiện nam tử ! Đức Phật Thích Ca Mâu Ni kia ở đời ngũ trược, khi xuất hiện thì con người thọ một trăm tuổi, bẩm tính thấp hèn, căn lành mỏng manh, lại không tín giải. Những chúng sinh này có nhiều ngã kiến, nhân kiến chúng sinh thọ giả dục tà kiến, ngã, ngã sở kiến, đoạn kiến, thường kiến.v.v... Vì muốn lợi ích cho các chúng sinh này và chúng ngoại đạo... những loại như vậy sinh ra chánh giải, mau được thành tựu Vô Thượng Bồ Đề. Vậy nên đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai thị hiện thọ mạng ngắn ngủi như vậy.
Này thiện nam tử ! Nhưng đức Như Lai kia muốn khiến cho chúng sinh thấy Niết Bàn rồi mà sinh tư tưởng khó gặp, tư tưởng ưu khổ.v.v... để ở chỗ Phật Thế Tôn nghe nói Kinh giáo thì mau chóng thọ trì, đọc tụng thông lợi, vì người giải nói chẳng sinh ra hủy báng. Vậy nên đức Như Lai thị hiện thọ mạng ngắn ngủi. Vì sao vậy ? Vì những chúng sinh đó nếu thấy Như Lai chẳng Bát Niết Bàn thì chẳng sinh tư tưởng cung kính khó gặp và đối với Kinh điển thậm thâm của Như Lai nói cũng chẳng thọ trì đọc tụng thông lợi, vì người giảng nói. Sở dĩ vì sao ? Do thường thấy Phật nên chẳng tôn trọng vậy.
Này thiện nam tử ! Ví như có người thấy cha mẹ mình có nhiều tài sản, trân bảo tràn đầy. Họ liền đối với của cải chẳng sinh tư tưởng hy hữu khó gặp.
Sở dĩ vì sao ? Vì đối với tài vật của cha sinh ra thường tưởng vậy. Này thiện nam tử !
Những chúng sinh kia cũng lại như vậy, nếu thấy đức Như Lai chẳng vào Niết Bàn thì chẳng sinh tư tưởng hy hữu, khó gặp. Sở dĩ vì sao ? Vì do thường thấy vậy !
Này thiện nam tử! Ví như có người cha mẹ nghèo cùng, của cái thiếu thốn. Nhưng người nghèo kia hoặc đi đến nhà của vua hoặc nhà của đại thần, thấy kho lẫm những nơi ấy đều đầy tràn những thứ trân bảo thì liền sinh lòng hy hữu, tư tưởng khó gặp.
Người nghèo đó vì muốn cầu của cải nên rộng bày phương tiện sách tấn, siêng năng không lười biếng. Sở dĩ vì sao ? Vì bỏ bần cùng thọ an lạc vậy.
Này thiện nam tử ! Những chúng sinh kia cũng lại như vậy, nếu thấy đức Như Lai vào với Niết Bàn thì sinh tư tưởng khó gặp... cho đến tư tưởng ưu khổ.v.v... mà khởi lên ý niệm : “Ở vô lượng kiếp, chư Phật Như Lai xuất hiện ở đời như khi hoa Ô đàm bạt (Ưu đàm bát la) một lần hiện”, thì những chúng sinh kia mới phát tâm hy hữu, tư tưởng khó gặp nên nếu gặp Như Lai thì lòng mơi sinh kính tín, nghe nói chánh pháp mới sinh tư tưởng thật ngữ, Kinh điển sở hữu đều thọ trì, chẳng sinh lòng hủy báng.
Này thiện nam tử ! Do nhân duyên này nên đức Phật Thế Tôn đó chẳng tại thế lâu, mau chóng vào Niết Bàn. Này thiện nam tử !
Như vậy đức Như Lai dùng những phương tiện khéo léo như vậy để thành tựu chúng sinh.
Bấy giờ, bốn đức Phật nói những lời này xong thì bỗng nhiên biến mất.
Lúc bấy giờ, Đại Bồ tát Diệu Tràng cùng vô lượng trăm ngàn Bồ tát và vô lượng ức na du đa trăm ngàn chúng sinh đều chung nhau đi đến chỗ đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai Chánh Biến Tri trong núi Thứu Phong, đảnh lễ dưới chân đức Phật, rồi đứng về một phía. Bồ tát Diệu Tràng đem những việc như trên bạch đầy đủ với đức Thế Tôn. Cùng lúc đó bốn đức Như Lai cũng đi đến núi Thứu Phong, tới chỗ đức Phật Thích Ca Mâu Ni và đều tùy theo phương của mình mà ngồi vào tòa ngồi, rồi bảo Bồ tát thị giả rằng : “Này thiện nam tử !
Ông nay có thể đi đến chỗ đức Phật Thích Ca Mâu Ni, vì ta mà hỏi thăm ngài ít bệnh, ít não, đi ở nhẹ nhàng, hành động an vui chăng ?”. Rồi Phật lại nói rằng : “Hay thay ! Hay thay !
Đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai hôm nay có thể diễn nói pháp yếu thậm thâm của Kinh Kim Quang Minh vì muốn lợi ích nhiều cho tất cả chúng sinh, trừ khử đói kém, khiến cho họ được an lạc, ta phải tùy hỷ !”. Thị giả của các đức Phật đều đi đến chỗ đức Phật Thích Ca Mâu Ni, đảnh lễ dưới chân đức Phật, rồi lui về trụ ở một phía, đều bạch đức Phật rằng :
-Đấng Thiên Nhân Sư kia sai con hỏi thăm đấng Vô Lượng có ít bệnh, ít não, đi ở nhẹ nhàng, hành động an vui không ? Các vị Phật ấy lại nói rằng : “Hay thay ! Hay thay ! Đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai, hôm nay có thể diễn nói pháp yếu thậm thâm của Kinh Kim Quang Minh vì muốn lợi ích cho tất cả chúng sinh, trừ khử đói kém, khiến cho được an vui”.
Lúc bấy giờ, đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai Ứng Cúng Chánh Đẳng Giác bảo các Bồ tát thị giả đó rằng :
– Hay thay ! Hay thay ! Bốn đức Như Lai kia mới có thể vì sự ích lợi nhiều và an lạc của các chúng sinh mà khuyến thỉnh ta tuyên dương Chánh pháp !
Bấy giờ, đức Thế Tôn nói kệ tụng rằng :
Ta thường ở Thứu sơn
Báu Kinh này tuyên nói
Thành tựu chúng sinh nên
Thị hiện bát Niết Bàn
Phàm phu khởi tà kiến
Lời nói ta, chẳng tin,
Vì thành tựu bọn đó
Thị hiện Bát Niết Bàn.
Trong đại hội có người Bà la môn, họ Kiều Trần Như tên là Pháp Sư Thọ Ký cùng với vô lượng trăm ngàn chúng Bà la môn cúng dường đức Phật rồi, nghe đức Thế Tôn vào Bát Niết Bàn thì nước mắt chan hòa, làm lễ dưới chân đức Phật mà bạch rằng :
-Thưa đức Thế Tôn ! Nếu quả thật đức Như Lai đối với các chúng sinh có lòng đại từ bi, thương xót đem lại lợi ích khiến cho họ được an lạc giống như cha mẹ, không ai bằng thì có thể cho thế gian làm chỗ qui y như trăng tròn trong sạch, dùng đại trí tuệ có thể vì họ soi sáng như mặt trời mới mọc, quan sát khắp chúng sinh yêu thương không thiên lệch như La Hầu La. Nguyện xin đức Thế Tôn ban cho con một nguyện !
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn lặng im mà dừng. Nhờ uy lực của đức Phật nên ở trong chúng này, có một lị xa tỳ đồng tử tên là Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến nói với Bà la môn Kiều Trần Như rằng :
-Thưa Đại Bà la môn ! Ngài nay theo đức Phật muốn xin nguyện vọng gì ? Tôi có khả năng cho ngài ?
Vị Bà la môn nói rằng :
-Thưa đồng tử ! Tôi muốn cúng dường Thế Tôn Vô Thượng. Nay tôi theo đức Như Lai cầu thỉnh xá lợi như hạt cải. Vì sao vậy ? Vì tôi từng nghe nói rằng, nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân được xá lợi của Phật chừng hạt cải mà cung kính cúng dường thì người đó sẽ sinh lên trời Ba mươi ba, làm Đế Thích.
Lúc đó, đồng tử nói với vị Bà la môn rằng :
-Nếu muốn nguyện sinh lên trời Ba mươi ba thọ quả báo thù thắng thì cần phải chí tâm lắng nghe Kinh vua tối thắng Kim quang Minh, ở trong các Kinh rất là thù thắng, khó hiểu, khó vào, Thanh Văn, Độc Giác chẳng thể biết. Kinh này có thể sinh ra vô lượng vô biên quả báo phước đức... cho đến thành toàn Bồ Đề Vô Thượng. Tôi nay vì ngài lược nói việc ấy !
Vị Bà la môn nói rằng :
-Hay thay ! Thưa đồng tử ! Kinh Kim Quang Minh này thậm thâm tối thượng khó hiểu, khó vào, Thanh Văn, Độc Giác còn chẳng thể biết, huống gì chúng tôi là người biên địa hèn kém, trí tuệ cạn cợt mà có thể hiểu được sao ? Vậy nên tôi nay cầu xá lợi của đức Phật chừng như hạt cải để đem trở về bản xứ, đặt vào trong hộp báu, cung kính cúng dường để sau khi mạng chung được làm Đế Thích, luôn hưởng thụ an lạc. Làm sao ông nay chẳng thể vì tôi theo đức Minh Hành Túc cầu xin một nguyện vọng ấy ?
Nói lời đó rồi, bấy giờ, đồng tử liền vì Bà la môn mà nói kệ tụng rằng :
Nước sông Hằng chảy nhanh
Có thể sinh sen trắng
Chim vàng làm trắng hình
Quạ đen biến thành đỏ
Giả sử cây Thiệm Bộ
Sinh được quả Đa La
Trong cành Khiết thọ la
Lá Am la xuất hiện.
Những vật hy hữu kia
Hoặc có thể chuyển biến
Xá lợi đức Thích Ca
Rốt ráo chẳng thể được
Giả sử dùng lông rùa
Dệt thành y phục đẹp
Lạnh có thể mặc vào
Mới cầu xá lợi Phật.
Giả sử chân muỗi, ve
Có thể dựng lâu quán (lầu để vui chơi)
Vững bền chẳng dao động (lay động)
Mới cầu xá lợi Phật.
Giả sử con đỉa nước
Răng trắng trong miệng sinh
Như kim khâu dài sắc
Mới cầu xá lợi Phật.
Giả sử sừng thỏ đen
Dùng làm thành thềm bậc
Để đi lên thiên cung
Mới cầu xá lợi Phật.
Chuột nhờ bậc này lên
Khử A tô la hết
Ngăn vầng trăng trong không
Mới cầu xá lợi Phật.
Nếu ruồi rượu say mèm
Đi khắp trong thôn ấp
Nhà cửa khắp nơi làm
Mới cầu xá lợi Phật.
Nếu khiến nuôi lừa sắc
Đỏ như trái Tần bà
Khéo tạo tác múa ca
Mới cầu xá lợi Phật.
Quạ cùng chim cú mèo
Sống chung đồng một chỗ
Đó, đây thuận tùng nhau
Mới cầu xá lợi Phật.
Giả sử lá Ba la
Có thể làm dù che
Mưa lớn mà ngăn được
Mới cầu xá lợi Phật.
Giả sử thuyền bè to
Của báu chở đầy ghe
Có thể đi trên đất
Mới cầu xá lợi Phật.
Giả sử loài chim ri
Núi Hương, dùng mỏ ngậm
Tùy chỗ mặc sức đi
Mới cầu xá lợi Phật.
Lúc bấy giờ, Bà la môn Pháp Sư Thọ Ký nghe bài tụng này rồi cũng dùng tụng kệ đáp lại đồng tử NhấtThiết Chúng Sinh Hỷ Kiến rằng :
Hay thay ! Đại đồng tử
Trong chúng này Cát tường !
Lòng khéo léo phương tiện
Được ký Phật Không Trên (vô thượng)
Như Lai uy đức lớn
Có thể cứu thế gian
Ngài nên chí tâm thính
Tôi nay thứ lớp trình :
Cảnh chư Phật khó nghĩ
Không đồng đẳng thế gian
Tính thường trụ pháp thân
Tu hành không sai khác
Thể chư Phật đều đồng
Lời nói pháp cũng vậy
Vô tác của Thế Tôn
Cũng vốn vô sinh nữa
Thể Thế Tôn Kim Cương.
Ở hóa thân quyền hiện (quyền biến hiện ra)
Nên xá lợi Thế Tôn
Không như chừng hạt cải
Phật phi huyết nhục thân
Làm sao có xá lợi ?
Phương tiện lưu thân xương
Vì lợi ích sinh chúng
Chánh giác là pháp thân
Như Lai tức pháp giới
Đây là thân Phật chân
Cũng nói pháp như vậy.
Bấy giờ, ba vạn hai ngàn thiên tử trong hội nghe nói về thọ mạng lâu dài của đức Như Lai, đều phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, vui mừng hớn hở, được chưa từng có, dị khẩu đồng âm mà nói kệ tụng rằng :
Phật chẳng Bát Niết Bàn
Chánh pháp cũng chẳng diệt
Vì lợi chúng sinh nên
Thị hiện có diệt tận.
Thế Tôn chẳng nghĩ bàn
Diệu thể không dị tướng
Vì lợi chúng sinh nên
Đủ thứ trang nghiêm hiện .
Lúc bấy giờ, Bồ tát Diệu Tràng thân cận ở trước đức Phật và bốn đức Như Lai, cùng với hai đại sĩ, các thiên tử được nghe nói về sự thọ lượng của đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai rồi thì đứng dậy, chắp tay cung kính, bạch đức Phật rằng :
– Thưa đức Thế Tôn ! Nếu thật như vậy, các đức Phật Như Lai chẳng Bát Niết Bàn, không có xá lợi thì làm sao trong Kinh nói có Niết Bàn và xá lợi của Phật, khiến cho những người, trời cung kính cúng dường ? và các đức Phật đời quá khứ hiện nay có xương thân lưu bố ở thế gian cho người trời cúng dường được phước vô biên, nay lại nói không ? Thành ra phát sinh sự nghi hoặc, nguyện xin đức Thế Tôn thương xót chúng con mà phân biệt rộng rãi !
Lúc bấy giờ, đức Phật bảo Bồ tát Diệu Tràng và các đại chúng rằng :
– Các ông phải biết rằng, gọi Bát Niết Bàn, có xá lợi chính là mật ý. Ta nói về nghĩa như vậy thì các ông phải một lòng lắng nghe. Này thiện nam tử ! Đại Bồ tát như vậy nên biết có mười pháp có thể hiểu cái lý thú chân thật của Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác nói có rốt ráo Đại Bát Niết Bàn. Những gì là mười ?
Một là các đức Phật Như Lai rốt ráo đoạn hết các Phiền não chướng và Sở tri chướng nên gọi là Niết Bàn.
Hai là, các đức Phật Như Lai giỏi có thể giải rõ vô tính của hữu tình và vô tính của pháp nên gọi là Niết Bàn.
Ba là, có thể chuyển thân y (nương) và pháp y nên gọi là Niết Bàn.
Bốn là, đối với các loài hữu tình mặc tình xoay vần ngưng nghỉ, nhân duyên biến hóa nên gọi là Niết Bàn.
Năm là, chứng được tướng chân thật không sai biệt, pháp thân bình đẳng nên gọi là Niết Bàn.
Sáu là, biết rõ sinh tử và Niết Bàn, tính không hai nên gọi là Niết Bàn.
Bảy là, đối với tất cả pháp, liễu ngộ căn bản ấy, chứng được thanh tịnh nên gọi là Niết Bàn.
Tám là, đối với tất cả pháp không sinh không diệt, giỏi tu hành nên gọi là Niết Bàn.
Chín là, Chân như pháp giới thật tế bình đẳng, được Chánh trí nên gọi là Niết Bàn.
Mười là, đối với tính các pháp và tính Niết Bàn, được không sai biệt nên gọi là Niết Bàn. Đó gọi là mười pháp nói có Niết Bàn.
Lại nữa, này thiện nam tử ! Đại Bồ tát như vậy nên biết lại có mười pháp có thể giải lý thú chân thật của Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, nói có rốt ráo Đại Bát Niết Bàn. Những gì là mười ?
Một là, tất cả phiền não lấy lạc dục làm gốc, từ lạc dục sinh ra, các đức Phật Thế Tôn đoạn dứt lạc dục nên gọi là Niết Bàn.
Hai là, do các đức Như Lai đoạn trừ các lạc dục, chẳng thủ lấy một pháp. Do chẳng thủ, thủ lấy nên không đi không lại, không có cái để lấy nên gọi là Niết Bàn.
Ba là, do không đi lại và không sở thủ thì đó là pháp thân chẳng sinh chẳng diệt. Do không sinh diệt nên gọi là Niết Bàn.
Bốn là, không sinh diệt này chẳng phải nói cái đã tuyên nói, ngôn ngữ đoạn dứt, nên gọi là Niết Bàn.
Năm là, không có nhân, ngã chỉ có pháp sinh diệt được chuyển y (nương) nên gọi là Niết Bàn.
Sáu là, phiền não theo mê hoặc đều chính là khách trần, pháp tính chính là chủ, không khứ không lai, Phật rõ biết nên gọi là Niết Bàn.
Bảy là, Chân như chính là Thật, còn lại đều hư vọng cả. Thể tính thật thì tức là Chân như. Tính Chân như thì tức là Như Lai. Đó gọi là Niết Bàn.
Tám là, tính của thật tế không có hý luận, chỉ độc có Như Lai chứng được pháp thật tế, đoạn dứt hý luận vĩnh viễn gọi là Niết Bàn.
Chín là, Vô sinh chính là thật, sinh chính là hư vọng, người ngu si ngụp lặn trong sinh tử. Thể của Như Lai thật không có hư vọng gọi là Niết Bàn.
Mười là, pháp chẳng thật chính là từ duyên sinh. Pháp chân thật chẳng từ duyên khởi, pháp thân Như Lai, thể là chân thật gọi là Niết Bàn. Này thiện nam tử ! Đó gọi là mười pháp nói có Niết Bàn.
Lại nữa, này thiện nam tử ! Đại Bồ tát như vậy nên biết lại có mười pháp có thể giải lý thú chân thật của đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, nói có cứu cánh Đại Bát Niết Bàn. Những gì là mười ?
Một là, Như Lai giỏi biết thí và quả của thí không ngã và ngã sở. Thí và quả thí này chẳng chính phân biệt, trừ diệt vĩnh viễn nên gọi là Niết Bàn.
Hai là, Như Lai giỏi biết giới và quả của giới vô ngã và ngã sở. Giới và quả giới này chẳng chính phân biệt, diệt trừ vĩnh viễn nên gọi là Niết Bàn.
Ba là, Như Lai giỏi biết nhẫn và quả của nhẫn vô ngã và ngã sở. Nhẫn và quả nhẫn này chẳng chính phân biệt, diệt trừ vĩnh viễn nên gọi là Niết Bàn.
Bốn là, Như Lai giỏi biết cần và quả của cần vô ngã và ngã sở. Cần và quả cần chẳng chính phân biệt, diệt trừ vĩnh viễn nên gọi là Niết Bàn.
Năm là, Như Lai giỏi biết định và quả của định vô ngã và ngã sở. Định và quả định này chẳng chính phân biệt, diệt trừ vĩnh viễn nên gọi là Niết Bàn.
Sáu là, Như Lai giỏi biết tuệ và quả của tuệ vô ngã và ngã sở. Tuệ và quả tuệ này chẳng chính phân biệt, trừ diệt vĩnh viễn nên gọi là Niết Bàn.
Bảy là, các đức Phật Như Lai giỏi có thể rõ biết tất cả loài hữu tình chẳng phải loài hữu tình, tất cả các pháp đều vô tính, chẳng chính phân biệt, trừ diệt vĩnh viễn nên gọi là Niết Bàn.
Tám là, nếu tự yêu mình thì liền khởi lên truy cầu, do truy cầu nên chịu mọi khổ não. Các đức Phật Như Lai diệt trừ tự yêu mình nên đoạn tuyệt vĩnh viễn không truy cầu nên gọi là Niết Bàn.
Chín là, pháp hữu vi đều có số lượng, pháp vô vi thì số lượng đều đoạn trừ. Phật lìa khỏi pháp hữu vi, chứng pháp vô vi không số lượng nên gọi là Niết Bàn.
Mười là, Như Lai rõ biết hữu tình và pháp thì thể tính đều không, lìa không chẳng phải có. Tính không tức là chân pháp thân nên gọi là Niết Bàn. Này thiện nam tử ! Đó gọi là mười pháp nói có Niết Bàn.
Lại nữa, này thiện nam tử ! Đâu chỉ Như Lai chẳng Bát Niết Bàn. Đó là hy hữu ! Lại có mười pháp hy hữu chính là hạnh Như Lai. Những gì là mười ?
Một là, sinh tử tội lỗi Niết Bàn tịch tịnh. Do đối với sinh tử và cả Niết Bàn chứng được bình đẳng, chẳng ở với lưu chuyển, chẳng trụ ở Niết Bàn, đối với các hữu tình chẳng sinh chán bỏ. Đó là hạnh của Như Lai.
Hai là, Phật đối với chúng sinh chẳng nghĩ rằng, những kẻ ngu này hành điên đảo kiến, bị sự ràng buộc bức bách của các phiền não, ta nay khai ngộ khiến cho họ giải thoát. Nhưng do lực thiện căn từ bi thuở xưa ở loài hữu tình kia theo căn tính của chúng, ý ưa thắng giải, chẳng khởi phân biệt, mặc cho chuyển vần tế độ, thị hiện giáo hóa, lợi ích vui mừng đến tận đời vị lai, không có cùng tận. Đó là hạnh của Như Lai.
Ba là, Phật không có ý niệm này : “Ta nay diễn nói mười hai phân giáo lợi ích cho hữu tình”, nhưng do lực thiện căn từ bi, vì những hữu tình đó nói rộng rãi, cho đến tận đời vị lai, không có cùng tận. Đó là hạnh của Như Lai.
Bốn là, Phật không có ý niệm này : “Ta nay đi đến thành ấp, tụ lạc kia, đến nhà của vua, đại thần, bà la môn, sát lợi, tỳ xá, mậu đạt la.v.v... Từ những chỗ ấy mà xin ăn”. Nhưng do lực tập quán hành động, ý nghĩ, lời nói của thân thuở xưa nên mặc cho sự chuyển vần đến nơi đó, vì sự lợi ích mà đi xin ăn. Đó là hạnh của Như Lai.
Năm là, thân của Như Lai không có đói khát, cũng không tướng yếu đuối mệt mỏi tiện lợi (?), tuy đi xin nhận lấy mà không có sự ăn uống, cũng không phân biệt. Nhưng vì mặc cho chuyển vần lợi ích hữu tình mà thị hiện có tướng ăn. Đó là hạnh của Như Lai.
Sáu là, Phật không có ý niệm này : “Những chúng sinh này có thượng, trung, hạ, tùy theo căn cơ, tính khí của họ mà vì họ nói pháp”. Nhưng Phật Thế Tôn không có phân biệt mà tùy theo khí lượng (lượng đồ chứa) của họ mà giỏi ứng theo cơ duyên, vì họ nói pháp. Đó là hạnh của Như Lai.
Bảy là, Phật không có ý niệm này : “Loài hữu tình này chẳng cung kính ta, thường đối với ta phát ra lời trách mắng, chẳng thể cùng với họ ngôn luận chung. Loài hữu tình kia cung kính ta, thường đối với ta chung nhau khen ngợi. Ta sẽ cùng với họ nói lời nói chung”. Nhưng mà Như Lai dấy lòng từ bi bình đẳng không hai. Đó là hạnh của Như Lai.
Tám là, các đức Phật Như Lai không có yêu ghét, kiêu mạn, tham tiếc và các phiền não. Nhưng mà Như Lai thường ưa tịch tịnh, khen ngợi thiểu dục, lìa khỏi các huyên náo. Đó là hạnh của Như Lai.
Chín là, Như Lai không có một pháp nào chẳng biết, chẳng giỏi thông đạt, đối với tất cả chỗ, gương soi trí hiện tiền không có phân biệt. Nhưng mà Như Lai thấy sự tạo tác sự nghiệp của những hữu tình kia, rồi tùy theo ý của họ, chuyển phương tiện dẫn dụ khiến cho họ được ra khỏi. Đó là hạnh của Như Lai.
Mười là, Như Lai nếu khi thấy một phần hữu tình được giàu thịnh chẳng sinh hoan hỷ, thấy họ suy tổn chẳng khởi lo buồn. Nhưng mà Như Lai thấy những hữu tình kia tu tập Chánh hạnh thì vô ngại đại từ tự nhiên cứu nhiếp. Nếu thấy hữu tình tu tập tà hạnh thì vô ngại đại bi tự nhiên cứu nhiếp. Đó là hạnh của Như Lai.
Này thiện nam tử ! Như vậy phải biết rằng, Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác nói có như vậy vô biên Chánh hạnh. Các ông phải biết, đó gọi là tướng Niết Bàn chân thật. Hoặc khi thấy có Bát Niết Bàn thì đó là phương tiện quyền biến và lưu lại xá lợi khiến cho các hữu tình cung kính cúng dường đều là lực thiện căn từ bi của Như Lai. Nếu người cúng dường thì ở đời vị lai lìa xa tám nạn gặp gỡ các đức Phật, gặp được thiện tri thức, chẳng mất thiện tâm, phước báo vô biên, mau chóng sẽ ra khỏi, chẳng bị sự trói buộc của sinh tử. Những diệu hạnh như vậy, các ông phải siêng năng tu hành, chớ nên buông lung !
Lúc bấy giờ, Bồ tát Diệu Tràng nghe đức Phật thân thiết nói chẳng Bát Niết Bàn và hạnh thậm thâm mà chắp tay cung kính bạch rằng :
– Con nay mới biết Như Lai đại sư chẳng Bát Niết Bàn và lưu lại xá lợi khắp lợi ích cho chúng sinh thì thân tâm vui sướng, khen chưa từng có !
Khi nói phẩm Thọ Lượng của Như Lai này thì vô lượng vô số, vô biên chúng sinh đều phát tâm Vô Đẳng Đẳng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Bốn đức Như Lai bỗng nhiên biến mất. Bồ tát Diệu Tràng làm lễ dưới chân đức Phật rồi, đứng dậy mà đi trở về chỗ cũ của ông ấy.
---
Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh quyển 2
PHẨM THỨ BA : PHÂN BIỆT BA THÂN
Lúc bấy giờ, Đại Bồ tát Hư Không Tạng, ở trong đại chúng, đứng dậy trật áo vai phải, quì gối phải xuống đất, chắp tay cung kính, đảnh lễ dưới chân đức Phật, dùng hoa báu vàng thượng vi diệu, tràng phan, bảo cái mà cúng dường, rồi bạch đức Phật rằng:
– Thưa đức Thế Tôn ! Làm sao các vị Đại Bồ tát đối với bí mật thậm thâm của các đức Như Lai mà theo đúng như pháp tu hành ?
Đức Phật dạy rằng :
– Này thiện nam tử ! Hãy lắng nghe ! Lắng nghe ! Và khéo léo suy nghĩ ! Ta sẽ vì ông phân biệt giải nói !
Này thiện nam tử ! Tất cả Như Lai có ba thứ thân. Những gì là ba ? Một là, hóa thân. Hai là, ứng thân. Ba là, pháp thân. Như vậy ba thân đầy đủ nhiếp lấy Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác mà nếu rõ biết chân chánh thì mau ra khỏi sinh tử.
Sao gọi là Bồ tát rõ biết hóa thân ? Này thiện nam tử ! Như Lai thuở xưa ở trong các Địa tu hành, vì tất cả chúng sinh tu đủ thứ pháp. Tu tập như vậy cho đến sự tu hành viên mãn. Nhờ lực tu hành nên được đại tự tại. Nhờ lực tự tại nên tùy theo ý chúng sinh, tùy theo hạnh chúng sinh, tùy theo giới của chúng sinh đều rõ biết, phân biệt, chẳng đợi thời, chẳng quá thời mà tương ứng với chỗ, tương ứng với thời, tương ứng với hạnh để nói pháp tương ứng, hiện đủ thứ thân. Đó gọi là Hóa thân.
Này thiện nam tử ! Làm sao Bồ tát rõ biết ứng thân ? Nghĩa là các đức Như Lai vì muốn các Bồ tát được thông đạt nên nói đến Chân đế, vì khiến cho giải rõ sinh tử, Niết Bàn là một vị, vì trừ chúng sinh kinh sợ, vui mừng của thân kiến, vì Phật pháp vô biên mà làm gốc, như thật tương ứng Như Như, trí Như Như, vì lực nguyện xưa nên thân này được hiện với đầy đủ ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, vầng sáng tròn sau cổ... Đó gọi là Ứng thân.
Này thiện nam tử ! Làm sao Đại Bồ tát rõ biết Pháp thân ? Vì trừ các chướng phiền não.v.v... vì đủ các thiện pháp nên chỉ có Như Như, trí Như Như. Đó gọi là Pháp thân. Hai thứ thân trước là giả danh mà có. Thân thứ ba này là chân thật mà có và vì hai thân trước màlàm căn bản. Vì sao vậy ? Vì lìa khỏi Như Như pháp, lìa khỏi trí không phân biệt thì tất cả chư Phật không có biệt pháp. Tất cả chư Phật, trí tuệ đầy đủ, tất cả phiền não tận diệt rốt ráo, được Phật địa thanh tịnh. Vậy nên Như Như pháp, trí Như Như nhiếp lấy tất cả Phật pháp.
Lại nữa, này thiện nam tử ! Tất cả chư Phật, lợi ích cho mình, cho người đã đến được cứu cánh. Lợi ích của mình thì chính là Như Như pháp. Lợi ích cho người khác thì chính là trí Như Như. Chư Phật có thể đối với sự lợi ích của mình của người mà được tự tại thành tựu đủ thứ vô biên “dụng”. Vậy nên phân biệt tất cả Phật pháp có vô lượng vô biên đủ thứ sai biệt.
Này thiện nam tử ! Ví như y chỉ vào vọng tưởng mà suy nghĩ nói đủ thứ phiền não, nói đủ thứ nghiệp dụng, nói đủ thứ quả báo. Như vậy y chỉ Như Như pháp, y chỉ trí Như Như nói đủ thứ Phật pháp, nói đủ thứ pháp Độc Giác, nói đủ thứ pháp Thanh Văn. Y vào Như Như pháp, y vào trí Như Như thì tất cả Phật pháp tự tại thành tựu. Đó là sự chẳng thể nghĩ bàn thứ nhất. Ví như vẽ vào hư không để tạo tác đồ trang nghiêm là khó nghĩ bàn. Như vậy y vào Như Như pháp y vào trí Như Như thành tựu Phật pháp cũng khó nghĩ bàn.
Này thiện nam tử ! Sao gọi là Như Như pháp, trí Như Như ? Cả hai không phân biệt mà được tự tại thành tựu sự nghiệp. Này thiện nam tử ! Ví như Như Lai vào với Niết Bàn mà nguyện tự tại nên đủ thứ sự nghiệp đều được thành tựu. Như Như pháp, trí Như Như tự tại thành tựu sự nghiệp cũng lại như vậy.
Lại nữa, Đại Bồ tát vào định Vô Tâm, nương theo nguyện lực trước, rồi ra khỏi định, tạo tác mọi sự nghiệp, hai pháp như vậy không có phân biệt tự tại thành tựu sự nghiệp. Này thiện nam tử ! Ví như mặt trời, mặt trăng không có phân biệt, cũng như gương soi nước không có phân biệt, ánh sáng cũng không phân biệt. Ba thứ đó hòa hợp lại thì được có hình ảnh sinh ra ! Như vậy Như Như pháp, trí Như Như cũng không phân biệt, do nguyện tự tại, chúng sinh có cảm nên hiện ứng thân, hóa thân như hình bóng mặt trời, mặt trăng do hòa hợp mà xuất hiện.
Lại nữa, này thiện nam tử ! Ví như vô lượng vô biên gương soi nước nương vào ánh sáng nên không ảnh được hiện đủ thứ dị tướng. Không thì tức là vô tướng.
Này thiện nam tử ! Như vậy những đệ tử chịu sự giáo hóa.v.v... chính là hình bóng của pháp thân. Do nguyện lực nên với hai thứ thân thị hiện đủ thứ tướng mà ở đất pháp thân không có dị tướng.
Này thiện nam tử ! Y vào hai thân này, tất cả chư Phật nói hữu dư Niết Bàn. Nương vào pháp thân này chư Phật nói Vô dư Niết Bàn.
Vì sao vậy ? Vì tất cả pháp còn lại hết rốt ráo. Y vào ba thân này, tất cả chư Phật nói Vô trụ xứ Niết Bàn.
Vì hai thân nên chẳng trụ Niết Bàn, lìa khỏi pháp thân không có biệt Phật. Vì sao hai thân chẳng trụ Niết Bàn ? Vì hai thân là giả danh, không thật, từng niệm từng niệm sinh diệt, chẳng định trụ, thỉnh thoảng xuất hiện do bất định, còn pháp thân thì chẳng vậy.
Vậy nên hai thân chẳng trụ Niết Bàn còn pháp thân chẳng hai. Vậy nên chẳng trụ Niết Bàn, nên y vào ba thân nói Vô Trụ Niết Bàn.
Này thiện nam tử ! Tất cả phàm phu vì ba tướng nên có trói buộc có chướng ngại, xa lìa ba thân, chẳng đến ba thân. Cái gì là ba ? Một là Biến Kế Sở Chấp tướng, hai là Y Tha Khởi tướng, ba là Thành Tựu tướng. Các tướng như vậy chẳng thể hiểu, chẳng thể diêt, chẳng thể tịnh. Vậy nên chẳng được đến với ba thân. Ba tướng như vậy có thể hiểu, có thể diệt, có thể tịnh. Vậy nên chư Phật đầy đủ ba thân.
Này thiện nam tử ! Những người phàm phu chưa thể trừ được ba tâm này nên xa lìa ba thân, chẳng thể được đến với ba thân. Những gì là ba ? Một là tâm khởi sự, hai là tâm y căn bản, ba là tâm căn bản. Nương các đạo điều phục thì tâm khởi sự hết, nương theo pháp đoạn đạo thì tâm nương theo căn bản hết, nương theo đạo Tối Thắng thì tâm căn bản hết. Tâm khởi sự diệt, được hiện hóa thân. Tâm nương căn bản diệt nên được hiển bày Ứng thân. Tâm căn bản diệt nên được đến với Pháp thân. Vậy nên tất cả Như Lai đầy đủ ba thân.
Này thiện nam tử ! Tất cả chư Phật ở thân thứ nhất cùng chư Phật đồng sự, ở thân thứ hai cùng chư Phật đồng ý, ở thân thứ ba cùng chư Phật đồng thể. Này thiện nam tử !
Thân Phật đầu tiên này tùy theo ý của chúng sinh có nhiều thứ nên hiện đủ thứ tướng. Vậy nên nói là nhiều. Thân Phật thứ hai vì đệ tử một ý nên hiện một tướng.
Vậy nên nói là một. Thân Phật thứ ba qua khỏi tất cả tướng, chẳng phải cảnh giới chấp tướng. Vậy nên nói là chẳng một, chẳng hai.
Này thiện nam tử ! Thân thứ nhất này nương vào Ứng thân được hiển hiện. Thân thứ hai này nương vào Pháp thân được hiển hiện.
Pháp thân này là chân thật có, không chỗ nương cậy. Này thiện nam tử ! Như vậy ba thân vì có nghĩa mà nói đến thường, vì có nghĩa mà nói đến vô thường.
Hóa thân thì luôn luôn chuyển pháp luân, khắp nơi nơi tùy duyên mà phương tiện nối tiếp nhau chẳng đoạn tuyệt. Vậy nên nói là thường. Chẳng phải là căn bản nên đầy đủ đại dụng, chẳng hiển hiện nên nói là vô thường.
Ứng thân thì từ vô thỉ đến nay nối tiếp nhau chẳng đoạn tuyệt tất cả pháp bất cộng của chư Phật có thể nhiếp trì, chúng sinh không tận dụng, cũng không hết. Vậy nên nói là Thường. Chẳng phải là căn bản, do đầy đủ “dụng” chẳng hiển hiện nên nói là vô thường.
Pháp thân thì chẳng phải là hành pháp, không có dị tướng, chính là căn bản nên giống như hư không. Vậy nên nói là Thường.
Này thiện nam tử ! Lìa khỏi trí vô phân biệt, lại không Thắng trí, lìa khỏi Như Như pháp, không có thắng cảnh giới chính là Như Như pháp, chính là Như Như tuệ. Hai thứ Như Như này Như Như chẳng một chẳng khác. Vậy nên Pháp thân là tuệ thanh tịnh, là diệt thanh tịnh. Do hai thanh tịnh này nên Pháp thân đầy đủ thanh tịnh.
Lại nữa, này thiện nam tử ! Phân biệt ba thân có bốn thứ khác : Có Hóa thân chẳng phải Ứng thân, có Ứng thân chẳng phải hóa thân, có Hóa thân cũng là Ứng thân, có chẳng phải Hóa thân cũng chẳng phải Ứng thân.
Sao là Hóa thân chẳng phải Ứng thân ? - Là các đức Như Lai sau khi Bát Niết Bàn, do nguyện tự tại nên tùy duyên lợi ích. Đó gọi là Hóa thân.
Sao là Ứng thân chẳng phải Hóa thân ? - Là thân địa tiền. (Bồ tá địa)
Sao là Hóa thân cũng là Ứng thân ? - Là thân trụ ở hữu dư Niết Bàn.
Sao là chẳng phải Hóa thân, chẳng phải Ứng thân ? - Chính là Pháp thân.
Này thiện nam tử ! Pháp thân này là hai không sở hữu, sở hiển hiện vậy. Những gì là hai vô sở hữu ? Đối với pháp thân này thì tướng và tướng xứ, cả hai đều là không, chẳng phải có, chẳng phải không, chẳng phải một, chẳng phải khác, chẳng phải số, chẳng phải phi số, chẳng phải sáng, chẳng phải tối... Như vậy trí Như Như chẳng thấy tướng và tướng xứ, chẳng thấy chẳng phải có chẳng phải không, chẳng thấy chẳng phải một chẳng phải khác, chẳng thấy chẳng phải số chẳng phải phi số, chẳng thấy chẳng phải sáng chẳng phải tối... Vậy nên phải biết cảnh giới thanh tịnh, trí tuệ thanh tịnh chẳng thể phân biệt, không có trung gian, là căn bản của đạo tịch diệt. Với Pháp thân này có thể hiện hiện đủ thứ sự nghiệp của Như Lai.
Này thiện nam tử ! Quả nhân duyên cảnh giới xứ sở của thân này nương vào căn bản khó nghĩ bàn. Nếu rõ được nghĩa này thì thân này tức là Đại thừa, là Như Lai tính, là Như Lai tạng.
Nương vào thân này được phát tâm đầu tiên, tâm tu hành địa mà được hiển hiện tâm chẳng thoái chuyển địa cũng đều được hiện, tâm Nhất sinh bổ xứ, tâm Kim cương, tâm Như Lai mà đều hiển hiện, vô lượng vô biên diệu pháp của Như Lai đều hiển hiện. Nương vào Pháp thân này, chẳng thể nghĩ bàn đại tam muội mà được hiển hiện. Nương vào pháp thân này, được hiện tất cả Đại trí.
Vậy nên hai thân nương vào tam muội, nương vào trí tuệ mà được hiển hiện như Pháp thân này. Nương vào tự thể nói thường, nói ngã. Nương vào Đại tam muội nên nói đến lạc.
Nương vào đại trí nên nói thanh tịnh. Vậy nên Như Lai thường trụ tự tại an lạc thanh tịnh. Nương vào đại tam muội, tất cả thiền định, Thủ Lăng Nghiêm.v.v... tất cả niệm xứ, đại pháp niệm.v.v...
Đại từ, Đại bi, tất cả Đà la ni, tất cả thần thông, tất cả tự tại, tất cả pháp... bình đẳng nhiếp lấy. Như vậy Phật pháp đều xuất hiện. Nương vào Đại trí này, mười lực, bốn vô sở úy, bốn vô ngại biện, một trăm tám mươi pháp bất cộng, tất cả pháp hy hữu chẳng thể nghĩ bàn đều hiển hiện.
Ví như nương vào ngọc báu Như Ý, vô lượng vô biên đủ thứ trân bảo đều được hiện ra. Như vậy, nương vào đại tam muội bảo, nương vào đại trí tuệ bảo có thể xuất hiện đủ thứ vô lượng vô biên diệu pháp của các đức Phật.
Này thiện nam tử ! Như vậy Pháp thân, tam muội và trí tuệ qua tất cả tướng, chẳng chấp trước tướng chẳng thể phân biệt, chẳng phải thường, chẳng phải đoạn. Đó gọi là trung đạo, tuy có phân biệt nhưng thể không phân biệt, tuy có ba số mà không ba thể, chẳng tăng, chẳng giảm giống như mộng huyễn, cũng không sở chấp, cũng không năng chấp, pháp thể Như Như là chỗ Giải thoát, qua khỏi cảnh giới ma chết, vượt qua tối tăm sinh tử, tất cả chúng sinh chẳng thể tu hành, chẳng thể đến đó được, chỗ trú xứ của tất cả chư Phật, Bồ tát.
Này thiện nam tử ! Ví như có người nguyện muốn được vàng, tìm kiếm khắp nơi nơi, liền được quặng vàng. Đã được quặng rồi, liền nghiền nát ra, chọn lấy phần tinh ròng cho vào lò nấu luyện, người đó được vàng trong sạch, rồi tùy ý lần hồi chuyển làm những vòng, xuyến, đủ thứ đồ trang sức. Tuy có những công dụng khác nhau, nhưng tính vàng chẳng biến đổi.
Lại nữa, này thiện nam tử ! Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân cầu thắng giải thoát, tu hành việc thiện ở đời, được thấy đức Như Lai và chúng đệ tử được thân cận rồi mà bạch đức Phật rằng : “Thưa đức Thế Tôn ! Cái gì là thiện ?
Cái gì là chẳng thiện ? Chánh tu điều gì thì được hạnh Thanh tịnh ?”. Các đức Phật Như Lai và chúng đệ tử khi thấy những người đó hỏi thì suy nghĩ như vầy : “Những thiện nam tử, thiện nữ nhân này muốn cầu thanh tịnh, muốn nghe Chính pháp”.
Chư Phật và chúng đệ tử liền vì những người ấy nói pháp, khiến cho họ được khai ngộ. Những người đó đã nghe rồi thì chánh niệm nhớ tưởng hộ trì, phát tâm tu hành, được tinh tấn lực, tiêu trừ nghiệp chướng lười biếng, diệt tan tất cả tội, đối với những học xứ lìa bỏ sự chẳng tôn trọng, chấm dứt tâm trạo hối, vào đến Sơ địa. Nương vào tâm Sơ địa, hành giả trừ chướng hữu tình lợi thì được vào Nhị địa.
Ở trong địa này, trừ chướng chẳng bức não thì vào với Tam địa. Ở trong Địa này, trừ chướng tâm nhuyến tịnh thì vào với Tứ địa. Ở trong Địa này, trừ chướng thiện phương tiện thì vào với Ngũ địa.
Ở trong Địa này, trừ chướng thấy Chân, Tục thì vào với Lục địa. Ở trong Địa này, trừ chướng kiến hành tướng thì vào với Thất địa. Ở trong Địa này, trừ chướng chẳng thấy Diệt tướng thì vào với Bát địa.
Ở trong Địa này, trừ chướng chẳng thấy sinh tướng thì vào với Cữu địa. Ở trong Địa này, trừ chướng Lục thông thì vào với Thập địa. Ở trong Địa này, trừ Sở tri chướng, trừ tâm căn bản thì vào Như Lai địa.
Như Lai địa là do ba tịnh nên gọi là cực thanh tịnh. Những gì là ba tịnh ? Một là phiền não tịnh, hai là khổ tịnh, ba là tướng tịnh.
Ví như vàng ròng nấu chảy đã trị luyện, đã thiêu đốt luyện đập rồi thì không còn bụi bẩn, bản tính thanh tịnh của vàng được hiển hiện. Thể của vàng thanh tịnh chẳng phải gọi là không có vàng. Ví như nước đục, ngưng lắng thanh tịnh không còn cặn bẩn.
Bản tính trong sạch của nước được hiển hiện thì chẳng phải gọi là không có nước. Như vậy pháp thân cùng với phiền não, nếu trừ khỏi khổ tập rồi, không còn tập nữa, bản tính thanh tịnh của Phật được hiển hiện thì chẳng phải gọi là không có thể tính. Ví như hư không bị sự ngăn che của khói mây bụi mù.
Nếu trừ hết sự che chắn rồi thì cõi không thanh tịnh đó chẳng phải gọi là không có hư không. Như vậy Pháp thân mà tất cả mọi khổ đều hết nên nói là thanh tịnh thì chẳng phải gọi là không có Thể. Ví như có người trong giấc ngủ mơ thấy nước sông lớn cuốn trôi thân mình, vận động tay chân cắt dòng chảy mà bơi qua đến bờ bên kia, do thân tâm người đó chẳng lười biếng thoái lui vậy.
Từ trong mơ tỉnh ra rồi, người đó chẳng thấy có nước và bờ này, bờ kia riêng biệt thì chẳng phải gọi là không có tâm. Sinh tử vọng tưởng đã diệt hết rồi thì sự giác ngộ thanh tịnh này chẳng phải gọi là không có giác ngộ. Như vậy pháp giới mà tất cả vọng tưởng chẳng sinh ra nữa nên nói là thanh tịnh thì chẳng phải là chư Phật không có thật thể ấy.
Lại nữa, này thiện nam tử ! Pháp thân này thì nếu hoặc chướng thanh tịnh thì có thể hiện Ứng thân, nếu nghiệp chướng thanh tịnh thì có thể hiện hóa thân, trí chướng thanh tịnh thì có thể hiện pháp thân. Ví như nương vào hư không phát ra chớp, nương vào chớp phát ra ánh sáng. Như vậy nương vào Pháp thân nên có thể hiện ra Ứng thân, nương vào Ứng thân nên có thể hiện ra Hóa thân. Do tính thanh tịnh nên có thể hiện ra Pháp thân, trí tuệ thanh tịnh có thể hiện Ứng thân, tam muội thanh tịnh có thể hiện Hóa thân. Ba thứ thanh tịnh này là Như Như của pháp, chẳng Như Như khác, Như Như một vị, Như Như giải thoát, Như Như cứu cánh. Vậy nên thể của chư Phật không có khác.
Này thiện nam tử ! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nói Như Lai là đại sư của ta. Nếu họ tạo tác niềm tin quyết định như vậy thì người này liền ứng với thân tâm hiểu rõ thân của Như Lai không có sai khác.
Này thiện nam tử ! Do nghĩa này nên đối với những cảnh giới chẳng chánh tư duy đều đoạn trừ hết và liền biết pháp đó không có hai tướng, cũng không phân biệt. Việc tu hành của bâc Thánh, Như Như đối với những vị ấy không có hai tướng.
Chánh tu hành như vậy thì tất cả các chướng như vậy đều trừ diệt hết. Tất cả các chướng của Như Như diệt, như vậy thì Như Như pháp, trí Như Như như vậy được tối thanh tịnh. Pháp giới Như Như, chánh trí thanh tịnh thì như vậy tất cả tự tại nhiếp lấy đầy đủ như vậy đều được thành tựu, tất cả các chướng đều trừ diệt hết.
Tất cả các chướng được thanh tịnh nên đó gọi là tướng chân thật của Chánh trí chân như. Thấy như vậy thì đó gọi là Thánh kiến (thấy của Thánh). Đó gọi là chân thật thấy Phật.
Vì sao vậy ? - Vì như thật được thấy pháp Chân như. Vậy nên các đức Phật đều có thể thấy khắp tất cả Như Lai. Vì sao vậy ? - Vì hàng Thanh Văn, Độc Giác đã ra khỏi ba cõi, cầu cảnh giới chân thật, chẳng thể thấy biết.
Như vậy việc chẳng thấy biết của Thánh nhân mà tất cả phàm phu đều sinh ra nghi hoặc, phân biệt điên đảo, chẳng thể được độ như con thỏ thuận dòng xuôi vào biển nhất định chẳng thể qua khỏi. Sở dĩ vì sao ? - Vì sức của nó yếu ớt vậy. Người phàm phu cũng lại như vậy, chẳng thể thông đạt Như Như của pháp.
Nhưng các đức Phật Như Lai không có tâm phân biệt, đối với tất cả pháp được đại tự tại, thanh tịnh đầy đủ, trí tuệ thậm thâm. Đó là cảnh giới của mình chẳng chung với người khác. Vậy nên các đức Phật Như Lai ở vô lượng vô biên atăngkỳ kiếp, chẳng tiếc thân mạng tu hành hạnh khó, hạnh khổ mới được thân tối thượng vô tỷ chẳng thể nghĩ bàn này.
Qua lời nói để nói lên cảnh giới là tịch tịnh vi diệu lìa khỏi các khủng bố.
Này thiện nam tử ! Như vậy người thấy biết Chân Như của pháp thì không sinh, già, chết, thọ mạng vô hạn, không có ngủ nghỉ, cũng không đói khát, tâm luôn ở tại định, không có tán động. Nếu đối với Như Lai dấy lên lòng tranh luận thì chẳng thể thấy được Như Lai.
Lời nói của các đức Phật đều đem lại lợi ích, có người lắng nghe thì không ai chẳng giải thoát. Những loài cầm thú ác, người ác, quỉ ác tuy chẳng gặp gỡ mà do nghe pháp nên quả báo vô tận. Nhưng các đức Như Lai không việc gì chẳng ghi, tất cả cảnh giới lòng không muốn biết, sinh tử và Niết Bàn không có tư tưởng khác.
Lời ký của Như Lai không gì chẳng quyết đinh, trong bốn uy nghi của các đức Phật Như Lai không gì chẳng phải trí nhiếp lấy, tất cả các pháp không có pháp nào chẳng được sự nhiếp lấy của từ bi, không có gì chẳng làm lợi ích an lạc cho các chúng sinh.
Này thiện nam tử ! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân đối với Kinh Kim Quang Minh này mà lắng nghe, tín giải thì chẳng theo đường địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, a tu la, luôn sinh ở cõi trời, người, chẳng sinh nơi hạ tiện, thường được gần gũi các đức Phật Như Lai, thính thọ Chánh pháp, thường sinh vào đất nước thanh tịnh của chư Phật. Sở dĩ vì sao ? - Vì do được nghe pháp thậm thâm này vậy.
Thiện nam tử ! Thiện nữ nhân này thì được Như Lai đã biết, đã ký sẽ được Bất Thoái Chuyển Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân đối với pháp vi diệu thậm thâm này chỉ qua tai một lần thôi thì phải biết người đó chẳng bài báng Như Lai, chẳng khinh hủy Chánh pháp, chẳng xem thường Thánh Chúng (báng Phật, hủy Pháp, khinh Tăng), tất cả chúng sinh chưa gieo trồng thiện căn thì khiến cho được gieo trồng, kẻ đã gieo trồng thiện căn thì khiến cho tăng trưởng, thành thục vậy.
Chúng sinh sở hữu của tất cả thế giới đều siêng năng tu hành sáu Ba la mật (lục độ vô cực).
Lúc bấy giờ, Bồ tát Hư Không Tạng, Phạm Vương, Đế Thích, Tứ Thiên Vương, các thiên chúng.v.v... liền đứng dậy, trật áo vai phải, chắp tay cung kính, đảnh lễ dưới chân đức Phật mà bạch rằng :
– Thưa đức Thế Tôn ! Nếu có chỗ sở tại giảng nói Kinh điển vi diệu Kim Quang Minh Vương này thì ở đất nước ấy có bốn thứ lợi ích. Những gì là bốn ?
Một là quân chúng của quốc vương cường thịnh, không có những oán địch, lìa khỏi tật bệnh, thọ mạng lâu dài, cát tường an lạc, chánh pháp hưng hiển.
Hai là trong cung, phi, hậu, vương tử, các bề tôi hòa hợp vui vẻ, không có tranh tụng, lìa khỏi sự dua nịnh để được sự ái trọng của vua. Ba là Sa môn, Bà la môn và những người trong nước tu hành chánh pháp, không bệnh hoạn, an lạc, không có người uổng tử (chết oan uổng), đối với những ruộng phước đều tu tập.
Bốn là ở trong ba mùa, bốn đại điều hòa thích ứng, thường được chư thiên tăng gia thủ hộ, từ bi bình đẳng, không có lòng gây tổn thương, tai hại, khiến cho các chúng sinh qui kính Tam Bảo, đều nguyện tu tập hạnh Bồ Đề. Đó là bốn thứ việc lơi ích.
Thưa đức Thế Tôn ! Chúng con cũng thường vì hoằng truyền Kinh nên theo đuổi người thọ trì Kinh như vậy mà ở tại chỗ trụ của họ, vì họ làm lợi ích.
Đức Phật dạy rằng :
– Hay thay ! Hay thay ! Này thiện nam tử ! Đúng vậy ! Đúng vậy! Các ông, lòng cần phải siêng năng lưu bố vua Kinh vi diệu này để khiến cho chánh pháp trụ ở đời lâu dài.
PHẨM THỨ TƯ :
MƠ THẤY TRỐNG VÀNG SÁM HỐI
Lúc bấy giờ, Bồ tát Diệu Tràng thân cận ở trước đức Phật, nghe diệu pháp này rồi vui mừng hớn hở, một lòng tư duy trở về đến chỗ cũ. Ở trong đêm, ông mơ thấy cái trống vàng lớn, ánh sáng rực rỡ giống như vầng mặt trời. Ở trong ánh sáng này được thấy vô lượng những đức Phật của mười phương đang ngồi trên tòa lưu ly ở dưới cây báu với vô lượng trăm ngàn đại chúng vây quanh mà vì họ nói pháp.
Thấy một vị Bà la môn cầm dùi đánh trống vàng, phát ra âm thanh lớn. Trong âm thanh ấy diễn nói kệ tụng vi diệu làm sáng pháp sám hối. Bồ tát Diệu Tràng nghe rồi đều nhớ đương niệm mà trụ.
Đến sáng sớm, ông cùng với vô lượng trăm ngàn đại chúng vây quanh, đem theo những đồ cúng dường, ra khỏi thành Vương Xá, đi đến núi Thứu Phong, tới chỗ đức Thế Tôn, làm lễ dưới chân đức Phật rồi, thiết bày hương hoa, nhiễu về bên phải ba vòng, lui về ngồi một phía, chắp tay cung kính, chiêm ngưỡng dung nhan đức Thế Tôn mà bạch đức Phật rằng :
– Thưa đức Thế Tôn ! Ở trong mơ, con thấy có vị Bà la môn, tay cầm dùi đánh chiếc trống vàng vi diệu phát ra âm thanh lớn. Trong âm thanh đó diễn nói lời kệ tụng vi diệu làm sáng pháp Sám Hối. Con hiện đều ghi nhớ, giữ gìn, nguyện xin đức Thế Tôn rũ lòng đại từ bi nghe lời nói của con!
Ông liền ở trước đức Phật mà nói lời tụng rằng : Con ở trong đêm trước
Mơ thấy chiếc trống vàng
Hình thể rất đẹp đẽ
Cùng khắp có Kim Quang
Giống như vầng nhật thịnh
Ánh sáng sáng khắp cùng
Cõi mười phương sung mãn
Đều thấy các Thế Tôn.
Ở dưới gốc cây báu
Tòa lưu ly ngồi trên.
Vô lượng trăm ngàn chúng
Cung kính mà vây quanh.
Một Bà la môn đã
Dùng dùi đánh trống vàng.
Ở trong tiếng trống ấy
Nói lên lời tụng rằng :
Trống Kinh Quang Minh phát tiếng diệu
Khắp đến cõi ba ngàn đại thiên
Hay diệt ba đường tội rất nặng
Và những khổ ách trong nhân gian.
Do uy lực của tiếng trống ấy
Diệt mãi tất cả chướng não phiền
Đoạn trừ kinh sợ khiến yên ổn
Ví như tự tại Mâu Ni Tôn.
Phật ở trong biển cả sinh tử
Tích hạnh, Nhất Thiết trí tu thành
Hay khiến phẩm cụ chúng sinh giác
Đều về biển công đức rốt cùng.
Do trống vàng này phát tiếng diệu
Khắp khiến người nghe Phạm âm vang
Chúng được quả Bồ Đề Vô Thượng
Thường chuyển thanh tịnh diệu pháp luân
Trụ thọ chẳng thể nghĩ bàn kiếp
Tùy cơ nói pháp lợi quần sinh
Hay đoạn phiền não mọi dòng khổ
Tham, sân, si đều diệt trừ tan.
Nếu có chúng sinh ở đường ác
Lửa lớn rực cháy khắp toàn thân
Nếu được nghe tiếng trống diệu đó
Liền lìa khổ, qui y Thế Tôn
Đều được thành tựu Túc Mạng Trí
Hay nhớ đời quá khứ trăm ngàn
Đều chánh niệm Mâu Ni tôn quí
Được nghe thậm thâm giáo Thế Tôn
Do nghe tiếng trống vàng diệu thắng
Với chư Phật thường được cận thân
Có thể lìa bỏ các nghiệp ác
Thuần tu các thiện phẩm sạch trong.
Tất cả trời, người, hữu tình loại
Kẻ cầu nguyện thận trọng chí thành
Được nghe tiếng trống vàng vi diệu
Khiến cho sở cầu đều thỏa mong.
Chúng sinh đọa tại ngục Vô Gián
Khổ lửa mạnh rừng rực đốt thân
Ở Luân hồi, không người cứu hộ
Người nghe thì khiến khổ diệt tan
Trong người, trời, bàng sinh, ngã quỉ
Mà hiện đang thọ các khổ nàn
Được nghe trống vàng phát tiếng diệu
Thì đều giải thoát, khổ diệt tan.
Cõi mười phương hiện tại
Thường trụ Lưỡng Túc Tôn
Nguyện đem lòng bi lớn
Thương xót nhớ nghĩ con
Chúng sinh không ai cứu
Cũng không chỗ về nương
Vì những loài như vậy
Hay làm chỗ về nương (quy y)
Tội con đã làm trước
Ác nghiệp nặng vô cùng
Nay trước đấng Thập Lực
Con Sám hối hết lòng !
Con chẳng tin chư Phật
Cũng chẳng kính tôn thân
Chẳng chăm tu mọi thiện
Tạo các nghiệp ác luôn.
Hoặc tự thị cao quí
Tài vị (của cải địa vị) và giống dòng
Tuổi trẻ hành phóng dật
Thường tạo nghiệp chẳng lành (ác).
Lòng luôn khởi tà niệm
Tối vô minh che lòng
Nguyện bày những lời ác
Không thấy điều tội lỗi
Thường tạo các nghiệp ác
Luôm làm kẻ ngu phu
Thuận theo bạn chẳng tốt
Các nghiệp ác tạo luôn
Hoặc nhân các hí lạc
Hoặc lại mang lo buồn
Vì tham sân trói buộc
Nên con tạo các ác
Gần gũi người chẳng lành
Và do ý xan, tật (xan tham, tật đố)
Làm lừa dối bần cùng
Nên con tạo các ác
Tuy chẳng ưa lỗi lầm
Nhưng do có bố úy
Chẳng được tự tại nên
Con tạo ra các ác.
Hoặc vì tháo động tâm
Hoặc nhân sân nhuế hận
Và đói khát não phiền
Nên con tạo các ác.
Do y phục, uống ăn
Và tham ái con gái
Bị đốt bởi não phiền
Nên con tạo các ác.
Với Phật, Pháp, chúng Tăng
Chẳng sinh lòng cung kính
Tạo mọi tội như trên
Con nay xin sám hối !
Với Bồ tát, Thanh Văn...
Cũng không lòng cung kính
Tạo mọi tội như trên
Con nay đều sám hối
Không biết báng pháp chân
Chẳng hiếu với cha mẹ
Tạo mọi tội như trên
Con nay đều sám hối !
Do kiêu mạn si đần
Và cả tham, sân lực
Tạo mọi tội như trên
Con nay đều sám hối !
Con ở cõi mười phương
Cúng dường vô số Phật
Nguyện cứu vớt chúng sinh
Khiến lìa các khổ nạn !
Nguyện tất cả hữu tình
Đều khiến trụ Thập địa !
Phước trí viên mãn xong
Dẫn quần mê, thành Phật.
Con vì các chúng sinh
Khổ hạnh trăm ngàn kiếp
Dùng lực đại trí thông
Biển khổ đều khiến xuất.
Con vì loài hàm thức
Diễn nói thậm thâm Kinh
Tối Thắng Kim Quang Minh
Hay trừ các ác nghiệp
Nếu người trăm ngàn kiếp
Tạo tội nặng vô cùng
Tạm thời mà phát lộ
Mọi ác tận diệt tan
Nương Kim Quang Minh ấy
Làm sám hối như trên.
Việc ấy mau làm hết
Tất cả nghiệp khổ nàn.
Thắng Định trăm ngàn thứ
Tổng trì chẳng nghĩ bàn
Căn, lực, giác chi, đạo
Không mệt, tu tập luôn.
Con sẽ đến Thập địa
Chỗ đầy đủ bảo trân
Viên mãn công đức Phật
Tế độ dòng tử sinh.
Con ở các biển Phật
Công đức tạng thậm thâm
Diệu trí khó nghĩ bàn
Đều khiến được đầy đủ.
Nguyện xin Phật mười phương.
Quan sát và hộ niệm
Đều dùng đại bi tâm
Thương nhận con sám hối !
Ở trong nhiều kiếp, con
Đã tạo các nghiệp ác
Do đó khổ não sinh
Thương con, nguyện tiêu diệt !
Con tạo nghiệp chẳng lành
Thường sinh lòng lo sợ
Bốn uy nghi, ở trong
Từng không hoan lạc tưởng
Đại bi của Thế Tôn
Hay trừ sợ sinh chúng
Nguyện nhận sám hối con !
Khiến được lìa ưu khổ !
Con có chướng não phiền
Và cả những báo nghiệp
Nước đại bi, xin dùng
Tẩy rửa khiến sạch trong
Con trước làm các tội
Và ác tạo hiện tiền
Con chí tâm phát lồ
Đều nguyện được tiêu tan
Vị lai các ác nghiệp
Phòng hộ chẳng khởi lên
Giả sử có lỗi trái
Trọn chẳng dám ẩn tàng.
Thân ba, miệng bốn thứ
Ý nghiệp có ba thứ
Trói buộc các hữu tình
Vô thỉ luôn tiếp nối
Do đó ba thứ hành
Tạo tác mười nghiệp ác.
Nhiều những tội như trên
Con nay đều sám hối !
Nghiệp ác con tạo nên
Khổ báo phải tự chịu
Nay trước các Thế Tôn
Chí thành đều sám hối !
Ở thế giới tha phương
Và tại châu Chiêm Bộ
Sẵn có các nghiệp lành
Nay con đều tùy hỷ
Mười ác nguyện ly tan
Mười thiện đạo tu hành
An trụ trong Thập Địa
Thường thấy Phật mười phương.
Con dùng thân miệng ý
Nghiệp phước trí tu hành
Nguyện nhờ thiện căn ấy
Tuệ Vô Thượng chóng thành.
Con nay đối trước đấng Thập Lực
Phát lồ nhiều những việc khổ nàn
Nạn phàm ngu mê hoặc ba hữu
Nạn tạo nghiệp ác nặng vô cùng
Con đã tích tập nạn tà dục
Nạn thường khởi tham ái chuyển vần
Nạn ở thế gian này đắm trước
Tất cả ngu phu nạn não phiền
Nạn cuồng tâm tán động điên đảo
Và nạn theo bạn ác thân gần
Nạn ở trong sinh tử tham nhiễm
Nạn tạo tội do si độn sân
Nạn sinh tám nơi ác bận rộn (không nhàn hạ)
Nạn tích tập công đức chưa từng...
Con nay ở trước đấng Tối Thắng
Sám hối nghiệp tội ác vô biên
Con nay qui y các Thiện Thệ !
Con lễ Đức Hải Vô Thượng Tôn !
Như núi vàng mười phương soi khắp
Duy nguyện từ bi nhiếp thọ con !
Thân sắc Kim quang tịnh vô cấu
Mắt như lưu ly biếc sạch trong
Đấng danh xưng Kiết Tường uy đức
Tuệ nhật từ bi trừ tối tăm.
Phật nhật quang minh thường cùng khắp
Thiện tịnh không bẩn, lìa các trần
Trăng Mâu Ni chiếu soi mát mẻ
Trừ cho chúng sinh nóng não phiền.
Ba mươi hai tướng trang nghiêm khắp
Tám mươi vẻ đẹp đều mãn viên
Phước đức khó nghĩ, không ai sánh.
Như mặt trời soi sáng thế gian
Sắc như lưu ly sạch không bẩn
Như vầng trăng sáng ở hư không
Ánh thân vàng pha lê vi diệu
Nghiêm sức bằng đủ thứ minh quang
Ở trong dòng sinh tử khổ bạo
Nước già bệnh lo buồn cuốn phăng,
Biển khổ như vậy khó kham nhẫn
Phật nhật tuông sáng khiến khô khan.
Con nay cúi đầu Nhất Thiết trí
Đấng hy hữu thế giới ba ngàn
Ánh sáng rực rỡ, thân vàng tía
Đủ thứ diệu hảo đều trang nghiêm.
Như nước biển cả lường khó biết
Vi trần đại địa chẳng thể lường
Như núi cao diệu không xưng lượng
Cũng không giới hạn như hư không
Công đức chư Phật cũng như vậy
Tất cả hữu tình chẳng biết thông
Dù vô lượng kiếp tư duy kỹ
Biết bờ biển đức không thể xong
Đem hết đại địa các gò, núi
Làm vụn như bụi có thể lường
Lông đong giọt biển còn đếm được
Không thể tính công đức Thế Tôn !
Tất cả hữu tình đều khen ngợi
Các danh xưng công đức Thế Tôn
Tướng tốt thanh tịnh trang nghiêm diệu
Chẳng thể xưng lường biết rõ ràng
Mọi thiện nghiệp của con sẵn có
Nguyện được mau thành Vô Thượng Tôn
Rộng nói chánh pháp lợi sinh chúng
Đều khiến giải thoát mọi khổ nàn.
Hàng phục chúng ma quân đại lực
Sẽ chuyển Vô Thượng Chánh Pháp luân
Trụ lâu khó nghĩ bàn kiếp số
Vị cam lộ sung túc chúng sinh
Giống như các Tối Thắng quá khứ
Sáu Ba la mật đều đầy tròn.
Diệt sân si và các tham dục
Trừ mọi khổ, hàng phục não phiền.
Nguyện con thường được Túc Mạng Trí
Hay nhớ đời quá khứ trăm ngàn
Đấng Mâu Ni cũng luôn nhớ nghĩ
Được nghe pháp chư Phật thậm thâm.
Nguyện con nhờ những thiện nghiệp ấy
Phụng sự vô biên Tối Thắng Tôn
Xa lìa tất cả nhân bất thiện
Luôn được tu hành pháp diệu chân.
Các chúng sinh của mọi thế giới
Đều lìa khỏi khổ, được lạc an
Các căn sở hữu chẳng đầy đủ
Khiến họ thân tướng được mãn viên.
Nếu có chúng sinh gặp khổ bệnh
Thân hình gầy yếu không chỗ nương
Đều khiến bịnh khổ được tiêu diệt
Sắc lực các căn đều đầy tràn (sung mãn)
Nếu phạm vương pháp phải hình lục (tội chém)
Mọi khổ bức bách sinh ưu phiền
Khi họ chịu cực khổ như thế
Không ai cứu hộ, chẳng chỗ nương.
Hoặc thọ roi, gậy, gông, cùm, trói
Đủ thứ khổ cụ bức thiết thân
Khi vô lượng trăm ngàn ưu não
Bức bách thân tâm không tạm yên
Đều khiến cho được miễn trói buộc
Và roi, gậy... mọi sự khổ nàn
Người sắp bị chém được toàn mạng
Mọi khổ đều khiến mãi diệt tan.
Nếu có chúng sinh đói khát ép
Khiến được đủ thứ vị ngọt ngon
Người điếc được nghe, người mù thấy
Người què đi được, câm nói lên.
Chúng sinh nghèo cùng được bảo tạng
Không thiếu thốn, kho lẫm đầy tràn
Đều khiến được thọ thượng diệu lạc
Không một chúng sinh chịu khổ buồn
Tất cả người, trời đều ưa thấy
Dung nghi ôn nhã rất đoan nghiêm
Đều hiện tại thọ vô lượng lạc
Thọ dụng phước đức phong thịnh hơn.
Theo niệm chúng sinh về kỹ nhạc
Mọi diệu âm thanh đều hiện tiền
Nghĩ nước liền hiện ao mát mẻ
Hoa sen sắc vàng nổi bên trên.
Theo ý niệm của lòng sinh chúng
Mà ẩm thực, y phục, giường nằm
Vàng bạc, lưu ly, trân bảo diệu
Anh lạc... đều đầy đủ trang nghiêm.
Không cho chúng sinh nghe tiếng ác
Cũng chẳng thấy nhau sự lỗi lầm (sai trái).
Dung mạo đoạn nghiêm họ được thọ
Ái lạc nhau đều bằng từ tâm.
Đồ cần vui sống trong cõi thế
Đều đầy đủ theo niệm của lòng
Của quí sở đắc không tiếc lận
Phân bố thí cho các chúng sinh.
Hương đốt, hương xoa và hương bột
Mọi thứ diệu hoa đủ màu xen
Mỗi ngày ba thời từ cây rụng
Tùy lòng thọ dụng sinh vui mừng
Phổ nguyện chúng sinh đều cung dưỡng
Tất cả đấng Tối Thắng mười phương
Pháp môn ba thừa thanh tịnh diệu
Chúng Bồ tát, Độc Giác Thanh Văn.
Thường nguyện, chớ ở nơi ty tiện
Chẳng đọa trong tám nạn, không nhàn (hạ)
Sinh chỗ Nhân trung tôn nhàn hạ
Luôn được gần chư Phật mười phương.
Nguyện được thường sinh nhà phú quí
Của báu đều tràn ngập kho tàng
Dụng mạo, tiếng khen không ai sánh
Trải kiếp số thọ mạng diên trường.
Nguyện cho nữ nhân thành nam tử
Nhiều trí tuệ, dũng kiện, thông minh
Tất cả thường hành Bồ tát đạo
Siêng tu lục độ, bờ kia sang.
Thường thấy mười phương vô lượng Phật
Dưới cây vua báu mà ở yên
Ngồi tòa sư tử lưu ly diệu
Hằng được thân thừa chuyển pháp luân.
Nếu ở quá khứ và hiện tại
Tạo các nghiệp, ba cõi xoay vần
Có thể chuốc lấy đường bất thiện
Nguyện được tiêu diệt mãi không còn.
Tất cả chúng sinh ở biển hữu
Lưới dây sinh tử trói chắc bền
Nguyện đem kiến trí mà cắt đứt
Lìa khỏi khổ, chứng Bồ Đề liền.
Chúng sinh ở trong châu Thiệm Bộ
Hoặc ở trong thế giới tha phương
Đủ thứ thắng phước điền sở tác
Con nay đều sinh tùy hỷ cùng.
Đem việc phước đức tùy hỷ ấy
Và thân, ngữ, ý tạo mọi lành
Nguyện thắng nghiệp này luôn tăng trưởng
Bồ Đề Vô Thượng mau chứng thành.
Lễ tán (khen) công đức Phật sẵn có
Thâm tâm không tỳ vết sạch trong
Phát nguyện phước vô biên hồi hướng
Sáu mươi kiếp đường ác vượt xong.
Nếu có con trai và con gái
Các thắng tộc như Bà la môn...
Chắp tay một lòng khen ngợi Phật
Đời đời nhớ việc đời trước luôn
Các căn thanh tịnh, thân viên mãn
Công đức thù thắng đều hoàn thành.
Nguyện đời vị lai chỗ sinh sống
Thường được người trời chiêm ngưỡng chung
Chẳng phải chỗ một Phật... mười Phật
Tu thiện căn mà được nghe Kinh.
Trăm ngàn chỗ Phật trồng căn lành
Mới được nghe pháp sám hối ấy.
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn nghe lời nói này rồi thì khen Bồ tát Diệu Tràng rằng :
– Hay thay ! Hay thay ! Này thiện nam tử ! Như giấc mơ của ông, trống vàng phát ra âm thanh khen ngợi công đức chân thật của Như Lai cùng pháp Sám Hối. Nếu có người nghe thì thu hoạch phước rất nhiều, lợi ích rộng cho hữu tình, diệt trừ tội chướng. Ông nay nên biết thắng nghiệp này đều là nhân duyên tu tập đời trước, sự phát nguyện khen ngợi trong quá khứ và do uy lực của chư Phật gia hộ. Nhân duyên này ta sẽ vì ông giải nói.
Các đại chúng nghe pháp này rồi đều hoan hỷ tín thọ phụng hành.
---
Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh quyển 3
PHẨM THỨ NĂM : DIỆT NGHIỆP CHƯỚNG
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn trụ ở Chánh phân biệt, vào với tịnh lự vi diệu thậm thâm. Từ lỗ chân lông của thân Phật phóng ra ánh sáng lớn với vô lượng trăm ngàn đủ thứ những màu sắc. Đất nước của các đức Phật đều hiện ra trong ánh sáng mà đem cát sông Hằng mười phương so lường ví dụ chẳng thể bì kịp.
Đời ác năm trược được sự chiếu soi của ánh sáng thì các chúng sinh ở đây tạo tác mười nghiệp ác, năm tội vô gián, bài báng Tam Bảo, chẳng hiếu với tôn thân, khinh mạn sư trưởng, chứng Bà la môn... đáng đọa địa ngục, ngã quỉ, súc sinh... nhưng bọn họ nhờ ánh sáng chiếu đến chỗ trú xứ nên các hữu tình đó thấy ánh sáng ấy rồi, nhân lực của ánh sáng họ đều được an lạc, đoan chánh đẹp đẽ, sắc tướng đầy đủ, phước trí trang nghiêm, được thấy chư Phật.
Lúc đó Đế Thích, tất cả thiên chúng và nữ thần sông Hằng cùng các đại chúng nhờ ánh sáng hy hữu, đều đến chỗ đức Phật, nhiễu quanh bên phải ba vòng, lùi về ngồi một phía.
Bấy giờ, trời Đế Thích thừa uy lực của đức Phật, liền đứng dậy, trật áo vai phải, gối phải quì xuống đất, chắp tay hướng về đức Phật mà bạch rằng :
– Thưa đức Thế Tôn ! Làm sao mà thiện nam tử, thiện nữ nhân nguyện cầu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, tu hành Đại thừa, nhiếp thọ tất cả loài hữu tình tà kiến điên đảo, đã từng tạo tác nghiệp chướng tội? Làm sao sám hối mà sẽ được trừ diệt ?
Đức Phật bảo trời Đế Thích rằng :
– Hay thay ! Hay thay ! Này thiện nam tử ! Ông nay tu hành, muốn vì vô lượng vô biên chúng sinh, khiến cho họ được thanh tịnh, giải thoát, an lạc. Thương xót thế gian đem phước lợi cho tất cả. Nếu có chúng sinh, do nghiệp chướng nên tạo các tội thì cần phải sách tấn khuyến lệ, ngày đêm sáu thời, trật áo vai phải, gối phải quì xuống đất, chắp tay cung kính, một lòng chuyên niệm và miệng tự nói rằng : “Quy mạng đảnh lễ tất cả chư Phật hiện tại trong mười phương đã được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, chuyển pháp luân vi diệu, gìn giữ soi chiếu pháp luân, mưa xuống đại pháp vũ, đánh lên trống đại pháp, thổi vang loa Đại pháp, kiến lập Đại Pháp Tràng, thắp sáng đuốc Đại pháp... Vì muốn lợi ích an lạc cho các chúng sinh nên thường hành Pháp thí, dỗ dành sách tấn quần sinh, khiến cho họ được đại quả, chứng thường lạc. Như vậy đối với những đức Phật Thế Tôn.v.v... con đem thân, ngữ, ý cúi đầu qui y chân thành, chí tâm kính lễ ! Những vị Thế Tôn đó dùng chân thật tuệ, dùng chân thật nhãn, chân thật chứng minh, chân thật bình đẳng đều thấy đều biết nghiệp thiện, ác của tất cả chúng sinh. Con từ sinh tử vô thỉ đến nay lưu chuyển theo ác chung với các chúng sinh tạo tội nghiệp chướng, bị sự ràng buộc của tham sân si ! Khi chưa biết Phật, khi chưa biết Pháp, khi chưa biết Tăng thì chưa biết thiện, ác, rồi do thân, ngữ, ý tạo tội vô gián, ác tâm làm chảy máu thân Phật, bài báng chánh pháp, phá hòa hợp Tăng, giết hại A la hán, giết hại cha mẹ... Thân ba thứ, ngữ bốn thứ, ý ba thứ đã tạo tác mười nghiệp ác, tự mình làm, dạy người khác làm, thấy người ta làm mà vui theo. Đối với những người thiện thì ngang ngược sinh ra bài báng hủy hoại, cân đong gian dối, lấy ngụy làm chân, đem đồ ăn thức uống bất tịnh thí cho tất cả, cha mẹ sở hữu trong sáu đường lại não hại nhau, hoặc ăn trộm vật của Tốt đổ ba (của Tháp), vật của Tứ phương Tăng, vật của hiện tiền Tăng mà tự tại sử dụng, pháp luật của Thế Tôn chẳng ưa phụng hành, lời dạy bày của sư trưởng chẳng thuận theo, thấy người tu hành hạnh Thanh Văn, Độc Giác, Đại Thừa thì ưa sinh ra lời mạ nhục khiến cho lòng hành giả sinh ra hối não, thấy có người hơn mình liền mang lòng tật đố (ganh ghét), thí tài thí pháp thường sinh lòng xan tham hối tiếc, bị vô minh che phủ, tà kiến mê hoặc tâm, chẳng tu nhân thiện khiến cho ác tăng trưởng, ở chỗ chư Phật mà khởi lên sự bài báng, pháp nói là phi pháp, phi pháp nói là pháp... Mọi tội như vậy Phật dùng chân thật tuệ, chân thật nhãn, chân thật chứng minh, chân thật bình đẳng đều biết đều thấy. Con nay xin quy mạng ! Đối trước chư Phật đều phát lộ hết chẳng dám che giấu ! Tôi chưa làm lại chẳng làm nữa, tội đã làm nay đều sám hối ! Nghiệp chướng sở tác đáng đọa vào trong địa ngục, súc sinh, ngã quỉ, a tô la và chỗ tám nạn! Nguyện xin nghiệp chướng có sẵn đời này của con đều được tiêu diệt ! Và ác báo sở hữu của con đời vị lai chẳng phải chịu ! Cũng như đời quá khứ, các Đại Bồ tát tu hạnh Bồ Đề, nghiệp chướng sở hữu của họ đều đã sám hối, nghiệp chướng của con hôm nay cũng xin sám hối, đều phát lộ hết chẳng dám che giấu ! Tội đã làm nguyện được trừ diệt, ác vị lai lại chẳng dám tạo ! Cũng như đời vị lai, các Đại Bồ tát tu hạnh Bồ Đề, nghiệp chướng sở hữu của họ đều sám hối hết, nghiệp chướng của con, hôm nay cũng xin sám hối, đều phát lộ hết chẳng dám che giấu ! Tội đã làm nguyện được trừ diệt, việc ác tương lai lại chẳng dám tạo ra ! Cũng như đời hiện tại, những Đại Bồ tát của mười phương thế giới tu hạnh Bồ Đề, nghiệp chướng sở hữu của họ đều đã sám hối, nghiệp chướng của con, hôm nay cũng xin sám hối, đều phát lộ hết chẳng dám che giấu ! Tội đã làm nguyện được trừ diệt, việc ác vị lai lại chẳng dám tạo !”.
Này thiện nam tử ! Do nhân duyên này nên nếu có tạo tội dù trong một sát na cũng chẳng được che giấu, huống gì là một ngày, một đêm cho đến một thời gian dài ? Nếu có người phạm tội muốn cầu thanh tịnh thì lòng mang hổ thẹn (tàm quí), tin vào vị lai nhất định có ác báo, sinh ra rất kinh sợ ! Nên sám hối như vậy ! Như người bị lửa đốt cháy đầu, cháy áo thì cấp cứu làm cho tắt ngay. Nếu lửa chưa tắt thì lòng chẳng được yên. Nếu người phạm tội cũng lại như vậy thì tức thời nên sám hối khiến cho mau trừ diệt. Nếu có người nguyện sinh vào nhà phú lạc, nhiều của báu mà muốn phát ý tu tập Đại Thừa thì cũng nên sám hối diệt trừ nghiệp chướng. Muốn sinh vào nhà giàu sang, Bà la môn, Sát đế lợi và vua Chuyển Luân với thất bảo đầy đủ thì cũng nên sám hối diệt trừ nghiệp chướng.
Này thiện nam tử ! Nếu có người muốn sinh lên trời Tứ Thiên Vương, trời Ba Mươi Ba, trời Dạ Ma, trời Đổ Sử Đa, trời Lạc Biến Hóa, trời Tha Hóa Tự Tại... Cũng cần sám hối diệt trừ nghiệp chướng.
Nếu muốn sinh lên trời Phạm Chúng, Phạm Phụ, Đại Phạm, trời Thiếu Quang, Vô Lượng Quang, Cực Quang Tịnh, trời Thiếu Tịnh, Vô Lượng Tịnh, Biến Tịnh, trời Vô Vân, Phước Sinh, Quảng Quả, trời Vô Phiền, Vô Nhiệt, Thiện Hiện, Thiện Kiến, Sắc Cứu Cánh thì cũng cầu sám hối diệt trừ nghiệp chướng. Nếu muốn cầu quả Dự Lưu, quả Nhất Lai, quả Bất Hoàn, quả A la hán thì cũng cần sám hối diệt trừ nghiệp chướng. Nếu muốn nguyện cầu ba minh, sáu thông, Thanh Văn, Duyên Giác, tự tại Bồ Đề cho đến Cứu Cánh Địa, trí Nhất Thiết Trí, trí Thanh Tịnh, trí Bất Tư Nghị, trí Bất Động, trí Tam Miệu Tam Bồ Đề Chánh Biến thì cũng cần sám hối diệt trừ nghiệp chướng.
Vì sao vậy ? Này thiện nam tử ! Vì tất cả các pháp từ nhân duyên sinh.
Lời Như Lai nói, tướng khác sinh, tướng khác diệt khác nhân duyên vậy. Như vậy các pháp quá khứ đều đã diệt hết, nghiệp chướng sở hữu không còn sót lại. Các hành pháp này chưa được hiện sinh mà nay được sinh, còn nghiệp chướng vị lai lại chẳng khởi lên nữa.
Vì sao vậy ? Này thiện nam tử ! Vì tất cả pháp rỗng không !
Lời Như Lai nói, không có ngã, nhân, chúng sinh, thọ mạng, cũng không sinh diệt cũng không hành pháp. Này thiện nam tử ! Tất cả các pháp đều nương vào gốc, cũng chẳng thể nói.
Vì sao vậy ? Vì qua khỏi tất cả tướng vậy ! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân như vậy mà vào với chân lý vi diệu, sinh lòng tín kính thì đó gọi là không chúng sinh mà có được gốc.
Do nghĩa này nên nói đến sám hối diệt trừ nghiệp chướng.
Này thiện nam tử ! Nếu người thành tựu bốn pháp thì có thể trừ nghiệp chướng, vĩnh viễn thanh tịnh. Những gì là bốn ? Một là, chẳng khởi lên tà tâm, thành tựu chánh niệm. Hai là, đối với lý thậm thâm chẳng sinh ra bài báng. Ba là, đối với Sơ hạnh Bồ tát khởi lên lòng Nhất Thiết Trí. Bốn là, đối với các chúng sinh phát khởi Từ vô lượng. Đó gọi là bốn pháp.
Bấy giờ, đức Thế Tôn nói lời tụng rằng :
Chuyên tâm hộ ba nghiệp
Chẳng bài báng thân pháp
Tác Nhất Thiết Trí tưởng
Lòng từ sạch nghiệp chướng.
Này thiện nam tử ! Có bốn thứ nghiệp chướng khó có thể diệt trừ. Những gì là bốn ?
Một là, đối với luật nghi của Bồ tát mà phạm ác rất nặng.
Hai là, đối với kinh Đại Thừa mà lòng sinh ra bài báng.
Ba là, đối với căn lành của mình mà chẳng thể tăng trưởng.
Bốn là, tham trước ba hữu, không có lòng ra khỏi.
Lại có bốn thứ đối trị nghiệp chướng. Những gì là bốn ?
Một là, đối với tất cả Như Lai của thế giới mười phương hết lòng thân cận nói lên tất cả tội.
Hai là, vì tất cả chúng sinh mà khuyến thỉnh chư Phật nói pháp thâm diệu.
Ba là, tùy hỷ công đức sở hữu của tất cả chúng sinh.
Bốn là, tất cả thiện căn công đức sở hữu đều đem hồi hướng về Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Lúc bấy giờ, trời Đế Thích bạch đức Phật rằng :
– Thưa đức Thế Tôn ! Con trai con gái có sẵn của thế gian, đối với hạnh Đại Thừa, có người có thể tu hành, có kẻ chẳng thể tu hành thì làm sao có thể được tùy hỷ thiện căn công đức của tất cả chúng sinh ?
Đức Phật dạy rằng :
– Này thiện nam tử ! Nếu có chúng sinh tuy đối với Đại Thừa chưa có thể tu tập nhưng ngày đêm sáu thời, trật áo vai phải, gối phải quì xuống đất, chắp tay cung kính, một lòng chuyên niệm, khi làm tùy hỷ được phước không lường và nên nói lên rằng : “Tất cả chúng sinh của thế giới mười phương hiện tại tu hành thí, giới, tâm, tuệ, con nay đều sinh ra tùy hỷ. Do tạo được phước tùy hỷ như vậy nên nhất định chứng được quả Tôn trọng thù thắng vô thượng vô đẳng tối diệu. Như vậy sở hữu thiện căn của tất cả chúng sinh quá khứ vị lai con đều tùy hỷ. Lại đối với công đức sở hữu của Sơ hành Bồ tát phát tâm Bồ đề hiện tại qua trăm đại kiếp hành hạnh Bồ tát có đại công đức, được Vô sinh nhẫn, đến Bất thoái chuyển Nhất Sinh Bổ Xứ. Sự tích chứa tất cả công đức như vậy con đều chí tâm tùy hỷ tán thán. Sở hữu công đức tùy hỷ tán thán của tất cả Bồ tát quá khứ, vị lai cũng lại như vậy. Lại đối với tất cả các đức Phật Ứng Chánh Biến Tri trong mười phương thế giới hiện tại đã chứng diệu Bồ Đề, vì độ chúng sinh nên chuyển pháp luân Vô thượng, làm pháp thí vô ngại, đánh trống pháp, thổi loa pháp, dựng pháp tràng, mưa pháp vũ, thương xót khuyến hóa tất cả chúng sinh đều khiến cho họ tín thọ, đều nhờ pháp thí được sung túc an lạc vô tận. Lại nữa, sở hữu công đức tích tập thiện căn của Bồ tát, Thanh Văn, Độc Giác, hoặc có chúng sinh chưa đủ những công đức như vậy thì đều khiến cho đầy đủ con đều tùy hỷ ! Như vậy công đức sở hữu của các đức Phật, Bồ tát, Thanh Văn, Độc Giác quá khứ, vị lai con cũng đều chí tâm tùy hỷ tán thán”. Này thiện nam tử ! Tùy hỷ như vậy sẽ được vô lượng công đức tụ. Như chúng sinh sở hữu của ba ngàn đại thiên thế giới nhiều như cát sông Hằng đều đoạn phiền não, thành A la hán mà nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân trọn đời thường dùng y phục, ẩm thực, ngọa cụ, y dược thượng diệu vì những A la hán trên cúng dường thì công đức như vậy chẳng bì kịp một phần ngàn của công đức tùy hỷ nêu ở trước. Vì sao vậy ? Vì công đức cúng dường có số có lượng, chẳng nhiếp lấy tất cả các công đức. Công đức tùy hỷ không lượng không số, có thể nhiếp lấy tất cả công đức của ba đời. Vậy nên nếu người muốn cầu tăng trưởng thắng thiện căn thì nên tu công đức tùy hỷ như vậy. Nếu có nữ nhân nguyện chuyển nữ thân làm nam tử thì cũng nên tu tập công đức tùy hỷ, nhất định tùy tâm hiện thành nam tử.
Bấy giờ, trời Đế Thích bạch đức Phật rằng :
– Thưa đức Thế Tôn ! Con đã biết công đức tùy hỷ, công đức khuyến thỉnh ! Nguyện xin ngài vì con nói về việc, muốn khiến cho tất cả Bồ tát vị lai sẽ chuyển pháp luân, Bồ tát hiện tại tu hành chân chánh !
Đức Phật bảo trời Đế Thích rằng :
– Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nguyện cầu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác thì cần phải tu hành đạo Thanh Văn, Độc Giác, Đại Thừa. Người này ở trong ngày đêm sáu thời với uy nghi như đã nói ở trước mà một lòng chuyên niệm, nói lên như vầy: “Con nay quy y tất cả các đức Phật Thế Tôn khắp mười phương đã được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, chưa chuyển pháp luân vô thượng, muốn xả thân vào Niết Bàn. Con đều chí thành đảnh lễ khuyến thỉnh chư Phật ấy chuyển Đại pháp luân, mưa Đại pháp vũ, thắp đèn Đại pháp, soi sáng đường chân lý, thí pháp vô ngại, không Bát Niết Bàn, trụ thế lâu dài, độ thoát an lạc tất cả chúng sinh... như đã nói ở trước.... cho đến an lạc vô tận ! Con nay đem công đức khuyến thỉnh này hồi hướng về Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Như những vị Đại Bồ tát quá khứ, vị lai và hiện tại đem công đức khuyến thỉnh hồi hướng về Bồ Đề, con cũng như vậy, công đức khuyến thỉnh hồi hướng về Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề !
Này thiện nam tử ! Giả sử có người dùng thất bảo chứa đầy trong ba ngàn đại thiên thế giới để cúng dường Như Lại.
Lại nếu có người khuyến thỉnh Như Lai chuyển Đại Pháp Luân thì sở đắc công đức so ra người này hơn người kia. Vì sao vậy ? Vì phước người kia là phước tài thí, người này là phước pháp thí. Này thiện nam tử ! Vả lại gác bỏ việc cúng dường (bố thí) thất bảo đầy trong ba ngàn đại thiên thế giới mà nếu có người dùng bảy báu chứa đầy trong hằng hà sa số đại thiên thế giới cúng dường tất cả các đức Phật thì công đức khuyến thỉnh cũng thắng hơn người đó. Do pháp thí ấy có năm điều thắng lợi. Những gì là năm ?
Một là, pháp thí gồm lợi mình, lợi người, còn tài thí chẳng vậy.
Hai là, pháp thí có thể khiến cho chúng sinh ra khỏi ba cõi, phước của tài thí chẳng ra khỏi Dục giới.
Ba là, pháp thí có thể tịnh pháp thân, tài thí chỉ tăng trưởng được sắc thân.
Bốn là, pháp thí vô cùng, tài thí hữu tận. Năm là, pháp thí có thể đoạn trừ vô minh, tài thí chỉ điều phục tham ái. Vậy nên, này thiện nam tử! Công đức khuyến thỉnh thật là vô lượng vô biên khó có thể ví dụ. Như ta thuở xưa khi hành đạo Bồ tát khuyến thỉnh chư Phật chuyển Đại Pháp Luân. Do thiện căn đó vậy nên ngày hôm nay tất cả Đế Thích, các Phạm vương.v.v... khuyến thỉnh ta chuyển Đại Pháp Luân.
Này thiện nam tử ! Thỉnh chuyển pháp luân là muốn độ thoát an lạc cho các chúng sinh nên ta ở đời xưa, làm hạnh Bồ đề, khuyến thỉnh Như Lai trụ lâu ở thế gian, chớ Bát Niết Bàn. Nương vào thiện căn này ta được mười lực, bốn vô sở úy, bốn vô ngại biện, Đại từ, Đại bi, chứng được vô số pháp bất cộng.
Ta sẽ vào với vô dư Niết Bàn, chánh pháp của ta trụ thế lâu dài, pháp thân của ta thì thanh tịnh không gì sánh với đủ thứ diệu tướng, vô lượng trí tuệ, vô lượng tự tại, vô lượng công đức khó có thể nghĩ bàn, tất cả chúng sinh đều nhờ lợi ích mà trăm ngàn vạn kiếp nói chẳng thể hết. Pháp thân nhiếp chứa tất cả các pháp mà tất cả các pháp chẳng nhiếp lấy pháp thân. Pháp thân thường trụ chẳng rơi vào Thường kiến, tuy lại đoạn diệt nhưng cũng chẳng phải đoạn kiến, có thể phá hoại đủ thứ dị kiến của chúng sinh, có thể sinh ra đủ thứ chân kiến của chúng sinh, có thể mở sự trói buộc của tất cả chúng sinh, không trói buộc gì mà chẳng mở được, có thể gieo trồng những căn bản thiện của chúng sinh, người chưa thành thục thì khiến cho thành thục, người đã thành thục thì khiến cho giải thoát,
không tác không động lìa xa náo loạn, tịch tịnh vô vi, tự tại an lạc, qua khỏi ba đời mà có thể hiện ba đời, sinh ra cảnh giới của Thanh Văn, Độc Giác việc tu hành của các Đại Bồ tát, thể của tất cả Như Lai không có khác.
Những điều này đều do sức thiện căn công đức khuyến thỉnh. Như vậy pháp thân thì ta nay đã được. Vậy nên, nếu có người muốn được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác thì ở trong các Kinh, một câu, một bài tụng, vì người giải nói được thiện căn công đức còn không hạn lượng, huống gì là khuyến thỉnh Như Lai chuyển Đại pháp luân, trụ thế lâu dài, không Bát Niết Bàn !
Trời Đế Thích lại bạch đức Phật rằng :
– Thưa đức Thế Tôn ! Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân vì cầu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, tu đạo Tam Thừa thì thiện căn sở hữu làm sao hồi hướng về trí Nhất Thiết Trí ?
Đức Phật bảo trời Đế Thích rằng :
– Này thiện nam tử ! Nếu có chúng sinh muốn cầu Bồ Đề, tu đạo Tam thừa mà thiện căn sở hữu nguyện hồi hướng thì phải ngày đêm sáu thời ân cần trân trọng, chí tâm nói lời như vầy : “Con từ sinh tử vô thỉ đến nay, ở chỗ Tam Bảo tu hành thành tựu, sở hữu được thiện căn, thậm chí thí cho loài súc sinh một nắm đồ ăn, hoặc dùng lời nói tốt lành hòa giải tranh tụng, hoặc thọ Tam qui và các học xứ, hoặc lại sở hữu thiện căn sám hối, khuyến thỉnh, tùy hỷ.... Con nay tác khởi ý đều nhiếp lấy, đem bố thí trở lại cho tất cả chúng sinh, không có lòng hối tiếc, là giải thoát phần thiện căn đã nhiếp lấy, như sự tri kiến của Phật Thế Tôn chẳng thể xưng lường, thanh tịnh vô ngại. Như vậy thiện căn công đức sở hữu đều đem bố thí trở lại cho tất cả chúng sinh mà chẳng trụ tướng tâm, chẳng xả tướng tâm. Con cũng như vậy, đem hết thiện căn công đức bố thí trở lại cho tất cả chúng sinh, nguyện xin thu hoạch được đôi tay như ý, khuấy đảo vào hư không tuông ra báu thỏa mãn nguyện của chúng sinh, phú lạc vô tận, trí tuệ vô cùng, diệu pháp biện tài đều không trì trệ, cùng chung với chúng sinh đồng chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, được Nhất Thiết Trí. Rồi nhân thiện căn này lại sinh ra vô lượng thiện pháp cũng đem hồi hướng về Bồ Đề Vô Thượng.
Lại, như các Đại Bồ tát đời quá khứ khi tu hành, công đức thiện căn đều đem hồi hướng về Nhất Thiết Chủng Trí, Bồ tát hiện tại, vị lai cũng lại như vậy. Nhưng thiện căn công đức sở hữu của con cũng đều hồi hướng về Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Những thiện căn này con nguyện cùng chung với tất cả chúng sinh đều thành Chánh Giác. Như các đức Phật khác ngồi dưới cây Bồ Đề Đạo Tràng, thanh tịnh vô ngại chẳng thể nghĩ bàn, trụ ở vô tận pháp tạng Đà la ni, Thủ Lăng Nghiêm định, phá hoại vô lượng binh chúng của ma Ba Tuần nên thấy hiểu biết, nên có thể thông đạt... Tất cả như vậy chỉ trong một sát na đều soi rõ hết. Rồi ở trong hậu dạ (gần sáng) chứng được pháp cam lộ, chứng được nghĩa cam lộ... Con và chúng sinh đều nguyện đồng chứng Diệu Giác như vậy ! Giống như :
Vô Lượng Thọ Phật - Thắng Quang Phật - Diệu Quang Phật - A Súc Phật - Công Đức Thiện Quang Phật - Sư Tử Quang Minh Phật - Bách Quang Minh Phật - Võng Quang Minh Phật - Bảo Tướng Phật Bảo Diệm Phật - Diệm Minh Phật - Diệm Thịnh Quang Minh Phật - Cát Tường Thượng Vương Phật - Vi Diệu Thanh Phật - Diệu Trang Nghiêm Phật - Pháp Tràng Phật - Thượng Thắng Thân Phật - Khả Ái Sắc Thân Phật - Quang Minh Biến Chiếu Phật - Phạm Tịnh Vương Phật - Thượng Tính Phật... Những đức Như Lai Ứng Chánh Biến Tri như vậy ở quá khứ, vị lai và cả hiện tại, thị hiện ứng hóa được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, chuyển Vô Thượng Pháp luân vì độ chúng sinh... Con cũng như vậy (rộng nói như trên)”.
Này thiện nam tử ! Nam tử, nữ nhân tịnh tín đối với Phẩm Diệt Nghiệp Chướng của Kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương này mà thọ trì, đọc tụng, nhớ nghĩ chẳng quên, vì người khác giải nói rộng rãi thì được vô lượng vô biên đại công đức tụ. Vínhư chúng sinh sở hữu của ba ngàn đại thiên thế giới cùng một lúc đều được thành tựu thân người, được thân người rồi đều thành đạo Độc Giác.
Lại có thiện nam tử, thiện nữ nhân, trọn đời cung kính, tôn trọng, tứ sự cúng dường cho mỗi một vị Độc Giác, đều cúng thí thất bảo như núi Tu Di. Sau khi những vị Độc Giác này vào Niết Bàn người đó đều dùng trân bảo khởi dựng tháp cúng dường. Tháp ấy cao rộng, mười hai dũ thiện na, người đó dùng những hoa hương, tràng phan, bảo cái cúng dường luôn. Này thiện nam tử ! Ý ông thế nào ? Người đó thu hoạch công đức có nhiều không ?
Trời Đế Thích bạch rằng :
– Rất nhiều ! Thưa đức Thế Tôn !
– Này thiện nam tử ! Nếu lại có người đối với Phẩm Diệt Nghiệp Chướng của Kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương này mà thọ trì, đọc tụng, nhớ nghĩ chẳng quên, vì người khác giải nói rộng rãi thì công đức thu hoạch được của họ đối với công đức cúng dường nói ở trước trăm phần chẳng bằng một, trăm ngàn vạn ức phần cho đến tính lường, thí dụ cũng chẳng thể bì kịp. Vì sao vậy ? Vì thiện nam tử, thiện nữ nhân đó trụ ở trong Chính hạnh, khuyến thỉnh tất cả các đức Phật mười phương chuyển pháp luân Vô thượng, đều vì các đức Phật hoan hỷ khen ngợi. Này thiện nam tử ! Như lời ta nói, trong tất cả thí thì pháp thí là hơn hết. Vậy nên, này thiện nam tử ! Ở chỗ Tam Bảo thiết lập những sự cúng dường chẳng thể sánh được ! Khuyên thọ Tam Qui, giữ tất cả giới không có hủy phạm, ba nghiệp chẳng rỗng không chẳng thể sánh được ! Tất cả chúng sinh của tất cả thế giới tùy sức lực, tùy khả năng, tùy sở nguyện ưa thích, ở trong ba thừa khuyên phát tâm Bồ Đề, chẳng thể sánh được ! Chúng sinh sở hữu của tất cả thế giới ở trong ba đời đều được vô ngại, mau chóng khiến cho thành tựu vô lượng công đức, chẳng thể sánh được ! Tất cả chúng sinh của đất nước ba đời khiến cho không chướng ngại được Tam Bồ Đề, chẳng thể sánh được ! Tất cả chúng sinh của đất nước ba đời mà khuyên khiến cho mau chóng ra khỏi khổ của bốn đường ác, chẳng thể sánh được ! Tất cả chúng sinh của đất nước ba đời mà khuyên khiến cho họ trừ diệt nghiệp ác cực trọng, chẳng thể sánh được ! Tất cả khổ não mà khuyên khiến cho họ giải thoát, chẳng thể sánh được ! Tất cả bố úy, khổ não bức thiết đều khiến cho họ được giải thoát, chẳng thể sánh được ! Công đức sở hữu của tất cả chúng sinh, ở trước chư Phật ba đời, khuyên khiến cho họ tùy hỷ phát nguyện Bồ Đề, chẳng thể sánh được ! Khuyên trừ ác hạnh, nghiệp mạ nhục, tất cả công đức đều nguyện thành tựu, trong cuộc sống sở tại khuyến thỉnh cúng dường, tôn trọng, tán thán, tất cả Tam bảo, khuyến thỉnh chúng sinh tịnh tu phước hạnh, thành tựu viên mãn Bồ Đề, chẳng thể sánh được ! Vậy nên ông phải biết, khuyến thỉnh Tam Bảo trong ba đời của tất cả thế giới, khuyến thỉnh đủ đầy sáu Ba la mật, khuyến thỉnh chuyển pháp luân Vô thượng, khuyên thỉnh trụ thế trải qua vô lượng kiếp, tuyên nói vô lượng diệu pháp thậm thâm thì công đức không gì có thể so sánh được !
Bấy giờ, trời Đế Thích và Nữ thần sông Hằng, vô lượng Phạm vương, Tứ Đại Thiên Vương đứng dậy, trật ái vai phải, gối phải quì xuống đất, chắp tay đảnh lễ, bạch đức Phật rằng :
– Thưa đức Thế Tôn ! Chúng con đều được nghe kinh Kim Quang Minh Tối Thắng vương này, nay đều thọ trì, đọc tụng thông lợi,vì người khác giải nói rộng rãi và nương theo pháp này mà trụ. Vì sao vậy ? Thưa đức Thế Tôn ! Vì chúng con muốn cầu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, thuận theo nghĩa này đủ thứ thắng tướng, đúng như pháp tu hành !
Bấy giờ, Phạm Vương, trời Đế Thích.v.v... ở chỗ nói pháp đều dùng đủ thứ hoa Mạn đà la tung lên trên đức Phật, đất của ba ngàn đại thiên thế giới chấn động lớn, tất cả trống trời và các âm nhạc chẳng tấu mà tự kêu lên, phóng ra ánh sáng màu vàng cùng khắp thế giới, phát ra âm thanh vi diệu. Trời Đế Thích bạch đức Phật rằng :
– Thưa đức Thế Tôn ! Những sự kiện này đều chính là lực uy thần của Kinh Kim Quang Minh, từ bi cứu hộ khắp, đủ thứ lợi ích, đủ thứ tăng trưởng thiện căn Bồ tát, diệt các nghiệp chướng !
Đức Phật dạy rằng :
– Đúng vậy ! Đúng vậy ! Đúng như lời ông nói ! Vì sao vậy ? Này thiện nam tử ! Ta nhớ thuở xưa, qua vô lượng trăm ngàn atăngkỳ kiếp có đức Phật hiệu là Bảo Vương Đại Quang Chiếu Như Lai Ứng Chánh Biến Tri xuất hiện ở thế gian, trụ thế sáu trăm tám mươi ức kiếp. Bấy giờ, đức Như Lai Bảo Vương Đại Quang Chiếu vì muốn độ thoát người, trời, Đế Thích, Phạm vương, Sa môn, Bà la môn... tất cả chúng sinh khiến cho được an lạc. Đang khi xuất hiện, hội thuyết pháp đầu tiên độ được trăm ngàn ức ức vạn chúng đều được quả A la hán, các lậu đã hết, ba minh, sáu thông tự tại vô ngại. Ở hội thứ hai, lại độ được chín mươi ngàn ức ức vạn chúng đều được quả A la hán, các lậu đã hết, ba minh, sáu thông tự tại vô ngại. Ở hội thứ ba, lại độ được chín mươi tám ngàn ức ức vạn chúng đều được quả A la hán, viên mãn như trên.
Này thiện nam tử ! Ta vào lúc ấy, làm thân nữ nhân tên là Phước Bảo Quang Minh, ở hội thứ ba, được gần gũi đức Thế Tôn, thọ trì, đọc tụng Kinh Kim Quang Minh này, vì người khác giải nói rộng rãi, cầu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Đức Thế Tôn đó vì ta thọ ký rằng : “Người con gái Phước Bảo Quang Minh này vào đời vị lai sẽ được làm Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri Minh Hành Túc Thiện Thệ Thế Gian Giải Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu Thiên Nhân Sư Phật Thế Tôn”. Sau khi xả bỏ thân nữ, từ đó về sau vượt khỏi bốn đường ác, sinh ra trong cõi người, trời, hưởng thọ thượng diệu lạc, tám mươi bốn trăm ngàn đời làm Chuyển Luân vương... cho đến ngày hôm nay được thành Chánh Giác, danh xưng vang khắp tràn đầy thế giới.
Đại chúng của pháp hội bỗng nhiên đều thấy đức Như Lai Bảo Vương Đại Quang Chiếu đang chuyển Pháp Luân Vô Thượng, nói pháp vi diệu.
– Này thiện nam tử ! - Đức Phật nói tiếp - Cách thế giới Tác Ha (Ta Bà) này về phương Đông, qua trăm ngàn hằng hà sa số cõi Phật, có thế giới tên là Bảo Trang Nghiêm, đức Như Lai Bảo Vương Đại Quang Chiếu ấy, nay đang ở tại cõi đó, chưa Bát Niết Bàn, nói pháp vi diệu, rộng hóa độ quần sinh. Người mà các ông thấy chính là đức Phật kia !
Này thiện nam tử ! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nghe danh hiệu đức Như Lai Bảo Vương Đại Quang Chiếu này thì đối với Bồ tát địa được Bất Thoái Chuyển, đến Đại Niết Bàn. Nếu có nữ nhân nghe danh hiệu đức Phật này thì lúc sắp mạng chung được thấy đức Phật đó đến chỗ của người ấy, đã thấy đức Phật rốt ráo chẳng lại thọ thân nữ nữa. Này thiện nam tử ! Kinh điển vi diệu Kim Quang Minh này có đủ thứ lợi ích, đủ thứ thiện căn Bồ tát tăng trưởng, diệt các nghiệp chướng.
Này thiện nam tử ! Nếu có Bí sô, Bí sô ni, Ô ba tác ca, Ô ba tư ca (ưu bà tắc, ưu bà di), bất kỳ ở đâu mà vì người giảng nói Kinh điển vi diệu Kim Quang Minh này thì ở đất nước ấy đều thu hoạch bốn thứ thiện căn phước lợi. Những gì là bốn ? Một là, quốc vương không bệnh, lìa khỏi các tai ách. Hai là, thọ mạng lâu dài không có chướng ngại. Ba là, không các oán địch, binh chúng dũng kiện. Bốn là, yên ổn giàu thịnh vui sướng, chánh pháp lưu thông. Vì sao vậy ? Vì những nhân vương như vậy thường được Đế Thích, Phạm Vương, Tứ Thiên Vương, chúng Dạ xoa chung nhau bảo hộ.
Bấy giờ, đức Thế Tôn bảo thiên chúng rằng :
– Này những thiện nam tử ! Việc này thật chăng ?
Lúc đó, vô lượng Đế Thích, Phạm Vương, Tứ Thiên Vương và chúng Dạ xoa đều cùng lúc đồng thanh đáp đức Thế Tôn rằng:
– Đúng vậy ! Đúng vậy ! Nếu có đất nước giảng nói, đọc tụng diệu Kinh vương này thì đối với những quốc chủ đó, chúng con bốn vua thường đến ủng hộ, đi đứng chung cùng. Vua ấy, nếu có tất cả tai chướng và các oán địch thì bốn vua chúng con đều khiến cho tiêu diệt hết, ưu sầu dịch bệnh cũng khiến cho trừ khỏi, tăng thêm thọ mạng, cảm ứng điềm tốt lành, sở nguyện thỏa lòng, tâm luôn sinh ra vui mừng. Chúng con cũng có thể khiến cho trong nước ấy quân binh sở hữu đều dũng kiện !
Đức Phật khen rằng :
– Hay thay ! Hay thay ! Này thiện nam tử ! Đúng như lời nói của ông ! Các ông phải tu hành ! Vì sao vậy ? Vì các quốc chủ này khi theo đúng như pháp hành sự thì tất cả nhân dân theo vua tu tập. Theo đúng như pháp tu hành thì các ông đều nhờ sắc lực thắng lợi, cung điện quang minh, quyến thuộc cường thịnh !
Đế Thích, Phạm Vương.v.v.... bạch đức Phật rằng :
– Đúng vậy ! Thưa đức Thế Tôn !
Đức Phật dạy rằng :
– Nếu có chỗ giảng đọc Kinh điển vi diệu này lưu thông thì Đại thần, Phụ tướng ở trong nước ấy có bốn thứ lợi ích. Những gì là bốn ? Một là, hòa mục thân nhau, tôn trọng ái niệm. Hai là, thường được sự ái trọng của nhân vương, cũng được sự tuân kính của Sa môn, Bà la môn, nước lớn, nước nhỏ. Ba là, khinh tài (của cải) trọng pháp, chẳng cầu thế lợi, danh tiếng tốt khắp truyền, được mọi người kính ngưỡng. Bốn là, thọ mạng kéo dài yên ổn khoái lạc. Đó gọi là bốn thứ lợi ích. Nếu có đất nước tuyên nói Kinh này thì Sa môn, Bà la môn được bốn thứ thắng lợi. Những gì là bốn ? Một là y phục, ẩm thực, ngọa cụ, y dược không có gì thiếu thốn. Hai là, đều được an tâm suy nghĩ đọc tụng. Ba là, nương vào núi rừng được trụ ở an vui. Bốn là, theo sở nguyện của lòng đều được thỏa mãn đầy đủ. Đó gọi là bốn thứ thắng lợi.
Nếu có đất nước tuyên nói Kinh này thì tất cả nhân dân đều được giàu thịnh an vui, không có các dịch bệnh, thương buôn qua lại thu hoạch nhiều của cải báu, đầy đủ thắng phước. Đó gọi là đủ thứ công đức thắng lợi.
Lúc bấy giờ, Phạm Vương, Đế Thích, Tứ Thiên Vương và các đại chúng bạch đức Phật rằng :
– Thưa đức Thế Tôn ! Ý nghĩa thậm thâm của Kinh điển như vậy, nếu hiện tại thì phải biết ba mươi bảy thứ trợ Bồ Đề pháp của Như Lai trụ thế chưa diệt. Nếu khi Kinh điển này diệt hết thì chánh pháp cũng diệt !
Đức Phật dạy rằng :
– Đúng vậy ! Đúng vậy ! Này thiện nam tử ! Vậy nên các ông đối với Kinh Kim Quang Minh này, một câu, một bài tụng, một phẩm, một bộ đều phải một lòng chánh đọc tụng, chánh nghe giữ, chánh tư duy, chánh tu tập và vì các chúng sinh tuyên nói, lưu bố rộng rãi thì (trường dạ) mãi mãi an vui, phước lợi vô biên !
Các đại chúng nghe đức Phật nói rồi đều nhờ ơn thắng đức, hoan hỷ thọ trì.
---
Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh quyển 4
PHẨM THỨ SÁU : TỐI TỊNH ĐỊA ĐÀ LA NI
Lúc bấy giờ, Bồ tát Sư Tử Tướng Vô Ngại Quang Diệm cùng với vô lượng ức chúng đứng dậy, trật áo vai phải, gối phải quì xuống đất, chắp tay, cung kính đảnh lễ dưới chân đức Phật, dùng đủ thứ hương hoa, tràng phan, bảo cái cúng dường rồi bạch đức Phật rằng :
– Thưa đức Thế Tôn ! Dùng bao nhiêu nhân duyên để được tâm Bồ Đề ? Cái gì là tâm Bồ Đề ? Thưa đức Thế Tôn ! Tức là đối với Bồ Đề, tâm hiện tại chẳng thể được, tâm vị lai chẳng thể được, tâm quá khứ chẳng thể được, lìa khỏi Bồ Đề thì tâm Bồ Đề cũng chẳng thể được. Bồ Đề là chẳng thể ngôn thuyết, tâm cũng không sắc, không tướng, không có sự nghiệp, chẳng phải có thể tạo tác, chúng sinh cũng chẳng thể được, cũng chẳng thể biết. Thưa đức Thế Tôn ! Thì làm sao nghĩa thậm thâm của các pháp mà có thể được biết.
Đức Phật dạy rằng :
– Này thiện nam tử ! Đúng vậy ! Đúng vậy ! Bồ Đề vi diệu, sự nghiệp tạo tác đều chẳng thể được. Nếu lìa khỏi Bồ Đề thì tâm Bồ Đề cũng chẳng thể được. Bồ Đề là chẳng thể nói, tâm cũng chẳng thể nói, không sắc, không tướng, không sự nghiệp mà tất cả chúng sinh cũng chẳng thể được. Vì sao vậy ? Vì Bồ Đề và tâm đồng với chân như mà năng chứng, sở chứng đều bình đẳng, chẳng phải không các pháp mà có thể rõ biết. Này thiện nam tử ! Đại Bồ tát biết như vậy thì mới được gọi là thông đạt các pháp, khéo nói Bồ Đề và tâm Bồ Đề. Tâm Bồ Đề chẳng phải quá khứ, chẳng phải vị lai, chẳng phải hiện tại. Tâm cũng như vậy, chúng sinh cũng như vậy, ở trong hai tướng thật chẳng thể được. Vì sao vậy ? Vì do tất cả pháp đều không sinh vậy. Bồ Đề chẳng thể được, tên Bồ Đề cũng chẳng thể được; chúng sinh, tên chúng sinh chẳng thể được; Thanh Văn, tên Thanh Văn chẳng thể được; Độc Giác, tên Độc Giác chẳng thể được; Bồ tát, tên Bồ tát chẳng thể được; Phật, tên Phật chẳng thể được; hành, chẳng phải hành chẳng thể được; tên hành, chẳng phải hành chẳng thể được. Do chẳng thể được nên ở trong tất cả pháp tịch tịnh mà được an trụ. Những cái này nương theo tất cả thiện căn công đức mà được sinh khởi.
Này thiện nam tử ! Ví như vua núi Tu Di báu ích lợi nhiều cho tất cả, tâm Bồ Đề này lợi ích cho tất cả chúng sinh. Đó gọi là nhân thứ nhất Bố thí Ba la mật.
Này thiện nam tử ! Ví như đại địa giữ gìn mọi vật. Đó gọi là nhân thứ hai Trì giới Ba la mật.
Ví như Sư tử có uy lực lớn, một mình bước đi không sợ, lìa khỏi sự kinh sợ. Đó gọi là nhân thứ ba Nhẫn nhục Ba la mật.
Ví như vừng gió Na la diên lực dũng tráng nhanh chóng, lòng chẳng thoái lui. Đó gọi là nhân thứ tư Cần sách (tinh tấn) Ba la mật. Ví như lầu thất bảo thưởng ngoạn có đường bốn thềm bậc, gió mát thổi đến bốn cửa, hưởng thụ niềm vui yên ổn, pháp tạng tịnh lự tràn đầy. Đó gọi là nhân thứ năm Tịnh Lự (Thiền) Ba la mật.
Ví như ánh sáng vừng mặt trời sáng chói chang, lòng này nhanh chóng có thể phá diệt tối tăm của vô minh sinh tử. Đó gọi là nhân thứ sáu Trí tuệ Ba la mật.
Ví như vị thương chủ có thể khiến cho tất cả tâm nguyện thỏa mãn đầy đủ, tâm này có thể qua khỏi con đường hiểm nguy sinh tử, được công đức báu. Đó gọi là nhân thứ bảy Phương tiện Thắng Trí Ba la mật.
Ví như mặt trời sạch tròn đầy, không bị che ngăn, lòng này có thể đối với tất cả cảnh giới thanh tịnh đầy đủ. Đó gọi là nhân thứ tám Nguyện Ba la mật.
Ví như vị Chủ Binh Bảo Thần của Chuyển Luân Thánh Vương tùy ý tự tại, lòng này giỏi có thể trang nghiêm đất nước Phật thanh tịnh, công đức không lường, lợi ích rộng cho quần sinh. Đó gọi là nhân thứ chín Lực Ba la mật.
Ví như hư không và Chuyển Luân Thánh Vương, tâm này có thể đối với tất cả cảnh giới không có chướng ngại, đối với tất cả chỗ đều được tự tại đi đến địa vị Quán đảnh. Đó gọi là nhân thứ mười Trí Ba la mật.
Này thiện nam tử ! Đó gọi là mười thứ nhân Bồ Đề tâm của Đại Bồ tát. Mười nhân như vậy, các ông phải tu hành !
Này thiện nam tử ! Nương theo năm thứ pháp, Đại Bồ tát thành tựu Bố thí Ba la mật. Những gì là năm ? Một là tín căn, hai là Từ bi, ba là tâm không cầu dục, bốn là nhiếp thọ tất cả chúng sinh, năm là nguyện cầu trí Nhất Thiết Trí. Này thiện nam tử ! Đó gọi là Đại Bồ tát thành tựu Bố thí Ba la mật.
Này thiện nam tử ! Lại nương vào năm pháp, Đại Bồ tát thành tựu Trì giới Ba la mật. Những gì là năm ? Một là ba nghiệp thanh tịnh, hai là chẳng vì tất cả chúng sinh tạo tác nhân duyên phiền não, ba là đóng những con đường ác, mở cửa đường thiện, bốn là qua khỏi địa vị Thanh Văn, Độc Giác, năm là tất cả công đức đều đủ đầy hết. Này thiện nam tử ! Đó gọi là Đại Bồ tát thành tựu Trì Giới Ba la mật.
Này thiện nam tử ! Lại nương vào năm pháp, Đại Bồ tát thành tựu Nhẫn Nhục Ba la mật. Những gì là năm ? Một là, có thể điều phục tham sân phiền não. Hai là, chẳng tiếc thân mạng, chẳng cầu an lạc, tư tưởng Chỉ tức. Ba là, suy nghĩ nghiệp đã qua, gặp khổ có thể nhẫn. Bốn là phát tâm từ bi, thành tựu các thiện căn của chúng sinh. Năm là, được pháp nhẫn vô sinh thậm thâm. Này thiện nam tử ! Đó gọi là Đại Bồ tát thành tựu Nhẫn Nhục Ba la mật.
Này thiện nam tử ! Lại nương vào năm pháp, Đại Bồ tát thành tựu Cần Sách Ba la mật. Những gì là năm ? Một là, cùng các phiền não chẳng ưa ở chung. Hai là, phước đức chưa đủ, chẳng thọ an lạc. Ba là, đối với các việc làm khó, làm khổ chẳng sinh lòng chán nản. Bốn là dùng đại Từ Bi nhiếp thọ lợi ích, phương tiện thành thục tất cả chúng sinh. Năm là, nguyện cầu Bất Thoái Chuyển địa. Này thiện nam tử ! Đó gọi là Đại Bồ tát thành tựu Cần Sách Ba la mật.
Này thiện nam tử ! Lại nương vào năm pháp, Đại Bồ tát thành tựu Tịnh Lự Ba la mật. Những gì là năm ? Một là đối với các thiện pháp nhiếp lấy khiến cho chẳng tan mất. Hai là, thường nguyện Giải thoát, chẳng chấp trước Nhị biên. Ba là, nguyện được thần thông, thành tựu các thiện căn của chúng sinh. Bốn là, vì sạch pháp giới, diệt trừ lòng cấu bẩn. Năm là vì đoạn trừ căn bản phiền não của chúng sinh. Này thiện nam tử ! Đó gọi là Đại Bồ tát thành tựu Tịnh Lự Ba la mật.
Này thiện nam tử ! Lại nương vào năm pháp, Đại Bồ tát thành tựu Trí Tuệ Ba la mật. Những gì là năm ? Một là, thường đối với tất cả các đức Phật, Bồ tát và người minh trí cúng dường thân cận, chẳng sinh nhàm chán, quay lưng. Hai là, các đức Phật Như Lai nói pháp thậm thâm, lòng thường ưa nghe không có chán đủ. Ba là, lý chân lẻ tục thắng trí giỏi phân biệt. Bốn là, thấy tu phiền não đều chóng đoạn trừ. Năm là, kỹ thuật thế gian, pháp ngũ minh đều thông đạt hết. Này thiện nam tử ! Đó gọi là Đại Bồ tát thành tựu Trí Tuệ Ba la mật.
Này thiện nam tử ! Lại nương vào năm pháp, Đại Bồ tát thành tựu Phương Tiện Ba la mật. Những gì là năm ? Một là, đối với ý của tất cả chúng sinh ưa phiền não, lòng làm sai biệt đều thông đạt hết. Hai là, vô lượng cửa của các pháp đối trị, lòng đều hiểu rõ. Ba là, định (thiền định) Đại Từ Bi ra vào tự tại. Bốn là, đối với các Ba la mật đều nguyện tu hành, thành tựu đầy đủ. Năm là, tất cả Phật Pháp đều nguyện liễu đạt, nhiếp thọ không sót. Này thiện nam tử ! Đó gọi là Đại Bồ tát thành tựu Phương Tiện Thắng Trí Ba la mật.
Này thiện nam tử ! Lại nương vào năm pháp, Đại Bồ tát thành tựu Nguyện Ba la mật. Những gì là năm ? Một là, đối với tất cả pháp từ xưa đến nay chẳng sinh chẳng diệt, chẳng phải có, chẳng phải không, lòng được an trụ. Hai là, quan sát tất cả pháp tối diệu lý thú, lìa cấu bẩn, thanh tịnh, lòng được an trụ. Ba là, qua tất cả tưởng, chính là Chân Như gốc, không tác, không hành, chẳng khác, chẳng động, lòng được an trụ. Bốn là, vì muốn lợi ích việc của các chúng sinh nên đối tục đế lòng được an trụ. Năm là, đối với Xa ma tha (chỉ) và Tỳ bát xá na (quán) đồng thời vận hành, lòng được an trụ. Này thiện nam tử ! Đó gọi là Đại Bồ tát thành tựu Nguyện Ba la mật.
Này thiện nam tử ! Lại có năm pháp, Đại Bồ tát thành tựu Lực Ba la mật. Những gì là năm ?
Một là, dùng lực chánh trí có thể rõ tâm hạnh thiện ác của tất cả chúng sinh. Hai là, có thể khiến cho tất cả chúng sinh vào với pháp vi diệu thậm thâm. Ba là, tất cả chúng sinh luân hồi sinh tử theo duyên nghiệp của họ rõ biết như thật.
Bốn là, đối với ba thứ căn tính của các chúng sinh, dùng lực chánh trí có thể phân biệt biết. Năm là, đối với các chúng sinh theo đúng như lý vì họ giải nói, khiến cho họ gieo trồng thiện căn, thành thục, độ thoát đều là trí lực. Này thiện nam tử !
Đó gọi là Đại Bồ tát thành tựu Lực Ba la mật. Này thiện nam tử ! Lại nương vào năm pháp, Đại Bồ tát thành tựu Trí Ba la mật.
Những gì là năm ? Một là, có thể đối với các pháp phân biệt thiện ác. Hai là, đối với pháp đen, trắng xa lìa hay nhiếp thọ.
Ba là có thể đối với sinh tử, Niết Bàn chẳng chán, chẳng mừng. Bốn là, đủ hạnh phước trí, đến chỗ rốt ráo. Năm là, thọ Thắng Quán Đảnh, có thể được những pháp Bất Cộng của chư Phật và trí Nhất Thiết Trí.
Này thiện nam tử ! Đó gọi là Đại Bồ tát thành tựu Trí Ba la mật.
Này thiện nam tử ! Cái gì là nghĩa của Ba la mật ? Đó là : Tu tập thắng lợi là nghĩa của Ba la mật.
Thỏa mãn đầy đủ vô lượng đại trí thậm thâm là nghĩa của Ba la mật. Hành, phi hành pháp, lòng chẳng chấp trước là nghĩa của Ba la mật. Tội lỗi của sinh tử, công đức của Niết Bàn chánh giác, chánh quán là nghĩa của Ba la mật.
Kẻ ngu người trí đều nhiếp thọ hết là nghĩa của Ba la mật. Có thể hiện đủ thứ pháp bảo trân diệu là nghĩa của Ba la mật. Trí tuệ vô ngại giải thoát đủ đầy là nghĩa của Ba la mật.
Pháp giới, chúng sinh giới chánh phân biệt biết là nghĩa của Ba la mật. Thí.v.v... và trí có thể khiến cho đến chẳng thoái chuyển là nghĩa của Ba la mật. Vô sanh pháp nhẫn có thể khiến cho mãn túc là nghĩa của Ba la mật.
Thiện căn công đức của tất cả chúng sinh có thể khiến cho thành thục là nghĩa của Ba la mật. Có thể đối với Bồ Đề thành tựu mười lực của Phật, bốn vô sở úy, những pháp Bất Cộng.v.v... đều thành tựu hết là nghĩa của Ba la mật. Sinh tử Niết Bàn rõ không hai tướng là nghĩa của Ba la mật.
Tế độ tất cả là nghĩa của Ba la mật. Tất cả ngoại đạo đến gặn hỏi, vấn nạn giỏi có thể giải thích khiến cho họ bị hàng phục là nghĩa của Ba la mật. Có thể chuyển pháp luân mười hai diệu hạnh là nghĩa của Ba la mật.
Không sở trước, không sở kiến, không hoạn lụy là nghĩa của Ba la mật.
Này thiện nam tử ! Bồ tát Sơ địa thì tướng này hiện trước, ba ngàn đại thiên thế giới, vô lượng vô biên đủ thứ bảo tạng không đâu chẳng tràn đầy, Bồ tát đều thấy.
Này thiện nam tử ! Bồ tát Nhị địa thì tướng này hiện trước, ba ngàn đại thiên thế giới, đất bằng phẳng như bàn tay với vô lượng vô biên đủ thứ trân bảo thanh tịnh diệu sắc, đồ trang nghiêm, Bồ tát đều thấy.
Này thiện nam tử ! Bồ tát Tam địa thì tướng này hiện trước, tự thân dũng kiện, giáp, trượng trang nghiêm, tất cả oán địch đều có thể tiêu diệt, hàng phục, Bồ tát đều thấy.
Này thiện nam tử ! Bồ tát Tứ địa thì tướng này hiện trước, bốn phương gió chuyển với đủ thứ diệu hoa đều tung rải đầy khắp trên đất, Bồ tát đều thấy.
Này thiện nam tử ! Bồ tát Ngũ địa thì tướng này hiện trước, có diệu bảo nữ với những chuỗi ngọc báu nghiêm sức cùng khắp thân, đầu đội mũ hoa danh tiếng... dùng làm trang sức, Bồ tát đều thấy.
Này thiện nam tử ! Bồ tát Lục địa thì tướng này hiện trước, ao hoa thất bảo có bốn đường thềm, cát vàng trải khắp, thanh tịnh không bẩn, nước tám công đức tràn đầy, hoa Ôn bát la, hoa Câu vật đầu, hoa Phân đà lợi tùy theo chỗ mà trang nghiêm, ở chỗ ao hoa du hí khoái lạc, mát mẻ không gì sánh, Bồ tát đều thấy.
Này thiện nam tử ! Bồ tát Thất địa thì tướng này hiện trước, ở trước Bồ tát có các chúng sinh đáng đọa địa ngục, do lực Bồ tát liền được chẳng đọa, không có tổn thương, cũng không kinh sợ, Bồ tát đều thấy.
Này thiện nam tử ! Bồ tát Bát địa thì tướng này hiện trước, ở hai bên thân có sư tử vương để làm hộ vệ, tất cả mọi loài thú đều kinh sợ, Bồ tát đều thấy.
Này thiện nam tử ! Bồ tát Cữu địa thì tướng này hiện trước, vua Chuyển Luân Thánh với vô lượng ức chúng vây quanh cúng dường, trên đỉnh che bạch cái trang nghiêm bằng vô lượng những báu, Bồ tát đều thấy.
Này thiện nam tử ! Bồ tát Thập địa thì tướng này hiện trước, thân Như Lai màu vàng rực rỡ với vô lượng tịnh quang đều viên mãn, có vô lượng ức Phạm vương vây quanh cung kính cúng dường, chuyển pháp luân vô thượng vi diệu, Bồ tát đều thấy.
Này thiện nam tử ! Sao Sơ địa gọi là Hoan Hỷ (Piamuđità) ? Nghĩa là mới chứng được tâm xuất thế, cái xưa chưa được mà nay mới được, với đại sự dụng đúng như sở nguyện ấy đều thành tựu hết, sinh ra rất vui mừng.
Vậy nên tối sơ gọi là Hoan Hỷ. Những cấu bẩn vi tế, lỗi lầm phạm giới đều được thanh tịnh. Vậy nên Nhị địa gọi là Vô cấu (Vimalà).
Vô lượng ánh sáng trí tuệ tam muội, chẳng thể khuynh động, không thể tiêu diệt hàng phục, nghe trì Đà la ni lấy làm căn bản. Vậy nên Tam địa gọi là Minh địa (Prabhà - Karì). Dùng lửa trí tuệ thiêu đốt các phiền não, tăng trưởng ánh sáng, tu hành giác phẩm.
Vậy nên Tứ địa gọi là Diệm địa (Arcismati). Tu hành phương tiện thắng trí tự tại rất khó được, thấy tu phiền não khó phục có thể điều phục. Vậy nên Ngũ địa gọi là Nan Thắng (Sudurjayà).
Hành pháp nối tiếp nhau tỏ rõ hiển hiện, vô tướng tư duy đều hiện tiền. Vậy nên Lục địa gọi là Hiện Tiền (Abhimukti). Vô lậu, vô gián, vô tướng tư duy, giải thoát tam muội, tu hành xa vời.
Địa này thanh tịnh không có chướng ngại. Vậy nên Thất địa gọi là Viễn Hành (Dùramgamà). Vô tướng tư duy, tu được tự tại, các phiền não hạnh chẳng thể khiến cho động.
Vậy nên Bát địa gọi là Bất Động (Acalà). Nói tất cả pháp đủ thứ sai biệt đều được tự tại, không hoạn, không lụy, tăng trưởng trí tuệ, tự tại vô ngại. Vậy nên Cữu địa gọi là Thiện Tuệ (Sàdhamati).
Pháp thân như hư không, trí tuệ như đại vân đều có thể che đầy khắp tất cả. Vậy nên Thập địa gọi là Pháp Vân (Dharmamaghà).
Này thiện nam tử ! Vô minh chấp trước hữu tướng ngã pháp, vô minh bố úy sinh tử ác thú. Hai chướng vô minh này ở Sơ địa.
Vô minh vi tế học xứ ngộ phạm, vô minh phát khởi đủ thứ nghiệp hạnh. Hai chướng vô minh này ở Nhị địa. Vô minh chưa được khiến cho được ái trước, vô minh có thể chướng Tổng trì thù thắng.
Hai chướng vô minh này ở Tam địa. Vô minh đắm trước vị.v.v... đến vui vẻ, vô minh vi diệu tịnh pháp ái lạc. Hai chướng vô minh này ở Tứ địa.
Vô minh muốn quay lưng với sinh tử, vô minh mong đi đến Niết Bàn. Hai chướng vô minh này ở Ngũ địa. Vô minh quan sát hành lưu chuyển, vô minh tướng thô hiện tiền.
Hai chướng vô minh này ở Lục địa. Vô minh các tướng hiện hạnh vi tế, vô minh vô tướng tác ý hân lạc. Hai chướng vô minh này ở Thất địa.
Vô minh đối với vô tướng quán công dụng, vô minh chấp tướng tự tại. Hai chướng vô minh này ở Bát địa. Vô minh ở lời nói nghĩa và tên câu văn, hai thứ này vô ngại chưa khéo léo, vô minh đối với từ biện tài chẳng theo ý.
Hai chướng vô minh này ở Cữu địa. Vô minh đối với đại thần thông chưa được tự tại biến hiện, vô minh vi tế bí mật chưa có thể ngộ giải sự nghiệp. Hai chướng vô minh này ở Thập địa.
Vô minh đối với tất cả cảnh giới vi tế mà sự hiểu biết chướng ngại, vô minh cực nhỏ phiền não thô nặng. Hai chướng vô minh ở Phật địa.
Này thiện nam tử ! Đại Bồ tát ở trong Sơ địa hành Thí Ba la mật, ở Đệ nhị địa hành Giới Ba la mật, ở Đệ tam địa hành Nhẫn Ba la mật, ở Đệ tứ địa hành Cần Ba la mật, ở Đệ ngũ địa hành Định Ba la mật, ở Đệ lục địa hành Tuệ Ba la mật, ở Đệ thất địa hành Phương tiện thắng trí Ba la mật, ở Đệ bát địa hành Nguyện Ba la mật, ở Đệ cữu địa hành Lực Ba la mật, ở Đệ thập địa hành Trí Ba la mật.
Này thiện nam tử ! Đại Bồ tát tối sơ phát tâm nhiếp thọ có thể sinh ra Diệu bảo tam ma địa, Đệ nhị phát tâm nhiếp thọ có thể sinh ra Khả ái lạc tam ma địa, Đệ tam phát tâm nhiếp thọ có thể sinh ra Nan động tam ma địa, Đệ tứ phát tâm nhiếp thọ có thể sinh ra Bất thoái chuyển tam ma địa, Đệ ngũ phát tâm nhiếp thọ có thể sinh ra Bảo Hoa tam ma địa, Đệ lục phát tâm nhiếp thọ có thể sinh ra Nhật Viên Quang Diệm tam ma địa, Đệ thất phát tâm nhiếp thọ có thể sinh ra Nhất Thiết Nguyện Như Ý thành tựu tam ma địa, Đệ bát phát tâm nhiếp thọ có thể sinh ra Hiện Tiền Chứng trụ tam ma địa, Đệ cữu phát tâm nhiếp thọ có thể sinh ra Trí Tạng tam ma địa, Đệ thập phát tâm nhiếp thọ có thể sinh ra Dũng tiến tam ma địa.
Này thiện nam tử ! Đó gọi là mười thứ phát tâm của Đại Bồ tát. Này thiện nam tử !
Đại Bồ tát ở Sơ địa này được Đà la ni tên là Y Công Đức lực.
Bấy giờ, đức Thế Tôn liền nói chú rằng :
Đát điệt tha - Bô luật nỉ - Mạn nô lạt thế - Độc hổ - Độc hổ - Độc hổ - Gia bạt - Tô lợi du - A bà bà tát để - Gia bạt - Chiên đạt la - Điêu đát để - Đa bạt đạt lạc xoa mạn - Đan trà bát lợi ha lam - Củ lổ - Tá ha (Tadỷathà pùrni mantrate tuhu tuhu tuhu yava-sirya avabhàsati yava - candra cukuti tavata raksa mam canda pariharam kuru svàhà).
Này thiện nam tử ! Đà la ni này là lời nói của hơn một hằng hà sa số các đức Phật vì ủng hộ Đại Bồ tát Sơ địa. Nếu có người tụng trì chú Đà la ni này thì được thoát tất cả nỗi kinh sợ như là cọp, sói, sư tử... các loài ác thú, tất cả ác quỉ, người chẳng phải người.v.v... oán tặc, tai ngược và các khổ não... Giải thoát năm chướng, chẳng quên nghĩ đến Sơ địa.
Này thiện nam tử ! Đại Bồ tát ở Đệ nhị địa được Đà la ni gọi là Thiện An Lạc Trụ :
Đát điệt tha - Ôn xiển lí - Chất lí - Chất lí - Ôn xiển la xiển la - Nam thiện đổ thiện đổ ôn xiển lí - Hổ lỗ hổ lỗ - Tá ha (Tadyathà untali ‘Siri ‘Siri untali tannam jant jantu untali huru svàhà).
Này thiện nam tử ! Đà la ni này là lời nói của hơn hai lần cát sông Hằng các đức Phật vì ủng hộ Đại Bồ tát Nhị địa. Nếu có người trì tụng chú Đà la ni này thì thoát khỏi những nỗi kinh sợ ác thú, ác quỉ, người chẳng phải người.v.v... oán tặc, tai ngược và các khổ não. Giải thoát năm chướng, chẳng quên nghĩ đến Nhị địa.
Này thiện nam tử ! Đại Bồ tát ở Đệ tam địa được Đà la ni gọi là Nan Thắng lực :
Đát điệt tha - Đan trạch - Chỉ bát - Trạch chỉ - Yết lạt trí cao lạt trí - Kê do lý - Đan trí lý - Tá ha (Tadyathà tantaki pautaki karati kaurati keyuri svàhà).
Này thiện nam tử ! Đà la ni này là lời nói của hơn ba lần cát sông Hằng các đức Phật vì ủng hộ Đại Bồ tát Tam địa. Nếu có người trì tụng chú Đà la ni này thì thoát được những nỗi kinh sợ ác thú, ác quỉ, người chẳng phải người.v.v... oán tặc, tai ngược và các khổ não. Giải thoát năm chướng, chẳng quên nghĩ đến Tam địa. Này thiện nam tử ! Đại Bồ tát ở Tứ địa được Đà la ni tên là Đại Lợi Ích :
Đát điệt tha - Thất lị thất lị - Đà nhị nỉ đà nhị nỉ - Đà lí đà lí nỉ - Thất lị thất lị nỉ - Tỳ xá la ba thế ba thỉ ná - Bạn đà nhị đế - Tá ha (Tadyathà ‘siri ‘siri damini damini daridarini ‘siri‘sirini vicara pacipacina pandamite svàhà).
Này thiện nam tử ! Đà la ni này là lời nói của hơn bốn hằng hà sa số chư Phật vì hộ trì Đại Bồ tát Tứ địa Mahatát. Nếu có người trì tụng chú Đà la ni này thì thoát khỏi những sự kinh sợ ác thú, ác quỉ, người chẳng phải người.v.v... oán tặc, tai quái và các khổ não. Giải thoát năm chướng, chẳng quên nghĩ đến Tứ địa.
Này thiện nam tử ! Đại Bồ tát ở Đệ ngũ địa được Đà la ni gọi là Đủ thứ công đức trang nghiêm :
Đát điệt tha - Ha lý ha lý - Nỉ già lý già lý nỉ - Yết lạt ma - Nỉ tăng yết lạt ma - Nỉ - Tam ba sơn nỉ chiêm bạt nỉ - Tất đam bà nỉ mô hán nỉ - Toái diêm bộ bệ - Tá ha (Tadyathà darini siri - ‘sirini vicara paci-pacina pandamite svàhà).
Này thiện nam tử ! Đà la ni này là lời nói của hơn năm hằng hà sa số các đức Phật vì hộ trì Đại Bồ tát Ngũ địa. Nếu có người trì tụng chú Đà la ni này thì thoát khỏi các nỗi kinh sợ về ác thú, ác quỉ, người chẳng phải người.v.v... oán tặc, tai ngược và các khổ não, giải thoát năm chướng, chẳng quên nghĩ đến Ngũ địa.
Này thiện nam tử ! Đại Bồ tát ở Đệ lục địa được Đà la ni gọi là Viên Mãn Trí :
Đát điệt tha - Tỳ tỉ lí tỳ tỉ lí - Ma lí nỉ ca lí ca lí - Tỳ độ hán để - Lỗ lỗ lỗ lỗ - Chủ lỗ chủ lỗ - Đổ lỗ bà đỗ lỗ bà - Xả xả thiết giả bà lí sái ta - Tất để tát bà tát đỏa nam - Tất điện đổ mạn đát la bát đà nỉ - Tá ha (Tadyathà vitori vitorim arini narini kiri kiri vitohanti ruru - ruru curu curu durra duruva ‘sa‘sa ‘saccha varísa svasti sasvasattvànàm siddhyanty maya mantra padàni svàhà).
Này thiện nam tử ! Đà la ni này là lời nói của hơn sáu hằng hà sa số các đức Phật vì hộ trì Đại Bồ tát Lục địa. Nếu có người trì tụng chú Đà la ni này thì giải được những nỗi kinh sợ về ác thú, ác quỉ, người chẳng phải người.v.v... oán tặc, tai ngược và các khổ não, giải thoát năm chướng, chẳng quên nghĩ về Lục địa.
Này thiện nam tử ! Đại Bồ tát ở Thất địa được Đà la ni gọi là Pháp Thắng Hạnh :
Đát điệt tha - Chước ha - Chước ha - Lỗ chước ha chước ha chước ha lỗ - Tỳ bệ chỉ tỳ bệ chỉ - A mật lật đa đề hán nỉ - Bột lí sơn nỉ - A mật lí để chỉ - Bạc hổ chủ dũ - Bạc hổ chủ dũ - Tá ha (Tadyathà Jaha Jaharu viduke viduke amrta khani vrsani vairu cani vairucike varuvatti vidhibike bhandin varini amrtike bahujaja bahùjayu svàhà).
Này thiện nam tử ! Đà la ni này là lời nói của hơn bảy hằng hà sa số các đức Phật vì hộ trì Đại Bồ tát Mahatát Thất địa. Nếu có người trì tụng chú Đà la ni này thì thoát khỏi những nỗi sợ hãi về ác thú, ác quỉ, người chẳng phải người.v.v... oán tặc, tai ngược và các khổ não, giải thoát năm chướng, chẳng quên nghĩ đến Thất địa.
Này thiện nam tử ! Đại Bồ tát ở Đệ bát địa được Đà la ni gọi là Vô Tận Tạng :
Đát điệt tha - Thất lị thất lị thất lị nỉ - Mật để mật để - Yết lí yết lí ế lỗ ế lỗ - Chủ lỗ chủ lỗ - Bạn đà nhị - Tá ha (Tadyathà ‘siri ‘siri ‘sirini mite mite kari kari heru heru heru curu curu vandani svàhà).
Này thiện nam tử ! Đà la ni này là lời nói của hơn tám hằng hà sa số các đức Phật vì hộ trì Đại Bồ tát Bát địa. Nếu có người trì tụng chú Đà la ni này thì thoát khỏi những nỗi kinh sợ về ác thú, ác quỉ, người chẳng phải người.v.v... oán tặc, tai ngược và các khổ não, giải thoát năm chướng, chẳng quên nghĩ đến Bát địa.
Này thiện nam tử ! Đại Bồ tát ở Đệ cữu địa được Đà la ni gọi là Vô Lượng môn :
Đát điệt tha - Ha lí chiên trà lí chỉ - Câu lam bà lạt thể - Đô lạt tử - Bạt tra bạt tra tử thất lị thất lị ca thất lí ca tất thất lị - Tá tất để - Tát bà tát đỏa nam - Tá ha (Tadyathà hari candarike kulamàbhate torisi bata batasi ‘siri ‘siri ka‘siri kapi‘siri svasti sarva - sattvànàm svàhà).
Này thiện nam tử ! Đà la ni này là lời nói của hơn chín hằng hà sa số các đức Phật vì hộ trì Đại Bồ tát Cữu địa. Nếu có người trì tụng chú Đà la ni này thì thoát khỏi những sự sợ hãi về ác thú, ác quỉ, người chẳng phải người.v.v... oán tặc, tai ngược và các khổ não, giải thoát năm chướng, chẳng quên nghĩ đến Cữu địa.
Này thiện nam tử ! Đại Bồ tát ở Đệ thập địa được Đà la ni gọi là Phá Kim Cương Sơn :
Đát điệt tha - Tất đề - Tô tất đề - Mô chiết nỉ mộc sát nỉ tỳ mộc để am mạt lệ - Tỳ mạt lệ niết mạt lệ - Mang yết lệ tê lan nhã yết tỳ - Hạt lạt đát na yết tỳ - Tam mạn đa bạt điệt lệ - Tát bà át tha ta đan nỉ - Ma nại tư mạc ha ma nại tư - At bộ để át - Thất bộ để - A lại thệ tỳ lạt thệ át chủ để am mật lật để - A lại thệ tỳ lạt thệ - Bạt lam mê - Bạt la hám ma ta - Lệ bộ lạt nỉ bộ lạt na - Mạn nô lạt thế - Tá ha (Tadyathà sidhi susidhe mocani moksani vimukti amale nirmale mogale hiranyagarbhe samantabhadre sarvànte sthàni manasi ambuti antibuti acare virase amnti amrta arase virase brahme brahmane pùrnì purapà mautrate svàhà).
Này thiện nam tử ! Câu cát tường quán đỉnh Đà la ni là lời nói của hơn mười hằng hà sa số các đức Phật vì hộ trì Đại Bồ tát Thập địa. Nếu có người trì tụng chú Đà la ni này thì thoát khỏi các nỗi sợ hãi về ác thú, ác quỉ, người chẳng phải người.v.v... oán tặc, tai ngược, tất cả độc hại đều diệt trừ hết, giải thoát năm chướng chẳng quên nghĩ về Thập địa.
Lúc bấy giờ, Bồ tát Sư Tử Tướng Vô Ngại Quang Diệm nghe đức Phật nói những Đà la ni chẳng thể nghĩ bàn này rồi liền đứng dậy, trật áo vai phải, quì gối phải xuống đất, chắp tay cung kính, đảnh lễ dưới chân đức Phật, dùng lời tụng khen đức Phật :
Lễ đấng không ví dụ
Pháp vô tướng thậm thâm
Chánh tri chúng sinh mất
Tế độ chỉ Thế Tôn.
Tuệ nhãn Như Lai sáng
Chẳng thấy một pháp tướng
Dùng pháp nhãn chính chân
Soi khắp chẳng nghĩ bàn.
Chẳng sinh ở một pháp
Cũng chẳng diệt một pháp
Do bình đẳng ấy nhìn
Được đến chỗ vô thượng.
Chẳng hoại đến tử sinh
Niết Bàn cũng chẳng trụ
Chẳng chấp trước nhị biên
Vậy nên chứng viên tịch
Với phẩm tịnh, bất tịnh
Biết một vị, Thế Tôn !
Do chẳng phân biệt pháp
Nên được rất sạch trong (tối thanh tịnh).
Thân Thế Tôn vô biên
Chẳng nói tới một chữ
Khiến các chúng đệ tử
Mưa pháp đều đầy tràn
Phật xem tướng sinh chúng
Tất cả thứ đều không.
Nhưng với người khổ não
Dấy khởi cứu hộ luôn
Khổ lạc, ngã - vô ngã
Thường - vô thường, vân vân....
Chẳng một cũng chẳng khác
Chẳng diệt cũng chẳng sinh.
Như vậy chúng nhiều nghĩa
Nên nói có biệt riêng
Như tiếng vang cốc rỗng
Chỉ Phật rõ biết thông.
Pháp giới không phân biệt
Vậy nên thừa khác không
Vì hóa độ sinh chúng
Nói ba thừa phân biệt.
Bấy giờ, vua trời Phạm Đại Tự Tại cũng đứng dậy, trật áo vai phải, quì gối phải xuống đất, chắp tay cung kính, đảnh lễ dưới chân đức Phật mà bạch rằng :
Thưa đức Thế Tôn ! Kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương này hy hữu khó lường, đầu, giữa, cuối đều tốt, văn nghĩa rốt ráo, đều có thể thành tựu tất cả Phật pháp. nếu thọ trì thì người này tức là báo ơn chư Phật.
Đức Phật dạy rằng :
– Này thiện nam tử ! Đúng vậy ! Đúng vậy ! Đúng như lời ông nói ! Này thiện nam tử ! Nếu người được lắng nghe Kinh điển này thì đều chẳng thoái lui Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Vì sao vậy ? Này thiện nam tử ! Vì Kinh đó là có thể thành thục thiện căn thù thắng của Bồ tát Bất Thoái địa, là đệ nhất pháp ấn, là vua của mọi Kinh nên cần lắng nghe, thọ trì, đọc tụng. Vì sao vậy ? Này thiện nam tử ! Vì nếu tất cả chúng sinh chưa gieo trồng thiện căn, chưa thành thục thiện căn, chưa gần gũi các đức Phật thì chẳng thể lắng nghe pháp vi diệu đó. Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân có thể thính thọ thì tất cả tội chướng đều trừ diệt hết, được tối thanh tịnh, thường được thấy Phật, chẳng lìa khỏi chư Phật và người thắng hạnh thiện tri thức, hằng nghe diệu pháp, trụ ở Bất Thoái địa, chứng được như vậy, Thắng Đà la môn không tận không giảm như là : Đà la ni Hải ấn xuất diệu công đức không tận không giảm, Đà la ni Thông đạt chúng sinh ý hành ngôn ngữ không tận không giảm, Đà la ni Nhật viên vô cấu tướng quang không tận không giảm, Đà la ni Mãn nguyệt tướng quang không tận không giảm, Đà la ni Năng phục chư hoặc diễn công đức lưu không tận không giảm, Đà la ni Phá Kim Cương sơn không tận không giảm, Đà la ni Thuyết bất khả thuyết nghĩa nhân duyên không tận không giảm, Đà la ni Thông đạt thật ngữ pháp tắc âm thanh không tận không giảm, Đà la ni Hư không vô cấu tâm hạnh ấn không tận không giảm, Đà la ni Vô biên Phật thân giai năng hiển hiện không tận không giảm.
Này thiện nam tử ! Những Đà la ni môn vô tận vô giảm như vậy.v.v... đều được thành tựu. Đại Bồ tát đó có thể ở tất cả cõi Phật trong mười phương hóa làm thân Phật diễn nói đủ thứ chánh pháp Vô thượng, đối với pháp Chân Như chẳng động, chẳng trụ, chẳng lại, chẳng đi, giỏi có thể thành thục thiện căn của tất cả chúng sinh, cũng chẳng thấy một chúng sinh có thể thành thục, tuy nói đủ thứ các pháp nhưng ở trong ngôn từ chẳng động, chẳng trụ, chẳng đi, chẳng lại, có thể ở sinh diệt mà chứng không sinh diệt. Vì nhân duyên gì mà nói các hành pháp không có đi lại ? Vì do bản thể của tất cả pháp không khác vậy.
Khi nói pháp này thì ba vạn ức Đại Bồ tát được Vô sanh pháp nhẫn, vô lượng các Bồ tát chẳng thoái tâm Bồ Đề, vô lượng vô biên bí sô, bí sô ni được pháp nhãn tịnh, vô lượng chúng sinh phát tâm Bồ tát. Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn nói lời tụng rằng :
Thắng pháp hay ngược dòng tử sinh
Thậm thâm vi diệu khó được nhìn
Tham dục che hữu tình mù tối
Chẳng thấy nên chịu khổ vô cùng.
Lúc bấy giờ, đại chúng đều đứng dậy, đảnh lễ dưới chân đức Phật mà bạch rằng :
– Thưa đức Thế Tôn ! Nếu chỗ sở tại tuyên giảng đọc tụng Kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương này thì chúng con, cả đại chúng, đều đi đến chỗ đó làm chúng nghe thầy thuyết pháp này, khiến cho được lợi ích an lạc, thân không chướng ngại, ý rộng rãi. Chúng con đều sẽ tận tâm cúng dường, cũng khiến cho thính chúng yên ổn khoái lạc. Đất nước nơi ở không có những khổ oán tặc kinh sợ, ách nạn đói kém, nhân dân đông đúc. Chỗ nói pháp này, đất của Đạo tràng, tất cả những trời, người chẳng phải người.v.v... tất cả chúng sinh chẳng nên dầy xéo làm ô uế. Vì sao vậy ? Vì chỗ nói pháp tức là “Chế để” (Caitya), phải dùng hương hoa tràng phan, bảo cái bằng lụa ngũ sắc cúng dường. Chúng con luôn vì đó thủ hộ, khiến cho lìa khỏi sự suy tổn !.
Đức Phật dạy đại chúng rằng :
– Này các thiện nam tử ! Các ông cần phải tinh cần tu tập Kinh điển vi diệu này thì tức là Chánh pháp trụ thế lâu dài.
---
Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh quyển 5
PHẨM THỨ BẢY : LIÊN HOA DỤ TÁN (Kamalàkara)
Lúc bấy giờ, đức Phật bảo thần cây Bồ Đề rằng :
– Này thiện nữ thiên ! Ngươi nay nên biết, ông Diệu Tràng ngủ đêm mơ thấy Trống Vàng vi diệu phát ra âm thanh lớn khen công đức của Phật cùng pháp sám hối. Do nhân duyên này ta vì ngươi.v.v.. nói rộng việc ấy. Các ngươi cần phải nghe kỹ càng, và khéo suy nghĩ điều đó. Thuở quá khứ, có vị vua tên là Kim Long Chủ thường dùng Liên Hoa dụ tán để khen ngợi chư Phật ba đời trong mười phương.
Đức Phật liền vì đại chúng nói lời khen ấy rằng : Quá khứ, vị lai, hiện tại Phật
An trụ trong thế giới mười phương
Con nay chí thành cúi đầu lễ
Các Tối Thắng, khen ngợi hết lòng
Đấng Mâu Ni thanh tịnh vô thượng
Thân quang soi sáng như vàng ròng
Trong tất cả, thanh (tiếng) là tối thượng
Như tiếng sấm động Đại Phạm vang
Tóc bóng đẹp như ong đen chúa
Uyển chuyển xoăn đều màu biếc xanh
Răng trắng kín đều như kha tuyết (trắng như ngọc kha)
Bằng thẳng hiển hiện có quang minh.
Mắt tịnh không bẩn trang nghiêm diệu
Giống như cánh rộng hoa sen xanh.
Tướng lưỡi rộng dài rất nhu nhuyến
Ví như trong nước hiện sen hồng.
Mi gian thường có Bạch hào tướng
Màu pha lê uyển chuyển hữu toàn (xoắn về bên phải)
Làn mi dài nhỏ như sơ nguyệt (trăng non)
Màu ấy rực rỡ sánh chúa ong.
Như đỉnh vàng mũi cao dài thẳng
Không khuyết, tướng nhuần tịnh diệu quang
Tất cả thế gian, hương thù diệu
Ở đâu, khi nghe đều biết liền.
Thế Tôn tối thắng thân kim sắc
Chẳng khác, tướng mỗi một sợi lông
Xoăn về phải mềm mại xanh biếc
Khó ví dụ, ánh vi diệu quang.
Khắp cả thân có ánh sáng diệu
Soi khắp tất cả cõi mười phương
Hay diệt khổ chúng sinh ba hữu
Khiến cho họ đều được lạc an.
Trong địa ngục, bàng sinh, ngã quỉ
Đường A tô la, thiên và nhân
Khiến cho khổ của họ trừ diệt
Luôn thọ vui yên ổn tự nhiên
Thân sắc quang minh thường chiếu khắp
Không gì sánh như nước vàng ròng.
Diện mạo tròn sáng như mãn nguyệt
Môi đẹp như quả Tần bà hồng.
Bước đi uy nghi loài sư tử
Thân quang rực sáng sơ nguyệt đồng
Cánh tay nhỏ dài đứng quá gối
Giống như cành cây Ta la buông (xuống).
Vừng sáng một tầm vô biên chiếu
Như trăm ngàn mặt trời sáng choang
Có thể đến khắp các cõi Phật
Giác quần mê tại chỗ tùy duyên.
Lưới ánh sáng tịnh không gì sánh
Sáng soi đầy khắp cõi trăm ngàn
Chiếu khắp mười phương không chướng ngại
Tất cả tối tăm đều diệt tan.
Ánh từ Thiện Thệ hay cho lạc (vui)
Màu diệu rọi lại suốt núi vàng
Sáng soi đến hết trăm ngàn cõi
Chúng sinh gặp đều xuất ly liền.
Thân Phật thành tựu vô lượng phước
Tất cả công đức trang nghiêm chung
Độc Tôn xưng, vượt qua ba cõi
Thù thắng không cùng đẳng thế gian.
Tất cả Phật có đời quá khứ
Số vi trần đại địa tương đồng
Phật mười phương vị lai, hiện tại
Cũng nhiều như đại địa vi trần.
Con dùng chí thành thân, ngữ, ý
Cúi đầu Tam Thế Phật về nương (quy y)
Khen ngợi biển vô biên công đức
Đủ thứ hương hoa đều cúng dường.
Giả thử miệng con có ngàn lưỡi
Khen Như Lai trải kiếp không lường
Chẳng nghĩ bàn Thế Tôn công đức
Tối thắng thậm thâm khó nói lên.
Giả sử lưỡi con trăm ngàn cái
Khen một công đức một Thế Tôn
Ở trong phần nhỏ còn khó biết
Huống là đức chư Phật vô biên
Giả sử đất đai, các trời đến
Trời Hữu Đỉnh là nước mênh mông
Dùng sợi lông đếm giọt biết số
Một công đức Phật rất khó lường.
Con dùng chí thành thân, ngữ, ý
Lễ khen chư Phật đức vô biên
Sở hữu quả thắng phước khó nghĩ
Hồi thí chúng sinh Phật chóng thành.
Khen ngợi Như Lai rồi, vua đó
Thâm tâm phát hoằng nguyện bội phần.
Nguyện con sẽ ở vị lai thế
Sinh tại vô số kiếp không lường
Trong mơ thường thấy trống vàng lớn
Được nghe pháp sám hối tuyên dương.
Ví hoa sen khen công đức Phật
Nguyện thành chính giác, chứng vô sanh
Khi chư Phật ra đời nhất hiện
Ở trăm ngàn kiếp khó tao phùng.
Đêm mơ thường nghe tiếng trống diệu
Ngày thì tùy ứng sám hối luôn
Con sẽ viên mãn tu lục độ
Vớt người khỏi biển khổ mênh mông.
Nhiên hậu được thành Vô Thượng giác
Cõi Phật thanh tịnh chẳng nghĩ bàn
Phụng Như Lai dùng trống vàng diệu
Cùng khen công đức thật Thế Tôn.
Nhân ấy sẽ thấy Thích Ca Phật
Ký con sẽ nối Nhân Trung Tôn.
Kim Long, Kim Quang hai con đó
Quá khứ từng là tri thức lành
Đời đời nguyện sinh nhà con mãi
Bồ Đề Vô Thượng thọ ký chung.
Nếu có chúng sinh không cứu hộ
Mãi mãi chịu mọi khổ xoay vần
Con nguyện đời sau làm chỗ dựa
Khiến cho họ thường được lạc an.
Mọi khổ ba hữu nguyện trừ diệt
Đều được chỗ an lạc tùy lòng
Ở đời sau tu Bồ Đề đạo
Đều như quá khứ, thành Thế Tôn.
Nguyện phước sám hối Kim Quang ấy
Cạn mãi biển khổ, tội tiêu tan
Nghiệp chướng phiền não đều mất hết
Khiến con mau được quả sạch trong (thanh tịnh).
Biển cả phước trí không bờ bến
Sâu không đáy lìa bẩn sạch trong
Nguyện con được biển công đức ấy
Đại Bồ Đề Vô Thượng mau thành.
Do lực Kim Quang sám hối ấy
Sẽ được phước đức tịnh quang minh
Đã được diệu quang minh thanh tịnh
Soi tất cả thường bằng trí quang.
Nguyện thân quang con bằng chư Phật
Phước đức trí tuệ như Thế Tôn
Độc tôn xưng tất cả thế giới
Uy lực tự tại không ai bằng.
Biển khổ hữu lậu nguyện siêu việt !
Biển vui vô vi nguyện dạo thường !
Nguyện thường đầy biển phước hiện tại !
Biển trí đương lai nguyện mãn viên !
Nguyện đất nước con vượt ba cõi
Lượng công đức thù thắng vô biên
Những người hữu duyên đồng sinh đến
Đều được mau thành trí sạch trong (thanh tịnh) !
Diệu Tràng, ông phải biết
Kim Long Chủ quốc vương
Từng phát nguyện như vậy
Người đó là thân ông !
Hai người con lúc trước
Kim Long và Kim Quang
Tức Ngân Tướng, Ngân Quang.
Nhận lời ký ta đó !
Đại chúng nghe nói xong
Tâm Bồ Đề đều phát
Nguyện hiện tại, vị lai
Thường y sám hối này !
PHẨM THỨ TÁM: KIM THẮNG ĐÀ LA NI
(Hirauyavatidhàrani)
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn ở giữa chúng, bảo Đại Bồ tát Thiện Trụ rằng :
– Này thiện nam tử ! Có Đà la ni tên là Kim Thắng. Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân muốn cầu thân cận tiếp kiến các đức Phật quá khứ, vị lai, hiện tại để cung kính cúng dường thì cần phải thọ trì Đà la ni này. Vì sao vậy ? Vì Đà la ni này mới chính là mẹ của chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai. Vậy nên ông phải biết người trì Đà la ni này thì đầy đủ phước đức lớn rồi, đã ở chỗ vô lượng Phật đời quá khứ gieo trồng các thiện căn nên nay được thọ trì, đối với giới thanh tịnh, chẳng hủy, chẳng khuyết, không có chướng ngại, quyết định có thể vào pháp môn thậm thâm.
Đức Thế Tôn liền vì người trì chú nói phép trì chú : Trước hết là xưng danh hiệu chư Phật và Bồ tát với lòng chí thành lễ kính, nhiên hậu mới tụng chú. Như là :
Nam mô Thập Phương Nhất Thiết Chư Phật ! Nam mô chư Đại Bồ tát Mahatát ! Nam mô Thanh Văn Duyên Giác Nhất Thiết Thánh Hiền !
Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam mô Đông Phương Bất Động Phật. Nam mô Nam Phương Bảo Tràng Phật.
Nam mô Tây Phương A Di Đà Phật. Nam mô Bắc Phương Thiên Bổ Âm Vương Phật. Nam mô Thượng Phương Quảng Chúng Đức Phật.
Nam mô Hạ Phương Minh Đức Phật. Nam mô Bảo Tạng Phật. Nam mô Phổ Quang Phật.
Nam mô Phổ Minh Phật. Nam mô Hương Tích Phật. Nam mô Liên Hoa Thắng Phật.
Nam mô Bình Đẳng Kiến Phật. Nam mô Bảo Kế Phật. Nam mô Bảo Thượng Phật.
Nam mô Bảo Quang Phật. Nam mô Vô Cấu Quang Minh Phật. Nam mô Biện Tài Trang Nghiêm Tư Duy Phật.
Nam mô Tịnh Nguyệt Quang Xưng Tướng Vương Phật. Nam mô Hoa Nghiêm Quang Phật. Nam mô Quang Minh Vương Phật.
Nam mô Thiện Quang Vô Cấu Xưng Vương Phật. Nam mô Quan Sát Vô Úy Tự Tại Vương Phật. Nam mô Vô Úy Danh Xưng Phật.
Nam mô Tối Thắng Vương Phật. Nam mô Quán Tự Tại Bồ tát Mahatát. Nam mô Địa Tạng Bồ tát Mahatát.
Nam mô Hư Không Tạng Bồ tát Mahatát. Nam mô Diệu Cát Tường Bồ tát Mahatát. Nam mô Kim Cương Thủ Bồ tát Mahatát.
Nam mô Phổ Hiền Bồ tát Mahatát. Nam mô Vô Tận Ý Bồ tát Mahatát. Nam mô Đại Thế Chí Bồ tát Mahatát.
Nam mô Từ Thị Bồ tát Mahatát. Nam mô Thiện Tuệ Bồ tát Mahatát.
Rồi đức Phật nói Đà la ni rằng :
Nam mô hát lại đát na đát lại dạ dã - Đát điệt tha - Quân đệ - Quân đệ - Củ chiết lệ - Củ chiết lệ - Nhất trất lí - Mật trất lí - Tá ha (Namô ratna - trayàya tadyathà kunte kunte ku‘sale ku‘sale ku‘sale icchili mitili svàhà).
Đức Phật bảo Bồ tát Thiện Trụ rằng :
– Đà la ni này chính là mẹ của Tam Thế Phật. Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân trì chú này thì có thể sinh ra vô lượng vô biên công đức tụ, tức là cúng dường cung kính tôn trọng tán thán vô số chư Phật. Những đức Phật như vậy đều cùng với người này trao lời ký Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Nếu có người có thể trì chú này thì theo sở dục của người ấy về y thực, tài bảo, đa văn, thông minh, trí tuệ, không bệnh, sống lâu được phước rất nhiều, theo điều cầu nguyện không gì chẳng toại ý. Này Thiện Trụ ! Người trì chú này thì cho đến chưa chứng Bồ Đề Vô Thượng vẫn thường cùng ở chung với Bồ tát Kim Thành Sơn, Bồ tát Từ Thị, Bồ tát Đại Hải, Bồ tát Quán Tự Tại, Bồ tát Diệu Cát Tường, Bồ tát Đại Băng Dà La.v.v... và được sự nhiếp hộ của các vị Bồ tát. Này Thiện Trụ ! Ông phải biết, khi trì chú này thì làm phép như vầy : Trước nên tụng trì mãn một vạn lẻ tám biến (lần) để làm phương tiện trước. Tiếp đến, ở trong phòng tối, trang nghiêm đạo tràng, ngày mùng một hắc nguyệt (tối trăng - đầu tháng) tắm gội thanh tịnh mặc áo tinh khiết, đốt hương tán hoa cúng dường đủ thứ cùng những đồ ăn thức uống. Rồi vào trong đạo tràng, trước phải làm lễ, xưng danh hiệu chư Phật Bồ tát như đã nói ở trước. Rồi chí tâm ân cần cẩn trọng hối tội trước đã làm, quì gối phải xuống đất mà tụng chú như trước mãn một ngàn lẻ tám biến, rồi ngồi thẳng suy nghĩ, nhớ đến sở nguyện của mình. Khi mặt trời chưa mọc, ở trong đạo tràng, ăn bữa hắc thực (?) và ngày chỉ ăn một lần, đến mười lăm ngày mới ra khỏi đạo tràng. Sự hành trì đó có thể khiến cho người này phước đức uy lực chẳng thể nghĩ bàn, tùy theo sự nguyện cầu không gì chẳng viên mãn. Nếu nguyện cầu chẳng toại ý thì vào đạo tràng một lần nữa, đã xứng tâm rồi thường trì không quên.
PHẨM THỨ CHÍN : TRÙNG HIỂN KHÔNG TÍNH
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn nói chú này rồi, vì muốn lợi ích cho Bồ tát Mahatát, người, trời đại chúng, khiến cho được ngộ giải Đệ nhất nghĩa chân thật thậm thâm nên một lần nữa làm sáng tỏ tính không mà nói bài tụng rằng :
Ta đã ở Kinh thậm thâm khác
Nói pháp vi diệu chân không
Nay ở trong Kinh vua này lại
Lược nói Không pháp chẳng nghĩ bàn.
Với các pháp thậm thâm rộng lớn
Hữu tình không trí chẳng giải thông
Nên ta ở đó phô diễn lại
Khiến cho khai ngộ được pháp không.
Lòng Đại bi xót thương sinh chúng
Dùng thiện phương tiện, thắng nhân duyên
Ta hôm nay ở trong đại chúng
Diễn nói khiến họ sáng nghĩa không.
Phải biết thân này như không tụ
Sáu giặc chẳng biết nhau nương dừng
Nương theo căn giặc sáu trần khác biệt
Đều chẳng biết nhau cũng như trên
Nhãn căn thường quan sát sắc xứ
Nghe tiếng chẳng đoạn là Nhĩ căn
Tỵ căn hằng ngữi đến hương cảnh
Thiệc căn trẩn nếm đến vị ngon
Thân căn hưởng thụ chạm êm ái
Ý căn rõ pháp chẳng biết nhàm.
Sáu căn này tùy theo việc khởi
Đều ở cảnh mình phân biệt sanh
Thức như huyễn hóa chẳng phải thật
Vọng tham cầu chỗ căn nương dừng
Như người bôn tẩu trong không tụ
Cũng như vậy sáu thức nương căn.
Tâm chạy khắp cầu theo chỗ chuyển
Rõ các việc, duyên cảnhnhờ căn
Thường ái sắc, thanh, hương, vị, xúc
Với pháp nghĩ mãi không tạm dừng.
Với sáu căn tùy duyên đi khắp
Không ngại như chim bay trong không
Mượn các căn này làm chỗ dựa (nương)
Mới phân biệt ngoại cảnh rõ ràng.
Thân này không biết không tác giả
Mượn duyên thành, thể chẳng chắc bền
Phân biệt sinh ra từ hư vọng
Như máy móc do nghiệp chuyển vần.
Thân thành do đất, nước, lửa, gió
Chuốc quả khác tùy theo nhân duyên
Trái hại nhau đồng tại một chỗ
Như bốn rắn độc ở một hòm.
Tính rắn bốn đại này đều khác
Tuy ở một chỗ có thăng, trầm
Khắp châu thân hoặc lên hoặc xuống
Chúng về với diệt pháp rốt cùng.
Ở trong bốn thứ rắn độc ấy
Hắn rắn đất, nước tính nặng chìm
Tính nhẹ cất lên rắn gió lửa
Do chúng trái ngược, mọi bệnh sinh...
Tâm thức y chỉ vào thân ấy
Tạo tác đủ thứ nghiệp ác, lành
Sinh cõi người, trời, ba đường ác
Tùy theo nghiệp lực thọ thân hình.
Gặp các bệnh sau khi thân chết
Đại tiểu tiện lợi chảy tràn lan
Thối rữa giòi bọ chẳng thể thích
Như cây mục, bỏ tại tử lâm.
Các ông phải quán pháp như vậy
Thì sao chấp có ngã, chúng sinh...
Tất cả các pháp vô thường hết
Từ vô minh duyên lực khởi lên.
Các thứ đại đó đều hư vọng
Vốn chẳng thật có, thể vô sinh
Nên nói tính Đại đều trống rỗng
Biết đây phù hư chẳng phải chân (thật có).
Tự tính vô minh vốn không có
Hòa hợp có nhờ lực mọi duyên
Ở tất cả thời mất chánh tuệ
Nên ta nói đó là vô minh.
Hành, thức vì duyên có danh sắc
Lục xứ (nhập) và Xúc, Thọ tùy sinh
Ái, Thủ, Hữu duyên sinh Lão, Tử
Ưu bi khổ não theo đuổi luôn.
Mọi khổ, ác nghiệp thường trói ép
Sinh tử luân hồi không lúc dừng.
Bản lai phi hữu, không là thể
Do chẳng như lý, phân biệt sinh.
Ta đoạn tất cả các phiền não
Thường dùng chánh trí hành hiện tiền
Rõ nhà năm uẩn đều trống rỗng
Cầu chứng Bồ Đề chỗ thật chân.
Ta mở cửa đại thành Cam Lộ
Cam lồ vi diệu hiện bày lên
Đã được vị cam lồ chân thật
Thường dùng cam lồ thí quần sinh.
Ta đánh trống Đại pháp tối thắng
Ta thổi loa Đại pháp tột cùng
Ta thắp Đại minh đăng tối thắng
Mưa pháp lớn tối thắng ta tuông.
Hàng phục phiền não, các oán kết
Kiến lập Vô Thượng Đại Pháp tràng
Cứu quần mê trong biển sinh tử
Ba đường ác ta sẽ bế quan.
Lửa rực phiền não thiêu sinh chúng
Không có cứu hộ, không nương dừng (y chỉ)
Cam lồ mát mẻ sung túc họ
Nhiệt não thân tâm đều trừ tan.
Do đó, ta ở vô lượng kiếp
Cung kính cúng dường các Thế Tôn
Kiên trì giới, Bồ Đề hướng đến
Cầu chứng chỗ an lạc, pháp thân.
Cho người tay, chân và tai, mắt
Vợ con, tôi tớ... lòng không tiếc.
Đồ trang nghiêm, của quí, bảy báu...
Tùy người xin đều cung cấp liền.
Nhẫn nhục... các độ đều tu hết
Thập địa viên mãn, Chánh Giác thành
Nên ta được xưng Nhất Thiết Trí
Mà chúng sinh không kẻ đo lường !
Giả sử ba ngàn đại thiên giới
Hết đất cõi này vật lớn lên
Các cây cối, rừng rậm sở hữu
Lúa, mè, tre, sậy và nhánh cành...
Những vật này... đều chặt lấy hết
Đều làm nát vụn thành vi trần
Tùy chỗ tích tập lường khó biết
Cho đến tràn đầy cõi hư không.
Tất cả mười phương những đất nước
Đất đai sở hữu cõi ba ngàn
Đều làm nát vụn biến thành bụi
Lượng bụi này chẳng thể tính lường.
Giả sử trí của tất cả sinh chúng
Đem cho một người làm trí riêng
Lượng người trí như vậy vô số
Có thể biết số vi trần trên.
Một niệm trí Thế Tôn Tịch Mặc
Những người trí đó chung đo lường
Dù trải trong đa câu chỉ kiếp
Chẳng thể tính toán biết thiểu phần.
Các đại chúng nghe đức Phật nói tính Không thậm thâm này thì có vô lượng chúng sinh đều có thể liễu đạt thể tính của bốn Đại, năm Uẩn đều Không; sáu căn, sáu cảnh vọng sinh trói buộc. Họ nguyện từ bỏ luân hồi, chánh tu xuất ly (ra khỏi), thâm tâm vui mừng, theo đúng lời dạy phụng trì.
PHẨM THỨ MƯỜI : Y KHÔNG MÃN NGUYỆN
Bấy giờ thiên nữ Như Ý Bảo Quang Diệu, ở trong đại chúng, nghe nói thâm pháp, hớn hở vui mừng, đứng dậy, trật áo vai phải, quì gối phải xuống đất, chắp tay cung kính mà bạch đức Phật rằng :
– Thưa đức Thế Tôn ! Nguyện xin ngài vì con nói về pháp tu hành lý thậm thâm !
Rồi thiên nữ nói lời tụng rằng :
Con hỏi Lưỡng Túc Tôn
Tối thắng soi thế giới
Pháp Bồ tát chánh hành
Nguyện xin ngài thương hứa !
Phật nói : “Thiện nữ thiên !
Nếu có điều nghi hoặc
Tùy ý ngươi hỏi han
Ta sẽ phân biệt nói !”
Khi đó, thiên nữ thỉnh Thế Tôn rằng :
Làm sao các Bồ tát
Chánh hạnh Bồ Đề làm
Lìa sinh tử Niết Bàn
Lợi ích mình, người khác ?
Đức Phật dạy rằng :
– Này thiện nữ thiên ! Y vào pháp giới hành pháp Bồ Đề, tu bình đẳng hạnh ! Làm sao y vào pháp giới mà hành pháp Bồ Đề ? Tu bình đẳng hạnh ? Nghĩa là với năm uẩn có thể hiện pháp giới. Pháp giới tức là năm uẩn. Năm uẩn chẳng thể nói, chẳng phải năm uẩn cũng chẳng thể nói. Vì sao vậy ? Vì nếu pháp giới là năm uẩn thì tức là đoạn kiến, còn nếu lìa khỏi năm uẩn thì tức là thường kiến. Lìa khỏi hai tướng, chẳng chấp trước nhị biên, chẳng thể thấy, qua khỏi sở kiến không danh, không tướng thì đó gọi là nói đến pháp giới. Này thiện nữ thiên ! Làm sao năm uẩn có thể hiện pháp giới ? Như vậy năm uẩn chẳng từ nhân duyên sinh. Vì sao vậy ? Vì nếu từ nhân duyên sinh thì vì đã sinh nên sinh, vì chưa sinh nên sinh. Nếu đã sinh nên sinh thì cần gì nhân duyên ? Còn nếu chưa sinh mà sinh thì chẳng thể được sinh. Vì sao vậy ? Vì chưa sinh các pháp tức là chẳng phải có, không danh, không tướng, chẳng bì kịp, chẳng thí dụ, chẳng tính lường, chẳng phải là sự sinh ra của nhân duyên ! Này thiện nữ thiên ! Ví như tiếng trống là nương vào gỗ, nương vào da và dùi, tay.v.v... nên được phát ra tiếng. Như vậy tiếng trống quá khứ cũng không, vị lai cũng không, hiện tại cũng không. Vì sao vậy ? Vì âm thanh của trống này chẳng từ gỗ sinh ra, chẳng từ da và dùi, tay sinh ra, chẳng ở ba đời sinh ra thì tức là chẳng sinh. Nếu chẳng thể sinh thì chẳng thể diệt. Nếu chẳng thể diệt thì không có chỗ để từ đó đến. Nếu không chỗ từ đó đến thì cũng không chỗ để đi. Nếu không chỗ để đi thì chẳng phải Thường, chẳng phải Đoạn. Nếu chẳng phải thường, chẳng phải đoạn thì chẳng một, chẳng khác. Vì sao vậy ? Vì đây nếu là một thì chẳng khác pháp giới. Nếu như vậy thì người phàm phu nên thấy Chân đế, được đến Niết Bàn Vô Thượng an lạc. Đã chẳng như vậy thì nên chẳng một ! Nếu nói khác thì tất cả hành tướng chư Phật, Bồ tát tức là chấp trước, chưa được giải thoát sự trói buộc của phiền não tức là chẳng chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Vì sao vậy ? Vì tất cả thánh nhân đối với hành, chẳng phải hành, đồng một tính chân thật, vậy nên chẳng khác ! Ngươi nên biết, năm uẩn chẳng phải có, chẳng phải không, chẳng từ nhân duyên sinh, chẳng phải không từ nhân duyên sinh, chính là sự nhận biết của Thánh, chẳng phải cảnh giới nào khác, cũng chẳng phải sự có thể bì kịp của lời nói, không danh, không tướng, không nhân, không duyên, cũng không thí dụ, thỉ chung tịch tịnh, bản lai tự không. Vậy nên năm uẩn có thể hiện pháp giới ! Này thiện nữ thiên ! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân muốn cầu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác khác chân, khác tục khó có thể nghĩ lường thì đối với cảnh Phàm, Thánh, thể chẳng phải một, khác, chẳng bỏ đi tục, chẳng lìa khỏi chân, y vào pháp giới làm hạnh Bồ Đề.
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn nói lời này xong thì thiện nữ thiên hớn hở vui mừng liền đứng dậy, trật áo vai phải, quì gối phải xuống đất, chắp tay cung kính, nhất tâm đảnh lễ mà bạch đức Phật rằng :
– Thưa đức Thế Tôn ! Lời nói về Chánh hạnh Bồ Đề như trên con nay sẽ học !
Lúc đó, vua trời Đại Phạm, chúa thế giới Tác Ha (Ta Bà), ở trong đại chúng, hỏi thiên nữ Như Ý Bảo Quang Diệu rằng :
– Hạnh Bồ Đề này khó có thể tu hành, nàng nay làm gì với hạnh Bồ Đề mà được tự tại ?
Bấy giờ, thiện nữ thiên đáp Phạm Vương rằng :
– Thưa Đại Phạm Vương ! Như lời đức Phật nói thật là thậm thâm, tất cả dị sinh, chẳng lý giải nghĩa ấy thì cảnh giới Thánh vi diệu này khó biết. Nếu khiến tôi hôm nay nương vào pháp này được an lạc là lời nói chân thật thì tôi nguyện khiến cho tất cả vô lượng vô số vô biên chúng sinh của cõi ngũ trược ác thế đều được thân Kim sắc với ba mươi hai tướng, chẳng phải nam, chẳng phải nữ, ngồi trên hoa sen báu, thọ vô lượng niềm vui, mưa xuống hoa trời đẹp, âm nhạc chư thiên chẳng tấu mà tự nhiên kêu lên, tất cả đồ cúng dường đều đầy đủ !
Thiện nữ thiên nói lời đó xong thì tất cả chúng sinh sở hữu của cõi ngũ trược ác thế đều màu vàng, đủ tướng của bậc đại nhân, chẳng phải nam, chẳng phải nữ, ngồi trên hoa sen báu, thọ vô lượng niềm vui giống như cung trời Tha Hóa Tự Tại, không có các đường ác, cây báu hàng lối la liệt, hoa sen thất bảo đầy khắp thế giới, lại mưa xuống hoa trời thất bảo thượng diệu, tấu lên kỹ nhạc nhà trời. Thiện nữ thiên Như ý Bảo Quang Diệu liền chuyển thân nữ làm thân Phạm Thiên. Vua trời Đại Phạm hỏi Bồ tát Như Ý Bảo Quang Diệu rằng :
– Thưa ngài ! Ngài làm hạnh Bồ Đề như thế nào ?
Đáp rằng :
– Thưa Phạm Vương ! Nếu trăng trong nước làm hạnh Bồ Đề thì tôi cũng làm hạnh Bồ Đề ! Nếu trong mơ làm hạnh Bồ Đề thì tôi cũng làm hạnh Bồ Đề ! Nếu loáng nắng làm hạnh Bồ Đề thì tôi cũng làm hạnh Bồ Đề ! Nếu tiếng vang của hang làm hạnh Bồ Đề thì tôi cũng làm hạnh Bồ Đề !
Vua Đại Phạm nghe lời nói này rồi, bạch với Bồ tát rằng :
– Ngài y vào nghĩa nào mà nói lời nói này ?
Đáp rằng :
– Thưa Phạm Vương ! Không có một pháp nào là thật tướng cả, chỉ do nhân duyên mà được thành !
Phạm Vương nói rằng :
– Nếu như vậy thì những người phàm phu đều nên được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác !
Đáp rằng:
– Ngài do cái ý gì mà nói lời đó ? Người ngu si khác người trí tuệ khác, Bồ Đề khác, chẳng phải Bồ Đề khác, giải thoát khác, chẳng phải giải thoát khác ? Thưa Phạm Vương ! Như vậy các pháp bình đẳng không khác. Đối với pháp giới này, Chân Như chẳng một, chẳng khác, không có trung gian mà có thể chấp trước, không tăng, không giảm. Thưa Phạm Vương ! Ví như nhà huyễn thuật và các đệ tử huyễn khéo giải các huyễn thuật, ở ngã tư đường lớn, nhặt lấy những đất, cát, cỏ, cây, cành lá.v.v... gom lại tại một chỗ, rồi làm các thuật huyễn hóa khiến cho người nhìn thấy những voi, những ngựa, những xe cộ, binh chúng.v.v... nào là đống thất bảo, đủ thứ kho lẫm... Nếu có chúng sinh ngu si vô trí, chẳng thể suy nghĩ, chẳng biết gốc huyễn hóa mà hoặc thấy, hoặc nghe thì tác khởi suy nghĩ này : “Những voi, ngựa.v.v... mà ta đã thấy đây là thật có, còn cái khác đều hư vọng”. Rồi về sau lại chẳng thẩm sát tư duy. Người có trí thì chẳng như vậy, rõ được gốc huyễn hóa nên hoặc thấy, hoặc nghe thì tác khởi ý niệm như vầy : “Những voi, ngựa.v.v... như ta đã thấy chẳng phải là chân thật, chỉ có việc huyễn hóa mê hoặc con mắt của người mà vọng cho là voi, ngựa.v.v... và các kho tàng, có danh không thật. Như điều ta thấy nghe chẳng chấp là thật”. Về sau suy nghĩ biết sự hư vọng ấy. Vậy nên kẻ trí biết rõ tất cả pháp đều không thật thể, chỉ theo thế tục như thấy như nghe tuyên bày việc ấy, suy nghĩ nghĩa lý chắc chắn thì chẳng như vậy, lại do giả định mà nói để hiển bày nghĩa thật.
Thưa Phạm Vương ! Do ngu si của dị sinh, chưa được mắt của bậc Thánh tuệ xuất thế, chưa biết tất cả các pháp chân như chẳng thể nói. Những kẻ phàm phu đó hoặc thấy hoặc nghe hành pháp chẳng phải hành pháp, rồi như vậy mà tư duy liền sinh ra chấp trước, cho đó là thật.
Đối với đệ nhất nghĩa, họ chẳng thể rõ biết các pháp Chân như là chẳng thể nói. Những bậc thánh nhân hoặc thấy hoặc nghe hành pháp, chẳng phải hành pháp, rồi tùy theo sức của mình có thể chẳng sinh ra chấp trước, lấy làm thật có, rõ biết tất cả pháp hạnh không thật, chẳng phải pháp hạnh không thật, chỉ vọng tưởng nghĩ suy ra tướng hành, tướng chẳng phải hành, chỉ có danh tự, không có thật thể. Những thánh nhân này theo lời nói của thế tục là muốn khiến cho người khác biết nghĩa chân thật.
Như vậy, thưa Phạm Vương ! Những Thánh nhân này dùng Thánh trí thấy rõ pháp Chân như chẳng thể nói, hành pháp chẳng phải hành pháp cũng lại như vậy, vì khiến cho người khác chứng biết nên nói đủ thứ danh tự, lời nói của thế tục.
Vua trời Đại Phạm hỏi Bồ tát Như Ý Bảo Quang Diệu rằng :
– Có bao nhiêu chúng sinh có thể hiểu biết chánh pháp thậm thâm như vậy ?
Đáp rằng :
– Thưa Phạm Vương ! Có tâm, tâm số pháp của mọi huyễn nhân có thể hiểu được chánh pháp thậm thâm như vậy !
Phạm Vương nói rằng :
– Thể của người huyễn hóa này là chẳng phải có thì tâm số này từ đâu mà sinh ra ?
Đáp rằng :
– Nếu biết pháp giới chẳng có chẳng không thì như vậy chúng sinh có thể hiểu được thâm nghĩa.
Bấy giờ, Phạm Vương bạch đức Phật rằng :
– Thưa đức Thế Tôn ! Như vậy, Bồ tát Như Ý Bảo Quang Diệu chẳng thể nghĩ bàn, thông đạt ý nghĩa thậm thâm như vậy !
Đức Phật dạy rằng :
– Đúng vậy ! Đúng vậy ! Này Phạm Vương ! Đúng như lời ông nói ! Bồ tát Như Ý Bảo Quang Diệu này đã dạy các ông phát tâm tu học Vô Sanh Pháp Nhẫn.
Lúc đó, vua trời Đại Phạm cùng các Phạm chúng đứng dậy, trật áo vai phải, chắp tay cung kính đảnh lễ dưới chân Bồ tát Như Ý Bảo Quang Diệu, nói lên như vầy :
– Hy hữu ! Hy hữu ! Chúng tôi hôm nay may mắn gặp được Đại Sĩ, được nghe chánh pháp !
Bấy giờ, đức Thế Tôn bảo Phạm Vương rằng :
– Như Ý Bảo Quang Diệu này, vào đời vị lai, sẽ được làm Phật hiệu là Bảo Diệm Cát Tường Tạng Như Lai Ứng Chánh Biến Tri Minh Hành Viên Mãn Thiện Thệ Thế Gian Giải Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu Thiên Nhân Sư Phật Thế Tôn.
Khi đức Phật nói phẩm này thì có ba ngàn ức Bồ tát đối với Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác được Bất Thoái Chuyển, tám ngàn ức thiên tử, vô lượng vô số quốc vương, thần dân xa lìa trần cấu được pháp nhãn tịnh.
Bấy giờ, trong hội có năm mươi ức Bí sô làm hạnh Bồ tát muốn thoái tâm Bồ Đề, khi nghe Bồ tát Như Ý Bảo Quang Diệu nói pháp này thì đều được kiên cố chẳng thể nghĩ bàn, thỏa mãn đầy đủ nguyện trên, trở lại phát khởi tâm Bồ Đề, đều tự cởi áo cúng dường Bồ tát, một là nữa phát tâm Vô Thượng Thắng Tấn. Họ đều tác khởi nguyện như vầy : “Nguyện khiến cho chúng con công đức thiện căn đều chẳng thoái chuyển và đem hồi hướng về Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác!” Đức Phật bảo Phạm Vương rằng :
-Này Phạm Vương ! Những Bí sô đó y vào công đức này, đúng như lời nói tu hành, qua chín mươi đại kiếp, sẽ được giải thoát giác ngộ, lìa khỏi sinh tử.
Bấy giờ, đức Thế Tôn liền vì họ mà thọ ký rằng :
– Này các ông Bí sô ! Qua ba mươi atăngkỳ kiếp, các ông sẽ được làm Phật, ở kiếp tên là Nan Thắng Quang Vương, nước tên là Vô Cấu Quang. Các ông đồng thời đều được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, đều đồng danh hiệu là Nguyện Trang Nghiêm Gián Sức Vương với mười hiệu đầy đủ !
Này Phạm Vương ! - Đức Phật nói tiếp - Kinh điển vi diệu Kim Quang Minh này, nếu chính được nghe và thọ trì thì có uy lực lớn. Giả sử có người ở trăm ngàn đại kiếp tu hành sáu Ba la mật mà không có phương tiện. Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân ghi chép Kinh Kim Quang Minh như vậy, rồi hàng nửa tháng, nửa tháng chuyên tâm đọc tụng thì công đức này so với công đức trước, trăm phần chẳng bằng một... cho đến tính toán thí dụ cũng chẳng thể bì kịp. Này Phạm vương! Vậy nên ta nay lệnh cho ông tu học, nhớ nghĩ, thọ trì, vì người khác giải nói rộng rãi. Vì sao vậy ? Vì vào thuở xa xưa, khi ta hành đạo Bồ tát, giống như dũng sĩ xông vào trận chiến, chẳng tiếc thân mạng mà lưu thông vua Kinh vi diệu như vậy, thọ trì, đọc tụng, vì người khác giải nói.
Này Phạm Vương ! Ví như vua Chuyển Luân Thánh, nếu nhà vua tại thế thì thất bảo chẳng diệt, nếu vua mạng chung thì thất bảo sở hữu tự nhiên diệt hết. Này Phạm Vương ! Vua Kinh vi diệu Kim Quang Minh này, nếu hiện ở đời thì pháp bảo Vô thượng đều chẳng diệt, còn nếu không Kinh này thì pháp bảo tùy theo chỗ ẩn mất. Vậy nên cần phải đối với Kinh Vương này chuyên tâm lắng nghe, thọ trì, đọc tụng, vì người khác giải nói, khuyên cho họ ghi chép, hành Tinh Tấn Ba la mật chẳng tiếc thân mạng, chẳng sợ mệt nhọc... được thắng công đức. Những đệ tử của ta cần phải tinh cần tu học như vậy !
Lúc bấy giờ, vua trời Đại Phạm cùng vô lượng Phạm chúng, Đế Thích, Tứ Thiên Vương và những dược xoa đều đứng dậy, trật áo vai phải, gối phải quì xuống đất, chắp tay cung kính mà bạch đức Phật rằng :
– Thưa đức Thế Tôn ! Chúng con nguyện thủ hộ, lưu thông Kinh điển vi diệu Kim Quang Minh này ! Và đối với thầy nói pháp, nếu có các hoạn nạn con sẽ trừ diệt, khiến cho đủ mọi điều lành, sắc lực dồi dào, biện tài vô ngại, thân ý thư thái, thính giả trong pháp hội đều thụ hưởng an lạc. Đất nước sở tại, nếu có đói kém, oán tặc, phi nhân làm não hại thì chúng con, thiên chúng, đều vì chỗ ấy mà ủng hộ, khiến cho nhân dân nơi ấy yên ổn, giàu thịnh sung sướng, không những điều oan uổng ngang ngược... tất cả đều do sức của thiên chúng chúng con. Nếu có người cúng dường Kinh điển này thì chúng con cũng sẽ cúng dường cung kính họ như Phật chẳng khác.
Lúc bấy giờ, đức Phật bảo vua trời Đại Phạm và các Phạm chúng, cho đến Tứ thiên vương, những dược xoa... rằng :
– Hay thay ! Hay thay ! Các ông được nghe diệu pháp thậm thâm, lại có thể đối với Kinh Vương vi diệu này phát tâm ủng hộ và thọ trì thì sẽ thu hoạch được phước thù thắng vô biên, mau chóng thành Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề !
Phạm Vương.v.v... nghe đức Phật nói rồi, hoan hỉ đỉnh thọ.
PHẨM THỨ MƯỜI MỘT : TỨ THIÊN VƯƠNG QUAN SÁT NHÂN THIÊN
(Catur-Mahàràjà)
Lúc bấy giờ, vua trời Đa Văn, vua trời Trì Quốc, vua trời Tăng Trưởng, vua trời Quảng Mục đều đứng dậy, trật áo vai phải, quì gối phải xuống đất, chắp tay hướng về đức Phật, lễ dưới chân đức Phật rồi bạch rằng :
– Thưa đức Thế Tôn ! Kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương này được tất cả chư Phật thường niệm quan sát, được sự cung kính của tất cả Bồ tát, được tất cả trời, rồng luôn cúng dường và chư thiên thường sinh hoan hỷ, tất cả hộ thế xưng dương tán thán, Thanh Văn, Độc Giác đều chung thọ trì, đều có thể soi sáng cung điện của chư thiên, có thể ban cho tất cả chúng sinh sự an vui thù thắng, chấm dứt địa ngục, ngã quỉ, bàng sinh, các đường khổ não, tất cả sự bố úy đều có thể diệt hết, oán địch sở hữu liền thoái tan, thời ác đói kém có thể khiến cho được mùa thịnh vượng, tật dịch bệnh khổ đều khiến cho trừ khỏi, tất cả tai biến trăm ngàn ngàn khổ não đều tiêu diệt hết.
Thưa đức Thế Tôn ! Kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương này có thể làm yên ổn lợi lạc như vậy ! Ích lợi nhiều cho chúng con ! Nguyện xin đức Thế Tôn, ở trong đại chúng, rộng vì chúng con mà tuyên nói ! Bốn vua chúng con cùng các quyến thuộc nghe pháp vị cam lộ Vô thượng này, khí lực thật dồi dào, tăng thêm uy quang, tinh tấn, dũng mãnh, thần thông hơn bội phần.
Thưa đức Thế Tôn ! Bốn vua chúng con tu hành chánh pháp, thường nói chánh pháp, đem chánh pháp giáo hóa thế gian. Chúng con khiến cho những trời, rồng, dược xoa, Kiền thát bà, A tô la, Yết lộ trà, Câu bàn trà, Khẩn na la, Mạc hô la dà và các vua người (nhân vương) thường dùng chánh pháp mà giáo hóa ở đời, ngăn bỏ các ác, sở hữu quỉ thần hút tinh khí người, người không từ bi đều khiến cho đi xa.
Thưa đức Thế Tôn ! Bốn vua chúng con cùng hai mươi tám bộ dược xoa đại tướng cùng với vô lượng trăm ngàn dược xoa dùng tịnh thiên nhãn hơn mắt người đời, quan sát ủng hộ châu Thiệm Bộ này.
Thưa đức Thế Tôn! ! Do nhân duyên này, các vua chúng con được gọi là người Hộ Thế. Lại nữa, ở trong châu này, nếu có quốc vương bị oán tặc khác thường đến xâm lấn quấy nhiễu và nhiều dịch bịnh, đói kém lưu hành, vô lượng trăm ngàn sự tai ách.
Thưa đức Thế Tôn ! Bốn vua chúng con đối với kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương này cung kính cúng dường. Nếu có pháp sư Bí sô thọ trì đọc tụng thì bốn vua chúng con chung đến giác ngộ, khuyến thỉnh người ấy. Pháp sư đó nhờ sức thần thông giác ngộ của con nên đến địa giới nước đó mà rộng tuyên dương lưu bố Kinh điển vi diệu Kim Quang Minh này. Do uy lực của Kinh nên khiến cho vô lượng trăm ngàn sự việc suy não, tai ách đều tiêu trừ hết.
Thưa đức Thế Tôn ! Nếu những nhân vương mà ở bên trong nước ấy, có pháp sư bí sô trì Kinh này đi đến nước đó thì phải biết là Kinh này cũng đến nước ấy.
Thưa đức Thế Tôn ! Quốc vương nước đó nên đến chỗ vị pháp sư nghe lời giải nói của vị ấy. Nghe rồi hoan hỷ, vị quốc vương đó, đối với pháp sư cung kính cúng dường, thâm tâm ủng hộ khiến cho pháp sư không ưu não mà diễn nói Kinh này, ích lợi cho tất cả.
Thưa đức Thế Tôn ! Vì Kinh này nên bốn vua chúng con đều chung một lòng ủng hộ vị nhân vương đó và nhân dân trong nước, khiến cho họ lìa khỏi tai hoạn, thường được yên ổn.
Thưa đức Thế Tôn ! Nếu có Bí sô, Bí sô ni, Ổ ba tác ca, Ổ ba tư ca trì Kinh này mà vị nhân vương kia tùy theo sự cần dùng của họ, cung cấp cúng dường khiến cho họ không thiếu thốn thì bốn vua chúng con khiến cho quốc chủ và cả quốc dân đều yên ổn, xa lìa tai hoạn. Thưa đức Thế Tôn ! Nếu có người thọ trì đọc tụng Kinh điển này mà vị nhân vương đối với người này cúng dường cung kính, tôn trọng tán thán thì chúng con sẽ khiến cho vị vua đó, ở trong các vị vua, được cung kính tôn trọng là tối đệ nhất, được sự khen ngợi chung của các quốc vương khác.
Đại chúng nghe xong, hoan hỷ thọ trì.
---
Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh quyển 6
BỐN THIÊN VƯƠNG HỘ QUỐC
PHẨM THỨ MƯỜI HAI
Bấy giờ, Đức Thế Tôn nghe bốn Thiên Vương cung kính, cúng dường Kinh Kim Quang Minh với hay ủng hộ người trì Kinh, thì khen rằng: “Lành thay! Lành thay! Bốn Thiên Vương các ông đã ở chỗ của vô lượng trăm ngàn vạn ức Phật quá khứ: cung kính, tôn trọng, khen ngợi, gieo trồng các căn lành, tu hành Chính Pháp, thường nói Chính Pháp, dùng Pháp hóa độ đời.
Các ông trong đêm dài, đối với các chúng sinh thường nghĩ đến lợi ích, khởi Tâm Đại Từ, nguyện ban cho an vui. Do nhân duyên này, hay khiến cho các ông hiện nhận quả báo thù thắng. Nếu có Nhân Vương cung kính cúng dường Kinh Điển Kim Quang Minh Tối Thắng này thì các ông cần phải siêng năng gia thêm thủ hộ khiến được an ổn.
Bốn Thiên Vương các ông với quyến thuộc khác, vô lượng vô số trăm ngàn Dược Xoa hộ trì Kinh này, tức là hộ trì Chính Pháp của chư Phật quá khứ hiện tại vị lai.
(như thế) Bốn Thiên Vương các ông với Thiên Chúng khác kèm với các Dược Xoa khi chiến đấu với A Tu La thời thường được thắng lợi. Nếu các ông hay hộ trì Kinh này, do sức của Kinh cho nên hay trừ mọi khổ, oán tặc, đói kém mất mùa với các bệnh dịch. Thế nên, các ông nếu thấy bốn Chúng thọ trì, đọc tụng Kinh Vương này thì cũng nên chuyên tâm cùng nhau gia thêm thủ hộ để trừ suy não, ban cho an vui”
Khi ấy, bốn Thiên Vương liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trật áo hở vai phải, quỳ gối phải sát đất, chắp tay cung kính, bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Kim Quang Minh Tối Thắng Kinh Vương này, ở đời vị lai: nếu có cõi nước, thành ấp, thôn xóm, núi rừng, nơi hoang vắng… tùy theo nơi đã đến, khi lưu bày thời nếu có quốc vương kia đối với Kinh Điển này chí Tâm nghe nhận, khen ngợi, cúng dường lại cung cấp cho Cúng của bốn Bộ thọ trì Kinh này, thâm tâm ủng hộ, khiến lìa suy não. Do nhân duyên đó, Con hộ giúp cho vị vua ấy với các nhân chúng đều khiến an ổn, xa lìa lo khổ, tăng ích thọ mạnh, đầy đủ uy đức.
Thế Tôn! Nếu quốc vương ấy thấy người ở bốn Chúng thị trì Kinh, cung kính thủ hộ giống chư cha mẹ, thảy đều cung cấp tất cả thứ cần dùng thì bốn Thiên Vương chúng con thường làm thủ hộ, khiến cho các hữu tình không có ai chẳng tôn kính, Thế nên, chúng con cùng với vô lượng Dược Xoa, chư Thần tùy theo nơi lưu bày Kinh Vương này ẩn thân ủng hộ khiến cho không còn tai nạn. Cũng sẽ hộ niệm cho người, các quốc vương nghe Kinh này trừ suy nạn ấy đều khiến được an ổn, đều khiến cho oán tặc phương khác lui tan. Nếu có Nhân Vương lắng nghe Kinh này thời oán địch của nước lân cận dấy niệm như vầy: “Đem đủ bốn loại binh hoại quốc độ ấy”
Bạch Đức Thế Tôn! Do sức uy thần của Kinh Vương này, lúc đó oán địch của nước lân cận lần lượt có oán khác, khi đến xâm nhiễu cảnh giới ấy thì phần lớn bị các tai biến, bệnh dịch lưu hành. Khi vị vua nhìn thấy xong, liền nghiêm ngặt phát bốn loại binh hướng đến nước kia để thảo phạt. Khi ấy chúng con đem các quyến thuộc, vô lượng vô viên Dược Xoa, chư Thần đều tự ẩn hình hỗ trợ khiến cho oán địch kia tự nhiên hàng phục, còn chẳng dám đi đến biên giới nước ấy, há lại được có binh khí để chinh phạt sao?!...”
_Bấy giờ, Đức Phật bảo bốn Thiên Vương: “Lành thay! Lành thay! Bốn Thiên Vương các ông mới có thể ủng hộ Kinh Điển như vậy. Ta ở trăm ngàn câu chi na dữu đa kiếp quá khứ, tu các Khổ Hạnh được A Nậu Đa La Tam Miểu Tam Bồ Đề, chứng Nhất Thiết Trí, nay nói Pháp này. Nếu có Nhân Vương thọ trì Kinh này, cung kính cúng dường sẽ được tiêu trừ suy hoạn, khiến cho an ổn. Cũng lại ủng hộ thành ấp, thôn xóm cho đến oán tặc đều khiến cho lui tan. Cũng khiến cho hết thảy các vị vua trong tất cả Thiệm Bộ Châu (Jambu-dvīpa) vĩnh viễn không có việc suy não đấu tranh
Bốn Thiên Vương nên biết ở Thiệm Bộ Châu này: tám vạn bốn ngàn thành ấp thôn xóm, tám vạn bốn ngàn các Nhân Vương đều ở nước của họ thọ nhận các khoái lạc đều được tự tại, hết thảy tài bảo thọ dụng dư thừa, chẳng xâm đoạt lẫn nhau, tùy theo Nhân đời trước mà nhận quả báo ấy, chẳng khởi niệm ác tham cầu nước khác, đều sinh Tâm ít muốn lợi lạc, không có đau khổ bởi sự chiến đấu cột trói. Người dân của đất nước ấy tự sinh yêu thích, trên dưới hòa thuận giống như nước với sữa, cảm thông yêu trọng lẫn nhau, vui vẻ dạo chơi đùa giỡn, Từ Bi khiêm nhượng, tăng trưởng căn lành, Do nhân duyên đó mà Thiệm Bộ Châu này được an ổn, vui sướng, sung túc.
Người dân đông đầy, đất đai xốp mềm màu mỡ, nóng lạnh điều hòa, thời tiết chẳng rối loạn. Mặt trời, mặt trăng, tinh tú theo quy luật cố định không có khuyết thiếu. Mưa gió thùy theo thời, lìa các tai hoạnh.
Tài bảo, của cải riêng thảy đều dư đầy. Tâm không có keo kiệt hẹp hòi, thường thực hành Tuệ Thí, đầy đủ mười Nghiệp thiện. Nếu mạnh người kết thúc thì phần lớn sinh lên cõi Trời, tăng ích cho Thiên Chúng.
Này Đại Vương! Nếu đời vị lai có các Nhân Vương nghe nhận Kinh này, cung kính cúng dường kèm thọ trì Kinh này, tôn trọng ca ngợi Chúng của bốn Bộ, lại muốn an vui, nhiêu ích cho các ông với các quyến thuộc, vô lượng trăm ngàn các Dược Xoa Chúng. Bởi thế, vị vua ấy thường nên nghe nhận Kinh Vương màu nhiệm này, Do được nghe nước của Chính Pháp này, Cam Lộ thượng vị sẽ tăng ích cho thân tâm, thế lực của các ông, tinh tiến dũng mãnh, đều khiến cho tràn đầy Phước Đức, Uy Quang
Các Nhân Vương đó, nếu hay chí tâm nghe nhận Kinh này, tức làm cúng dường rộng lớn hiếm có, cúng dường Ta, Thích Ca Mâu Ni Ứng Chính Đẳng Giác. Nếu cúng dường Ta tức là cúng dường trăm ngàn câu chi na dữu đa Phật quá khứ vị lai hiện tại. Nếu hay cúng dường chư Phật ba đời tức được vô lượng nhóm Công Đức chẳng thể nghĩ bàn. Do nhân duyên này, các ông cần phải ủng hộ vị vua ấy, hậu phi, quyến thuộc khiến cho không có suy não với Thần cung trạch thường thọ nhận an vui, Công Đức khó nghĩ. Hết thảy người dân của các cõi nước ấy cũng thọ nhận mọi loại niềm vui của năm Dục, tất cả việc ác đều khiến tiêu sạch hết”
Lúc đó, bốn Thiên Vương bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Ở đời vị lai, nếu có Nhân Vương thích nghe Kinh Kim Quang Minh như vậy, vì muốn ủng hộ cho thân mình, hậu phi, vương tử cho đến các Cung Nữ trong Nội Cung, thành ấp, cung điện… đều được vui vẻ, vắng lặng, an lạc tối thượng bậc nhất chẳng thể nghĩ bàn. Ở trong đời hiện tại được ngôi vua (vương vị) tôn quý cao cả, tự tại hưng thịnh thường được tăng trưởng. Lại muốn nhiếp nhận vô lượng vô biên nhóm Phước khó nghĩ, ở cõi nước của mình khiến không có oán địch với các việc tai ách lo lắng bực bội.
Thế Tôn! Như vậy, Nhân Vương chẳng nên buông thả khiến Tâm tán loạn, nên sinh cung kính, chí thành, ân trọng, nghe nhận Kinh Vương tối thắng như vậy. Khi muốn nghe thời trước tiên trang nghiêm cung thất tối thượng, nơi rộng rãi thông thoáng mà vua yêu trọng, dùng nước thơm rưới vảy trên đất, rải mọi hoa đẹp thơm, an trí Pháp Tòa Sư Tử tối thắng, dùng các châu báu để trang sức, giăng bày mọi loại lọng, phướng, phan báu; đốt hương vô giá, tấu các âm nhạc.
Lúc đó, vị vua ấy nên tắm gội sạch sẽ, dùng hương xoa bôi thân. Mặc áo sạch mới với đeo chuỗi Anh Lạc. ngồi ở tòa nhỏ thấp, chẳng sinh cao cả, buông bỏ địa vị tự tại, lìa các kiêu mạn, Tâm ngay thẳng chính niệm, lắng nghe Kinh Vương này. Ở chỗ của Pháp Sư khởi tưởng Đại Sư.
Lại đối với hậu phi, vương tử, cung nữ, quyến thuộc trong cung, sinh Tâm Từ Mẫn, vui thích nhìn nhau, nét mặt hòa nhã, nói năng nhẹ nhàng, ở thân tâm của mình tràn khắp niềm vui. Tác niệm như vầy: “Nay Ta đắc được lợi ích thù thắng rộng lớn khó nghĩ bàn. Đối với Kinh Vương này nên cúng dường đầy đủ”
Đã xếp đặt xong, khi thấy Pháp Sư đến thời nên đứng dậy, khởi Tâm ngưỡng mộ thành kính”.
Bấy giờ, Đức Phật bảo bốn Thiên Vương: “Chẳng nên chẳng nghênh đón Pháp Sư như vậy. Lúc đó, Nhân Vương ấy nên mặc áo sạch mới không có vết dơ nào, dùng mọi loại Anh Lạc để nghiêm sức, tự cầm cái lọng trắng với đem hương hoa, chuẩn bị đầy đủ nghi lễ của quân đội, tấu bày đủ các âm nhạc, đi bộ ra khỏi thành khuyết, nghênh đón vị Pháp Sư ấy, vận tưởng cung kính làm việc cát tường.
Này bốn Thiên Vương! Do nhân duyên gì khiến cho Nhân Vương ấy đích thân làm cung kính cúng dường như vậy? Do Nhân Vương ấy nhấc chân lên, hạ chân xưống. mỗi một bước đi tức là cung kính, cúng dường, thừa sự, tôn trọng trăm ngàn vạn ức na dữu đa chư Phật Thế Tôn.
Lại được vượt qua nỗi khổ trong kiếp số sinh tử như vậy. Lại ở đời sau trải qua kiếp số như vậy sẽ thọ nhận Tôn Vị thù thắng của Luân Vương. Tùy theo mỗi một bước đi ấy cũng ở đời này tăng trưởng Phước Đức, tự tại làm vua, cảm ứng khó nghĩ, được mọi người khâm phục tôn trọng, sẽ ở vô lượng trăm ngàn ức kiếp, trong cõi người, Trời thọ dụng cung điện bảy báu, tại nơi sinh ra thường được làm vua, tăng ích thọ mạng, ngôn từ biện luận thông suốt, người Trời tin nhận, không có chỗ sợ hãi, có danh tiếng lớn, (mọi người) đều cùng nhau chiêm ngưỡng.
Trên Trời, trong cõi người thọ nhận niềm vui thắng diệu, được thế Đại Lực, có uy đức lớn, thân tướng kỳ diệu đoan nghiêm không gì so sánh được. Gặp Thiên Nhân Sư (Śāstā-deva-manuṣyāṇāṃ), gặp Thiện Tri Thức (Kalyāṇa-mitra), thành tựu đầy đủ vô lượng nhóm Phước.
Bốn Thiên Vương nên biết, các Nhân Vương ấy thấy mọi loại Công Đức lợi ích vô lượng như vậy, cho nên tự đi phụng đón vị Pháp Sư, Hoặc một du thiện na, cho đến một trăm du thiện na, đối với vị Pháp Sư nên sinh tưởng là Đức Phật. Rồi quay về thành, tác niệm như vầy: “Hôm này Đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai Ứng Chính Đẳng Giác vào trong cung của Ta, nhận sự cúng dường của ta, vì ta nói Pháp. Ta nghe Pháp xong tức đối với A Nậu Đa La Tam Miểu Tam Bồ Đề (Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác) chẳng thoái lùi nữa, tức là gặp thẳng trăm ngàn vạn ức na dữu đa chư Phật Thế Tôn.
Ta ở ngày nay tức là mọi loại nhạc cụ thù thắng thượng diệu rộng lớn cúng dường chư Phật quá khứ vị lai hiện tại. Ta ở ngày nay tức là vĩnh viễn nhổ bứt nỗi khổ của cõi Diêm Ma Vương (Yama-rāja), Địa Ngục, Quỷ đói, bàng sinh, liền gieo trồng hạt giống căn lành của vô lượng trăm ngàn vạn ức Chuyển Luân Thánh Vương, Thích Phạm Thiên Chủ, sẽ khiến cho vô lượng trăm ngàn vạn ức chúng sinh ra khỏi nỗi khổ của sinh tử, được niềm vui của Niết Bàn, gom chứa vô lượng vô biên nhóm Phước Đức chẳng thể nghĩ bàn.
Hậu Cung, quyến thuộc với các người dân đều được an ổn, cõi nước thanh tịnh bình an, không có các tai ách, độc hại, người ác, oán địch phương khác chẳng đến xâm nhiễu, xa lìa sự lo lắng”.
Bốn Thiên Vương nên biết, Nhân Vương ấy nên làm như vậy: tôn trọng Chính Pháp cũng đối với Bật Sô, Bật Sô Ni, Ô Ba Sách Ca, Ô Ba Tư Ca trọ trì Kinh Điển màu nhiệm … cúng dường, cung kính, tôn trọng, khen ngợi. Căn lành đã đạt được, trước tiên dùng Thắng Phước cúng thí cho các ông với các quyến thuộc. Vị Nhân Vương ấy có nhân duyên, nghiệp Thiện, Phước Đức lớn ở trong đời này được đại tự tại, tăng ích uy quang, tướng màu nhiệm cát tường thảy đều trang nghiêm. Dùng Chính Pháp hay tồi phục tất cả oán địch”.
Khi ấy, bốn Thiên Vương bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Nếu có Nhân Vương hay làm như vầy: cung kính Chính Pháp, lắng nghe Kinh Vương này, kèm với bốn Chúng, người trì Kinh… cung kính, cúng dường. tôn trọng, khen ngợi. Thời vị Nhân Vương ấy muốn làm cho chúng con sinh vui vẻ, nên ở một bên, gần với Pháp Tòa dùng nước thơm rưới vảy đất, rải mọi hoa tươi đẹp, an trí nơi chốn, dựng bày tòa của bốn Thiên Vương. Con cùng với vị vua ấy cùng nghe Chính Pháp, hết thảy căn lành tự lợi của vị vua ấy cũng đem phần Phước cúng thí cho chúng con
Bạch Đức Thế Tôn! Vị Nhân Vương ấy thỉnh người thuyết Pháp, khi lên trên Tòa, liền vì chúng con đốt mọi hương thơm tốt cúng dường Kinh này
Thế Tôn! Khi khói hương ấy ở khoảng một niệm, bay lên hư không liền đến cung điện của chúng con với chư Thiên. Ở trong hư không biến thành cái lọng hương, Thiên Chúng chúng con ngửi mùi hương màu nhiệm ấy, Hương có ánh sáng vàng ròng chiếu sáng cung điện mà chúng con cư ngụ, cho đến nơi cư trú của Phạm Thiên (Brahma) cùng với Đế Thích (Indra), Đại Biện Tài Thiên (Sarasvatī), Đại Cát Tường Thiên (Mahā-śrī-devī), Kiên Lao Địa Thần (Dṛḍha-pṛthivī), Chính Liễu Tri Đại Tướng (Saṃjñeya), các Dược Xoa Thần của hai mươi tám Bộ, Đại Tự Tại Thiên (Maheśvara), Kim Cương Mật Chủ (Vajra-guhyādhipati), Bảo Hiền Đại Tướng (Maṇi-bhadra), năm trăm quyến thuộc của Ha Lợi Để Mẫu (Hārīti), Vô Nhiệt Não Trì Long Vương (Anavatapta-nāgarāja), Đại Hải Long Vương (Mahā-sāgara-nāgarāja)
Thế Tôn! Nhóm chúng như vậy ở cung điện của mình, thấy khói hương ấy trong khoảng một sát na biến thành cái lọng hương, ngửi mùi hương thơm phức, nhìn ánh sáng màu sắc, đến khắp tất cả cung của các Thiên Thần”
Đức Phật bảo bốn Thiên Vương: “Ánh sáng của hương đó chẳng phải chỉ đến cung điện này, biến thành thành cái lọng hương phóng ánh sáng lớn. Do khi vị Nhân Vương kia tay bưng lò hương, đốt mọi hương thơm tốt cúng dường Kinh thời hơi khói hương ấy ở khoảng một niệm đến khắp ba ngàn Đại Thiên Thế Giới, trăm ngàn mặt trời mặt trăng, trăm ức Diệu Cao Sơn Vương, trăm ức bốn châu. Ở ba ngàn Đại Thiên Thế Giới này: tất cả cung điện của Trời, Rồng, Dược Xoa, Kiện Thát Bà, A Tô La, Yết Lộ Trà, Khẩn Na La, Mạc Hô La Già… trụ tràn đầy ở trong không trung, mọi loại khói hương biến thành cái lọng mây.
Cái lọng ấy màu vàng ròng chiếu khắp cung Trời. Như vậy ba ngàn Đại Thiên Thế Giới: hết thảy mọi loại, mây hương, lọng hương đều là sức uy thần của Kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương. Khi các Nhân Vương đó tay bưng lò hương thời mọi loại hơi thơm chẳng phải chỉ đến ba ngàn Đại Thiên Thế Giới này, ở khoảng một niệm cũng tràn khắp vô lượng vô biên hằng hà sa đẳng trăm ngàn vạn ức cõi nước của chư Phật ở mười phương.
Trong hư không ở trên chư Phật biến thành cái lọng hương tỏa sánh sáng vàng ròng soi chiếu khắp cũng lại như vậy.
Khi chư Phật ấy ngửi thấy hương màu nhiệm này, nhìn cái lọng mây với màu vàng ròng này, thời hằng ha sa đẳng chư Phật Thế Tôn ở mười phương giới hiện Thần Biến xong. Các Thế Tôn ấy đều cùng nhau quán sát, khác miệng đồng âm khen vị Pháp Sư rằng: “Lành thay! Lành thay Đại Trượng Phu! Ông hay rộng lưu bày Kinh Điển vi diệu thâm sâu như vậy, tức làm thành tựu vô lượng vô biên nhóm Phước Đức chẳng thể nghĩ bàn. Nếu có người lắng nghe Kinh như vậy thì Công Đức đạt được có số lượng rất nhiều huống chi là viết chép, thọ trì, đọc tụng, vì người khác diễn bày, như Thuyết tu hành. Tại sao Thế? Thiện Nam Tử! Nếu có chúng sinh nghe Kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương này tức đối với A Nậu Đa La Tam Miểu Tam Bồ Đề chẳng thoái lùi nữa”.
Khi ấy, Mười phương có trăm ngàn câu chi na dữu đa vô lượng vô số hằng hà sa đẳng cõi nước của chư Phật. Tất cả Như Lai ở các cõi nước ấy, khác miệng đồng âm, ở trên Pháp Tòa khen vị Pháp Sư kia rằng: “Lành thay! Lành thay Thiện Nam Tử!
Ông ở đời sau, do sức tinh cần, sẽ tu vô lượng trăm ngàn Khổ Hạnh (Duṣkara-caryā), đầy đủ tư lương (Sambhāra) vượt hơn các Thánh Chúng, vượt qua ba cõi làm Tối Thắng Tôn, sẽ ngồi dưới cây vua Bồ Đề thù thắng trang nghiêm, hay cứu chúng sinh có duyên trong ba ngàn Đại Thiên Thế Giới, khéo hay tồi phục các quân chúng Ma có hình dạng đáng sợ, hiểu thấu các Pháp, Vô Thượng Chính Đẳng Bồ Đề tối thắng thanh tịnh thâm sâu. Thiện Nam Tử!
Ông sẽ ngồi ở tòa Kim Cương, chuyển bánh xe Pháp mười hai Diệu Hành thâm sâu mà chư Phật vô thượng đã khen ngợi, hay đáng trống Pháp vô thượng cực lớn, hay thổi loa Pháp vô thượng cực mầu nhiệm, hay dựng phướng Pháp vô thượng thù thắng, hay thắp đuốc Pháp vô thượng cực sáng, hay tuôn mưa Pháp Cam Lộ vô thượng, hay chặt đứt phiền não oán khết, hay khiến cho vô lượng trăm ngàn vạn ức na dữu đa hữu tình vượt qua biển lớn đáng sợ không có bờ mé, giải thoát luân hồi sinh tử không có bờ mé, gặp thẳng vô lượng trăm ngàn vạn ức na dữu đa Phật”
Bấy giờ, bốn Thiên Vương lại bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương này hay ở vị lai, hiện tại thành tựu vô lượng Công Đức như vậy. Thế nên, Nhân Vương nếu được nghe Kinh Điển vi diệu này, tức là đã ở chỗ của trăm ngàn vạn ức vô lượng Phật gieo trồng các căn lành.
Đối với Nhân Vương ấy, con sẽ hộ niệm. Lại thấy vô lượng Phước Đức, lợi ích cho nên bốn Thiên Vương chúng con với quyến thuộc khác, vô lượng trăm ngàn vạn ức chư Thần ở cung điện của mình, khi nhìn thấy mọi loại Thần Biến của khói hương, lọng mây thời con sẽ ẩn che, chẳng hiện thân ấy. Vì nghe Pháp cho nên sẽ đến nơi giảng Pháp đã được nghiêm sức thanh tịnh tại cung điện của vị vua đó.
Như vậy cho đến Phạm Thiên (Brahma), Đế Thích (Indra), Đại Biện Tài Thiên (Sarasvatī), Đại Cát Tường Thiên (Mahā-śrī-devī), Kiên Lao Địa Thần (Dṛḍha-pṛthivī), Chính Liễu Tri Thần Đại Tướng (Saṃjñeya), Các Dược Xoa Thần của hai mươi tám Bộ, Đại Tự Tại Thiên (Maheśvara), Kim Cương Mật Chủ (Vajra-guhyādhipati), Bảo Hiền Đại Tướng (Maṇi-bhadra), năm trăm quyến thuộc của Ha Lợi Để Mẫu (Hārīti), Vô Nhiệt Não Trì Long Vương (Anavatapta-nāgarāja), Đại Hải Long Vương (Mahā-sāgara-nāgarāja)… nhóm Chúng như vậy vì nghe Pháp cho nên đều chẳng hiện thân, đến nơi thuyết Pháp ở tòa cao trang nghiêm tại cung điện thù thắng của Nhân Vương ấy
Thế Tôn! Bốn Thiên Vương chúng con với quyến thuộc khác, Dược Xoa, chư Thần đều sẽ một lòng cùng với vị Nhân Vương ấy làm Thiện Tri Thức. Nhân vào Thí Chủ (Dāna-pati) Đại Pháp vô thượng này, dùng vị Cam Lộ đầy đủ nơi con. Thế nên chúng con ủng hộ vị vua đó trừ bỏ suy hoạn khiến được an ổn với cung điện., thành ấp, cõi nước của vị vua ấy thảy đều khiến tiêu diệt các tai biến ác”
Lúc đó, bốn Thiên Vương đều cùng chắp tay bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Nếu có Nhân Vương ở cõi nước ấy, tuy có Kinh nhưng chưa thường lưu bày, sinh Tâm buông lìa, chẳng ưa thích nghe, cũng chẳng cúng dường, tôn trọng, khen ngợi. Thấy bốn Bộ Chúng, người trì Kinh lại cũng chẳng hay tôn trọng, cúng dường… Cho nên khiến chúng con với quyến thuộc khác, vô lượng chư Thiên chẳng được nghe Pháp màu nhiệm thâm sâu này, bỏ mất vị Cam Lộ, đánh mất dòng Chính Pháp, không có uy quang cùng với thế lực, tăng trưởng nẻo ác, tổn giảm người Trời, rơi vào con sông sinh tử, trái nghịch với đường Niết Bàn.
Thế Tôn! Bốn Thiên Vương chúng con kèm với các quyến thuộc, các hàng Dược Xoa thấy việc như thế thì buông bỏ cõi nước ấy, không có Tâm ủng hộ. Chẳng phải chỉ có chúng con vứt bỏ vị vua này, cũng có vô lượng các Đại Thiện Thần thủ hộ cõi nước thảy đều bỏ đi.
Đả buông lìa xong thì nước ấy sẽ có mọi loại tai họa, địa vị của nước mất đi, tất cả mọi người đều không có Tâm thiện, chỉ có sự trói buộc, giết hại, giận dữ tranh đoạt, nói xấu lừa dối lẫn nhau, với người không có tội bị xử oan ức, bệnh dịch lưu hành, sao chổi (Tuệ Tinh) hiện ra, hai mặt trời cùng hiện, nhật thực nguyệt thực không có bình thường, hai cầu vồng đen trắng biểu thị cho tướng chẳng lành, sao rơi, động đất, trong giếng phát ra tiếng, mưa mạnh bạo gió ác chẳng y theo thời tiết, thường gặp đói kém mất mùa, mầm non quả trái chẳng thành, có nhiều oán tặc ở phương khác xâm lược, người dân trong nước chịu các khổ não, đất nước không có nơi nào có thể an vui
Thế Tôn! Bốn Thiên Vương chúng con cùng với vô lượng trăm ngàn Thiên Thần và các Thiện Thần xưa kia hộ giúp đất nước… khi bỏ đi xa thời sinh ra vô lượng trăm ngàn việc ác, tai quái như vậy
Thế Tôn! Nếu có Nhân Vương muốn giữ gìn cõi nước, thường thọ nhận khoái lạc, muốn khiến cho chúng sinh đều được an ổn, muốn được tồi phục tất cả kẻ địch bên ngoài, ở đất nước của mình vĩnh viễn được hưng thịnh, muốn khiến cho Chính Pháp lưu bày ở Thế Gian, đều trừ diệt Pháp ác, khổ não.
Thế Tôn! Các Quốc Chủ đó đều nên nghe nhận Kinh Vương màu nhiệm này, cũng nên cung kính, cúng dường, đọc tụng, thọ trì Kinh thời chúng con với vô lượng Thiên Chúng khác do uy lực của căn lành nghe Pháp đấy, được uống vị Pháp Cam Lộ vô thượng, tăng ích cho hết thảy quyến thuộc của chúng con với các Thiên Thần khác đều được lợi ích thù thắng. Tại sao thế? Do Nhân Vương đó chí Tâm nghe nhận Kinh Điển này.
Thế Tôn! Như Đại Phạm Thiên đối với các hữu tình thường vì họ tuyên nói Luận (Śāstra) Thế (Loka) Xuất Thế (Lokottara). Đế Thích lại nói mọi loại các Luận (Śāstra). Ngũ Thông Tiên cũng nói các Luận
Thế Tôn! Phạm Thiên, Đế Thích, Ngũ Thông Tiên Nhân tuy có trăm ngàn câu chi na dữu đa các Luận. Nhưng Đức Phật Thế Tôn Từ Bi thương xót vì chúng Người, Trời nói Kinh Điển Kim Quang Minh vi diệu.
Đem so với điều đã nói lúc trước thì hơn hẳn điều ấy gấp trăm ngàn câu chi na dữu đa lần, chẳng thể ví dụ. Tại sao thế? Do điều này hay khiến cho hết thảy hàng vua chúa ở các Thiệm Bộ Châu dùng Chính Pháp cảm hóa Thế Gian, hay cho chúng sinh việc an vui, hộ giúp cho thân của mình với các quyến thuộc khiến cho không có khổ não.
Lại không có oán tặc phương khác xâm hại, hết thảy các ác thảy đều đi xa, cũng khiến cho đất nước trừ khử được tai ách, dùng Chính Pháp giáo hóa không có tranh đấu kiện tụng. Bởi thế, Nhân Vương đều ở các cõi nước nên thắp cây đuốc Pháp chiếu sáng vô biên, tăng ích cho Thiên Chúng với các quyến thuộc.
Thế Tôn! Bốn Thiên Vương chúng con, vô lượng Thiên Thần, chúng Dược Xoa, hết thảy Thiên Thần trong Thiệm Bộ Châu… do nhân duyên này được uống vị Pháp Cam Lộ vô thượng, được đại uy đức, thế lực, ánh sáng không có gì chẳng đầy đủ, tất cả chúng sinh đều được an ổn. Lại ở đời sau: trong trăm ngàn chẳng thể nghĩ bàn na dữu đa kiếp thường thọ nhận khoái lạc, lại được gặp thẳng vô lượng chư Phật, gieo trồng các căn lành, sau đó chứng được A Nậu Đa La Tam Miểu Tam Bồ Đề.
Vô lượng vô biên thắng lợi như vậy đều là Đức Như Lai Ứng Chính Đẳng Giác dùng Đại Từ Bi hơn hẳn các Phạm Chúng, dùng Đại Trí Tuệ dạo nơi Đế Thích, tu các Khổ Hạnh hơn hẳn Ngũ Thông Tiên… gấp trăm ngàn vạn ức na dữu đa lần chẳng thể xưng tính. Vì các chúng sinh diễn nói Kinh Điển vi diệu như vậy, khiến cho tất cả quốc chủ với các nhân chúng trong Thiệm Bộ Châu hiểu rõ hết thảy Pháp Thức của Thế Gian, trị quốc, cảm hóa người, khuyên làm việc Đạo.
Do sức lưu thông của Kinh Vương này, cho nên khắp nơi được an vui. Nhóm Phước Lợi này đều là sức Từ Bi của Đức Thích Ca Đại Sư đối với Kinh Điển này rộng bày lưu thông
Thế Tôn! Do Nhân Duyên này, các hàng Nhân Vương đều nên thọ trì, cung kính, cúng dường, khen ngợi Kinh Vương màu nhiệm này. Tại sao thế? Do Công Đức thù thắng chẳng thể nghĩ bàn của nhóm như vậy lợi ích cho tất cả. Thế nên gọi là Tối Thắng Kinh Vương”
Bấy giờ, Đức Thế Tôn lại bảo bốn Thiên Vương: “Bốn Thiên Vương các ông với quyến thuộc khác, vô lượng trăm ngàn câu chi na dữu đa chư Thiên, Đại Chúng… thấy vị Nhân Vương ấy, nếu hay chí Tâm lắng nghe Kinh Điển này, cúng dường, cung kính, tôn trọng, khen ngợi… thì cần phải ủng hộ trừ suy hoạn cho vị ấy, ắt hay khiến cho các ông cũng thọ nhận an vui. Nếu bốn Bộ Chúng hay rộng lưu bày Kinh Vương này, ở trong người Trời rộng làm Phật Sự, hay lợi ích khắp cho vô lượng chúng sinh. Người như vậy thời bốn Thiên Vương các ông thường nên ủng hộ. Bốn Chúng như vậy, đừng khiến cho duyên khác cùng nhau xâm nhiễu, khiến cho thân tâm của người ấy được vắng lặng, an vui. Đối với Kinh Vương này, rộng tuyên lưu bày khiến cho chẳng đoạn tuyệt, lợi ích cho hữu tình tận bờ mé vị lai”
Khi ấy, Đa Văn Thiên Vương (Vaiśravaṇa) từ chỗ ngồi đứng dậy, bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Con có Pháp Như Ý Bảo Châu Đà La Ni. Nếu có chúng sinh ưa thích thọ trì thì Công Đức vô lượng, con thường ủng hộ khiến cho chúng sinh ấy lìa khổ được vui, hay thành hai loại tư lương Phước (Puṇya) Trí (Jñāna). Người muốn thọ trì, trước tiên nên tụng Chú Hộ Thân này.
Liền nói Chú là:
“Nam mô bệ thất la mạt noa dã, mạc ha hạt la xà dã. Đát điệt tha: la la la la, củ nộ củ nộ, khu nộ khu nộ, lâu nộ lâu nộ, táp phộc táp phộc, yết la yết la, mạc ha tỳ yết lạt ma, mạc ha tỳ yết lạt ma, mạc ha hạt la xã, hạt lạc xoa, hạt lạc xoa, đổ mạn (tự xưng tên của mình) tát bà tát đỏa nan giả, toa ha”
*) NAMO VAIŚRAVAṆĀYA MAHĀ-RĀJĀYA
TADYATHĀ: RARA RARA, KUṆU KUṆU, KHUṆU KHUṆU, LŪṆU LŪṆU, SAPA SAPA, KARA KARA, MAHĀ-VIKRAMA MAHĀ-VIKRAMA, MAHĀ-RĀJĀYA, RAKṢA RAKṢA TUMAṂ (…) SARVA-SATVĀNĀṂCA SVĀHĀ
Thế Tôn! Người tụng Chú này nên dùng sợi dây trắng, Chú vào bảy biến, một biến thắt một gút rồi cột buộc sau khuỷu tay. Việc ấy thành xong, nên lấy các thứ hương là: An Tức (Guggulu, hay Gulguru), Chiên Đàn (Candana), Long Não (Karpūra), Tô Hợp (Turuṣka), Đa Yết La (Tagaraka), Huân Lục (Kundurnka) đều chia phần bằng nhau hòa hợp một chỗ. Tay bưng lò hương, đốt hương cúng dường, tắm gội sạch sẽ, mặc áo sạch mới, ở trong một Tịnh Thất có thể tụng Thần Chú thỉnh con Bệ Thất La Mạt Noa Thiên Vương (Vaiśravaṇa)
Liền nói Chú là:
“Nam mô bệ thất la mạt noa dã. Nam mô đàn na đà dã, đàn nê thuyết la dã, a yết xả, a bát lại nhĩ đá, đàn nê thuyết la, bát la ma ca lưu ni ca, tát bà tát đỏa, hứ đá, chấn đá, ma ma (dùng tên gọi…) đàn na mạt nô bát lạt duệ xả, toái diêm ma yết xả, toa ha”
*)NAMO VAIŚRAVĀṆĀYA
NAMO DHANADĀYA DHANEŚVARĀYA
ĀKARṢA APARAMITA DHANEŚVARA PARAMA-KĀRUṆĪKA SARVA-SATVA HĪTA CITTA MAMA (…) DHANA MANU-PRAYACCHA SVAYAM ĀKARṢA SVĀHĀ
Chú này, tụng đủ bảy biến xong, tiếp theo tụng Bản Chú. Khi muốn tụng Chú thời trước tiên nên xưng tên, kính lễ Tam Bảo với Bệ Thất La Mạt Noa Thiên Vương. Hay bố thí tài vật khiến cho đầy đủ nguyện mà các chúng sinh đã mong cầu, đều hay thành tựu cho họ an vui. Như vậy lễ xong, tiếp theo tụng Như Ý Ma Ni Bảo Tâm Thần Chú của Bệ Thất La Mạt Noa Thiên Vương hay ban cho chúng sinh tùy theo ý an vui”.
Lúc đó, Đa Văn Thiên Vương liền ở trước mặt Đức Phật nói Như Ý Mạt Ni Bảo Tâm Chú là:
“Nam mô hạt lạt đát na, đát lạt dạ dã. Nam mô bệ thất la mạt noa dã, mạc ha la xà dã. Đát điệt tha: tứ nhĩ tứ nhĩ, tô mẫu tô mẫu, chiên trà chiên trà, chiết la chiết la, tát la tát la, yết la yết la, chỉ lý chỉ lý, củ lỗ củ lỗ, mẫu lỗ mẫu lỗ, chủ lỗ chủ lỗ, sa đại dã, ngạch tham (Tên tôi là….) nật điếm, át tha, đạt đạt đổ toa ha. Nam mô bệ thất la mạt noa dã, toa ha. Đàn na đà dã, toa ha. Mạn nô lạt tha, bát lợi bô lạt ca dã, toa ha”
*) NAMO RATNA-TRAYĀYA
NAMO VAIŚRAVAṆĀYA MAHĀ-RĀJĀYA
TADYATHĀ: SIDDHI SIDDHI, SUMU SUMU, CAṆḌA CAṆḌA, CARA CARA, SARA SARA, KARA KARA, KIRI KIRI, KURU KURU, MURU MURU, CURU CURU, SĀDHAYA ĀTMĀNĀṂ (…) NITYAM-ARTHA DHĀTVA SVĀHĀ
NAMO VAIŚRAVAṆĀYA SVĀHĀ
DHANADĀYA SVĀHĀ
MANORATHA PARIPŪRAKĀYA SVĀHĀ
Khi trì Chú này thời trước tiên tụng một ngàn biến, sau đó ở trong Tịnh Thất dùng Cồ Na (Gomayī: phân bò) xoa tô mặt đất, làm cái Đàn Trường nhỏ, tùy theo thời ăn uống, một lòng cúng dường, thường đốt hương thơm tốt khiến cho khói chẳng dứt, tụng Tâm Chú lúc trước, ngày đêm cột buộc Tâm, chỉ lỗ tai của mình nghe, đừng khiến cho người khác hiểu.
Thời có con vua Bệ Thất La Mạt Noa tên là Thiền Nị Sư (?Śaṇḍika) hiện hình Đồng Tử (Kumāra) đi đến chỗ của người ấy hỏi rằng: “Cần điều gì mà hô gọi cha của Ta?” Liền có thể nói: “Tôi vì cúng dường việc của Tam Bảo nên cần tài vật. Nguyện hãy ban cho”
Khi Thiền Nị Sư nghe lời nói này xong, liền quay về chỗ của cha, bạch với cha rằng: “Nay có Thiện Nhân phát Tâm chí thành cúng dường Tam Bảo, vì thiếu thốn tài vật nên làm Thỉnh Triệu này”
Người cha (tức Đa Văn Thiên Vương) ấy bảo rằng: “Ngươi có thể mau chóng, một ngày cho kẻ ấy một trăm Ca Lợi Sa Ba Noa (Kārṣāpaṇa. Đây là Phạn Âm căn bản, còn gọi là Bối Xỉ nên tùy theo phương chẳng nhất định. Hoặc là Bối Xỉ hoặc là nhóm tiền: vàng, bạc, đồng, sắt. Nhưng hiện nay Ma Yết Đà (Magadha) thông dụng một Ca Lợi Sa Ba Noa có 1600 Bối Xỉ, tổng số có thể dựa theo mà biết, Nếu dựa theo giá trị của vật thì tùy theo nơi chốn chẳng nhất định. Nếu người trì Chú được thành tựu, khi được vật thời tự biết số ấy. Có bản nói rằng: mỗi ngày ban cho 100 Trần Na La tức tiền vàng vậy, cho đến suốt đời, ngày ngày thường được. Người ở phương Tây cầu xin, phần lớn có Thần Nghiệm, trừ kẻ chẳng chí Tâm)
Người trì Chú ấy thấy tướng đó xong thì biết việc được thành, cần phải ở một mình trong Tịnh Thất, đốt hương rồi nằm, có thể ở bên giường để một hộp hương, mỗi lần đến sáng sớm, nhìn vào trong cái hộp ấy sẽ được vật đã mong cầu. Mỗi khi được vật thời ngay trong ngày liền nên cúng dường Tam Bảo, hương hoa, thức ăn uống kèm với cho người nghèo túng, đều khiến cho sạch hết, chẳng được lưu giữ. Đối với các hữu tình khởi niệm Từ Bi, đừng sinh Tâm giận dữ, lừa dối, gây hại, Nếu dấy lên giận dữ liền mất Thần Nghiệm, thường có thể hộ giữ Tâm đứng khiến cho giận dữ.
Lại có người trì Chú, ở trong mỗi ngày thường nhớ đến Ta, Đa Văn Thiên Vương với nam nữ quyến thuộc, xưng dương khen ngợi. Luôn dùng mười Thiện cùng nhau tương trợ, khiến cho Phước Lực của hàng Trời ấy tăng thêm sáng tỏ đến khắp mọi Thiện, chứng nơi Bồ Đề. Các Thiên Chúng ấy thấy việc này xong đều rất vui vẻ, cùng nhau đi đến giúp dỡ bảo vệ người trì Chú.
Lại người trì Chú được thọ mạng lâu dài, trải qua vô lượng tuổi, lìa hẳn ba đường ác (tam đồ), thường không có tai ách. Cũng khiến cho được viên ngọc báu Như Ý (Cintā-maṇi) cùng với Phục Tàng (kho tàng bị che lấp), Thần Thông tự tại, điều cầu nguyện đều thành. Nếu cầu vinh dự, quan tước (quan vinh) thì không có gì chẳng xứng ý, cũng hiểu ngôn ngữ của tất cả cầm thú.
Thế Tôn! Nếu khi trì Chú, muốn được thấy con (Đa Văn Thiên Vương) tự hiện thân thời có thể ở ngày 8 hoặc ngày 14 của tháng, vẽ hình tượng Phật ở trên vải lụa trắng, nên dùng nhựa cây, mọi màu sắc tô điểm. Người vẽ Tượng ấy thọ nhận tám Giới. Ở bên trái Đức Phật vẽ tượng Cát Tường Thiên Nữ (Śrī-devī). Ở bên Phải Đức Phật vẽ con, tượng Đa Văn Thiên kẻm vẽ loại nam nữ quyến thuộc, an trí chỗ ngồi đều khiến như Pháp, xếp bày hoa màu, đốt mọi hương thơm tốt, thắp đèn sáng liên tục, ngày đêm không tắt. Bày thức ăn thượng diệu, mọi thứ trân kỳ, phát Tâm ân trọng, tùy theo thời cúng dường, thọ trì Thần Chú, Tâm chẳng được khinh suất.
Khi thỉnh triệu con thời nên tụng Chú này:
“Nam mô thất lợi kiện na dã, bột đà dã. Nam mô bệ thất la mạt noa dã, dược xoa la xà dã, mạc ha la xà, a địa la xà dã. Nam ma thất lợi gia duệ, mạc ha đề tệ duệ. Đát điệt tha: đát la đát la, đốt lỗ đốt lỗ, mạt la mạt la, tể suất thổ, tể suất thổ, hán na hán na, mạt ni, yết nặc ca, bạt chiết la, bệ lưu ly dã, mục để la lăng cật lật đá, thiết lợi la duệ bồ, tát bà tát đỏa, hứ đá, ca ma, bệ thất la mạt noa, thất lợi dạ đề tỳ, bạt lạp bà dã, y hứ y hứ, ma tỳ lam bà, cồ lật noa cồ lật noa, vị lạt sa, vị lạt sa, đạt đà hứ, ma ma, a mục ca na mạt tả (tự xưng tên của mình) viễn lý thiết na, ca mạt tả, đạt lý thiết nam, ma ma, mạt na, bát lạt hạt la đại dã, toa ha”
*)NAMO ŚRĪ-GAṆĀYA-BUDDHĀYA
NAMO VAIŚRVAVAṆĀYA- YAKṢA-RĀJĀYA MAHĀ-RĀJĀ ADHIRĀJĀYA
NAMAḤ ŚRĪYA-DEVYE
TADYATHĀ: TĀRA TĀRA, TURU TURU, BALA BALA, SUSIDDHI SUSIDDHI, MAṆI, KANAKA, VAJRA, VAIḌŪRYA, MUKTIKA, ALAṂKṚTA, ŚARĪRAYE BHŪḤ, SARVA-SATVA HĪTA KĀMA VAIŚRAVAṆA ŚRĪYA-DEVĪ PRABHĀYA EHYEHI MAVILAMBA, GṚHṆA GṚHṆA, VIRASA VIRASA, DĀDĀ HI MAMA, AMOGHA-NĀMAṢYA (…) DARŚANA KĀMAṢYA, DARŚANĀṂ MAMA-MĀNA, PRAKRADĀYA SVĀHĀ
Thế Tôn! Nếu con thấy người tụng Chú này, lại thấy cúng dường đầy đủ như vậy, tức sinh Tâm Từ Ái vui vẻ. Con liền biến thân làm hình đứa trẻ, hoặc người già, vị Bật Sô (Bhikṣu: Tỳ Kheo) tay cầm viên ngọc báu Ma Ni kèm cầu cái túi vàng đi vào trong Đạo Trường, thân hiện cung kính, miệng xưng tên Phật, bảo người trì Chú: “Tùy theo ngươi đã mong cầu, đều khiến như Nguyện. Hoặc ẩn ở rừng, đầm. Hoặc làm viên ngọc báu, hoặc muốn mọi người yêu chuộng, Hoặc cầu nhóm vật vàng bạc. Muốn trì các Chú đều khiến có hiệu nghiệm. Hoặc muốn Thần Thông, thọ mạng lâu dài với niềm vui thắng diệu thì không có gì chẳng xứng Tâm”.
Nay con lại nói việc như vậy. Nếu cầu điều khác thì tùy theo ước nguyện đều được thành tựu, Kho báu không tận, Công Đức không cùng. Giả sử mặt trời mặt trăng rơi xuống đất, hoặc có thể Đại Địa có lúc di chuyển. Lời chân thật này của con, cuối cùng chẳng hư dối, thường được an ổn, tùy theo Tâm khoái lạc.
Thế Tôn! Nếu có người hay thọ trì, đọc tụng Kinh Vương này, khi tụng Chú thời chẳng lao nhọc mà Pháp mau thành tựu.
Thế Tôn! Nay con vì chúng sinh nghèo túng, khốn ách, khổ não nói Thần Chú này khiến được lợi lớn, đều được giàu có vui sướng tự tại không có tai vạ, cho đến suốt đời, con sẽ ủng hộ, đi theo người này để trừ tai ách, cũng lại khiến cho người trì Kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương này lưu thông, với người trì Chú ở bên trong một trăm bước, ánh sáng chiếu soi. Hết thảy chư Thiên, Dược Xoa Thần của con cũng thường hộ vệ, tùy muốn sai khiến, không có gì chẳng toại Tâm. Con nói lời chân thật không có hư dối, chỉ có Đức Phật chứng biết”
Khi Đa Văn Thiên Vương nói Chú này xong thì Đức Phật bảo: “Lành thay Thiên Vương! Ông hay xé rách lưới khổ đau, nghèo túng của tất cả chúng sinh khiến được giàu có vui sướng, Lại khiến cho Kinh này lưu hành rộng ờ đời”
Thời bốn Thiên Vương đều từ chỗ ngồi đứng dậy, trật áo hở một bên vai, đỉnh lễ hai bàn chân của Đức Phật, quỳ gối phải sát đất, chắp tay cung kính, dùng Diệu Già Tha, khen Công Đức của Phật:
“Mặt Phật như trăng tròn thanh tịnh
Như ngàn mặt trời phóng ánh sáng
Mắt trong dài rộng như sen xanh
Răng trắng khít đều giống Kha Tuyết
Công Đức của Phật như biển lớn
Trong ấy chứa vô lượng Diệu Bảo
Luôn đầy nước Công Đức, Trí Tuệ
Trăm ngàn Thắng Định đều tràn đầy
Dưới chân: tướng bánh xe nghiêm sức
Đùm, vành, ngàn căm đều ngang bằng
Trai chân màng mỏng trang nghiêm khắp
Giống như ngỗng chúa (nga vương) đầy đủ tướng
Thân Phật tỏa sáng như núi vàng
Thanh tịnh thù đặc không gì sánh
Cũng như Diệu Cao (Sumeu: núi Tu Di) đủ Công Đức
Nên con cúi lạy Phật Sơn Vương
Tướng tốt như hư không khó lường
Dạo nơi Thiên Nguyệt (một ngàn mặt trăng) phóng ánh sáng
Đều như lửa huyễn khó nghĩ bàn
Nên con cúi lạy Tâm Vô Trước”
Khi bốn Thiên Vương khen ngợi Đức Phật xong, thì Đức Phật cũng dùng Già Tha (Gāthā: Kệ Tụng) trả lời rằng:
“Kinh Kim Quang Minh Tối Thắng này
Nơi Vô Thượng Thập Lực (tức Đức Phật) đã nói
Bốn vua các ông thường ủng hộ
Nên sinh Tâm dũng mãnh chẳng lui
_Báu Diệu Kinh này rất thâm sâu
Hay ban vui cho các hữu tình
Do hữu tình ấy an vui nên
Thường được lưu thông Thiệm Bộ Châu
_Ở trong Đại Thiên Thế Giới này
Hết thảy tất cả loài hữu tình
Quỷ đói, Bàng Sinh với Địa Ngục
Nẻo khổ như vậy thảy đều trừ
_Các quốc vương trụ Nam Châu (Nam Thiệm Bộ Châu) này
Với tất cả loài hữu tình khác
Do uy lực Kinh thường vui vẻ
Đều nương ủng hộ được an ninh
_Cũng khiến các hữu tình trong đây
Trừ mọi bệnh khổ, không trộm cướp
Nhờ cõi nước này rộng truyền Kinh
An ổn, giàu vui không phiền não
_Nếu người nghe nhận Kinh Vương này
Muốn cầu tôn quý với tài lợi
Cõi nước giàu vui, không tranh đấu
Tùy Tâm ước nguyện thảy đều theo
_Hay khiến giặc phương khác lui tan
Ở đất nước mình thường an ổn
Do sức Tối Thắng Kinh Vương này
Lìa các khổ não, không lo sợ
_Như cây vua báu (Bảo Thụ Vương) ngay trong nhà
Hay sinh tất cả vật vui thích
Tối Thắng Kinh Vương cũng như thế
Hay cho Nhân Vương Thắng Công Đức
_Ví như nước trong mát lắng sạch
Hay trừ các nóng bức đói khát
Tối Thắng Kinh Vương cũng như thế
Khiến đầy đủ Tâm người thích Phước
_Như nhà người có hộp Diệu Bảo
Tùy chỗ thọ dùng, đều theo Tâm
Tối Thắng Kinh Vương cũng như thế
Phước Đức tùy Tâm, không chỗ thiếu
_Các ông: Thiên Chủ với Thiên Chúng
Cần phải cúng dường Kinh Vương này
Nếu hay y Giáo phụng trì Kinh
Trí Tuệ, uy thần đều đầy đủ
_Hiện Pháp (Pháp hiện tại), tất cả Phật mười phương
Đều cùng hộ niệm Kinh Vương này
Thấy có đọc tụng với thọ trì
Khen ngợi: “Lành thay! Thật hiếm có!”
_Nếu có người hay nghe Kinh này
Thân Tâm hớn hờ sinh vui vẻ
Thường có trăm ngàn chúng Dược Xoa
Tùy theo chỗ ở, giúp người này
_Ở Thế Giới này, các Thiên Chúng
Số ấy vô lượng khó nghĩ bàn
Đều cùng nghe nhận Kinh Vương này
Vui vẻ thọ trì không thoái chuyển
_Nếu người nghe nhận Kinh Vương này
Uy Đức dũng mãnh, thường tự tại
Tăng ích tất cả chúng người, Trời
Khiến lìa suy não, tăng ánh sáng”
Lúc đó, bốn Thiên Vương nghe Tụng này xong thì vui mừng hớn hở, bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Từ xưa đến nay, con chưa từng được nghe Pháp vi diệu thâm sâu như vậy, Tâm sinh vui buồn lẫn lộn, nước mắt nước mũi tuôn chảy, tòa thân run rẩy, chứng việc hiếm có khó nghĩ bàṅ”
Đem hoa Man Đa La, hoa Ma Ha Mạn Đa La của cõi Trời rải tán lên trên Đức Phật, làm thù thắng này cúng dường Đức Phật xong, rồi bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Bốn Thiên Vương chúng con đều có năm trăm Dược Xoa quyến thuộc, thường sẽ ở mỗi một nơi ủng hộ Kinh Này với vị Thầy nói Pháp. Dùng ánh sáng của Trí để hỗ trợ bảo vệ. Như đối với hết thảy nghĩa câu của Kinh này có chỗ quên mất thì con đều khiến cho người ấy nhớ nghĩ chẳng quên kèm với Pháp Môn thù thắng của Đà La Ni khiến cho được đầy đủ. Lại muốn khiến cho Tối Thắng Kinh Vương này tại nơi cư trú, vì các chúng sinh rộng tuyên lưu bày, chẳng mau chóng ẩn mất”.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn ở trong Đại Chúng nói Pháp này thời vô lượng chúng sinh đều được Đại Trí, thông duệ biện tài. Nhiếp nhận vô lượng nhóm Phước Đức, lìa các lo lắng bực bội, khéo hiểu rõ mọi Luận, bước lên con đường xuất ly, lại chẳng thoái lùi, mau chứng Bồ Đề.
KIM QUANG MINH TỐI THẮNG VƯƠNG KINH
QUYỂN THỨ SÁU (Hết)
---
Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh quyển 7
PHẨM THỨ MƯỜI BA: VÔ NHIỄM TRƯỚC ĐÀ LA NI
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo cụ thọ Xá Lợi Tử rằng:
– Nay có pháp môn tên là Vô Nhiễm Trước Đà la ni chính là pháp tu hành của các Bồ tát, là điều thọ trì của Bồ tát quá khứ, là mẹ của Bồ tát.
Nghe nói lời này rồi, cụ thọ Xá Lợi Tử bạch đức Phật rằng:
– Thưa đức Thế Tôn! Đà la ni là câu nghĩa gì ? Thưa đức Thế Tôn! Đà la ni là chẳng phải phương xứ, chẳng phải phi phương xứ!
Nói lời này rồi, đức Phật bảo ngài Xá Lợi Tử rằng:
– Hay thay! Hay thay! Này Xá Lợi Tử! Ông đối với Đại thừa đã có thể phát khởi, đã tín giải Đại thừa, tôn trọng Đại thừa! Đúng như lời ông nói về Đà la ni là chẳng phải phương xứ, chẳng phải phi phương xứ, chẳng phải pháp chẳng phải phi pháp, chẳng phải quá khứ, chẳng phải vị lai, chẳng phải hiện tại, chẳng phải sự, chẳng phải phi sự, chẳng phải duyên chẳng phải phi duyên, chẳng phải hành chẳng phải phi hành, không có pháp sinh cũng không pháp diệt, nhưng vì lợi ích cho các Bồ tát nên nói lời như vậy. Đối với công dụng của Đà la ni này là thế lực của lý thú chánh đạo được an lập, tức là công đức chư Phật, cấm giới chư Phật, sở học chư Phật, mật ý chư Phật, chỗ sinh ra chư Phật. Vậy nên gọi là pháp môn thắng diệu Vô Nhiễm Trước Đà la ni.
Nói lời này rồi, ngài Xá Lợi Tử bạch đức Phật rằng:
– Thưa đức Thế Tôn! Nguyện xin đức Thiện Thệ vì con nói pháp Đà la ni này! Nếu các Bồ tát có thể an trụ thì đối với Bồ Đề Vô Thượng chẳng thoái chuyển nữa, thành tựu chánh nguyện, được Vô sở y, tự tính biện tài, được việc hiếm có, an trụ đạo Thánh... đều do được Đà la ni này!
Đức Phật bảo ngài Xá Lợi Tử rằng:
– Hay thay! Hay thay! Đúng vậy! Đúng vậy! Đúng như lời ông nói! Nếu có Bồ tát được Đà la ni này thì nên biết người này cùng với Phật không khác. Nếu có người cúng dường, tôn trọng, thừa sự cung cấp cho Bồ tát này thì phải biết, tức là cúng dường đức Phật. Này Xá Lợi Tử! Nếu có người khác nghe Đà la ni này rồi thọ trì, đọc tụng, sinh ra tín giải thì cũng nên cung kính cúng dường như vậy cùng Phật không khác. Do nhân duyên này nên thu hoạch được quả Vô thượng.
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn liền vì ông diễn nói Đà la ni rằng:
Đát điệt tha - San đề lại nỉ - Ốt đa lạt nỉ - Tô tam bát la để sắt sĩ đá - Tô na ma - Tô bát lạt để sắt sĩ đá tỵ dã - Bạt la - Tát để dã - Bát lạt để thận nhã - Tô a - Lô ha - Thận nhã na mạt để - Ốt ba thiền nỉ - A phạt na mạt để - A tỳ sư thiền nỉ - A ty tỳ gia ha la thâu bà -Phạt để - Tô ni thất lị đa - Bạc hổ quận xã - A tỳ bà đa - Tá ha (Tadyathà sandhàrani apadhàrani susampratisthita sunàma supratisthita vijayabala satya (téja) prati‘sinji suroha ‘sinjanamati (jnàryprati) upadhani abanàmani abhi‘signi abhinyàkara ‘subhapati suni‘sità bahùm gunja (gumbha) abhipàda svàhà).
Đức Phật bảo ngài Xá Lợi Tử rằng:
– Câu Đà la ni Vô Nhiễm Trước này, nếu có Bồ tát có thể khéo an trụ, có thể chánh thọ trì thì phải biết người đó hoặc ở một kiếp, hoặc trăm kiếp, hoặc ngàn kiếp, hoặc trăm ngàn kiếp mà sự phát chánh nguyện không có cùng tận, thân cũng chẳng bị sự tổn hại của dao, gậy, độc dược, nước, lửa, thú dữ... Vì sao vậy ? Này Xá Lợi Tử! Vì Đà la ni Vô Nhiễm Trước này chính là mẹ của chư Phật đời quá khứ, mẹ của chư Phật đời vị lai, mẹ của chư Phật đời hiện tại. Này Xá Lợi Tử! Nếu lại có dùng bảy báu đầy trong mười atăngkỳ xí gia ba ngàn đại thiên thế giới dâng cúng chư Phật và dùng y phục, ẩm thực thượng diệu đủ thứ cúng dường trải qua vô số kiếp. Nếu lại có người đối với Đà la ni này, thậm chí một câu có thể thọ trì thì phước sinh ra nhiều gấp bội đối với phước kia. Vì sao vậy ? Này Xá Lợi Tử! Vì pháp môn thậm thâm Đà la ni Vô Nhiễm Trước này chính là mẹ của các đức Phật.
Cụ thọ Xá Lợi Tử và các đại chúng nghe pháp này rồi đều rất vui mừng, đều nguyện thọ trì.
PHẨM THỨ MƯỜI BỐN: NHƯ Ý BẢO CHÂU
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn ở trong đại chúng bảo ngài A Nan Đà rằng:
– Các ông phải biết có Đà la ni tên là Như Ý Bảo Châu, xa lìa các tai ách, cũng có thể ngăn chận những sấm chớp ác mà các đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác đã chung tuyên nói. Hôm nay, ta ở trong Kinh này cũng vì đại chúng các ông mà tuyên nói, có thể đối với người trời vì lợi ích lớn, thương xót thế gian, ủng hộ tất cả, khiến cho được an lạc!
Đại chúng và ngài A Nan Đà nghe lời đức Phật nói rồi, đều chí thành chiêm ngưỡng đức Thế Tôn, thính thọ thần chú. Đức Phật dạy rằng:
– Các ông hãy lắng nghe! Ở phương Đông có vua chớp quang minh tên là A Yết Đa (Agata), phương Nam có vua chớp quang minh tên là Thiết Đê Lỗ (Satadru), phương Tây có vua chớp quang minh tên là Chủ Đa Quang (Cyutaprabha), phương Bắc có vua chớp quang minh tên là Tô Đa Mạt Ni (Sutamani). Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân được nghe danh tự của những vua chớp như vậy và biết phương xứ thì người này liền lìa xa tất cả nỗi sợ hãi, và các tai ngược đều tiêu hết. Nếu ở nơi trú xứ viết tên vua chớp bốn phương này thì nơi trú xứ không có nỗi sợ sấm chớp, cũng không có tai ách và các chướng não, phi thời uổng tử (bất đắc kỳ tử) đều lìa xa.
Bấy giờ, đức Thế Tôn liền nói chú rằng:
– Đát điệt tha - Nỉ nhị - Nỉ nhị - Nỉ nhị - Ni dân đạt lý - Thấy lý lô ca - Lô yết nỉ - Thất lý thâu la ba nỉ - Hạt lạc xoa - Hạt lạc xoa.
Con tên là... và chỗ ở này là... tất cả sự khủng bố và các khổ não, sấm chớp, sét đánh thình lình... cho đến uổng tử đều lìa xa hết - Tá ha (Tadyathà nimini nimini nimindhari triloca lokàni tri‘sùrapàni raksa raksa...svàhà).
Lúc bấy giờ, Đại Bồ tát Quán Tự Tại, tại giữa đại chúng, liền đứng dậy, trật áo vai phải, chắp tay cung kính, bạch đức Phật rằng:
– Thưa đức Thế Tôn! Con nay cũng ở trước đức Phật lược nói thần chú Như Ý Bảo Châu, đối với người trời vì lợi ích lớn, thương xót thế gian ủng hộ tất cả, khiến cho họ được an lạc, có đại uy lực, việc cầu xin được như ý.
Ngài liền nói chú rằng:
Đát điệt tha - Hát đế - hát đế - Nỉ hát đế - Bát lạt thất thể kê - Bátlạt để - Mật thất lệ - Thú đề - Mục để tỳ mạt lê - Bát lạt bà tá lệ - An trà lệ bát trà lệ - Thuế đế - Bát trà la bà tử nỉ - Hát lệ yết trà lệ - Kiếp tất lệ - Băng yết la ố tỷ - Đạt địa mục xỉ - Hát lạc xoa - Hát lạc xoa.
Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch bằng AI do Inti biên soạn: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.